GIỜ KINH GIA ĐÌNH VỚI LỜI CHÚA

         

 

Tháng 03/2007

 

Để “tạo cơ hội tôn vinh và suy niệm Lời Chúa, riêng từng cá nhân, trong gia đình hoặc cộng đoàn” và giúp gia đình sống đạo hôm nay theo lời mời gọi trong thư mục vụ của HĐGM Việt Nam 2006, chúng con xin mạo muội được góp phần cổ võ việc công bố và suy niệm Lời Chúa từng ngày trong giờ kinh Gia đình qua tập suy niệm nhỏ nầy.

 

Chúng con xin đề nghị việc đọc “Giờ kinh Gia đình với Lời Chúa” như sau:

 

-  Hát kinh Chúa Thánh Thần

-  Đọc ba kinh: Tin, Cậy, Mến

-  Công bố Lời Chúa

-  Suy niệm

-  10 kính Kính Mừng kính Đức Trinh Nữ Maria

-  Kết thúc bằng bài hát về Đức Mẹ Maria.

 

Văn Phòng Tòa Giám Mục Phú Cường

 


 

MỤC LỤC

Ngày 01/03/2007, thứ năm sau CN I Mùa Chay.

Ngày 02/03/2007, thứ saú sau CN I MC.

Ngày 03/03/2007, thứ bảy sau CN I MC.

Ngày 04/03/2007, Chúa Nhật II MC.  9

Ngày 05/03/2007, thứ hai sau CN II MC.

Ngày 06/03/2007, thứ ba sau CN II MC.

Ngày 07/03/2007, thứ tư sau CN II MC.

Ngày 08/03/2007, thứ năm sau CN II MC.

Ngày 09/03/2007, thứ saú sau CN II MC.

Ngày 10/03/2007, thứ bảy sau CN II MC.

Ngày 11/03/2007, Chúa Nhật III MC C.

Ngày 12/03/2007, thứ hai sau CN III MC.

Ngày 13/03/2007, thứ ba sau CN III MC.

Ngày 14/03/2007, thứ tư sau CN III MC.

Ngày 15/03/2007, thöù naêm sau CN III MC.

Ngày 16/03/2007, thứ sáuu sau CN III MC.

Ngày 17/03/2007, thứ bảy sau CN III MC.

Ngày 18/03/2007, Chúa Nhật IV MC.  36

Ngày 19/03/2007, thứ hai sau CN IV MC.

Ngày 20/03/2007, thứ ba sau CN IV MC.

Ngày 21/03/2007, thứ tư sau CN IV MC.

Ngày 22/03/2007, thứ năm sau CN IV MC.

Ngày 23/03/2007, thứ sáu sau CN IV MC.

Ngày 24/03/2007, thứ bảy sau CN IV MC.

Ngày 25/03/2007, Chúa Nhật V MC.

Ngày 26/03/2007, thứ hai sau CN V MC.

Ngày 27/03/2007, thứ ba sau CN V MC.

Ngày 28/03/2007, thứ tư sau CN V MC

Ngày 29/03/2007, thứ năm sau CN V MC

Ngày 30/03/2007, thứ sáu sau CN V MC

Ngày 31/03/2007, thứ bảy sau CN V MC


 

Ngày 01/03/2007, thứ năm sau CN I Mùùa Chay

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Matthêu (Mt 7,7-12) 

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Hãy xin thì sẽ được, hãy gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì bất cứ ai xin thì sẽ nhận được. Ai tìm thì sẽ gặp. Ai gõ cửa sẽ mở cho. Nào ai trong các ngươi thấy con mình xin bánh, mà lại đưa cho nó hòn đá ư? Hay là nó xin con cá mà lại trao cho nó con rắn ư? Vậy nếu các ngươi, dù là kẻ xấu, còn biết lấy của tốt mà cho con cái, thì huống chi Cha các ngươi, Đấng ở trên trời, sẽ ban thông sự lành biết bao cho kẻ cầu khẩn Người? Vậy tất cả những gì các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì chính các ngươi hãy làm cho người ta như thế: Đây là điều mà Lề luật và các tiên tri dạy”.

Ø       Suy Niệm

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta kiên nhẫn trong lời cầu xin. Có lẽ trong chúng ta cũng đã trải qua những thách đố trước lời mời gọi: “cứ xin thì sẽ được”. Thật vậy, chúng ta đã cầu xin liên lỉ cho người thân yêu đang bị những căn bệnh trầm kha như ung thư, sida… hay là chúng ta vẫn không ngớt cầu xin cho người chồng bớt nhậu nhẹt say sưa, người vợ bớt bài bạc, người con bỏ con đường nghiện ngập. Thế nhưng hầu như lời cầu xin của chúng ta chẳng có một hiệu qủa gì, người thân của chúng ta vẫn quằn quại trong những cơn hành hạ của bệnh tật, người chồng, người vợ, người con vẫn chứng nào tật nấy… Nhiều lúc chúng ta cảm thấy thất vọng và nghi ngờ Lời Chúa: “Tại sao, tôi cầu xin hoài mà chẳng thấy Chúa nhận lời?”

Quả thật, nếu chúng ta hiểu Lời Chúa hôm nay trong cái nhìn tính toán của chúng ta, chắc chắn chúng ta sẽ thất vọng. Bởi trước tiên Chúa không là vị thần trong câu chuyện “Aladin và cây đèn thần”, Chúa không phục vụ chúng ta như người nô lệ phục vụ ông chủ. Chúa không là tên đầy tớ để chúng ta sai khiến. Dầu sao chúng ta vẫn chỉ là thụ tạo của Thiên Chúa.

Khi đề nghị chúng ta kiên nhẫn trong lời cầu xin. Chúa Giêsu muốn chỉ cho chúng ta khám phá mối tương giao
“Cha – con” giữa chúng ta với Thiên Chúa trong lời cầu xin. Trong mối tương giao nầy, lời cầu xin không còn nhắm đến những mục đích lợi lộc ích kỷ của người cầu xin, nhưng là hướng đến sự toàn thiện trong tình yêu Cha – con.

Thật vậy, Thiên Chúa không bao giờ muốn chúng ta đến với Ngài trong tâm trạng của người đầy tớ đến với ông chủ. Vì như thế lời cầu xin chứa đựng tâm trạng hoài nghi, sợ sệt. Vâng, Thiên Chúa muốn chúng ta đến với Ngài trong tâm tình
Cha – con. Người con xin cha với một thái độ tin tưởng chất chứa yêu thương. Với tâm tình như thế, lời cầu xin không còn hướng đến lợi ích của người con, nhưng là nhắm đến niềm vui của Cha mà người con hướng đến. Vì niềm vui của người Cha là luôn mong cho người con đạt tới điều thiện hảo, chứ không phải là thỏa mãn những điều người con xin.

Hiểu như thế, chúng ta sẽ không còn trách cứ Chúa, tại sao Chúa không nhận lời chúng ta. Chúa vẫn luôn nghe lời chúng ta cầu xin, nhưng hãy nhớ Chúa là Cha, Người luôn quan tâm đến thiện hảo của con cái. Chúng ta đừng “ép” Chúa phải đáp ứng mọi lời chúng ta cầu xin. Bởi như thế, còn đâu là Thiện hảo của Chúa là Cha, và còn đâu là sự mỏng dòn khiếm khuyết của chúng ta!

Kiên nhẫn trong lời cầu xin còn là lời mời gọi chúng ta sống xứng đáng là người con của Thiên Chúa. Lời cầu xin phải là lời phát xuất từ tâm tình của người con thảo hiếu. Có như thế lời cầu xin mới thực sự là lời tin tưởng, phó thác và cậy trông nơi Cha của mình. Trong mối tương giao Cha – con như thế, chúng ta sẽ nhận được sự khích lệ lớn lao trong chính khi chúng ta cầu xin.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn nhận ra tình yêu thương bao la của Chúa khi chúng con cất tiếng cầu xin, để lời cầu xin của chúng con luôn chất chứa sự tín thác trọn vẹn. Xin đừng để chúng con thất vọng vì những lời cầu của chúng con xem ra không được Chúa đón nhận, trái lại xin giúp chúng con nhận ra ánh mắt yêu thương Chúa luôn dõi theo cuộc đời chúng con Amen.

 

Ngày 02/03/2007, thứ sáu sau CN I MC

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 5,20-26)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Nếu các ngươi không công chính hơn các luật sĩ và biệt phái, thì các ngươi chẳng được vào Nước Trời đâu. Các ngươi đã nghe dạy người xưa rằng: Không được giết người. Ai giết người, sẽ bi luận phạt nơi tòa án. Còn Ta, Ta bảo các ngươi: Bất cứ ai phẫn nộ với anh em mình, thì sẽ bị tòa án luận phạt. Ai bảo anh em là ngốc, thì bi phạt trước công nghị. Ai rủa anh em là “khùng”, thì sẽ bị vạ lửa địa ngục. Nếu ngươi đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em đang có điều bất bình với ngươi, thì ngươi hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ngươi trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ. Hãy liệu làm hòa với kẻ thù ngay lúc còn đi dọc đường với nó, kẻo kẻ thù sẽ đưa ngươi ra trước mặt quan tòa, quan tòa lại trao ngươi cho tên lính canh và ngươi sẽ bị tống ngục. Ta bảo thật cho ngươi biết: Ngươi sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng!”

