GIỜ KINH GIA ĐÌNH VỚI LỜI CHÚA

Tháng 01/2007

               

Để “tạo cơ hội tôn vinh và suy niệm Lời Chúa, riêng từng cá nhân, trong gia đình hoặc cộng đoàn” và giúp gia đình sống đạo hôm nay theo lời mời gọi trong thư mục vụ của HĐGM Việt Nam 2006, chúng con xin mạo muội được góp phần cổ võ việc công bố và suy niệm Lời Chúa từng ngày trong giờ kinh Gia đình qua tập suy niệm nhỏ nầy.

Chúng con xin đề nghị việc đọc “Giờ kinh Gia đình với Lời Chúa” như sau:      

      - Hát kinh Chúa Thánh Thần

      - Đọc ba kinh: Tin, Cậy, Mến

      - Công bố Lời Chúa

      - Suy niệm

      - 10 kính Kính Mừng kính Đức Trinh Nữ Maria

      - Kết thúc bằng bài hát về Đức Mẹ Maria.

Văn Phòng Tòa Giám Mục Phú Cường

          

MỤC LỤC

Ngày 01/01/2007, thứ hai trong Tuần Bát nhật GS 3

Ngày 02/01/2007, thứ ba 5

Ngày 03/01/2007, thứ tư 7

Ngày 04/01/2007, thứ năm     

Ngày 05/01/2007, thứ sáu     

Ngày 06/01/2007, thứ bảy     

Ngày 07/01/2007, Chúa Nhật – Chúa Hiển Linh    

Ngày 08/01/2007, thứ hai sau CN I TN     

Ngày 09/01/2007, thứ ba sau CN I TN

Ngày 10/01/2007, thứ tư sau CN I TN

Ngày 11/01/2007, thứ năm sau CN I TN     

Ngày 12/01/2007, thứ sáu sau CN I TN     

Ngày 13/01/2007, thứ bảy sau CN I TN     

Ngày 14/01/2007, Chúa Nhật II Thường Niên C    

Ngày 15/01/2007, thứ hai sau CN II TN    

Ngày 16/01/2007, thứ ba sau CN II TN     

Ngày 17/01/2007, thứ tư sau CN II TN     

Ngày 18/01/2007, thứ năm sau CN II TN    

Ngày 19/01/2007, thứ sáu sau CN II TN    

Ngày 20/01/2007, thứ bảy sau CN II TN    

Ngày 21/01/2007, Chúa nhật III Thường Niên C   

Ngày 22/01/2007, thứ hai sau CN III TN   

Ngày 23/01/2007, thứ ba sau CN III TN    

Ngày 24/01/2007, thứ tư sau CN III TN    

Ngày 25/01/2007, thứ tư sau CN III TN    

Ngày 26/01/2007, thứ sáu sau CN III TN   

Ngày 27/01/2007, thứ bảy sau CN III TN   

Ngày 28/01/2007, Chúa Nhật IV Thường Niên C    

Ngày 29/01/2007, thứ hai sau CN IV TN    

Ngày 30/01/2007, thứ ba sau CN IV TN     

Ngày 31/01/2007, thứ tư sau CN IV TN     

     

Ngày 01/01/2007, thứ hai trong Tuần Bát nhật GS

Lễ Đức Maria – Mẹ Thiên Chúa, Lễ Trọng

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 2, 16-21) 

      Khi ấy, các người chăn chiên hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên. Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng. Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ. Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.

> Suy Niệm

     Công đồng Chalcedonia vào năm 451 đã công bố tước hiệu Đức Maria là “Mẹ sinh ra Thiên Chúa”. Khi công bố tước hiệu này, Công Đồng không nói Đức Maria tác tạo nên bản tính Thiên Chúa, nhưng là khẳng định về việc kết hợp hai bản tính trong Đức Giêsu Kitô, về sự hợp nhất nên một của hai bản tính Thiên Chúa và nhân loại không thể tách biệt và phân chia, nhưng cũng không trộn lẫn và tan biến trong nhau. Sự kết hiệp đó được thực hiện trong Ngôi Lời Thiên Chúa, Đức Giêus Kitô, Đấng được sinh ra bởi Đức Maria.

     Khi Công bố tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa” của Đức Maria, Giáo hội mời gọi con cái suy tư đến tình yêu bao la của Thiên Chúa dành cho con người và sự cộng tác cách quảng đại của Đức Maria vào chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Đối với chương trình cứu chuộc, Thiên Chúa luôn mời gọi sự cộng tác của từng người. Và Đức Maria là mẫu mực của sự đáp trả lời mời gọi nầy.

     Trước tiên để có thể đáp trả cần phải khám phá ra Thánh ý trong việc chuyên cần đọc, lắng nghe và suy gẫm Lời Chúa. Đức Maria chỉ có thể đáp trả hai tiếng “Xin Vâng”, khi cuộc đời của Mẹ luôn gắn bó với “Sách Thánh”. Tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa” luôn gắn kết với việc “nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8, 21). Chính Chúa Giêsu khẳng định điều đó khi có người lên tiếng: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm” và Chúa trả lời: “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc  11 27 - 28).

     Đức Maria mang đến cho nhân loại “Lời Thiên Chúa” được hóa thành nhục thể. “Lời” đó chính là “Lời Tình yêu của Thiên Chúa”. Vì vậy “Mẹ Thiên Chúa” cũng là Mẹ của sự an bình. Đức Kitô đến để giải thoát con người khỏi cảnh bất công, khỏi sự thù hận. Ngài đến để khôi phụ chính hình ảnh Thiên Chúa nơi từng con người, đễ mỗi người đối xử với nhau trong tình huynh đệ, là con cùng một Cha trên trời: hãy yêu nhau như Thầy yêu.

     Tôn kính Đức Maria “Mẹ Thiên Chúa”, cũng có nghĩa là quan chiêm đến biến cố mà Mẹ đã mang lại cho nhân loại trong Đêm Giáng Sinh: Một hài nhi đặt nằm trong máng cỏ. Đó chính là hình ảnh của Đấng mang lại an bình cho thế giới. Một thế giới đang chìm đắm trong cảnh thù hận bởi những đam mê vật chất, bởi đời sống hưởng thụ ích kỷ, bởi lòng tham vô đáy. Thế giới đó đã bị “Con Thiên Chúa” khước từ qua việc Ngài chọn “nằm trong máng cỏ”, nơi đó không có sự thù hận bởi tranh chấp quyền lợi, danh vọng và tiền bạc, nơi đó chỉ có an bình được dựng xây bởi lòng khiêm nhu, tự hạ, khước từ tính ích kỷ, thay vào đó là một tình yêu dành cho tha nhân. Mọi người là anh em với nhau.

      Lạy Chúa, xin dạy con noi theo Mẹ, biết mang an bình đến cho nhân loại bằng chính đời sống gắn kết với Lời Chúa. Vì chính Lời Chúa là nguồn mạch giúp chúng con nẩy sinh nhiều sáng kiến để kiến tạo an bình trong một thế giới có qua nhiều tranh chấp hận thù. Amen.

      

      

Ngày 02/01/2007, thứ ba

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 1,19 - 28)

      Đây là chứng của Gioan, khi những người Dothái từ Giêrusalem sai các vị tư tế và các Thầy Lêvi đến hỏi ông: “Ông là ai?” Ông liền tuyên xưng, ông không chối, ông tuyên xưng rằng: “Tôi không phải là Đấng Kitô”. Họ liền hỏi: “Như vậy là thế nào? Ông có phải là Elia chăng?” Gioan trả lời: “Tôi không phải là Elia”. Hay ông là một đấng tiên tri? Gioan đáp: “Không phải”. Họ liền bảo: “Vậy ông là ai, để chúng tôi trả lời cho những người sai chúng tôi. Ông tự xưng là ai?” Gioan đáp: “Tôi là tiếng kêu trong hoang địa: Hãy sửa cho ngay đường Chúa đi, như tiên tri Isaia đã loan báo”. Và những người đã được sai đến đều thuộc nhóm biệt phái. Họ nói Gioan rằng: “Nếu ông không phải là Đức Kitô, cũng không là Elia, hay một tiên tri, vậy tại sao ông làm phép rửa?” Gioaa trả lời: “Tôi làm phép rửa trong nước; nhưng giữa các ngươi, có Đấng mà các ngươi không biết. Đấng ấy sẽ đến sau tôi, nhưng chính Đấng đó đã có trước tôi, và tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người”. Việc này xảy ra tại Bêtania, bên kia sông Giođan, nơi Gioan làm phép rửa.

> Suy Niệm

      “Tôi không phải là Đức Kitô”, câu trả lời thẳng thắn của Gioan như là một nhắc nhủ cho những người môn đệ của Chúa Giêsu hôm nay. Quả thật, lịch sử Giáo hội luôn đối diện với những người được sai đi để loan báo Tin Mừng, thì họ lại dùng Tin Mừng để loan báo chính mình.

     Mới đây, ông Emmanuel Milingo (cựu Tổng Giám Mục Phi Châu bị tuyệt thông) đã công khai ủng hộ giáo phái Sun Myung Moon: “Tôi đã chứng kiến lòng nhiệt thành của ngài  Sun Myung Moon cho sự nhận biết Nước Trời. Quan tâm của ông ta cho phúc lợi của toàn thế giới khiến ngài không chỉ là một mạnh thường quân của thế giới, nhưng hơn thế nữa còn là một con người có tầm nhìn xa, khiêm nhường, và cuộc sống như một bậc thánh của ngài làm thức tỉnh can đảm và quyết tâm của chúng ta để hoạch định và thực thi điều gì chính chúng ta biết là đúng từ Thiên Chúa”. Thế nhưng Sun Myung Moon luôn tự xưng mình là đấng Mêsia, là “Chúa của lần Giáng Lâm Thứ Hai”, là đấng đang tạo ra ơn “cứu độ thể lý” mà Chúa Giêsu đã thất bại không thực thi được vì Ngài bị đóng đinh và không kết hôn. Moon cho rằng Chúa Giêsu chỉ mang lại được “ơn cứu độ siêu nhiên”.

      “Qui hướng về chính mình” là cơn cám dỗ mà người môn đệ Chúa Giêsu thường gặp phải trong khi thi hành sứ vụ rao truyền. Do đó Tin Mừng thường bị lợi dụng như là phương tiện để phục vụ cho những tham vọng của người loan báo. Thái độ của Gioan hôm nay như là khuôn mẫu mà người loan báo Tin Mừng cần phải noi theo.

     Chỉ có một Đấng cứu độ duy nhất, Gioan cũng đã nhận ra điều đó: “tôi không phải là Đấng Kitô”, cũng có nghĩa là “tôi không là Đấng các ông trông chờ, không là Đấng mang lại sự giải thoát, chỉ có Đấng đến sau tôi mà tôi không đáng cởi dây giày cho Ngài”. Gioan đã đưa ra một chỉ dẫn rõ ràng, chúng ta những người loan báo chỉ là kẻ dọn đường cho Chúa đến. Ông dọn đường cho Chúa đến lần thứ nhất, còn chúng ta dọn đường cho Chúa đến lần thứ hai trong vinh quang. Chúng ta đừng mập mờ trong khi rao giảng để người ta khỏi hiểu lầm. Chúng ta cần phân biệt rõ ràng đâu là Tin Mừng và đâu là lời của chúng ta. Đừng lấy lời mình biến thành Lời Chúa, đừng biến lời tầm thường của chúng ta thành Lời có sức mạnh cứu độ của Chúa Giêsu.

     Từ nhận thức đó chúng ta, những môn đệ Chúa Giêsu, hiểu rõ vị thế của mình để chúng ta khiêm nhường đón nhận những giới hạn của mình. Chúng ta rao giảng Tin Mừng bằng chính ơn gọi của mình, bằng chính vị thế của mình với những cái hay và cái dở ở nơi con người của mình, không cần đánh bóng mình bởi hình bóng của ai cả. Phải như Gioan: “tôi không là Elia, không là một vị ngôn sứ, không là Đức Kitô, không là ai cả, tôi là tôi, là người được chọn gọi để loan báo: hãy dọn đường cho Chúa đến, đơn giản chỉ thế thôi”.

    

      Lạy Chúa, Nguyên tổ đã phạm tội vì đã không chấp nhận vị thế của mình, muốn đặt mình ngang hàng với Thiên Chúa, và cơn cám dỗ đó luôn theo đuổi chúng con. Xin cho chúng con mạnh dạn khước từ điều không thuộc về mình  như Gioan đã làm.Amen.

    

        

Ngày 03/01/2007, thứ tư

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 1,29-34)

      Ngày hôm sau, Gioan thấy Chúa Giêsu đến với mình thì nói: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian. Đây chính là Đấng mà tôi đã nói rằng: Có người đến sau tôi, nhưng cao trọng hơn tôi, vì Người vốn có trước tôi. Phần tôi, trước tôi không biết Người, nhưng tôi đã đến làm phép rửa bằng nước, để Người được rỏ mình ra trong Israel. Và Gioan đã làm chứng rằng: Tôi đã thấy Thánh Thần như chim bồ câu từ trời xuống ngự trên Người. Và trước tôi không biết Người, nhưng Đấng đã sai tôi làm phép rửa trong nước bảo tôi: Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì chính người đó là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy và làm chứng rằng: Người là con Thiên Chúa”.

> Suy Niệm

     Có lẽ chúng ta đã có dịp tham dự một bữa tiệc đám cưới, hay xem một chương trình giải trí, văn nghệ, gặp gỡ chúng ta thấy có một người dẫn chương trình hay còn gọi là MC, các chương trình có sinh động hay không một phần là nhờ có MC biết năng động, họat bát, dĩ nhiên cũng phải có kiến thức ứng xử nhanh nhẹn. Tuy nhiên trong thực tế, đôi lúc MC lại lạm dụng tài mọn của minh quá đáng, trong khi MC theo đúng nghĩa của nó là ngừơi dẫn chương trình và làm cho các nhân vật chính yếu được  mọi người biết đến qua khoa ngôn ngữ của mình, nhưng họ làm cho người xem bị lẫn lộn không phân biệt đâu là cái chính đâu là cái phụ, có khi MC như làm thay làm thế tất cả, thậm chí nói thay luôn cái điều đúng lý nhân vật chính mới có quyền lên tiếng.

     Câu chuyện Tin Mừng hôm nay cũng có một “ MC” tuyệt vời là Gioan Tẩy Giả, rất tinh tế và năng động, trước sau rạch ròi, ngài là phát ngôn nhân chính thức của Thiên Chúa gởi đến “Con sẽ đi trước Chúa mở lối cho Người”, ngài có quyền lên tiếng, nhưng ngài không lạm quyền, mà sử dụng tiếng nói chính thức của mình để giúp cho dân chúng có một cách tiếp cận với ơn cứu độ, qua sự sám hối, canh tân và chịu phép rửa, ngài có ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều tầng lớp dân chúng, nhưng ngài không đánh lận con đen để tạo một cái bung xung quanh mình, mà khiêm tốn tự hạ: “Tôi phải nhỏ đi, để Người được lớn lên”, tinh tế và nhạy bén, một Gioan chỉ biết làm đúng chức năng của mình, không hồ đồ võ đoán, nhưng biết cung chiêm và lắng nghe cho nên mới nhận ra được Đấng sẽ rửa anh em bằng nước và Thánh Thần, Ngài là Chiên Thiên Chúa, nhận ra Đức Giêsu là trang mới của lịch sự cứu độ.

     Chúa Giêsu cũng khiêm nhu tự hạ đến để Gioan làm phép rửa cho mình, không phải đến để kẻ tung người hứng, để được lăng xê đánh bóng mình, mà đến vì lòng thương xót muôn dân, đến để thực thi ý Chúa, làm Chiên Thiên Chúa, thật ra không cần lời giới thiệu của Gioan, Chúa vẫn là Đấng Cứu Độ, nhưng Chúa muốn theo một trật tự của lòng thương xót, đến để Thiên Chúa được biểu dương và Thánh hiến qua lơì giới thiệu của Gioan và phép rửa của ông, Chúa Giêsu trở nên một điểm tiếp cận mới cho mọi người, chỉ qua Ngài mới được lòng thương xót, được ơn cứu độ.

     Gioan đã làm nhiệm vụ của mình một cách bài bản, nhịp nhàng, không sai sót. Gioan đã chuyển giao chức vụ “ MC’ cho chúng ta, để trong hoàn cảnh hiện tại, chúng ta trở nên những người giới thiệu Chúa cho muôn dân, ai trong chúng ta cũng được mời thử làm MC, thế nhưng trong thực tế hôm nay, Chúa Giêsu đang vắng bóng trong các sinh họat của nhân thế, có thể do áp lực của công việc, do phải lo cơm áo gạo tiền nhiều quá! Hay đúng hơn do chúng ta làm MC tồi, tự đánh bóng mình, lấn át cả nhân vật chính, quên cả mọi trình tự, hay do chúng ta thiếu kỹ năng sống đạo, nên lời giới thiệu Chuá cho muôn dân của chúng ta bị cháy? Tôi có cần chỉnh đốn tôi lại mỗi ngày hay không nhỉ, câu trả lời vẫn đang ở phía chúng ta đó.

      Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết giới thiệu Chúa cho người khác bằng chính cuộc sống yêu thương và phục vụ tha nhân với lòng khiêm tốn. Amen.

    

     

Ngày 04/01/2007, thứ năm

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 1, 35-42)

      Khi ấy, Gioan đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông nhìn theo Chúa Giêsu đang đi mà nói: Đây là Chiên Thiên Chúa. Hai môn đệ nghe ông nói liền đi theo Chúa Giêsu, Chúa Giêsu ngoảnh mặt lại, thấy họ đi theo mình, thì nói với họ: “Các ngươi tìm gì?” Họ thưa với Người: “Rabbi, nghĩa là thưa Thầy, Thầy ở đâu?” Người đáp: “Hãy đến mà xem?”. Họ đã đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy, lúc đó độ chừng giờ thứ mười. Anrê, em ông Simon Phêrô, một trong hai người đã nghe Gioan  nói và đã đi theo Chúa Giêsu. ông gặp Simon anh mình trước hết và nói với anh: “Chúng tôi đã gặp Đấng Messia, nghĩa là Đấng Kitô”. Và ông dẫn anh mình tơi Chúa Giêsu. Chúa Giêsu nhìn Simon và nói: “Ngươi là Simon, con ông Gioan, ngươi sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là Đá”.

> Suy Niệm

     Mùa Giáng sinh năm nay, ở đâu có nhà thờ hay nhà giáo dân cũng thấy sự hoành tráng của các hang đá, rồi những bài nhạc thánh ca giáng sinh du dương, lắng đọng, nếu có sôi động thì cũng là cái chấp nhận được. Thậm chí mấy cái Hotel trên thành phố, chẳng đạo nghĩa gì, thế mà nó cũng trang trí cây thông, hang đá, nhạc thánh ca! Xét về cảm quan thì như là một bầu khí thánh thiện, do cái se lạnh, hang đá có bóng dáng Hài Nhi nhỏ xinh, thấy an bình quá làm cho hồn đang náo động như chùng lại, nhưng trong thực tế thì khác, đèn chớp thấy cũng vui mắt nhưng là một cách nhanh nhạy của nhà kinh doanh, làm sao hấp dẫn để đạt doanh thu.

     Các bài đọc Tin Mừng mấy ngày nay luôn giới thiệu Chuá Giêsu, nhân vật chính yếu của mùa Giáng Sinh cách này cách khác, không hoành tráng, không đèn hoa, không nhạc nhùng. Nói thế không phải là quá phẳng lặng đơn điệu, nhưng muốn làm nổi bật một Đức Kitô theo Tin Mừng, Đấng Cứu Thế không ồn ào, náo động, nhưng sâu lắng, có sức thuyết phục nhân gian qua sự hiện diện, vì từ bản chất Ngài vẫn hiện diện sống động, Ngài đến để gặp gỡ, cứu độ, đem đến bình an, đổi đời, làm thay đổi những tâm hồn. Hai môn đệ của Gioan được Chúa cảm hóa qua lời giới thiệu của ông: “Đây là Chiên Thiên Chúa” - Đấng Cứu Độ là nguyên lý và cùng đích để mọi người theo, và làm nảy sinh những thực tại khác, đến độ người được Ngài kêu mời và nhận ra Ngài không thể không giới thiệu cho người khác, niềm vui được nhân rộng. Nói một cách khác, Ơn Cứu Độ đã đến trong trần gian và lan tỏa cho mọi nhân thế.