Ø       Suy Niệm

Trong một cuốn sách đã quay thành phim có tựa đề: “Nơi Giấu Ẩn”, có ghi lại một trong những mẫu chuyện tha thứ đẹp nhất trong thời Đức Quốc Xã cuối thế chiến thứ II như sau: “Mặc dù đã cùng với gia đình mình trải qua không biết bao nhiêu là đau khổ dưới thời Đức Quốc Xã”, nhưng bà Koritainbun vẫn nhận ra được tiếng Chúa mời gọi bà hãy rao giảng sự tha thứ. Và bà đã vâng theo tiếng Chúa đi khắp nơi trong nước Đức để kêu gọi sự thứ tha và hòa giải. Một tối kia, vừa giảng thuyết xong, bà Kotitainbun nhìn thấy có một người đàn ông đang tiến về phía bà. Bà chợt nhận ra ngay đó là người lính canh đã từng đánh đập, hành hạ người con gái của bà đến nỗi cố ấy phải chết rũ trong trại tập trung. Tất cả những gì bà vừa rao giảng về sự thứ tha bỗng nhiên tan biến mất, những kỷ niệm của những năm tháng khổ đau bỗng trở lại trong ký ức của bà. Gương mặt của người lính canh đang đứng trước mặt đã gợi lên cho bà nỗi đau đớn nhục nhã, oán hận sôi sục lên trong lòng bà.

Nhưng rồi, bà kịp hồi tâm lại. Bà thầm thì cầu nguyện: “Lạy Chúa, con phải yêu thương và tha thứ cho người nầy. Đó chính là điều con vừa rao giảng cho dân chúng”. Một cuộc chiến đang bùng nổ dữ dội trong lòng bà: một bên là tiếng gọi tha thứ, và một bên là máu nóng hận thù… Người lính canh tiến lại bên bà và hỏi:

-  Bà không nhận ra tôi sao?

-  Có chứ - bà đáp – Tôi vẫn nhớ rất rõ về anh.

Lúc ấy, người đàn ông dường như chờ đợi bà Koritainbun cất lời sỉ và và trút bỏ hận thù cay đắng lên người anh. Nhưng không, bà vẫn cầu nguyện xin Chúa tăng thêm sức mạnh cho bà. Và trong giây lát, hận thù đã biến tan. Bà Korirainbun ôm choàng lấy người lính và thốt lên:

-  Tôi tha thứ cho anh.

Đó chính là việc ăn ở “công chính” mà Chúa Giêsu đã răn dạy các Môn đệ: “nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì chẳng được vào Nước Trời”.

Cách ăn ở công chính mà Chúa Giêsu đòi hỏi chính là một cuộc sống vượt lên trên cách ứng xử phát xuất từ khái niệm mà chúng ta vẫn gọi là công bình: “mắt đền mắt răng đền răng”, hay là một thái độ coi kinh người khác, và đề cao chính mình một cách qúa đáng.

Sự công chính mà Chúa Giêsu đòi hỏi là cách ứng xử công bình hướng tới lòng nhân từ. Thiên Chúa là Đấng công thẳng, nhưng Chúa không dừng lại ở đó, Người đã thực hiện sự công bình qua tình yêu tha thứ được cụ thể hóa bởi cái chết của Người Con Chí Ái trên Thập Giá. Do đó sự công chính mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta sống chính là đối kháng lại hận thù ghen ghét “bằng cách thêm một chút tình thương, một chút lòng tốt. Cái “một chút” đó bắt nguồn từ Thiên Chúa: đó chính là lòng lân tuất của Chúa, đã được nhập thể ở nơi Đức Giêsu. Duy chỉ có lòng lân tuất ấy mới có thể làm cho cán cân của sự dữ nghiêng về bên sự thiện, khởi đầu ngay từ thế giới bé nhỏ và quyết định là trái tim của con người” (Đức Bênêđictô XVI.).

Vì vậy từng người kitô hữu chúng ta phải truyền đạt tới người khác “sự sống công chính” bằng cách  loại trừ hận thù, ghét ghen , cao ngạo ra khỏi con tim của mình, để kiến tạo một cộng đoàn yêu thương, một cuộc sống an bình.

Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết vượt ra khỏi tình yêu quy ngã, ích kỷ, để chúng con biết sống thứ tha, hiền hòa. Xin đừng để cho mầm mống hận thù ghen ghét nẩy nở trong tâm hồn chúng con. Xin dạy chúng con thực thi đời sống công chính bằng một thái độ yêu thương đích thực. Amen.

 

 

Ngày 03/03/2007, thứ bảy sau CN I MC

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 5,43-48)

Khi ấy, Chúa phán cùng các môn đệ rằng: “Các ngươi đã nghe dạy: Ngươi hãy yêu thân nhân, và hãy thù ghét địch thù. Còn Ta, Ta bảo các ngươi: Hãy yêu thương thù địch và làm ơn cho những kẻ ghét các ngươi, hãy cầu nguyện cho những ai bắt bớ và nguyền rủa các ngươi: để như vậy các ngươi nên con cái của Cha các ngươi, Đấng ngự trên trời: Người khiến mặt trời mọc lên cho người lành kẻ dữ, và cho mưa xuống trên người liêm khiết và kẻ bất lương. Vì nếu các ngươi yêu thương những ai mến trọng các ngươi, thì các ngươi được công phúc gì? Các người thu thuế không làm như thế ư? Nếu các ngươi chỉ chào hỏi anh em các ngươi thôi, thì các ngươi đâu có làm chi hơn? Những người ngoại giáo không làm thế ư? Vậy các ngươi hãy nên hoàn hảo như Cha các ngươi trên trời là Đấng hoàn hảo”.

Ø       Suy Niệm

Yêu Mến Thù Địch

Thói thường tình, ai ai cũng yêu thương những người sống gần gũi với mình, những người bà con thân thuộc với mình, còn những kẻ thù, những người đối nghịch, thì ta không yêu được. Trong việc giao tế, điều đó xem ra hợp với lẽ phải và công bằng. Nhưng trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy chúng ta sống không những trên lẽ phải, mà còn sống vượt trên lẽ phải nữa, cụ thể là yêu người vô điều kiện dù người đó là tốt hay xấu, bạn hay thù.

Yêu vô điều kiện là điều khó thực hiện đối với mỗi người, vì tình yêu của mỗi người trên trái đất này đều là tình yêu có điều kiện. Chẳng hạn như tôi yêu bạn vì bạn tốt đối với tôi, bạn che chở đùm bọc tôi. Nhưng trước mặt Chúa, thì tình yêu ấy không còn là tình yêu đích thật nữa, vì ngay cả những người tội lỗi hay gian ác cũng làm được.

“Tình cho không biếu không”, đó là câu hát mà chúng ta vẫn thường nghe, nhưng trong thực tế, đâu dễ tìm ra “tình cho không biếu không”. Ngược lại chúng ta dễ bắt gặp “tình không cho nếu không”. Tức là tình yêu được xây dựng trên chữ nếu.

Tình yêu của Chúa khác hẳn. Chúa yêu chúng ta dù chúng ta thế nào đi nữa. Dù chúng ta tội lỗi, pbản bội, bất tín … thì Chúa vẫn yêu vẫn thương, vẫn quảng đại thứ tha. Tình yêu của Thiên Chúa không thiên vị, không thành kiến, không tư lợi. Đó mới chính là tình yêu đích thực, đó mới chính là “tình cho không biếu không”, cho không và biếu không ngay cả mạng sống của mình vì người mình yêu.

Nếu như hận thù là dấu chỉ sự thống trị của ma quỷ theo đúng nghĩa của nó, vì chính ma quỷ đã gieo thù hận trong lòng con người, đặt con người vào thế chống đối và huỷ diệt nhau, thì Chúa Giêsu đã đến trần gian để chỉ cho con người phương cách độc nhất để hóa giải sự hận thù đó là yêu thương đến cùng, yêu thương đến nỗi hy sinh mạng sống của Ngài. Chỉ có yêu thương, tha thứ mới là khí giới tiêu diệt được kẻ thù. Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta khí giới ấy trong bài Tin mừng hôm nay, đó là: "Hãy yêu mến thù địch và làm ơn cho kẻ ghét ngươi".

Lạy Chúa, sống giữa xã hội đầy chiến tranh và hận thù, xin cho chúng con là con cái Chúa, biết sống như Chúa, sống vượt lên trên tình của của con người, biết yêu nhiều hơn, tha thứ nhiều hơn, để góp phần xây dựng một thế giới đầy ắp nụ cười yêu thương. Amen.

 

 

Ngày 04/03/2007, Chúa Nhật II Mùa Chay C

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 9,28b-36)

Khi ấy, Đức Giêsu lên núi cầu nguyện đem theo các ông Phêrô, Gioan và Giacôbê. Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói loà. Và kìa, có hai nhân vật đàm đạo với Người, đó là ông Môsê và ông Êlia. Hai vị hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem. Còn ông Phêrô và đồng bạn thì ngủ mê mệt, nhưng khi tỉnh hẳn, các ông nhìn thấy vinh quang của Đức Giêsu, và hai nhân vật đứng bên Người. Đang lúc hai vị này từ biệt Đức Giêsu, ông Phêrô thưa với Người rằng: "Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia." Ông không biết mình đang nói gì. Ông còn đang nói, thì bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Khi thấy mình vào trong đám mây, các ông hoảng sợ. Và từ đám mây có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người!" Tiếng phán vừa dứt, thì chỉ còn thấy một mình Đức Giêsu. Còn các môn đệ thì nín thinh, và trong những ngày ấy, các ông không kể lại cho ai biết gì cả về những điều mình đã thấy.

Ø       Suy Niệm

“Đang lúc Chúa Giêsu cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa. Và kìa, có hai nhân vật đàm đạo với Người, đó là ông Môsê và ông Êlia. Hai vị hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem”.