     Chúng tôi đã gặp Đấng Cứu Thế là câu nói cửa miệng của mấy môn đệ đầu tiên cao rao, và niềm tin không giữ lại khư khư cho mình mà hành động, một cách cụ thể loan báo cho người khác biết. Khi thinh lặng trước những hang đá Noel muôn mầu muôn vẻ, ai cũng thấy Chúa Hài Đồng, xinh xắn, nhoẻn miệng cười, nhưng sâu xa hơn chúng ta cũng bắt gặp một lời hỏi của chính Chúa Giêsu hỏi: “Các ngươi tìm gì?” cũng có lời đáp: “Hãy đến mà xem”, nhưng không phải là xem hang đá với đèn chớp, nghe nhạc du dương, mà hãy xem Chúa đã làm người và đang ở giữa chúng ta. Thế nhưng, còn nhiều người chưa biết Chúa. Đó là một thách đố khá lớn lao với chúng ta - những người Kitô hữu. Chúng ta vẫn đang tìm Chúa nơi những náo nhiệt, trong khi vẫn có Chuá đang âm thầm lặng lẽ lê gót chân, nơi những con người nghèo hèn, bệnh tật, bị bỏ rơi, bị tù tội bì hiểu lầm, bị thiếu thốn, chẳng ai đoái hoài. Hang đá sẽ hoành tráng hơn khi mà chúng ta nghe lời Chúa: “Hãy đến mà xem” xem cuộc đời tha nhân, xem cuộc đời tội lỗi của mình, xem sự sống đạo sa sút của giáo xứ mình và chỉnh đốn lại.

      Lạy Chúa Giêsu, xin cho mỗi người chúng con khi đến chiêm ngắm Chúa nơi hang đá, biết nhận ra tình yêu thương vô bờ của Chúa dành cho chúng con, để rồi ra đi chia sẻ tình yêu của Chúa cho những người chúng con gặp gỡ hàng ngày. Amen.

      

Ngày 05/01/2007, thứ sáu

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 1, 43-51)

      Khi ấy Chúa Giêsu quyết định đi Galilêa. Người gặp Philipphê và nói với ông: “Hãy theo Ta". Philipphê là người thành Bếtsaiđa, quê quán của Anrê và Phêrô. Philipphê gặp Nathanaen và nói với ông: “Đấng đã được Môisen ghi trong Luật và các tiên tri nói đến, chúng tôi đã gặp rồi: đó là Giêsu con ông Giuse, người thành Nagiarét”. Nathanaen đáp: “Bởi Nagiarét nào có cái chi hay?” Philipphê nói: “Hãy đến mà xem”. Chúa Giêsu thấy Nathanaen đi tới mình, thì nói về ông: “Đây thật là người Israel, nơi ông không có gì gian dối”. Nathanaen đáp: “Sao Ngài biết tôi?” Chúa Giêsu trả lời rằng: “Trước khi Philipphê gọi ngươi, lúc ngươi còn ở dưới cây vả, thì Ta đã thấy ngươi”. Nathanaen thưa lại rằng: “Lạy Thầy, Thầy là Con Thiên Chúa là Vua Israel”. Chúa Giêsu trả lời: “Vì Ta đã nói với ngươi rằng: Ta đã thấy ngươi dưới cây vả, nên ngươi tin, ngươi sẽ thấy việc cao trọng hơn thế nữa”. Và Người nói với ông: “Quả thật, quả thật, Ta nói với các ngươi, các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và các Thiên Thần Chúa lên xuống trên Con Người”.

> Suy Niệm

     Lúc này, Chúa Giêsu đã rời miền Nam lên miền Galilê ở phía Bắc. Tại đây – có lẽ là Cana – Ngài đã gọi Philipphê. Cũng như Anrê, Philipphê đã không giữ kín Phúc âm cho riêng mình. Godet đã nói: "một ngọn đuốc đã được thắp sáng để thắp sáng ngọn đuốc khác nữa". Philipphê đi tìm Nathanaen, là bạn của ông để bày tỏ niềm tin về điều ông vừa khám phá: Chúa Giêsu, người Nazaret, chính là Đấng Messia đã được Thiên Chúa hứa ban cho từ lâu. Nathanaen tỏ ra khinh miệt, vì Cựu Ước chẳng có lời dụ ngôn nào cho là người được chọn của Thiên Chúa sẽ đến từ Nazaret, Nazaret là một vùng quê tầm thường, Nazaret không phải là chỗ có thể sản sinh ra được cái gì tốt đẹp. Philipphê là người khôn ngoan, ông không cãi lại, nhưng ông mời gọi: "hãy đến xem".

     Số người nhờ cãi lý mà theo đạo không có nhiều. Thông thường việc cãi lý có hại nhiều hơn lợi. Cách duy nhất để thuyết phục người khác về địa vị tối thượng của Chúa Giêsu là đưa người ấy đến đối diện với chính Ngài.

     Chuyện kể lại vào cuối thế kỷ 19, Huxley, một người danh tiếng theo Thuyết Bất Khả Tri, hội viên của một hội tư gia ở vùng quê. Đến ngày Chúa nhật, phần đông các thành viên đều đi nhà thờ, dĩ nhiên Huxley không định đi. Ông đến thăm một người có tiếng là Kitô hữu có đức tin đơn sơ và rạng rỡ. Huxley nói: "ví như bữa nay anh không đi nhà thờ, anh ở nhà kể cho tôi nghe thật đơn giản, theo anh đức tin Kitô là gì và tại sao anh lại là Kitô hữu". Người kia đáp: "nhưng anh sẽ bác ngay các lý lẽ của tôi, tôi không đủ khẩu tài biện luận với anh". Huxley dịu dàng nói: "Tôi sẽ không cãi lý với anh đâu, tôi chỉ muốn anh nói thật đơn giản cho tôi nghe. Chúa Cứu thế có ý nghĩa như thế nào đối với anh thôi".  Người kia ở nhà và kể thật đơn sơ cho Huxley nghe về đức tin của mình; khi anh dứt lời, nước mắt chảy dài trên đôi má nhà triết học nổi tiếng này. Không phải tài biện luận đã cảm động lòng Huxley, ông có thể bài bác thành công bất cứ lý luận nào mà người tín đồ đơn sơ kia có thể đưa ra, nhưng việc trình bày thật đơn sơ về Chúa Cứu thế đã thu phục tấm lòng của ông. Câu biện luận hay nhất là nói với mọi người: "hãy đến xem".

     Nathanaen đã đến xem, ông đã gặp và ông đã tin vào Chúa Giêsu, để rồi trở thành môn đệ của Ngài.

      “Hãy đến mà xem”, đó là lời Chúa mời gọi chúng ta ngày hôm nay. Hãy đến để gặp Ngài, để hiểu về Ngài, và để nếm được vị ngọt của Ngài. “Hãy đến mà xem”, để được nghe lời dạy dỗ yêu thương của Ngài. Khi chúng ta tham dự thánh lễ hàng ngày, là chúng ta đang đáp lại lời mời gọi của Chúa, chúng ta “đang đến xem”, đang đến để cảm nếm tình yêu thương của Ngài, để có thêm sứch mạnh cất bước theo Ngài.

      Lạy Chúa, xin cho chúng con biết yêu mến thánh lễ mỗi ngày, để nếm được tình yêu của Chúa, giúp chúng con vững bước trên đường trần lữ thứ, vì thánh lễ là nguồn mạch sức sống dồi dào cho cuộc sống của chúng con ở dưới thế này. Amen.

      

      

Ngày 06/01/2007, thứ bảy

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Maccô (Mc 1, 7-11)

      Khi ấy, Gioan rao giảng rằng: “Có Đấng đến sau tôi, nhưng quyền lực hơn tôi, tôi không xứng đáng cúi xuống cởi dây giày cho Người. Phần tôi, tôi đã rửa anh em trong nước, nhưng Người, Người sẽ rửa anh em trong Thánh Thần”. Và đã xảy ra là trong những ngày đó, Chúa Giêsu từ Nagiarét xứ Galilêa đến và chịu phép rửa bởi Gioan ở sông Giođan. Khi vừa lên khỏi nước, Người liền thấy trời mở ra, thấy Thánh Thần như chim bồ câu ngự xuống trên mình. Và có tiếng từ trời : Con là con yêu quý của Cha, con đẹp lòng Cha mọi đàng.

> Suy Niệm

     Phép rửa của Gioan dành cho những người hối tiếc về những lầm lỗi của mình và muốn bày tỏ lòng quyết định từ bỏ chúng, dứt khoát với chúng. Nhưng một phép rửa như thế thì liên hệ gì đến Chúa Giêsu? Ngài há không phải là Đấng vô tội, và một phép rửa như thế há không phải là hoàn toàn không cần thiết, không thích hợp với Ngài hay sao? Với Chúa Giêsu thì phép rửa này có bốn ý nghĩa:

     Ba mươi năm qua Ngài ở tại Nazaret, Ngài đã trung tín làm bổn phận trong gia đình. Từ lâu Ngài đã ý thức rằng sẽ có lúc Ngài phải rời bỏ gia đình, chắc Ngài đang chờ một dấu hiệu. Với Ngài, sự xuất hiện của Gioan chính là dấu hiệu đó. Ngài thấy đó chính là khoảnh khắc Ngài phải dấn thân vào chức vụ. Trong mỗi đời sống đều có những khoảnh khắc quyết định mà người ta có thể chấp nhận hay từ chối. Chấp nhận chúng là thành công, chối bỏ chúng là hụt mất, thất bại. Mỗi người đều có một khoảnh khắc để quyết định mà không bao giờ còn gặp lại. Một đời sống hoài phí, thất vọng, bất đắc chí và thường một đời sống đầy thảm kịch là một đời sống không biết quyết định. Một đời sống bỏ mặc, đánh liều nhắm mắt đưa chân chẳng bao giờ là một đời sống có hạnh phúc. Khi thấy Gioan xuất hiện, Chúa Giêsu biết là giờ của Ngài đã điểm.

     Thật vậy, Chúa Giêsu không cần phải ăn năn tội, nhưng đây là lúc mà dân chúng cần quay về với Thiên Chúa, và với phong trào trở về đó, Ngài quyết định tự hòa mình vào. Có thể có người đang sống thoải mái dư giả, sung túc, nhưng nếu người ấy thấy dấy lên một phong trào có thể đem đến nhiều điều tốt đẹp hơn cho những kẻ nghèo khổ bị chà đạp, phải cư ngụ trong những căn nhà lụp xụp tồi tàn, phải lao động quá sức nhưng lại nhận những đồng lương quá ít ỏi, không có lý do gì để người ấy không chịu đến để hòa mình vào đó. Sự hòa mình thật sự có ý nghĩa khi một người tự hòa mình vào một phong trào không phải vì chính mình nhưng vì kẻ khác.

     John Bunyan là nhà truyền đạo nổi tiếng, trong một giấc chiêm bao, ông thấy mình đi đến một cung điện được canh giữ cẩn mật, đòi hỏi phải có một chiến trận để tìm đường vào. Tại cổng có một người ngồi, tay cầm bút mực để ghi tên những người dám tấn công, Trong lúc mọi người đang chùn lại thì ông thấy một người dung mạo cường tráng, tiến đến bên cạnh người đang cầm bút và nói "thưa ông, xin hãy ghi tên tôi". Khi thấy việc trọng đại trước mắt, ông bị buộc phải nói "thưa ông, xin hãy ghi tên tôi", và đó chính là điều Chúa Giêsu đã làm khi Ngài đến để chịu phép rửa.

     Chẳng có ai nhẹ dạ bỏ nhà ra đi mà không biết mình đi đâu. Người ấy phải biết chắc chắn mình đã hành động đúng. Chúa Giêsu đã quyết định bắt đầu hành động và giờ đây, Ngài đang chờ đợi dấu ấn của sư chấp thuận về phía Thiên Chúa. Vào thời của Chúa Giêsu, dân Do thái nói về điều họ gọi là Bath Qol có nghĩa là "con cái của tiếng gọi". Bấy giờ, họ tin là có nhiều tầng trời, trên tầng cao nhất có Thiên Chúa ngự trong một vùng ánh sáng không một ai đến gần được. Thật là hiếm có những cơ hội mà các tầng trời mở ra và Thiên Chúa truyền phán. Theo họ, Thiên Chúa ở xa đến nỗi người ta chỉ nghe được tiếng phán của Ngài vọng lại từ nơi thật xa mà thôi. Với Chúa Giêsu tiếng phán hoàn toàn trực tiếp. Theo thánh Maccô kể, đây là một kinh nghiệm riêng của Chúa Giêsu chứ không mang ý nghĩa bày tỏ cho quần chúng. Tiếng từ trời không nói, "này là Con yêu dấu của Ta" như Matthêu đã ghi lại, nhưng phán thẳng với chính Ngài rằng "Ngươi là Con Yêu dấu của Ta". Lúc chịu phép rửa, Chúa Giêsu đã quyết định phục tùng Thiên Chúa, và rõ ràng quyết định ấy được chấp thuận, không có nghi ngờ gì cả.

     Bấy giờ, Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Ngài. Ở đây có ý nghĩa biểu tượng, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống như chim bồ câu đáp đậu. Hình ảnh dùng so sánh không phải là ngẫu nhiên. Chim bồ câu tượng trưng cho sự nhu mì. Cả Matthêu và Luca đều kể lại cho chúng ta cách truyền giảng của Gioan. Thông điệp của Gioan là thông điệp của chiếc búa đang đặt gần gốc cây, về việc luyện lọc khủng khiếp, về ngọn lửa thiêu rụi. Đó là một thông điệp cấp báo sự tàn hại, hủy diệt, chứ không phải một thông điệp của những tin tưc vui mừng. Nhưng ngay từ đầu, bức tranh về Chúa Thánh Thần được ví sánh với chim bồ câu là một bức tranh nhu mì, hiền hậu, Ngài sẽ chiến thắng nhưng chiến thắng ấy sẽ là chiến thắng của tình yêu thương.

    

    

Ngày 07/01/2007, Chúa Nhật – Chúa Hiển Linh

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 2, 1 - 12)

      Khi Đức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ Phương Đông đến Giêrusalem, và hỏi: "Đức Vua dân Dothái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người."

      Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối, và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao. Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế, các kinh sư trong dân lại, và hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời: "Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời". Bấy giờ vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng: "Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người." Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở Phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình bái lạy Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.

> Suy Niệm

     Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy ba hạng người khác nhau với ba thái độ khác nhau đối với Đức Giêsu mới sinh ra. Trước hết là các nhà chiêm tinh đến từ Phương Đông, sau là các thượng tế và kinh sư tại Giêrusalem, và cuối cùng là vua Hêrôđê.

     Các nhà chiêm tinh được nói đến như những người thuộc dân ngoại, không phải là người Dothái Giáo. Họ đại diện cho các dân tộc, các quốc gia trên thế giới đến thờ lạy Đức Giêsu, Đấng trong tương lai và vĩnh cửu sẽ là Vua của toàn thể thế giới và vũ trụ. Thái độ của các nhà chiêm tinh là thái độ của những người tìm kiếm, khắc khoải đối với Thiên Chúa, với tha nhân, với chân lý, công lý và tình thương. Và chính vì họ quyết tâm lên đường và ra công tìm kiếm nên họ đã gặp đúng như Đức Giêsu nói: “Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho” (Mt 7, 8). Khi ngôi sao biến mất, việc tìm kiếm bị thử thách, họ không nản chí bỏ cuộc, vẫn tiếp tục tìm kiếm, vì họ đã quyết tâm và hết lòng tìm kiếm: “Các ngươi tìm Ta thì các ngươi sẽ thấy, bởi vì các ngươi hết lòng tìm kiếm Ta” (Gr 29, 13); “Kẻ yêu Ta sẽ được Ta yêu lại, người tìm Ta ắt sẽ gặp Ta” (Cn 8, 17).

     Các thượng tế và kinh sư Dothái là những bậc thông thái, hiểu biết Kinh Thánh, thông thạo các lẽ đạo của tôn giáo chân chính do chính Thiên Chúa thiết lập. Họ đại diện cho những người có chính đạo. Họ là những người có Kinh Thánh trong tay, nắm vững những kiến thức thần học, họ rao giảng và bảo vệ chân lý của Thiên Chúa. Nhưng khi Đức Giêsu đến, những hiểu biết rộng rãi và sâu xa của họ chẳng giúp ích gì cho họ trong việc tìm gặp Ngài. Họ biết rất rõ Đấng Cứu Thế sinh ra tại Bêlem, vì Kinh Thánh cho biết như thế. Nhưng họ biết để mà biết, để mà dạy người khác, để mà tự hào rằng mình hiểu biết, chứ không phải biết để áp dụng vào đời sống, để đem ra thực hành. Vì thế, cái biết của họ trở nên vô ích cho họ. Cũng vậy, rất nhiều Kitô hữu hiểu biết rất sâu xa về Thiên Chúa, về chân lý, nhưng họ biết chỉ để biết, để khoe, để dạy người khác, để rao giảng, chứ không phải để áp dụng sự hiểu biết ấy vào đời sống thực tế. Vì thế, sự hiểu biết ấy không đem lại sự cứu rỗi cho họ.

     Còn đối với Hêrôđê, ta thấy ông có một nỗi sợ hãi khi nghe các nhà chiêm tinh cho biết: “Đức Vua dân Dothái mới sinh». Ông sợ hài nhi mới sinh ấy sẽ lật đổ vương quyền của ông. Và dù biết hài nhi ấy đến từ Thiên Chúa, ông vẫn quyết tâm trừ khử. Như thế, tính tham quyền cố vị – ngoài xã hội cũng như trong Giáo Hội – có thể làm người ta mất hết lương tri, sẵn sàng gây nên tội ác, hay ít ra là im lặng để mặc sự ác phát triển. Hêrôđê quyết tâm tìm giết con trẻ Giêsu bằng cách “sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bê-lem và toàn vùng lân cận từ hai tuổi trở xuống” (Mt 2, 16).

     Câu chuyện về ba mẫu người trên cho chúng ta bài học quý giá. Những người tưởng rằng mình đang nắm được Thiên Chúa cùng với chân lý, công lý và tình thương trong tay, đồng thời ngủ say và an tâm trong sự lầm tưởng ấy, họ sẽ chẳng bao giờ gặp được Ngài. Vì Thiên Chúa, chân lý, công lý và tình thương là những thực tại sống động, không phải thứ đồ vật tĩnh lặng có thể nắm được trong tay, nên chỉ có thể tìm kiếm và gặp được trong từng thời điểm, chứ không thể nắm bắt một lần cho mãi mãi. Cho nên muốn gặp Thiên Chúa, muốn sống trong chân lý, công lý và tình thương, ta phải không ngừng lên đường tìm kiếm, ra sức thực hiện trong từng thời điểm. Ngừng tìm kiếm, ngừng nỗ lực, thì những thực tại cần thiết ấy sẽ vuột khỏi ta ngay, làm ta xa rời Thiên Chúa và thường hành động ngược lại với chân lý, công lý và tình thương.

     Thật vậy, những ai dù đang theo chính đạo, tự hào tự mãn về chính đạo của mình, tưởng mình đang nắm được chân lý trong tay, nhưng trong thực tế lại không sống đạo của mình, lại còn khinh chê người khác, họ sẽ trở thành những kẻ tự lừa dối chính mình: “Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình” (Gc 1,22). Những ai chỉ biết rao giảng Lời Chúa cho người khác, còn chính bản thân mình lại không thèm áp dụng, hãy lo ngại cho số phận mình như thánh Phaolô: “Tôi phải bắt thân thể tôi chịu cực và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại bỏ” (1 Cr 9, 27).

     Chuyện các nhà chiêm tinh – mà truyền thống Giáo Hội coi là đại diện cho người ngoại và các dân tộc – cho thấy: dù là người ngoại giáo hay không có tôn giáo chân chính, nhưng nếu người ta thật sự nỗ lực tìm kiếm Thiên Chúa thì họ sẽ gặp được Ngài, nếu thật sự muốn thực thi chân lý, công lý và tình thương thì họ sẽ thực hiện được. Còn những người có tôn giáo chân chính, nhưng lại thờ ơ với việc tìm kiếm Thiên Chúa, với việc thực thi chân lý, công lý và tình thương, người ấy sẽ chẳng gặp được Ngài, và trong người ấy không có chân lý, công lý và tình thương.

      Lạy Cha, con tưởng cứ theo chính đạo do Cha sáng lập là bảo đảm được cứu rỗi. Nhưng bài Tin Mừng hôm nay cho thấy, kẻ ngoại giáo quyết tâm tìm kiếm Cha - là chân lý, công lý và tình thương – thì lại bảo đảm gặp được Cha hơn là người có chính đạo mà lãnh đạm với Cha. Xin Cha đừng để con say ngủ trong chính đạo mà thờ ơ với những gì là chân lý, công lý và tình thương. Amen.

    

    

        

Ngày 08/01/2007, thứ hai sau CN I TN

Lễ chúa Giêsu chịu phép rửa– Lễ kính

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 3,15-16.21-22)

      Hồi đó, dân đang trông ngóng, và trong thâm tâm, ai nấy đều tự hỏi: biết đâu ông Gioan lại chẳng là Đấng Mêsia! Ông Gioan trả lời mọi người rằng: "Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa. Khi toàn dân đã chịu phép rửa, Đức Giêsu cũng chịu phép rửa, và đang khi Người cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con.