Chúng ta chú ý đến hai nhân vật quan trọng của Cựu Ước, cùng đàm đạo với Chúa Kitô, đó là:

1. Ông Môsê: Người đã được Thiên Chúa chọn để đem dân Ít-ra-en ra khỏi cảnh nô lệ Ai Cập; Người đã nhận từ tay Thiên Chúa Bia Đá ghi khắc Mười Giới Răn. Mười giới răn ấy vừa là dấu chỉ của Giao Ước vừa tượng trưng cho Lề Luật mà Thiên Chúa đòi dân của Người phải tuân giữ. Đồng thời ông Môsê còn là người hướng dẫn dân tiến về Miền Đất hứa mà Thiên Chúa đã hứa với Áp-ra-ham từ xưa….

2. Ông Ê-li-a: là một ngôn sứ vĩ đại được giao sứ mạng củng cố lòng tin của dân vào lời hứa của Giao Ước mà Thiên Chúa đã cam kết với tổ tiên của Ít-ra-en là Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp.

3. Cả Mô-sê và Ê-li-a đều có mặt bên Chúa Kitô. Như vậy, trong Tân Ước, không cần phải là hai nhân vật như Cựu Ước, mà chỉ một mình Chúa Kitô, vừa là Mô-sê Mới và là Ê-li-a mới của thời đại mới, Thời Cứu Độ. Có nghĩa là Lịch Sử hay Giao Ước Cứu Độ, từ nay chỉ cần một mình Chúa Kitô là đủ. Người vừa là Giao Ước mới, vừa là lề luật mới. Chính vì thế, Lời của Chúa Kitô là Lời đặc biệt quan trọng đối với mỗi chúng ta. Lời ấy chính là chuẩn mực, là lề luật tuyệt đối mang lại ơn Cứu Độ cho chúng ta. Lời ấy chính là Lời Giao Ước vĩnh cửu, đưa chúng ta vào huyền nhiệm tình yêu Thiên Chúa, để ta được sống trong Chúa, sống bằng chính sự sống của Chúa. Bởi Lời Chúa Kitô có tầm mức quan trọng và cần thiết cho chúng ta đến như thế, cho nên Thiên Chúa không ngừng mời gọi chúng ta. "Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người!”. Như vậy, với phán quyết long trọng và công khai ấy, Thiên Chúa cho chúng ta biết, từ nay trở đi, vâng nghe lời Chúa Kitô là sống Giao Ước Mới, là chu toàn trách nhiệm của lề luật mới. Bởi vậy, sống Lời Chúa Kitô là điều kiện tối cần thiết, không thể bỏ qua của cả cuộc đời người kitô hữu.

Lạy Chúa, xin biến đổi chúng con, để chúng con trở nên con người mới, con người của Giao Ước mới và Lề Luật mới trong và nhờ Chúa Kitô. Xin cho chúng con biết lắng nghe và sống Lời Chúa, để chúng con được mãi mãi sống trong Chúa và đạt tới ơn Cứu Độ muôn đời. Amen.

 

Ngày 05/03/2007, thứ hai sau CN II MC

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 6, 36-38)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các ngươi hãy có lòng nhân từ như Cha các ngươi là Đấng nhân từ. Đừng xét đoán thì các ngươi khỏi bị xét đoán đừng kết án thì các ngươi khỏi bị kế án. Hãy tha thứ, thì các ngươi sẽ được tha thứ. Hãy cho thì sẽ cho lại các ngươi: Người ta lấy đấu hảo hạng, đã dằn, đã lắc và đầy tràn mà đổ vào vạt áo các ngươi. Vì các ngươi đong bằng đấu nào, thì cũng sẽ được đong trả lại bằng đấu ấy!”

Ø       Suy Niệm

Hãy Sống Nhân Từ

Mahatma Ganhdi, một nhà ái quốc Ấn Độ, lúc còn trẻ, ông sang Anh Quốc học nghề luật sư và nhờ đó có dịp tiếp xúc với Kitô giáo. Ông đọc Phúc âm thường xuyên và rất say mê Chúa Kitô, đặc biệt ông thán phục bản Hiến chương Tám mối phúc thật và lấy đó làm nguồn cảm hứng cho đường lối bất bạo động của ông trong việc dành lại độc lập cho dân tộc mình. Tuy nhiên, có lần ông đã tâm sự với một người thân cận rằng: dù thán phục giáo lý của Chúa Kitô, nhưng ông không thể trở thành kẻ tin Chúa, vì ông thấy nhiều Kitô hữu không sống tám mối phúc thật của Chúa. Ông nói: "Tôi yêu mến Chúa Kitô, nhưng ghét người Kitô, vì họ không giống Chúa Kitô. Nếu họ giống Chúa Kitô thì dân Ấn Độ chúng tôi đã trở lại Công Giáo cả rồi".

Nhận xét của Mahatma Ganhdi trên đây là lời cảnh tỉnh chúng ta về ơn gọi và trách nhiệm của chúng ta. Là người kitô hữu, chúng ta phải sống như Chúa Kitô, phải có những tâm tình từ bi, nhân hậu, yêu thương như Ngài. Tin mừng hôm nay là một bản tóm lược giáo huấn yêu thương của Chúa. Ngài mạc khải cho chúng ta về một Thiên Chúa là Cha nhân từ, đồng thời bày tỏ cho chúng ta biết phải sống thế nào để xứng đáng là con cái Cha trên trời và cảm nhận được tình yêu của Ngài.

Thế nhưng, Thiên Chúa là Đấng vô hình, không ai đã thấy Ngài bao giờ ngoại trừ Con một Ngài là Đức Giêsu Kitô. Chính Ngài đã tỏ cho chúng ta biết Thiên Chúa như thế nào, và chỉ qua Ngài, con người mới có thể thấy và cảm nhận được lòng nhân từ của Thiên Chúa. Do đó, khi mời gọi chúng ta hãy nên trọn lành như Cha trên trời, Chúa Giêsu muốn khẳng định rằng Ngài là mẫu mực của sự trọn lành, chỉ có Ngài mới thể hiện trọn vẹn lòng nhân từ của Thiên Chúa. Cũng chính vì thế, Ngài đã tóm gọn cả cuộc sống người Kitô hữu bằng mệnh lệnh: "Hãy theo Ta", nghĩa là hãy sống như Ngài, sống bằng chính sức sống của Ngài, để có thể nói được như thánh Phaolô: "Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống, mà chính Chúa Kitô sống trong tôi".

Lạy Chúa Giêsu. Xin cho sức sống của Chúa mà chúng con tiếp nhận qua Thánh thể và các Bí tích làm chúng con nên đồng hình đồng dạng với Chúa, ngõ hầu lòng nhân từ của Thiên Chúa mà Ngài đã thể hiện cũng được tiếp tục tỏ bày qua cuộc sống của chúng con. Amen.

 

Ngày 06/03/2007, thứ ba sau CN II MC

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 23,1-12)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng và các môn đệ rằng: “Các Luật sĩ và các người Biệt phái ngồi trên tòa Môisen: vậy những gì họ nói với các ngươi, hãy làm và tuân giữ, nhưng đừng noi theo hành vi của họ: vì họ nói mà không làm. Họ buộc những bó nặng và chất lên vai người ta: còn chính họ lại không muốn giơ ngón tay lay thử. Mọi công việc họ làm đều có ý cho người ta thấy: vì thế họ nới rộng thẻ Kinh, may dài tua áo. Họ rnuốn được chỗ nhất trong đám tiệc và ghế đầu trong hội đường, ưa được bái chào nơi đường phố và được người ta xưng hô là “thầy”. Phần các ngươi, các ngươi đừng muốn được người ta gọi là thầy, vì các ngươi chỉ có một Thầy, còn tất cả các người đều là anh em với nhau. Và các ngươi cũng đừng gọi ai dưới đất là cha: vì các ngươi chỉ có một Cha, Người ngự trên trời. Các ngươi cũng đừng bắt người ta gọi là người chỉ đạo: vì các ngươi có một người chỉ đạo, đó là Đức Kitô. Trong các ngươi ai quyền thế hơn sẽ là người phục vụ các ngươi. Hễ ai tự nhắc mình lên, sẽ bị hạ xuống, và ai tự hạ mình xuống, sẽ được nâng lên”.

Ø       Suy Niệm

Biệt Phái Giả Hình

Những giao tế xã hội dễ khiến cho con người đeo mặt nạ hay đánh bóng khuôn mặt mình bằng những nét giả tạo. Ngay cả trong đời sống tôn giáo, con người cũng dễ bị cám dỗ tô vẽ và đánh bóng gương mặt mình thêm đạo đức. Đó là một trong những thái độ mà Chúa Giêsu đã đả phá một cách gay gắt.

Mùa Chay, người Kitô hữu được mời gọi gia tăng các việc đạo đức: ăn chay, cầu nguyện, hãm mình, bố thí. Ý nghĩa của sám hối dễ bị biến mất khi các việc làm đó biến thành một thứ thi đua, phô trương. Chính vì muốn các tín hữu đề cao cảnh giác trước thái độ phô trương giả hình ấy mà Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe lời kêu gọi của Chúa Giêsu trong Tin mừng hôm nay. Qua thái độ phô trương công đức của các biệt phái và luật sĩ, Chúa Giêsu nêu bật dung mạo của kẻ giả hình. Kẻ giả hình là người muốn đánh lừa người khác bằng các hành vi đạo đức. Họ tìm kiếm vinh dự mà lẽ ra chỉ thuộc về Thiên Chúa. Họ làm những động tác thờ phượng Thiên Chúa, nhưng thật ra chỉ tìm danh vọng và tư lợi. Tựu trung, giả hình là một hình thức tiếm vị Thiên Chúa. dưới nhiều hình thức khác nhau, giả hình là một nọc độc dễ len lỏi vào tâm hồn người kitô hữu. Khi con người thực thi những việc đạo đức cốt chỉ để tìm mình, thì lúc đó con người đang rơi vào thái độ giả hình.