> Suy Niệm

     Bờ sông Jordan hôm đó nhộn nhịp khác thường, người ta lũ lượt từ các thành thị làng mạc tuốn đến; trong số đó, có cả các luật sĩ, các văn nhân, các thầy thông giáo, các quân nhân và đủ mọi thành phần trong xã hội. Họ đến đây để làm gì? Họ đến để nghe Gioan, vị Tiền Hô Chúa Cứu Thế rao giảng Phép Rửa Sám Hối, với những lời quả quyết vững mạnh và uy quyền: "Hãy sám hối, vì Nước Thiên Chúa đã gần đến!" (Mt 3:2) Mọi người đều tỏ lòng tin tưởng, ngưỡng mộ và khâm phục, sẵn sàng nghe theo lời giáo huấn của ngài và thật lòng sám hối cải thiện đời sống, bằng cách lãnh nhận Phép Rửa ngài ban tại sông Jorđan.

     Chúa Kitô cũng hòa mình trong đám quần chúng đến nghe Gioan rao giảng và cũng xin ông làm Phép Rửa cho Người. Gioan đã nhận ra Người và bỡ ngỡ kêu lên: "Chính tôi xin Thầy làm Phép Rửa cho tôi mới phải, sao Thầy lại đến xin tôi?" (Mt 3:14). Gioan phải sửng sốt, hổ thẹn vì ông đã nhận ra Người là Đấng Thiên Sai nhân loại đợi trông, Đấng là Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể, hóa thân làm người, đã khiêm tốn tự hạ như một tội nhân đến xin ông làm Phép Rửa! Còn ông, mặc dầu được người ta tin tưởng và khâm phục coi ông như một vị tiên tri, ông đã khiêm nhường tuyên bố trước mọi người: "Tôi không phải Elia, cũng chẳng phải là Đức Kitô!", có “Đấng quyền năng hơn tôi đang đến, và tôi không xứng đáng cởi giây giầy cho Người. Đó mới là Đấng sẽ rửa cho anh chị em trong Thánh Thần và bằng lửa".

     Để khởi đầu Sứ Mạng Cứu Thế, truyền bá Tin Mừng Cứu Độ, Chúa Kitô đã khiêm tốn đến lãnh Phép Rửa Sám Hối bởi Gioan là vị tôi tớ và tiền hô của Người. Sau khi chịu Gioan làm Phép Rửa và bước lên khỏi nước, các tầng trời liền mở ra và có tiếng Chúa Cha tuyên dương Con Một Người: "Đây là Con Chí Ái của Cha! Con làm vui thỏa lòng Cha!" Ngài còn phái Thánh Linh, dưới hình Chim Bồ Câu ngự xuống đậu trên Người, để xức dầu phong vương cho Người, như lời Thánh Phêrô Tông Đồ đã rao giảng: "Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong cho Người. Người qua mọi nơi, ban bố ơn lành và chữa những kẻ bị quỉ ám, bởi vì Thiên Chúa ở với Người!"

     Ngay từ xa xưa, qua tiên tri Isaia, Chúa đã phán về Con của Ngài: "Tôi Tớ mà Ta nâng đỡ, là Người Ta tuyển chọn, Ta hài lòng về Người. Ta ban thần trí Ta trên Người... Để Người nên Ánh Sáng của chư dân, mở mắt cho người mù, đưa ra khỏi tù những người bị xiềng xích, đưa ra khỏi ngục những người ngồi trong bóng tối!"

(Is 42:1-4,6-7) Lời đó hôm nay đã hoàn toàn được ứng nghiệm.

     Theo giáo lý của Giáo Hội, Chúa dùng Phép Rửa Sám Hối Người đã lãnh nhận nơi sông Jordan, như hình bóng Nhiệm Tích Thánh Tẩy Chúa sẽ thiết lập, để tẩy rửa và giải phóng chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi và quyền lực hỏa ngục, phục hồi cho chúng ta quyền làm con cái Thiên Chúa.

     Qua Nhiệm Tích Thánh Tẩy, chúng ta được diễm phúc trở nên con cái Chúa, được thừa hưởng gia nghiệp Hạnh Phúc Vĩnh Cửu Nước Trời. Chúng ta cũng được Chúa Thánh Thần xức dầu, cho tham dự quyền Vương Đế của Chúa Kitô, gia nhập Hàng Tư Tế và Dân Thánh của Chúa. Đồng thời, cũng được Chúa ủy thác nghĩa vụ mở rộng Vương Quốc của Chúa, tiếp tục Sứ Mạng Cứu Thế của Chúa Kitô: "Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm Phép Rửa cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con" (Mt 28:19).

     Chúa Kitô đã chịu Phép Rửa và được Chúa Cha sai đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ. Nhờ Phép Rửa đã lãnh nhận, Chúa cũng sai chúng ta ra đi, để chinh phục cho Chúa các linh hồn, phụng sự Chúa và phục vụ đồng loại.

     Cha Petro Arrupê, là một nhân vật quan trọng thuộc Dòng Tên, ảnh hưởng lớn lao của ngài khắp nơi đã khiến nhiều người phải ngạc nhiên thán phục. Từ thời niên thiếu, giấc mơ của ngài là sẽ trở thành một bác sĩ, nhưng những năm theo học tại đại học, ngài đã có cơ hội được tiếp xúc với giới nghèo nàn cùng khổ, ngài động lòng thương họ và từ đó ngài đã chuyển hướng cuộc đời như ngài viết: "Cảnh khốn cùng đã vén tấm màn ngu dốt nơi mắt tôi. Từ đó, tôi xác tín rằng: Ngoài tôi ra, trong thế giới còn biết bao công việc phải làm". Thế là, năm 20 tuổi ngài xin vào tập viện Dòng Tên (1927). Sau 18 năm, ngài làm Giám Đốc tập viện tại một tỉnh nhỏ gần thành phố Hirosina Nhật Bản. Quả bom nguyên tử ném xuống, ngài đã đưa tất cả mọi người bị nạn về tập viện, tập viện của ngài lúc đó đã trở thành một bệnh viện cấp cứu cho dân chúng. Cũng như Cha Petro Arrupê, các Thánh và những linh hồn thành tâm theo sát gương Chúa Kitô, các ngài đã ý thức sứ mạng cộng tác với Chúa trong Sứ Mạng Cứu Thế, nên các ngài quảng đại xả thân phục vụ các linh hồn, sẵn sàng liều cả mạng sống vì phần rỗi các linh hồn, xứng đáng với ơn Nhiệm Tích Thánh Tẩy các ngài đã lãnh nhận.

     Ngày lãnh Nhiệm Tích Thánh Tẩy phải là ngày trọng đại nhất trong cuộc đời. Ngày Chúa trào đổ muôn hồng ân xuống trong tâm hồn, ban sức mạnh thiêng liêng cho chúng ta để rao giảng Mầu Nhiệm Nước Trời, mang Ơn Cứu Độ đến cho các linh hồn. Ngày đó phải được mừng long trọng như một kỷ niệm đáng ghi nhớ muôn đời.

     Đức Thánh Cha Piô XI đã nếm hưởng những giây phút hạnh phúc của ngày thụ phong Linh Mục, ngài cũng đã trải qua những giờ phút rực rỡ của ngày tấn phong Giám Mục, đã hưởng cảnh uy nghi của ngày đăng quang Giáo Hoàng; nhưng ngài vẫn quí trọng và mừng kỷ niệm ngày ngài lãnh Nhiệm Tích Thánh Tẩy hơn hết. Ngày mồng 1.6.1930, dịp lễ giáp năm lãnh Nhiệm Tích Thánh Tẩy, ngài sung sướng nói với giới trẻ tại Rôma: "Ngày lãnh Nhiệm Tích Thánh Tẩy là ngày cao quí nhất đời Cha; cũng thế, ngày chúng con lãnh Nhiệm Tích Thánh Tẩy cũng phải là ngày cao quí nhất đời chúng con".

      Lạy Chúa, xin ban cho chúng con và cho mọi người được hiểu biết giá trị đích thực và cao quí của đặc ân Nhiệm Tích Thánh Tẩy chúng con đã lãnh nhận; xin cho chúng con được ơn can đảm và quảng đại chu toàn sứ mạng Chúa ủy thác, làm tông đồ rao giảng Chúa cho mọi người, chinh phục họ về cho Chúa bằng chính cuộc sống chứng nhân thánh thiện của chúng con. Amen.

    

Ngày 09/01/2007, thứ ba sau CN I TN

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Maccô (Mc 1,21b - 28)

      (Đến thành Capharnaum), ngày nghỉ lễ, Chúa Giêsu vào giảng dạy trong hội đường. Người ta kinh ngạc về giáo lý của Người, vì Người giảng dạy người ta như Đấng có uy quyền, chớ không như các luật sĩ. Đang lúc đó, trong hội đường có một người bị thần ô uế ám, nên thét lên rằng: "Hỡi Giêsu Nagiarét, có chuyện gì giữa chúng tôi và ông? Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết ông là ai: là Đấng Thánh của Thiên Chúa". Chúa Giêsu quát bảo nó rằng: "Hãy im đi, và ra khỏi người này". Thần ô uế liền dằn vặt người ấy, thét một tiếng lớn, rồi xuất khỏi người ấy. Mọi người kinh ngạc hỏi nhau rằng: "Cái chi vậy? Đấy là một giáo lý mới ư? Người dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả thần ô uế và chúng vâng lệnh Người". Danh tiếng Người liền đồn ra khắp mọi nơi, và lan tràn khắp vùng lân cận xứ Galilêa.

> Suy Niệm

     Khi gặp một việc khó khăn hay một vấn đề nan giải ở ngoài tầm tay của mình, hay vượt quá khả năng giải quyết của mình mà được một ai đó giúp đỡ hay giải quyết cách tốt đẹp, chúng ta vui mừng biết bao. Chắc chắn việc bị quỷ ám mà Tin Mừng hôm nay nói đến là việc khó khăn, nan giải, khiến con người bó tay. Và chắc chắn, người bị quỷ ám cùng với thân nhân của anh ta và nhiều người Dothái chứng kiến đã vui mừng sau khi Chúa trừ quỷ. Đây thật là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người và dùng quyền năng cứu giúp những kẻ bất hạnh.

     Với đà tiến của khoa học, của nhận thức, con người ngày càng giải quyết được nhiều khó khăn trong cuộc sống. Nhiều vấn đề hay nhiều nỗi bất hạnh khi trước là nan giải, thì ngày nay không còn nan giải nữa. Và xem ra khoa học ngày càng đẩy lùi thêm mãi nhiều nỗi bất hạnh từng ám ảnh con người.

     Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải nhìn nhận: dù con người có tiến bộ và tài giỏi đến mấy, chắc chắn đời sống đang và sẽ còn nhiều vấn đề khó khăn, vượt quá khả năng của con người, chẳng hạn việc con người bị ảnh hưởng của sự dữ, của tội lỗi, việc con người muốn nên tốt mà không thể được hay cảm thấy sao khó quá, việc con người mang các thứ tật xấu, khoa học kỹ thuật có lẽ không đẩy lùi được những thứ bệnh nan giải đó.

     Đối với những nỗi bất hạnh ấy, con người chỉ có một cách là đến với Chúa. Tin Mừng hôm nay muốn nói đến uy quyền của Chúa, và uy quyền ấy không chỉ có trong quá khứ khi Chúa Giêsu giảng dạy, mà đang có trong hiện tại của Hội Thánh. Ai biết đón nhận, biết tin theo, biết thực thi Lời Chúa, thì có cơ may thoát được các bất hạnh trong đời sống, nhất là đời sống tinh thần và thiêng liêng.

     Vì thế khi gặp khó khăn, đau khổ, chúng ta hãy đến với Chúa, bằng việc sống Lời Chúa, hay cầu nguyện với tất cả tin tưởng cậy trông, chúng ta sẽ được Chúa an ủi, giúp đỡ.

      Lạy Chúa, xin giúp đỡ chúng con.

      

Ngày 10/01/2007, thứ tư sau CN I TN

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Maccô (Mc 1, 29-39)

      Khi ấy, Chúa Giêsu ra khỏi hội đường. Người cùng với Giacôbê và Gioan đến nhà Simon và Anrê. Lúc ấy bà nhạc gia của Simon cảm sốt nằm trên giường, lập tức người ta nói cho Người biết bệnh tình của bà. Tiến lại gần, Người cầm tay bà, và nâng đỡ dậy. Bà liền khỏi cảm sốt và đi tiếp đãi các ngài. Chiều đến, lúc mặt trời đã lặn, người ta dẫn đến Người tất cả những bệnh nhân, tất cả những người bị quỷ ám; và cả thành tụ họp trước cửa nhà. Người chữa nhiều người đau ốm những chứng bệnh khác nhau, xua trừ nhiều quỷ, và không cho chúng nói, vì chúng biết Người. Sáng sớm tinh sương, Người chỗi dậy, ra khỏi nhà, đi đến một nơi thanh vắng và cầu nguyện tại đó. Simon và các bạn chạy đi tìm Người. Khi tìm được Người, các ông nói cùng Người rằng: "Mọi người đều đi tìm Thầy". Nhưng Người đáp: "Chúng ta hãy đi đến những làng, những thành lân cận, để Ta cũng rao giảng ở đó nữa". Và Người đi rao giảng trong các hội đường, trong khắp xứ Galilêa và xua trừ ma quỷ.

> Suy Niệm

       “Sinh lão bệnh tử”. Có sinh tất có tử. Đời người có ai thoát khỏi bệnh tật và sự già nua, và do đó, sự sống, tình yêu và hạnh phúc là bộ ba luôn theo sát với con người, chi phối hết tâm tư tình cảm, và khiến người người ra sức đạt cho bằng được. Chúng ta đều muốn sống, sống thọ, sống đẹp, sống ngon lành; ai ai cũng mơ ước và tìm kiếm tình yêu, mong có thể yêu tối đa và được yêu trọn vẹn; và không một ai không lùng tìm hạnh phúc.

     Tuy nhiên, bệnh tật sẽ làm con người giảm thọ, suy giảm tình yêu và chẳng ai hạnh phúc khi phải mang bệnh tật. Đó cũng là giới hạn của kiếp người.

     Nhạc mẫu của ông Simon đang đau bệnh, nghe biết, Chúa Giêsu đến cầm lấy tay bà mà đỡ dậy, bà liền khỏi bệnh và lo tiếp đãi Chúa. Sống không chỉ sống cho qua ngày, sống lây lất mà là sống cho phong phú, quảng đại. Nếu như bệnh tật đe dọa đến sự sống của con người và làm cho con người đau khổ, thì chính sự sống và phục vụ sẽ làm cho con người người được hạnh phúc. Chúa Giêsu là hiện thân của sự sống, gần Ngài chúng ta được bình an, được sống, vì “Ngài đến để cho chúng ta được sống và sống dồi dào”.

     Chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu, mong ước được ở bên Ngài bằng một đời sống cầu nguyện, hy sinh, bác ái phục vụ, bởi vì cầu nguyện bằng hành động là yêu thương, yêu thương bằng hành động chính là phục vụ, như nhạc mẫu của ông Simon đã được ở gần bên Chúa qua tình yêu và sự phục vụ của mình vậy.

      Lạy Chúa, xin biến chúng con thành khí cụ của Chúa, để chúng con mang yêu thương, bình an của Chúa đến cho mọi người, và tận tình phục vụ họ như chúng con phục vụ Chúa vậy.

                       

       

       

Ngày 11/01/2007, thứ năm sau CN I TN

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Maccô (Mc 1, 40-45)

      Khi ấy, có một người bệnh cùi đến van xin Chúa Giêsu và quỳ xuống thưa Người rằng: "Nếu Ngài muốn, người có thể khiến tôi nên sạch". Động lòng thương, Chúa Giêsu giơ tay đặt trên người ấy và nói: "Ta muốn, anh hãy khỏi bệnh". Tức thì bệnh cùi biến mất và người ấy được sạch. Nhưng Người nghiêm nghị bảo anh đi ngay và dặn rằng: "Anh hãy ý tứ đừng nói gì cho ai biết, một hãy đi trình diện cùng trưởng tế và dâng của lễ theo luật Môsê để minh chứng mình đã được khỏi bệnh". Nhưng đi khỏi, người ấy liền cao rao và loan truyền tin đó, nên Chúa Giêsu không thể công khai vào thành nào được. Người dừng lại ở ngoài thành, trong những nơi vắng vẻ, và người ta từ khắp nơi tuôn đến cùng Người.

> Suy Niệm

     Người phong cùi đến gặp Chúa Giêsu. Anh đến với cả lòng tin: “Nếu Thầy muốn, Thầy có thể khiến tôi nên sạch”. Không dài dòng. Lòng tin đã quá rõ. Và Chúa Giêsu nói ngay: “Ta muốn”. Tình huống thật ly kỳ: một đàng là kẻ phong cùi, tức là thành phần bị khai trừ, vô cùng khốn nạn, kẻ mà không ai chẳng những không được đụng tới, mà hễ thấy phải tránh xa; một đàng là quyền lực của tình yêu. Chúa Giêsu bất chấp tất cả. Chúa đụng đến người phong cùi, và Chúa chữa lành.

     Việc Chúa dám đụng đến người cùi. Việc Chúa chữa lành anh chỉ sau một lời cầu khẩn vắn gọn: “Nếu Thầy muốn”. Đầy quả là những dấu chỉ của một cái gì mới mẻ. Đây là dấu chỉ loan báo Đức Kitô đã khai mào Nước Trời. Như vậy, Nước Trời, Nước Thiên Chúa là gì ?

     Đó là một trật tự mới trong đó tình yêu thay thế hận thù, quan tâm thay thế lạnh nhạt, ánh sáng thay thế bóng tối, sự sống thay thế chết chóc. Đây là một trật tự mới trong thế giới mới, nơi ý Thiên Chúa được thể hiện trọn vẹn. Đây là thời kỳ hồng ân, mùa Sống Đạo Hôm Nay mà chính Chúa Giêsu đã khai mở và thể hiện rộng khắp, bắt đầu từ người cùi biết tìm đến Chúa Giêsu, gặp gỡ Chúa Giêsu, tin vào Chúa Giêsu và van xin Chúa Giêsu.

     Nhìn vào cuộc đời, đôi khi chúng ta cũng là những người cùi: cùi trong sự băng hoại của chính tâm hồn; cùi trong tương quan với Chúa và với anh em. Đáng lý ra, chúng ta đã bị xua đuổi, bị mọi người xa lánh! Nhưng Chúa lại tìm đến gần, đụng đến và chữa lành chúng ta.

     Năm Sống Đạo là một thời cơ quí báu để chúng ta xây dựng trật tự mới trong an bình và hạnh phúc. Hãy đến với Chúa Giêsu, xin Chúa chữa chúng ta khỏi bệnh phong cùi, cho chúng ta biết tha thứ, biết cảm thông, biết tín thác hoàn toàn; mạnh dạn đến thưa với Chúa :”Lạy Thầy, nếu Thầy muốn”. Chắc chắn Chúa muốn và có dư quyền năng để chữa lành chúng ta, chỉ cần chúng ta thành thật, tin tưởng đến gặp Ngài.

      Lạy Chúa, xin chữa lành chúng con !

     

       

Ngày 12/01/2007, thứ sáu sau CN I TN

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Maccô (Mc 2, 1-12)

      Sau ít ngày, Chúa Giêsu lại trở về Capharnaum; nghe tin Người đang ở trong nhà, nhiều người tuôn tới đông đảo đến nỗi ngoài cửa cũng không còn chỗ đứng, và Người giảng dạy họ. Người ta mang đến cho Người một kẻ bất toại do bốn người khiêng. Vì dân chúng quá đông, không thể khiêng đến gần Người được, nên họ dỡ mái nhà trên chỗ Người ngồi một lỗ to, rồi thòng chiếc chõng với người bất toại xuống. Thấy lòng tin của họ, Chúa Giêsu nói với người bất toại rằng: "Hỡi con, tội lỗi con được tha". Lúc ấy, có một ít luật sĩ ngồi đó, họ thầm nghĩ rằng: "Sao ông này lại nói thế? Ông nói phạm thượng. Ai có quyền tha tội, nếu không phải là một mình Thiên Chúa". Chúa Giêsu biết tâm trí họ nghĩ như vậy, liền nói với họ: "Tại sao lòng các ông nghĩ như thế ? Nói với người bất toại này: "Tội lỗi con được tha hay nói: "Hãy chỗi dậy vác chõng mà đi, đằng nào dễ hơn? Nhưng để các ông biết Con Người có quyền tha tội dưới đất". Người nói với kẻ bất toại: "Ta truyền cho con hãy chỗi dậy vác chõng mà về nhà”. Lập tức người ấy đứng dậy, vác chõng ra đi trước mặt mọi người, khiến ai nấy sửng sốt và ngợi khen Thiên Chúa rằng: "Chúng tôi chưa từng thấy như thế bao giờ".