Mùa chay là mùa của hoán cải, là mùa của trở về. Trở về đối với người Kitô hữu chính là trở về với chân lý về con người. Con người đã được tạo dựng để sống cho Thiên Chúa. Chỉ khi nào con người sống trọn cho Thiên Chúa, con người mới thực sự tìm được chính mình. Chỉ khi nào con người bị tiêu hao vì Thiên Chúa, con người mới đạt được tầm vóc viên mãn của mình. Đó là định luật Chúa Giêsu đã đề ra cho các môn đệ Ngài khi nói: "Ai mất sự sống mình thì sẽ tìm lại được".

Lạy Chúa Giêsu, tìm kiếm và yêu mến chỉ một mình Thiên Chúa, đó là định hướng cơ bản của người kitô hữu mà chúng con được mời gọi để đeo đuổi và thực thi trong mùa chay này. Xin Chúa ban ơn trợ lực và soi sáng để chúng con luôn sống theo đúng tinh thần của những người con Chúa. Amen.

 

 

Ngày 07/03/2007, thứ tư sau CN II MC

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 20,17-28)

Khi ấy, Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem, đem riêng mười hai môn đệ đi theo. Dọc đường, Người nói với họ: “Này chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các vị thượng tế và luật sĩ. Người ta sẽ lên án tử cho Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại để chúng nhạo báng, đánh đòn, rồi treo người lên thập giá, nhưng đến ngày thứ ba, ngươi sẽ sống lại”. Bấy giờ bà mẹ các con ông Giêbêđê cùng với hai con đến gặp Người. Bà sấp mình xuống lạy Người, có ý xin người điều chi đó. Người hỏi: “Bà muốn gì”. Bà ta thưa lại: “Xin Ngài hãy truyền cho hai con tôi đây được ngồi một đứa bên hữu, Một đứa bên tả Ngài, trong Nước Ngài”. Chúa Giêsu đáp lại: “Các ngươi không biết điều các ngươi xin. Các ngươi có thể uống chén mà ít nữa đây Ta sắp uống chăng?” Họ nói với Người: “Thưa được”. Người bảo họ: “Vậy các ngươi sẽ uống chén của Ta, còn việc ngồi bên hữu hay bên tả, thì không thuộc quyền Ta ban, nhưng Cha ta đã chuẩn bị cho ai, thì người ấy mới được”. Nghe vậy, mười người kia tỏ ra bất bình với hai anh em: Chúa Giêsu gọi họ lại mà bảo: “Các ngươi biết thủ lãnh của các dân tộc thì thống trị họ và những người làm lớn thi hành quyền trên họ. Giữa các ngươi thì không được thế. Trong các ngươi, ai muốn làm lớn, thì hãy phục vụ các ngươi, và ai muốn cầm đầu trong các ngươi thì hãy làm tôi tớ các ngươi. Cũng như Con Người đến không  phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người".

Ø       Suy Niệm

Phục Vụ Đích Thực

Cho đi để được cho lại, đó là tính toán thường tình của con người. Người ta làm ơn làm phúc để được đền đáp, người ta hy sinh phục vụ để tên tuổi của mình được nhắc đến. Tiền tài, quyền bính, danh vọng là ẩn số luôn ẩn núp sau những công việc mà con người gọi là phục vụ. Tựu trung, điều con người tìm kiếm trong mọi phục vụ vẫn là cái tôi của mình. Chúa Giêsu đã mang lại cho hai chữ "phục vụ" ý nghĩa đích thực của nó: phục vụ như Chúa Giêsu đã sống, tức là sống như một người tôi tớ. Người tôi tớ trong thời phong kiến chỉ có một hiện hữu duy nhất, đó là sống cho và sống vì người khác. Như vậy, phục vụ đích thực chính là sống trọn vẹn cho tha nhân, vì tha nhân, chứ không vì bất cứ một tính toán lợi lộc nào. Phục vụ như thế cũng đồng nghĩa với quên mình và quên mình cho đến chết. Xét cho cùng, theo mẫu gương của Chúa Giêsu, phục vụ cũng đồng nghĩa với chết đi. Đó là bài học mà Chúa Giêsu đã muốn lặp lại khi cho chúng ta lắng nghe trong Tin mừng hôm nay.

Những dân chài Galilê đã bỏ mọi sự theo Chúa Giêsu, nhưng các ông từ bỏ mọi sự với một tính toán, đó là trở thành công hầu khanh tướng trong vương quốc tương lai của Ngài. Các ông cũng không thoát khỏi cái lý luận thường tình của con người : "Tôi cho đi để được lấy lại", "tôi từ bỏ mọi sự để được giầu sang hơn", "tôi phục vụ để được phục vụ lại".

Quyền bính, danh vọng vẫn luôn là cám dỗ đối với Giáo Hội qua mọi thời đại. Dưới lớp áo đạo đức của từ bỏ vẫn còn ẩn núp những tham sân si. Đội lốt tôn giáo, lời tố cáo ấy xem xét ra không phải là quá đáng, bất công đối với không biết bao nhiêu thành phần được gọi là người của Giáo hội.

Gồm những con người yếu hèn, tội lỗi, Giáo hội Chúa Kitô luôn cần được thanh luyện trong ý tưởng, cũng như trong thể hiện của mình. Trong cuộc trở về chung của toàn Giáo Hội, mọi kitô hữu đều được mời gọi để không ngừng hoán cải. Hoán cải là quay về với Chúa, là chỉ tìm kiếm và yêu mến một mình Ngài, là tham dự vào cuộc Tử nạn của Chúa Kitô bằng những hy sinh và từ bỏ chính mình mỗi ngày.

Lạy Chúa Giêsu. Ước gì cái chết của Chúa trên Thập giá mà chúng con suy niệm trong Mùa chay này luôn nhắc nhở chúng con về ơn gọi của người môn đệ, đó là phục vụ, quên mình, và ý thức mình chỉ là đầy tớ vô dụng, chỉ làm những gì phải làm mà thôi. Amen

 

 

Ngày 08/03/2007, thứ năm sau CN II MC

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 16,19-31)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng những người Biệt phái rằng: Có một nhà phú hộ kia vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người hành khất tên là Lazarô, nằm trước cổng nhà ông đó, mình đầy ghẻ chốc, ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm cho. Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy. Nhưng xảy ra là người hành khất đó chết và được các Thiên Thần đem lên nơi lòng Abraham. Còn nhà phú hộ kia cũng chết và được đem chôn. Trong hỏa ngục, phải chịu cực hình, nhà phú hộ ngước mắt lên thì thấy đàng xa có Abraham và Lazarô trong lòng Ngài, liền cất tiếng kêu la rằng: “Lạy cha Abraham, xin thương xót tôi và sai Lazarô nhúng đầu ngón tay vào nước để làm mát lưỡi tôi, vì tôi phải quằn quại trong ngọn lửa nầy”. Abraham nói lại: “Hỡi con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Lazarô gặp toàn sự khốn khổ. Vậy bây giờ Lazarô được an ủi ở chốn nầy, còn con thì chiu khốn khổ Vả chăng, giữa các ngươi và chúng tôi đây đã có sẵn một vực thẳm, khiến những kẻ muốn tự đây qua đó, không thể qua được, cũng như không thể từ bên đó qua đây được”. Người đó lại nói: “Đã vậy, tôi nài xin cha sai Lazarô đến nhà cha tôi, vì tôi còn năm người anh em nữa, để ông bảo họ, kẻo họ cũng phải sa vào chốn cực hình nầy”. Abraham đáp rằng: “Chúng đã có Môisen và các tiên tri chúng hãy nghe các ngài”. Người đó thưa: “Không đâu, lạy cha Abraham ! Nhưng nếu có ai trong kẻ chết hiện về với họ, thì ắt họ sẽ hối cải”. Nhưng Abraham bảo người ấy: “Nếu chúng không chịu nghe Abraham và các tiên tri, thì cho dù kẻ chết sống lại đi nữa, chúng cũng chẳng chịu nghe đâu”.

Ø       Suy Niệm

Hằng ngày trong cuộc sống ta thấy quanh ta đó là những tiếng động. Nhưng trong trong những tiếng động ấy chúng ta dễ dàng nhận ra tiếng rơi của đồng tiền hơn là tiếng kêu bố thí của người nghèo. Chúng ta thường bị lôi cuốn bởi cách sống xa hoa phong phú, hơn là tiếng kêu chia sẻ của những người đói khổ. Chúng ta thường bị lôi cuốn vào nếp sống ích kỷ hơn là tiếng kêu sống quảng đại của những người khốn khổ.

Chắc hẳn là bài học của ông nhà giàu với anh người nghèo Lazarô trong bài Tin mừng hôm nay sẽ là bằng chứng. Vì ham tiền, ham xa hoa phong phú, ham sống ích kỷ nên cuối cùng số phận của ông ta đãõ bị định đoạt bởi lối sống phản Tin mừng của ông ta. Đó là mất sự sống đời đời. Lúc này, tiền bạc, giàu sang, danh lợi không còn giá trị gì với ông ta. Trước mắt đó là những cực hình muôn thuở

Lạy Chúa, những gì Chúa ban cho chúng con có trên trần gian đó là những điều tạm bợ. Xin Chúa ban cho chúng con biết can đảm dùng những của cải nay còn mai mất, để mua lấy sự sống vĩnh cửu cho chúng con, bằng đời sống yêu thương phục vụ những người nghèo khổ. Vì người nghèo khổ là con đường dẫn chúng con đến gặp Chúa ở đời này và ngay cả đời sau. Amen

 

Ngày 09/03/2007, thứ sáu sau CN II MC

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 21,33-43.45-46)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Các ông hãy nghe dụ ngôn nầy: Có ông chủ nhà kia trồng được một vườn nho; Ông rào dậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh; đoạn ông cho tá điền thuê, rồi đi phương xa. Đến mùa nho, ông sai đầy tớ đến nhà tá điền để thu phần hoa lợi. Nhưng những người làm vườn nho bắt các đầy tớ ông: đánh đứa nầy, giết đứa kia và ném đá đứa khác. Chủ lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước, nhưng họ cũng xử với chúng như vậy. Sau cùng chủ sai chính con trai mình đến với họ, vì nghĩ rằng: Họ sẽ kính nể con trai mình. Nhưng bọn làm vườn vừa thấy con trai ông chủ liền bảo nhau: “Đứa con thừa tự kia rồi: Nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiến lấy gia tài của nó”. Rồi họ bắt cậu, lôi ra khỏi vườn nho mà giết. Vậy khi chủ về, ông sẽ xử trí với bọn họ thế nào?” Các ông trả lời: “Ông sẽ tru diệt bọn hung ác đó và sẽ cho người khác thuê vườn nho để cứ đúng mùa, họ nộp phần hoa lợi”. Chúa Giêsu phán: “Các ông chưa bao giờ đọc thấy trong Kinh Thánh: “Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc; đó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta! Bởi vậy Ta bảo các ông: “Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông. để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái”. Các Thượng-tế và Biệt phái nghe dụ ngôn đó, thì hiểu ngầm Người ám chỉ về mình. Họ liền tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì thiên hạ đều tôn Người là tiên tri.

Ø       Suy Niệm

Thư mục vụ năm 2006 Hội Đồng Giám Mục Việt Nam có chủ đề là: Sống Đạo Hôm Nay. Để sống đạo hôm nay được thêm hiệu quả, trước hết chúng ta phải khởi sự từ đức tin. Tin Đức Giêsu Kitô mang ơn cứu độ đến cho con người. Vậy thử hỏi: Đức Giêsu Kitô mà chúng ta tin còn có gì ảnh hưởng gì cho đời sống của chúng ta nữa hay không?

Bài Tin mừng cho thấy: Vì người Do thái họ coi Đức Giêsu Kitô không ảnh hưởng gì cho cuộc sống. Vì thế họ đã xua trừ và giết Chúa trên thập giá. Thái độ khước từ Đức Giêsu Kitô của người Do thái được biểu lộ qua hình ảnh người tá điền và người con một của ông chủ vườn nho. Phải nói đối với người Do thái thời Chúa Giêsu, thì Chúa Giêsu không có chỗ đứng trong đức tin của họ.

Chúa Giêsu là tảng đá góc tường để mọi người nương ẩn, thế nhưng hôm nay chúng ta còn tin Chúa chính là chỗ dựa an toàn vững chắc cho đời ta hay không? Nhiều lúc chúng ta cũng giống như người Do thái, khi chúng ta hay loại trừ  Chúa Giêsu là tảng đá gốc ra khỏi đời ta. Thái độ loại trừ  này được biểu lộ ra nhiều hình thức: Không thực hành lời Chúa, không thực hành Giáo Huấn Hội Thánh, không đến với Chúa qua Bí Tích Thánh Thể, Bí Tích Giải Tội cũng như các Bí tích khác, không đón tiếp những mảnh đời đau khổ…!

Lạy Chúa, Ngài là nơi con nương ẩn, xin cho con luôn nép mình bên Chúa, bằng việc thực thi những điều Chúa dạy. Đó cũng là cách để chúng con đón tiếp Chúa, đồng thời cũng là phương thế để chúng con sống đức tin vào Chúa là Đấng Hằng Sống và Hiển Trị muôn đời. Amen.

 

Ngày 10/03/2007, thứ bảy sau CN II MC

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 15, 1-3.11-32)

Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: “Ông nầy đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn uống với chúng". Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn nầy: “Người kia có hai con trai. Đứa em đến thưa với cha rằng: “Thưa cha, xin cha cho con phần gia tài thuộc về con”. Người cha liền chia gia tài cho các con. Ít ngày sau, người em thu nhặt tất cả tiền của mình trẩy đi miền xa và ở đó ăn chơi xa xỉ, phung phí hết tiền của. Khi nó tiêu hết tiền của, thì vừa gặp nạn đói lớn trong miền đó và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó vào giúp việc cho một người trong miền, Người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó muốn ăn những đồ heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho. Bấy giờ nó muốn hồi tâm lại và tự nhủ: “Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói! Tôi muốn ra đi, trở về với cha tôi và thưa người rằng: “Lạy cha, con đã phạm tội đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha”. Vậy nó ra đi và trở về với cha nó. Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; Ông chạy lại ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu. Người con trai lúc đó thưa rằng: Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; Con không đáng được gọi là con cha nữa”. Nhưng người cha bảo các đầy tớ: “Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu, hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giày vào chân cậu. Hãy bắt con dê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng, vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”. Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình.

Người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiéng đàn hát và nhảy múa, anh gọi một tên đầy tớ để hỏi xem có chuyện gì. Tên đầy tớ nói: “Đó là em câïu đã trở về và cha cậu đã giết con bê béo, vì thấy cậu ấy trở về mạnh khoẻ”. Anh liền nổi giận và quyết định không vào nhà. Cha anh ra xin anh vào. Nhưng anh trả lời: “Cha coi, đã bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn, còn thằng con của cha kia. Sau khi phung phí hết tài sản của cha với bọn điếm nay trở về, thì cha lại sai làm thịt con bê béo ăn mừng nó”. Nhưng người cha bảo: “Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều là của con. Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”.

Ø       Suy Niệm

Người Cha

Mọi người, ai cũng có cha. Hình ảnh người cha luôn là một hình ảnh đẹp. “Công cha như núi Thái Sơn”, chúng ta thường nói như vậy để răn dạy con cái của mình !

Nhưng, ở đời tìm được một người cha lý tưởng thì thật là khó. Cũng có khi cha mẹ còn bị coi là cổ hũ, lạc hậu, khó tính… Mà dẫu sao, đối với người con, thì danh xưng “cha” là cả một sức mạnh hay âu yếm, an ninh và ấm cúng : “Có người cha nào lại không chạnh lòng thương con cái”. Cha mà không thương con thì chỉ có là “ông kẹ”; mẹ mà không thương con thì chỉ có là “mẹ mìn”. Thật ra, trong xã hội ngày nay, những người cha “quái đản” không phải là hiếm đâu !

Người cha trong Tin Mừng hôm nay thuộc vào hạng “quí hiếm”. Hiếm trong cách xử sự với con cái. Hiếm trong cái nhìn lạc quan về tình yêu thương : ông có hai người con; hai con mà chẳng con nào ra con nào. Thằng nhỏ thì bố còn sống đấy đã đòi chia gia tài. Ăn chơi phè phớn, hết tiền, hết cái ăn, kể cả cám heo cũng không có, mò về, chẳng những ông không “xử” nó mà còn bày tiệc ăn mừng … vì nó còn khỏe !

Thằng lớn cũng không khá hơn, có hơn thằng em một chút là nó không bỏ đi thôi. Sống với bố mà nó cũng chẳng hiểu bố tí nào. “Ở nhà mà lòng thì đi hoang”. Em về, bố mừng còn nó thì ghen. Nó bảo bố quá đáng. Nó nói bố nó không biết nhìn. Nó buồn vì bố nó vui. Nó ở nhà với bố chỉ để hy vọng bố nó cho nó cái gì ! Ở với bố, nhưng nó và bố nó là hai thế giới xa lạ. Thế mà bố nó vẫn bảo : “Con ơi, mọi sự của cha là của con”.

Người cha mà thánh Luca kể lại đúng là hiếm thật. Chẳng có ai như ông. Chẳng có ai thương con bằng ông. Con bỏ đi. Ông buồn. Ông ngóng trông con từng ngày. Thấy con từ xa, chưa kịp để nó tới, “ông đã chạy lại”. Nó chưa kịp nói, ông đã nói thay nó. Thay vì trách nó, ông lại chỉ thấy dạt dào một tình thương.

Theo thánh Luca, người cha ấy chỉ có là Thiên Chúa. Chỉ Thiên Chúa mới đủ kiên trì, tình yêu và nhẫn nại đối với con cái mình. Chỉ có Thiên Chúa, Cha, Đấng ở trên trời “mới cho mặt trời mọc lên soi kẻ dữ người lành và làm mưa trên kẻ ngay người ác”.

Thiên Chúa là vậy, chạnh thương, nồng nàn, yêu không tính toán. Và loài người, không ai là cha như Thiên Chúa được. Chỉ có Thiên Chúa mới quên hết mọi lỗi lầm, mới cúi xuống trên người tội lỗi. Chỉ có Thiên Chúa mới cố bám lấy tình thương khi con người cố tình bội phản.

Như vậy, khi cho chúng ta đọc bài này trong Mùa Chay, Giáo Hội muốn chúng ta hãy học cách làm cha như Thiên Chúa. Nói cách khác, Mùa Chay là dịp để chúng ta suy nghĩ về tình thương của Cha, Đấng ngự trên trời và học nơi người tư cách làm một người cha nơi dương thế.

Lạy Chúa, xin tỏ tình thương của Chúa cho chúng con, để chúng con trở nên những con người mẫu mực khôn ngoan trong vai trò là một người gia trưởng. Và xin Chúa cũng biến đổi, nâng đỡ những đứa con của Chúa, để giữa cảnh đời bon chen, nhiều cạm bẫy, chúng con luôn đứng vững trong vòng tay âu yếm của Chúa.