> Suy Niệm

     Chuyện không ai ngờ trước đã xảy đến: đó là bốn chàng hiệp sĩ khiêng một người bất toại, gỡ mái nhà, thòng người bất toại xuống trước mạt Chúa Giêsu. Có lẽ Chúa Giêsu cũng không ngờ có chuyện như thế, và lại có người dám chơi cái trò ấy ?

     Nhưng lập tức Chúa Giêsu nhận ra sức mạnh nhạy bén của lòng tin. Trước sự ngỡ ngàng của đám cử tọa đang vây kín mình, Chúa Giêsu nói với người bất toại: “Hỡi con, tội lỗi con được tha. Hãy chỗi dậy vác chõng mà về”. Đúng là chuyện “chưa từng thấy bao giờ”.

     Trước hết chúng ta phải cảm phục lòng tin của bốn người khiêng và anh chàng bất toại. Một cử chỉ có vẻ điên rồ, liều lĩnh, nhưng nói lên cả lòng tin vô hạn của họ vào Chúa Giêsu. Họ khác hẳn chúng ta, vốn quá kiêu ngạo và ích kỷ, cho nên chúng ta không dám đi những bước của tình yêu; và vì không biết yêu mến, chúng ta không hưởng được tình yêu chữa lành và tha tội của Chúa. Không biết có động lực nào mạnh đến nỗi thúc đẩy chúng ta đến với Chúa Giêsu hay không? Nếu không vì tin và yêu cách chân thực, sâu xa thì việc chúng ta giữ đạo chỉ có tính máy móc, mang dáng vẻ bề ngoài, và hết sức gò bó, bóng dáng của luật sĩ và biệt phái luôn được thể hiện trong cách giữ đạo của chúng ta! Mà giữ đạo như thế ngàn lần chưa phải là sống đạo!

     Cuộc đời có nhiều bất ngờ, nay mình thế này mai lại thế kia. Chúng ta có thể là người bất toại đang nằm trên chõng; có thể là bốn chàng hiệp sĩ có lòng, có tình, có hiểu biết nên sẵn sàng giúp đỡ, dù bị coi là ngu xuẩn, điên khùng; chúng ta có thể là đám đông ồn ào theo Chúa Giêsu và chỉ biết há hốc mồm thán phục trước việc Chúa thực hiện; và, chúng ta cũng có thể là những luật sĩ xem ra tài ba đức độ hơn người, nhưng vì ích kỷ, ghen tương, kiêu ngạo, xấu bụng… nên đã hóa mù, hóa điếc mà không thưởng thức được những gì đẹp đẽ trong đời.

     Hãy đến với Chúa Giêsu. Mạnh dạn đến với Chúa Giêsu. Tìm cách đến với Chúa. Đừng ngại dư luận, đừng sợ miệng người đời, đừng tuyệt vọng vì cho rằng mình thật vô phương cứu chữa. Chúa Giêsu vẫn ở đó, sẵn sàng chữa lành, tha tội, thi ân giáng phúc, và trả lại cho chúng ta địa vị làm con Chúa, làm người giữa muôn người.

     Hướng đi của năm Sống Đạo đang mở cho chúng ta muôn nẻo đường đến gặp Chúa Giêsu. Hãy chọn lấy con đường bảo đảm nhất, dù có khó khăn, để gặp Chúa Giêsu.

      Lạy Chúa, xin hướng dẫn và giải thoát chúng con !

   

Ngày 13/01/2007, thứ bảy sau CN I TN

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Maccô (Mc 2, 13-17)

      Khi ấy, Chúa Giêsu đi dọc theo bờ biển, toàn dân đến cùng Người và Người giảng dạy họ. Khi vừa đi qua, Người thấy ông Lêvi con của Alphê đang ngồi nơi bàn thu thuế, Người bảo ông: "Hãy theo Ta". Ông liền đứng dậy theo Người. Và xảy ra là khi Người dùng bữa tại nhà ông, nhiều người thu thuế và tội lỗi cùng đồng bàn với Chúa Giêsu và các môn đệ của Người, vì đã có nhiều kẻ theo Người. Những luật sĩ và biệt phái thấy Người ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi, liền nói với các môn đệ Người rằng: "Tại sao thầy các ông lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi?". Nghe vậy, Chúa Giêsu bảo họ: "Những người khỏe mạnh không cần gì đến thầy thuốc, nhưng là những người đau yếu. Ta không đến để kêu gọi những người công chính, mà kêu gọi những người tội lỗi".

> Suy Niệm

     Đối với người Do thái, những người thu thuế là gương mù cần phải tránh xa, xét về phương diện tôn giáo và xã hội, vì hai lý do: thứ nhất, vì họ cộng tác với chính quyền ngoại quốc là Rôma, thứ hai, vì họ có bàn tay dơ bẩn bởi tiền của dơ bẩn. Vì thế, họ bị dân chúng ghét bỏ vì thường xảy ra những vụ gian lận hoặc lạm thu. Do đó, tiền của người thu thuế dâng cúng vào đền thờ không được nhận; họ không có quyền dân sự, không thể làm thẩm phán hoặc chứng nhân, tất cả những tiếp xúc với họ đều bị coi là nhơ uế.

     Nhưng đó không phải là thái độ củ Chúa Giêsu, bởi vì Ngài đến để kêu gọi những người tội lỗi. Việc Chúa kêu gọi Lêvi một người thu thuế tội lỗi và ghi ông vào số các Tông đồ, đã bị những người Biệt phái chỉ trích và bị coi như một gương mù "Sao ông ấy lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi". Chúa Giêsu nghe những lời chỉ trích này và Ngài giải thích: "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, chỉ có người đau ốm mới cần. Tôi đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi".

     Cũng như thời Chúa Giêsu, ngày nay không thiếu những kẻ giả hình, tự cho mình là nhân đức, thánh thiện, nhưng lại khinh thường kẻ khác. Cần phải sống kinh nghiệm tình yêu thương của Thiên Chúa để hiểu được bài Tin mừng hôm nay. Việc Thiên Chúa yêu thương người tội lỗi không có nghĩa là Ngài dung thứ tội lỗi. Tình yêu thương của Thiên Chúa không miễn trừ việc nhìn nhận lỗi lầm của con người, cũng không cho phép con người lạm dụng lòng nhân hậu của Ngài. Chúa Giêsu đã đến để giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi, Ngài thấu hiểu sự yếu đuối của con người và sẵn sàng tha thứ, với điều kiện là con người thành thật nhìn nhận tội lỗi của mình và trở lại với Ngài.

      Lạy Chúa, xin cho chúng ta biết lắng nghe tiếng Chúa và mau mắn chỗi dậy theo Chúa.

 

    

Ngày 14/01/2007, Chúa Nhật II Thường Niên C 

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 2, 1-11)

      Khi ấy, có tiệc cưới tại Cana xứ Galilêa. Và có mẹ của Chúa Giêsu ở đó. Chúa Giêsu và các môn đệ Người cũng được mời dự tiệc cưới. Và bỗng thiếu rượu, mẹ Chúa Giêsu nói với Người: "Họ hết rượu rồi". Chúa Giêsu nói với mẹ: "Hỡi bà, tôi với bà có can chi đâu, giờ tôi chưa đến". Mẹ Người nói với những người giúp việc: "Hễ người bảo gì, thì phải làm theo". Ở đó có sáu chum đá, dùng vào việc thanh tẩy của người Do Thái, mỗi chum đựng được hai hoặc ba thùng nước. Chúa Giêsu bảo họ: "Hãy đổ nước đầy các chum". Họ đổ đầy tới miệng. Và Chúa Giêsu bảo họ: "Bây giờ hãy múc đem cho người quản tiệc!". Và họ đã đem đi. Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hóa thành rượu, ông không biết tự đâu ra, nhưng những người giúp việc đã múc nước thì biết, ông mới gọi tân lang mà nói: "Ai cũng đem rượu ngon ra trước, khi khách ngà ngà thì mới đem rượu xoàng hơn. Còn ông, ông lại giữ rượu ngon tới giờ này". Chúa Giêsu đã làm phép lạ đầu tiên này tại Cana xứ Galilêa, và đã tỏ vinh quang Người và các môn đệ Người tin Người.

> Suy Niệm

     Tiệc cưới là một biến cố hết sức quan trọng, nó đánh dấu một bước ngoặc mới trong cuộc đời của con người, cũng như là niềm vui, sự hãnh diện cho cả dòng tộc. Vì vậy, người ta phải chuẩn bị xa, chuẩn bị gần cho ngày trọng đại này. Tiệc càng vui càng ý nghĩa khi tổ chức thành công. Ngược lại nó sẽ trở nên buồn tẻ, để lại niềm hối tiếc trong lòng mọi người khi diễn ra không như ý muốn. Người đi dự tiệc là để chung vui, để chúc mừng với đôi tân hôn.

     Chúa Giêsu và Mẹ Maria cũng được mời đến để chung vui như những người khác. Thế nhưng cách thế hiện diện của Chúa Giêsu và Mẹ Maria không đơn thuần chỉ để chung vui và chúc mừng, nhưng còn là để chúc lành và cảm thông với họ. Không phải cảm thông xuông, nhưng là cảm thông đi đến hành động cụ thể để cứu vớt và làm cho niềm vui được trọn vẹn.

     Trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu và Mẹ Maria đã cảm thông với sự thiếu thốn của gia đình như thế nào: Mẹ Maria thì cầu xin Con mình, còn Chúa Giêsu thì biến nước thành rượu để tiệc vui được trọn vẹn

     Một Đức Maria hết sức nhạy bén với hoàn cảnh thiếu thốn, nằm ngoài ý muốn của gia chủ. Mẹ đã nhận ra rượu đã hết, và biết rằng chủ nhà sẽ rất bối rối, sẽ bị bẽ mặt, và các thực khách sẽ mất vui, Mẹ đã đến với Đức Giêsu mà cầu khẩn: "Họ hết rượu rồi." Đây là một lời nguyện cầu hướng về nhu cầu của tha nhân với tất cả niềm tin và sự phó thác vào người con của mình là Chúa Giêsu. Đây chính là lời cầu nguyện kiểu mẫu cho những lời cầu của chúng ta.

      "Họ hết rượu rồi" – một lời cầu hết sức đơn giản, nhưng là trình lên Chúa tất cả nhu cầu của mình để Chúa làm theo ý của Chúa.

      "Họ hết rượu rồi" – diễn tả sự khiêm tốn, hạ mình, bởi vì là lời cầu xin của một người mẹ đối với con.