  

 

Ngày 11/03/2007, Chúa Nhật III Mùa Chay C

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 13,1-9)

Lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Đức Giêsu nghe chuyện những người Galilê bị tổng trấn Philatô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. Đức Giêsu đáp lại rằng: "Các ông tưởng mấy người Galilê này phải chịu số phận đó vì họ tội lỗi hơn mọi người Galilê khác sao? Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy. Cũng như mười tám người kia bị tháp Silôác đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giêrusalem sao? Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy." Rồi Đức Giêsu kể dụ ngôn này: "Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình. Bác ta ra cây tìm trái mà không thấy, nên bảo người làm vườn: `Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất?' Nhưng người làm vườn đáp: `Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi.'"

Ø       Suy Niệm

Có Tội Và Vô Tội

Mọi người ai cũng có tội. Không tội lớn thì tội nhỏ. Tội trọng không có thì tội hèn chẳng ưng. Nhưng có mấy ai nhìn nhận mình có tội ! Và tội người thì nhớ lắm, còn tội mình thì mau quên. “Việc người thì sáng việc mình thì quáng”, và “Thấy cái đà trong mắt anh em, còn cái xà trong mắt mình thì không thấy”.

Thế mới khổ, như Chúa nói trong Tin Mừng hôm nay, người ta ít thấy tội của mình. Người ta chỉ thấy tội của người khác mà không thấy tội mình, hoặc nếu như có thấy, thì người ta giả làm người ngây ngô vô tội. Người ta soi mói và xét đoán tội của anh em mình, mặc dù tội mình lớn hơn gấp bội. Người ta thổi phồng tội của anh em mình và tìm cách che đậy tội của mình . Và vì không thấy tội của mình, nên người ta cũng thấy không cần sám hối, mà đã không sám hối nên người ta tiếp tục ảo tưởng về mình, giống như những người Do Thái trong Tin Mừng hôm nay vậy.

Nhưng, có thật chúng ta vô tội không? Đương nhiên, những người có tội không nói làm gì, bởi tội họ đã quá rõ mười mươi? Còn những người khác thì sao?

Chuyện kể rằng: một người kia nổi tiếng là đạo đức, sáng nào cũng đi lễ và làm nhiều việc đạo đức khác. Ông an tâm vì nghĩ mình thánh thiện lắm rồi, cả làng này chẳng ai bằng ông. Ông vui với ý nghĩ ấy và đêm ngày ăn ngon ngủ kỹ. Ngày kia, ông bị bệnh và dự định sáng hôm sau sẽ không đi lễ. Nhưng, sáng hôm sau, có người lạ mặt đánh thức ông dậy, bảo ông mau dậy đi lễ. Ông hỏi thì người ấy tự nhận mình là ma quỷ. Ông hỏi tại sao thay vì ngăn cản, quỷ lại khuyến khích ông đi lễ. Quỷ trả lời : cám dỗ ông đi lễ thì có lợi cho hỏa ngục hơn, bởi vì, càng đi lễ nhiều ông càng cảm thấy an tâm và càng nghĩ mình thánh thiện hơn người khác.

Giống như người đạo đức ở trên và như những người Do Thái trong Tin Mừng hôm nay, nhiều khi chúng ta nghĩ rằng : chúng ta đi lễ đủ, đọc không thiếu kinh gì, thế là chúng ta an tâm không phải lo ăn năn tội gì nữa và nghĩ rằng mình chẳng có tội gì ! Thật ra, tội chúng ta nặng lắm, như cây vả sử dụng đất màu mỡ mà không sinh trái, chúng ta đón nhận ơn lành của Chúa mà không chịu làm việc lành phúc đức, chúng ta chỉ lo gom góp lợi lộc cá nhân mà không màng gì đến người khác; với vốn liếng Chúa trao thay vì sinh trái lành, chúng ta lại sinh trái độc, trái hư hỏng.

Thành ra, chúng ta đừng tưởng mình vô tội. Nếu cho đến lúc này, chúng ta vẫn là những cây vả không sinh hoa trái thì cũng còn thì giờ để hoán cải và làm phát sinh hoa trái với thời gian mà Chúa dành cho chúng ta, trước khi đưa chúng ta ra trình diện trước mặt Ngài. Thời hạn ấy có thể là sang năm, như Chúa nói, nhưng cũng có thể là đêm nay, ngay lúc này, bởi vì, giờ ra đi của chúng ta không ai biết được. Chúng ta cần hoán cải ngay bây giờ trong khi thời gian còn kịp, và Mùa Chay là thời điểm thuận tiện để chúng ta làm việc ấy.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết xét mình mỗi ngày, để với ơn Chúa soi sáng chúng con biết việc mình phải làm, và khi làm, xin Chúa nâng đỡ chúng con từ khởi sự cho đến hoàn thành hầu Danh Chúa được rạng sáng và mưu ích cho các linh hồn.

 

 

Ngày 12/03/2007, thứ hai sau CN III MC

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 4, 24-30)

Khi đến Nadarét, Đức Giêsu nói với dân chúng trong hội đường rằng: "Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình. "Thật vậy, tôi nói cho các ông hay: vào thời ông Êlia, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà goá ở trong nước Ítraen; thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành Xarépta miền Xiđôn. Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Ê-li-sa, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Ítraen, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ co ông Naaman, người xứ Xyri thôi." Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi.

Ø       Suy Niệm

Sám Hối Là Tin Vào Tình Yêu Của Chúa

Chúa nhật III Mùa Chay, Chúa bảo chúng ta: “Ai tưởng mình đang đứng vững, coi chừng kẻo té ngã” mà đã ngã thì đau lắm. Nói cách khác, Chúa bảo chúng ta : đừng kiêu ngạo, đừng quá tự mãn về mình, bởi vì chúng ta mong manh, yếu đuối lắm, và bởi vì, chúng ta thân phận tội lỗi, cần ơn tha thứ của Chúa. Vì thế, hãy tỉnh thức để nhận ra lỗi lầm, để kịp thời sám hối trước khi thời hạn Chúa chờ chúng ta qua đi.

Tuy nhiên, kinh nghiệm cho hay rằng, sám hối chỉ xảy ra khi người ta biết hối lỗi, biết ăn năn về lỗi lầm đã qua; thế nhưng, người ta chỉ hối lỗi khi người ta biết rằng, việc họ làm đã gây ra đau khổ cho người yêu thương họ; biết rằng : họ làm thế là không phải, không nên với tình yêu người khác dành cho mình; nghĩa là hối hận chỉ xảy ra khi người ta đặt mình trước một ai đó, mà họ biết người ấy tốt với mình, người ấy thương mình, cũng có nghĩa sám hối chỉ xảy ra khi người ta tin vào lòng thương xót của Chúa.

Chính vì thế mà hôm nay, Lời Chúa bảo chúng ta rằng, để việc sám hối có hiệu quả, chúng ta phải tin vào lòng thương xót của Chúa, phải đặt mình trước tình yêu của Đức Chúa, bởi vì có tin Chúa yêu mình, mình mới sẵn sàng hối cải; có tin Chúa yêu mình, mình mới can đảm nhận ra và xưng thú lỗi lầm.

Như vậy, tin Thiên Chúa yêu mình, hay tin vào lòng thương xót của Chúa, đó mới là điều căn bản. Thiên Chúa yêu con người thế nào, chúng ta đã biết.

Thiên Chúa yêu con người như người cha chạnh thương con cái; như người mẹ nựng đứa con thơ; Ngài không chấp tội con người như câu chuyện vua Đavít là một ví dụ; hơn thế nữa, không chỉ không chấp tội con người, Thiên Chúa còn dùng tình yêu để cứu chuộc con người…

Thiên Chúa của chúng ta là như vậy. Ngài vừa là một người Cha, vừa là một người Mẹ; vừa là một Ông Chủ, nhưng cũng là một đầy tớ; vừa là Chúa, nhưng cũng vừa là một con người; vừa là thượng tế, nhưng cũng là của lễ cứu độ hiến dâng.

Vì thế, sống ở trên đời là sống trong sự bao bọc của Chúa, sống trong tình yêu của Chúa. Thiên Chúa luôn luôn và mãi mãi thực thi lòng thương xót của người trên trần gian và nơi con người, nhưng con người lại trốn tránh và không tin vào tình yêu của Thiên Chúa, họ tin vào khả năng của mình hơn; họ tự mãn, tự kiêu. Họ nghĩ rằng Thiên Chúa chỉ làm cho họ trở thành yếu đuối và nhu nhược ! Cũng như ông Naaman, một vị tướng tài đã không tin vào một Thiên Chúa gần gũi nhưng quyền năng; hay như một dân Do Thái kỳ thị muốn chứng kiến một dấu lạ từ trời nơi một Giêsu đồng hương !

Chúng ta ngày nay cũng rơi vào trường hợp của một trong hai đối tượng đó ; đòi dấu lạ, nếu không được thì nao núng niềm tin và có khi đòi bỏ Chúa. Chúa vẫn luôn làm phép lạ trong cuộc sống này, vì Đức Giêsu hôm qua, hôm nay, và mãi mãi vẫn là một.