      "Họ hết rượu rồi" – Diễn tả một đức tin sắt đá, một sự phó thác hoàn toàn, bởi vì Mẹ sẽ không thể cầu xin Chúa Giêsu nếu Mẹ không tin tưởng vào quyền năng của Con mình.

      "Họ hết rượu rồi" – Một lời cầu hướng đến Danh Chúa được cả sáng. Cho dù gặp thử thách khi nghe lời đáp trả rất cứng cỏi của Chúa Giêsu: “Thưa bà, chuyện đó can chi đến bà và con, giờ của con chưa đến”. Không nghĩ đến thể diện cá nhân, Mẹ vẫn giữ nguyên lòng tin của mình: “Người bảo gì các anh cứ việc làm theo”. Tất cả là cho Ý Chúa thực hiện, tất cả là vì con của mình, tất cả là vì tha nhân.

     Mẹ Maria đã nhạy bén như thế đó; Mẹ Maria đã cảm thông như thế đó; Mẹ đã tin tưởng và cầu nguyện hết sức đơn sơ như vậy đó. Còn phần chúng ta, chúng ta có nhạy bén với nhu cầu của tha nhân không? Sự hiện diện của chúng ta với người khác là để cảm thông đem lại niềm vui, tiếng cười cho tha nhân, hay  là sự hiện diện đầy ganh tị, hiện diện vì tò mò, hiện diện để dò xét, để lên án? Lời cầu nguyện của chúng ta có ôm trọn hết các nhu cầu của tha nhân không, hay chỉ gói gọn trong các nhu cầu ích kỷ của cá nhân mình?

      Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã nêu gương cho chúng con trong những hành động yêu thương, và những lời cầu xin hết sức tin tưởng, xin dạy chúng con biết noi gương Mẹ, tập cho có trái tim biết nhạy cảm, biết rung động trước nhu cầu của tha nhân, để rồi cũng biết dâng lên Chúa Giêu lời cầu xin như Mẹ, để cho mọi người hưởng được hạnh phúc và niềm vui tròn đầy trong cuộc sống. Amen.

     

            

Ngày 15/01/2007, thứ hai sau CN II TN 

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Maccô (Mc 2, 18-22)

      Khi ấy, môn đồ của Gioan và các người biệt phái ăn chay, họ đến nói với Chúa Giêsu rằng: "Tại sao môn đồ của Gioan và các người biệt phái ăn chay, còn môn đệ của Ngài lại không ăn chay?". Chúa Giêsu nói với họ: "Các người phù rể có thể ăn chay khi tân lang còn ở với họ không? Bao lâu tân lang còn ở với họ, thì họ không thể ăn chay được. Nhưng sẽ đến ngày tân lang bị đem đi, bấy giờ họ sẽ ăn chay. Không ai lấy vải mới mà vá áo cũ; chẳng vậy, miếng vải vá sẽ rút lại mà kéo áo cũ, và chỗ rách lại tệ hơn. Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, chẳng vậy, rượu sẽ làm vỡ bầu da, và rượu đổ, bầu da hư. Nhưng rượu mới phải để trong bầu da mới".

> Suy Niệm

     Chúng ta hãy chiêm ngắm thái độ và lời dạy của Ngài trong Tin mừng hôm nay. Vừa bắt đầu sứ mệnh rao giảng của Ngài, cũng như các linh sư khác, môn đệ của Ngài cũng theo một lối sống nào đó. Thế nhưng, điều khiến cho nhiều người ngạc nhiên và đặt vấn đề, đó là Chúa Giêsu và các môn đệ Ngài không tuân giữ một số ngày chay tịnh như môn độ của Gioan hay của những người Biệt phái. Không tuân giữ những ngày chay tịnh đã đành, sau này xem ra Chúa Giêsu càng thách thức hơn nữ, khi Ngài không tuân giữ cả ngày hưu lễ hay một số tập tục khác, như rửa tay trước khi ăn.

     Suốt cuộc sống của Ngài, Chúa Giêsu đã tỏ ra rất độc lập đối với Do thái giáo. Đây quả là cách sống đạo hoàn toàn mới mẻ mà Chúa Giêsu muốn đề ra cho con người. Đối với Ngài, linh hồn và cốt lõi của đạo chính là tình thương; tình thương ấy đã thúc đẩy Ngài đi đến tận cùng bằng cái chết trên Thập giá, và cái chết của Ngài mãi mãi là lời tố cáo về thái độ bất khoan nhượng trong niềm tin tôn giáo của con người.

     Chiêm ngắm thái độ của Chúa Giêsu trong suốt cuộc đời trần thế của Ngài và lắng nghe giáo huấn của Ngài, chúng ta sẽ thấy rằng, cái cốt lõi của đạo chính là tình thương. Trong cuộc sống đạo, nhiều lúc chúng ta thắc mắc phải ăn chay thế nào cho đúng cách? Ngày Chúa Nhật có được làm việc xác không? Bỏ lễ Chúa nhật có tội hay không? Thật ra còn có những câu hỏi nền tảng hơn mà thiết tưởng chúng ta không thể không đặt ra để tự vấn lương tâm mỗi ngày: tôi có sống công bình, bác ái chưa? Tôi có yêu thương người anh em bên cạnh tôi chưa? Nhắm mắt làm ngơ trước nỗi khổ của người xung quanh tôi có phải là một tội không?

      Lạy Chúa, xin cho chúng ta ngày càng thấu hiểu và xác tín rằng, sống đạo là sống yêu thương, rằng cốt lõi của Kitô giáo chính là tình thương, để mỗi người chúng con sống đúng với tư cách là người kitô hữu đích thực, là con của Chúa. Amen.

     

  

Ngày 16/01/2007, thứ ba sau CN II TN

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Maccô (Mc 2, 23-28)

      Vào một ngày sabbat, Chúa Giêsu đi qua đồng lúa, môn đệ Người vừa đi vừa bứt lúa. Tức thì những người biệt phái thưa Người rằng: "Kìa Thầy xem. Tại sao ngày sabbat người ta làm điều không được phép như vậy?" Người trả lời rằng: "Các ông chưa bao giờ đọc thấy điều mà Đavid đã làm khi ngài và các cận vệ phải túng cực và bị đói ư? Người đã vào nhà Chúa thời thượng tế Abiata thế nào, và đã ăn bánh dâng trên bàn thờ mà chỉ mình thượng tế được ăn, và đã cho cả các cận vệ cùng ăn thế nào?" Và người bảo họ rằng: "Ngày sabbat làm ra vì loài người, chớ không phải loài người vì ngày sabbat; cho nên Con Người cũng làm chủ cả ngày sabbat".

> Suy Niệm

     Các kẻ đối nghịch với Chúa Giêsu trong đoạn Tin Mừng hôm nay là những người suốt đời suy niệm Luật Môsê và các lời tiên tri. Họ tuân giữ cách rất nhiệm nhặt từng chi tiết nhỏ trong bộ luật. Có thể nói, họ là những người làu thông lề luật. Thế nhưng không biết vì lý do gì, họ lại quên đi khoản luật “khi vào đồng lúa của người đồng loại ngươi, thì ngươi có thể lấy tay bứt những bông lúa nhưng không được tra liềm cắt lúa của người đồng loại ngươi”(Đnl 23, 26); nghĩa là, họ đánh đồng việc bứt những bông lúa với việc gặt hái vốn là một trong những việc bị cấm làm trong ngày Sabbath.

     Rõ ràng, đây là thái độ xét nét của những kẻ thích bới lông tìm vết để rồi chuyện bé cũng xé ra to.

     Hành vi xây dựng người khác khi họ phạm khiếm khuyết sai lầm thì khác với thái độ cố chấp và xét nét. Xây dựng thì phát xuất từ lòng yêu thương muốn người khác nên tốt; xét nét, trái lại, phát khởi từ lòng ghen ghét, oán thù.

     Thù ghét, xét nét thì chuốc lấy sự bất an cho tâm hồn của mình trước tiên. Nó trói buộc người khác trong một cái nhìn hạn hẹp, phủ nhận những gì là tích cực nơi họ. Và rồi kẻ mang tâm tình xét nét chỉ thấy con người kia, thay vì là bạn, là một kẻ xấu xa đáng ghét. Vô tình, kẻ xét nét đặt mình vào thế đối nghịch với người kia. Thế giới bạn bè của hắn thu hẹp lại, kẻ thù của hắn tăng thêm. Và đó là điều ngu dại, bởi lẽ người khôn ngoan luôn mong sao có thêm nhiều bạn hữu, vì “thêm bạn thì bớt thù”.

     Nhưng trên hết, kẻ mang tâm tình xét nét do lòng hiềm khích ghét ghen làm sao tránh được sự đoán phạt nghiêm minh của Thiên Chúa vì quyền xét thuộc về Thiên Chúa, và làm sao Thiên Chúa có thể cư ngụ trong tâm hồn của kẻ luôn ấp ủ niềm oán ghét?

     Xung quanh tôi, trong gia đình và nơi công sở, có bao nhiêu người đang rơi vào“tầm xét nét”của tôi? Phải chăng chỉ có tôi là người tốt lành và là hình ảnh đúng thực của Thiên Chúa? Nhưng Thiên Chúa không phải là một Thiên Chúa hay xét nét nhưng là đấng bao dung và hay tha thứ. Ngài đón nhận bạn và tôi trong chính thân phận yếu đuối của chúng ta.

      Lạy Chúa, xin ban cho con một tấm lòng bao dung như của Chúa để con biết yêu thương đón nhận người khác như chính họ là và xin cho con luôn luôn ý thức thân phận yếu đuối đầy những lỗi lầm của mình đang cần được Chúa thứ tha.

             

             

Ngày 17/01/2007, thứ tư sau CN II TN

> Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Maccô (Mc 3, 1-6)

      Khi ấy, Chúa Giêsu lại vào hội đường và ở đó có một người khô bại một tay. Người ta để ý quan sát xem Chúa có chữa bệnh trong ngày sabbat không,để tố cáo Người. Chúa bảo người có tay khô bại rằng: "Ngươi hãy đứng ra giữa đây". Rồi Người bảo họ: "Trong ngày sabbat được làm sự lành hay làm sự dữ? Được cứu sống hay là giết chết ?" Nhưng họ thinh lặng. Bấy giờ Người thịnh nộ đưa mắt nhìn họ và buồn phiền vì lòng họ chai đá, Người bảo bệnh nhân rằng: "Hãy giơ tay ra". Người đó giơ tay ra và anh ta được lành. Lập tức những người biệt phái đi ra bàn tính với những kẻ thuộc phái Hêrôđê chống đối Người và tìm cách hại Người.

> Suy Niệm

     Đối vơí