Mùa Chay là cơ hội để chúng ta thay đổi cách nhìn, đổi mới niềm tin, thật tình sám hối để đón nhận ơn tha thứ của Chúa. Tin vào tình yêu của Chúa sẽ biến đổi và đưa chúng ta trở về chính lộ trong sự tha thứ của Thiên Chúa và phục vụ anh chị em như thánh Phaolô đã nói : “Người ta được nên công chính không phải do làm những gì luật dạy, nhưng là tin vào Đức Giêsu Kitô”.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết thật tình sám hối ăn năn vì những lỗi lầm trong cuộc sống, và tin tưởng vào tình yêu tha thứ của Chúa. Amen

 

Ngày 13/03/2007, thứ ba sau CN III MC

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 18, 21-35)

Khi ấy, Phêrô đến thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lần. Có phải đến bảy lần không”? Chúa Giêsu đáp: “Ta không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy. Về vấn đề nầy, thì Nước Trời cũng giống như ông vua kia muốn tính sổ với các đầy tớ. Trước hết, người ta dẫn đến vua một người mắc nợ mười ngàn nén bạc. Người này không có gì trả, nên chủ ra lệnh bán y, vợ con và tất cả tài sản của y để trả hết nợ. Người đầy tớ liền sấp mình dưới chân chủ và van lơn rằng: “Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn và tôi sẽ trả cho ngài tất cả”. Người chủ động lòng thương, trả tự do và tha nợ cho y. Khi ra về, tên đầy tớ gặp một người bạn mắc nợ y một trăm bạc; Y tóm lấy, bóp cổ mà nói rằng: “Hãy trả nợ cho ta”. Bấy giờ người bạn sấp mình dưới chân và van lơn rằng: “Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn, tôi sẽ trả hết nợ cho anh”. Y không nghe, bắt người bạn tống giam vào ngục, cho đến khi trả nợ xong. Các bạn y chứng kiến cảnh tượng đó, rất khổ tâm, họ liền đi thuật với chủ tất cả câu truyện. Bấy giờ chủ đòi y đến và bảo rằng: “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta; còn ngươi, sao ngươi không chịu thương bạn ngươi như ta đã thương ngươi”. Chủ nổi giận, trao y cho lý hình hành hạ cho đến khi trả hết nợ. Vậy Cha Ta trên trời cũng xử với các con đúng như thế, nếùu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ cho anh em mình”.

Ø       Suy Niệm

Chúng ta thường câu nệ rằng: "Tôi sẽ không tha thứ chừng nào hắn chưa nói lời xin lỗi". Nhưng làm như vậy chỉ khiến chúng ta phải ôm nỗi hận trong nhiều năm mà rốt cục chỉ có mình khổ. Và như thế, chúng ta để cho sự bình yên của mình nằm trong tay kẻ khác.

Một nghiên cứu tại Đại học Hope ở Michigan, Mỹ, đã cho thấy con người bị căng thẳng về tim mạch đáng kể khi họ hình dung kế hoạch trả thù những người làm đau mình. Nhưng sức ép sẽ giảm đi rất nhiều khi họ mường tượng đến cảnh tha thứ cho những người phạm lỗi. Các nhà khoa học tại Đại học Stanford cũng tìm thấy những ai biết thứ tha có các cơn giận dữ và triệu chứng stress ít hơn rất nhiều so với những người giữ mãi mối hận.

Điều đó cho thấy rằng, tha thứ là một điều cần thiết và quan trọng trong đời sống của con người. Biết tha thứ cho những người làm ta đau đớn sẽ mang lại một cảm giác yên bình mà ta không thể có được khi ôm riết lấy mối hận thù. Ngoài ra, tha thứ còn làm ta khoẻ mạnh hơn cả về thể chất lẫn tinh thần.

Hơn nữa, tha thứ còn mang một tầm mức quan trọng hơn, vì nó là điều kiện tiên quyết để được thứ tha, để được ơn cứu độ. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến điều này rất nhiều lần. Dụ ngôn hôm nay không những nhắc lại điều đó, mà còn cho thấy, tội ta xúc phạm đến Chúa muôn ngàn lần nặng nề hơn anh em xúc phạm đến ta. Thế mà Chúa vẫn sẵn sàng tha thứ cho ta một cách mau chóng, nhẹ nhàng, chỉ với một điều kiện là ta cũng phải tha cho anh em những lỗi lầm ít ỏi anh em xúc phạm đến ta.

Cũng vậy, khi dạy chúng ta đọc kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu bắt chúng ta phải hứa tha cho anh em khi xin Người tha thứ lỗi lầm của chúng ta. Ở cuối kinh Lạy Cha, thánh Mátthêu còn thêm: "Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em".

Lạy Chúa Giêsu, chúng con biết tha thứ là điều khó thực hiện, đặc biệt là khi phải tha cho những người xúc phạm đến chúng con, nhưng tha thứ lại là điều kiện để chúng con được Chúa thứ tha. Xin cho chúng con luôn cố gắng sống tha thứ mỗi ngày để đáng được hưởng ơn cứu độ của Chúa. Amen.

 

 

Ngày 14/03/2007, thứ tư sau CN III MC 

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 5, 17-19)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các con đừng tưởng Ta đến để hủy bỏ lề luật hay các tiên tri: Ta không đến để hủy bỏ, nhưng để kiện toàn. Vì Ta bảo thật các con: Cho dù trời đất có qua đi, thì một chấm, một phẩy trong bộ luật cũng không bỏ sót, cho đến khi mọi sự hoàn thành. Bởi vậy, ai hủy bỏ một trong những điều luật nhỏ mọn nhất, và dạy người khác làm như vậy, sẽ kể là người nhỏ nhất trong Nước Trời; trái lại, ai giữ và dạy người ta giữ những điều đó, sẽ được kể là người cao cả trong Nước Trời”.

Ø       Suy Niệm

Mọi lề luật Chúa dạy điều quan trọng và cần thiết cho đời Kitô hữu của ta. Bởi chính lề luật là phương thế giúp ta nên thánh. Nó đưa ta ngày càng tiến đến gần Thiên Chúa, càng nên giống Chúa, càng chắc chắn hơn trong sự lãnh nhận ơn cứu độ đời đời, do đó, càng xứng đáng là con cái của Chúa hơn. Bởi tầm quan trọng của việc sống lề luật như thế, cho nên Chúa Kitô đã nhấn mạnh: “Thầy đến không phải để bãi bỏ lề luật nhưng để kiện toàn” và  “Ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời; còn ai giữ và dạy người ta giữ những điều đó, thì sẽ được gọi là người cao cả trong Nước Trời”.

Viên đá nhiều góc cạnh nằm trơ trên bãi biển, sẽ không có gì đẹp. nhưng với thời gian lâu dài, do sự mài mòn dần của sóng biển xô dạt, viên đá trở thành đá cụi. Có người yêu thích lượm đá về để trên bàn giấy của mình.

Cũng vậy, người Kitô hữu cũng cần được mài giũa từng ngày để nên nhẵn nhụi hơn, để thời gian càng dày thêm trong cuộc đời, thì càng bớt đi những góc cạnh là tất cả thói hư, tật xấu như: ganh tỵ, ghen ghét, tham lam, kiêu ngạo, cậy mình, lười biếng trong các việc đạo…

Một trong những phương thế giúp ta gọt giũa mình, là sống lề luật Chúa, là thực hành mọi điều Chúa dạy trong Lời của Người. Chỉ khi nào ta biết ý thức để sống, hơn thế, biết ra sức sống lề luật của Chúa, nhất là biết yêu mến Chúa và yêu anh chị em như Chúa muốn, ta sẽ dễ dàng đạt đến ơn cứu độ, sẽ là “người cao cả trong Nước Trời”.

Lạy Chúa, huấn lệnh Ngài con yêu quý, quý hơn vàng, hơn cả vàng y. Theo mọi huấn lệnh Ngài, con thẳng bước, lòng ghét mọi đường nẻo gian tà (Tv 118, 128). Vì thế, Lạy Chúa, xin chạnh lòng thương cho con được sống (Tv 118, 77). Amen.

 

 

Ngày 15/03/2007, thứ năm sau CN III MC

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 11, 14-23)

Khi ấy, Chúa Giêsu trừ một quỷ câm. Khi quỷ ra khỏi, người câm liền nói được và dân chúng đều bỡ ngỡ. Nhưng có mấy người trong bọn họ nói rằng: “Ông ta nhờ tướng quỷ Bêelgiêbút mà trừ quỷ”. Mấy kẻ khác muốn thử Người, nên xin người một dấu lạ từ trời xuống. Nhưng Người biết ý của họ, liền phán: “Nước nào tự chia rẽ, sẽ diệt vong, và nhà cửa sẽ sụp đổ chồng chất lên nhau. Vậy nếu Sa tan cũng tự chia rẽ, thì nước đó làm sao đứng vững được. Bởi các người bảo Ta nhờ Bêelgiêbút mà trừ quỷ, vậy nếu Ta nhờ Bêelgiêbút mà trừ quỷ, thì con cái các ngươi nhờ ai mà trừ? Bởi đó chính con cái các ngươi sẽ xét xử các ngươi. Nhưng nếu Ta nhờ ngón tay Thiên Chúa mà trù quỷ, ắt là nước Thiên Chúa đã đến giữa các ngươi rồi. Khi có người khỏe mạnh và võ trang đầy đủ canh giữ nhà mình, thì của cải người đó được an toàn, nhưng nếu có người mạnh hơn xông đến đánh bại hắn, thì sẽ tước hết khí giới hắn tin tưởng, và làm tiêu tan hết những gì đã tước đoạt. Ai không thuận với Ta là nghịch cùng Ta, và ai không thu góp với Ta là phân tán ".

Ø       Suy Niệm

Vô phúc cho người Do Thái vì họ cứng lòng tin. Bởi không tin, họ đã nhiều lần bỏ qua, hay đúng hơn, họ tự để mình nhiều lần vuột khỏi cơ hội lãnh nhận hồng ân của Chúa. Thái độ không tin và tự đánh mất ơn Chúa đã là thái độ đáng tiếc. Nhưng không chỉ ở mức độ đáng tiếc, thái độ cứng tin của người Do Thái càng đáng lến án hơn khi họ biến mình thành kẻ chống đối Thiên Chúa.

Bài Tin Mừng hôm nay là một trong rất nhiều bằng chứng cho thấy sự đáng tiếc và đáng lên án ấy. Chứng kiến phép lạ của Chúa, lẽ ra họ phải thần phục Người. Nhưng không! Thay vì thần phục, họ đã gọi Chúa là tướng quỷ: “Ông ta nhờ tướng quỷ Bêelgiêbul mà trừ quỷ”. Bởi không chấp nhận đức tin và chống đối Thiên Chúa, đồng nghĩa với việc, người Do Thái tự mình đối đầu với ơn cứu độ của Chúa, do đó họ đi ngoài ơn cứu độ, tách mình hoàn toàn với ơn cứu độ. Họ xứng đáng bị lên án bởi lời này của Chúa Giêsu “Ai không thuận với Ta là nghịch cùng ta, và ai không thu góp với Ta là phân tán”.

Nhìn lại chính mình, nhiều lúc chúng ta giật mình, vì hình như “chất Do Thái” ngày xưa cũng đang đan xen trong ta. Dù ta không thẳng thừng chối từ niềm tin, càng không bao giờ lên tiếng chống đối Chúa, nhưng qua thái độ, cách sống, sự suy nghĩ, việc làm, tương quan của ta với anh em…, cho thấy rõ mình ta đang sống xa cách Lời Chúa, sống như không có Chúa trong ta. Vì lối sống “thiếu Chúa” như thế, dù không minh nhiên nhưng hình như vẫn phản phất thái độ chống đối Chúa. Qua lối sống đó, ta cũng làm cho người khác khó đến gần Chúa hơn. Nói chính xác, ta không sống chứng nhân cho Chúa. Mà không sống chứng nhân, cũng đồng nghĩa với việc ta bôi đen khuôn mặt của Chúa trên chính cuộc đời ta.

Lạy Chúa, xin cho con biết để cho Lời Chúa thẩm thấu từng ngày trong đời con, để Lời Chúa uốn nắn con, dạy con ý thức để đừng bao giờ trở thành kẻ chống đối chính Chúa, là Đấng chúng con phải tôn thờ. Amen.

 

 

Ngày 16/03/2007, thứ sáu sau CN III MC

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Maccô (Mc 12,28b-34)

Khi ấy, có người trong nhóm Luật sĩ tiến đến Chúa Giêsu và hỏi Người rằng: "Trong các giới răn điều nào trọng nhất?” Chúa Giêsu đáp: “Giới răn trọng nhất chính là: Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi. Còn đây là giới răn thứ hai: Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó”. Luật sĩ thưa Ngài: “Thưa Thầy, đúng lắm! Thầy dạy phải lẽ khi nói Thiên Chúa là Chúa duy nhất và ngoài Người không có Chúa nào khác nữa. Mến Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức mình và yêu tha nhân như chính mình thì hơn mọi lễ vật toàn thiêu và mọi lễ vật hy sinh”. Thấy người ấy có ý kiến khôn ngoan, Chúa Giêsu liền bảo: “Ông không còn xa nước Thiên Chúa bao nhiêu”. Và không ai dám hỏi Người thêm điều gì nữa.

Ø       Suy Niệm

Theo Chúa, Chúa đòi chúng ta phải hiến dâng cho Người bằng một tình yêu trọn vẹn. Một tình yêu không pha lẫn bất cứ một tạp chất nào. Đó là một đòi hỏi quyết liệt: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi”. Đó là điều răn thứ nhất, và quan trọng nhất.

Sống điều răn thứ nhất này, là ta phải đặt Chúa lên trên hết mọi sự. Thờ phượng Chúa phải là ưu tiên trên mọi ưu tiên. Ta phải coi Chúa là tất cả của đời ta và mãn nguyện vì có Chúa trong đời mình. Ta hiến dâng cho Chúa và để Chúa chiếm trọn cuộc đời ta, con người ta, thời gian của ta dù quá khứ, hiện tại hay tương lai.

Nhưng sống đạo mà chỉ mến Chúa thôi chưa đủ. Lòng mến Chúa phải được cụ thể nơi tương quan của ta vơi anh em của mình. Nói cách khác, lòng mến Chúa đòi phải yêu thương anh em, sống bác ái với anh em. Cũng chính vì thế, ngay sau điều răn về lòng yêu mến Chúa, Chúa đòi chúng ta phải yêu người: “Ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình. Không có điều răn nào trọng hơn hai điều răn đó”.

Như vậy, chỉ trong Chúa, tôi nhận ra mọi người là anh em của tôi. Trong Chúa tôi biết rằng, mọi người là hình ảnh của Thiên Chúa. Trong Chúa, tôi phải yêu thương và tôn trọng tất cả mọi anh chị em của tôi, dù đó là một thai nhi, một phạm nhân, một người mất trí…

Như vậy, tình yêu đối với Thiên Chúa đưa tôi về với anh chị em của tôi. Và tình yêu đối anh chị em, chính là biểu hiện của lòng yếu mến Chúa. Đúng hơn, chỉ có một tình yêu mà thôi: Yêu tha nhân trong Chúa và yêu Chúa nơi tha nhân.

Lạy Chúa, xin cho con yêu Chúa và yêu tha nhân như Chúa yêu chúng con. Xin làm cho  con biết nhìn lên Chúa, để thấm nhuần tình yêu của Chúa, và cúi xuống trên thân phận của mọi người xung quanh con, để thực thi chính tình yêu mà chúng con lãnh nhận từ Chúa. Amen.

 

Ngày 17/03/2007, thứ bảy sau CN III MC

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 18, 9-14)

Khi ấy, Đức Giêsu kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác: "Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế. Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: `Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.' Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: `Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.' Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên."

Ø       Suy Niệm

Dù không nhớ rõ lắm, nhưng tôi mang máng đã đọc hay nghe đâu đó câu chuyện hình như có nội dung thế này: Một vị thánh nọ rất đạo đức. Ngài thường xuyên cầu nguyện và cầu nguyện rất lâu giờ. Một hôm, vì mệt, vị thánh ngủ quên. Thấy trời đã sáng, ma quỷ đến gọi ngài dậy đọc kinh sáng. Ma quỷ, kẻ chống đối Thiên Chúa mà nhắc nhở người ta đọc kinh? Chuyện tưởng khó tin, nhưng lại là sự thật đối với vị thánh: “Ngươi là kẻ luôn chống đối Thiên Chúa, phá hoại những kẻ thuộc về Thiên Chúa mà lại nhắc nhở ta đọc kinh à?”, ngài thắc mắc. Ma quỷ đáp lại: “Ta gọi ông đọc kinh không phải vì ông, càng không bao giờ  vì sáng danh Chúa, mà chỉ vì…danh ta (!)”. Đọc kinh vì danh ma quỷ ư? Vị thánh càng ngạc nhiên, ngài tròn xoe đôi mắt, ngỡ như ma quỷ nói nhầm. Thấy ngài không hiểu, ma quỷ nói tiếp: “Sở dĩ ta gọi ông dậy, vì khi ông câu nguyện, ông sẽ  yên tâm mình đã cầu nguyện rồi. Còn nếu ông bỏ cầu nguyện, suốt ngày ông sẽ hối hận, sẽ dằn vặt. Chính vì thế, ông càng tưởng nhớ đến Chúa nhiều hơn, càng không yên lương tâm, càng thấy mình có lỗi và xin lỗi Chúa nhiều hơn. Như thế là bất lợi cho ta”.

Tương tự như câu chuyện trên, có lẽ kiểu cầu nguyện của người pharisêu sẽ khiến ma quỷ vui mừng hơn. Ông cầu nguyện mà chẳng thấy Chúa đâu, chỉ thấy có mình mà thôi. Ông biến giờ cầu nguyện thành giờ khoe khoan công đức của ông: “Tôi không như các người khác: trộm cướp, bất công, ngoại tình, hay là như tên thu thuế kia; tôi ăn chay mỗi tuần hai lần và dâng một phần mười tất cả thu nhập của tôi”.

Ngược lại, lời cầu nguyện hết sức đơn thành, tuy ngắn nhưng là tất cả nỗi lòng của của người thu thuế, hạn người bị coi là tội lỗi, xấu xa. chắc chắn lời cầu nguyện đây tha thiết của người thu thuế làm cho ma quỷ… “đau lòng” lắm. Bởi lời cầu nguyện của ông đẹp lòng Chúa. Lời cầu nguyện đó đưa ông đến gần Chúa hơn. Ông khiêm nhường thưa với Chúa: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”.

Cầu nguyện là việc làm thường ngày của người Kitô hữu. Nhưng chúng ta đến với Chúa bằng tất cả sự ngay lành, lòng khiêm nhường, thái độ nhìn nhận mình là thân phận yếu đuối, tội lỗi, thấp hèn, thiếu thốn… hay chỉ đến với Chúa bằng lòng kiêu ngạo, thói cậy mình, khoe khoan…? Chúng ta là ai, pharisêu hay người thu thuế trong hai người lên đền thờ cầu nguyện?

Hãy nhớ rằng: “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1, 51-52). Vì thế, hãy khiêm nhường trước mặt Chúa. Hãy đến với Chúa bằng tất cả tấm lòng thành, bằng tất cả niềm tín thác. Hãy cầu nguyện và để Chúa thực hiện ý Chúa trên đời ta chứ không phải đòi Chúa nghe theo ý ta.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết sống khiêm nhường, biết nghĩ đến người khác hơn nghĩ đến bản thân con. xin cho con biết hạ mình trước mặt Chúa, và sống khiêm nhường với mọi người, để chúng con xứng đáng nhận lãnh tình yêu của Chúa. Amen.

Ngày 18/03/2007, Chúa Nhật IV Mùa Chay C

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 15,1-3.11-32)

Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng. Những người Pharisêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: "Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng." Đức Giêsu mới kể cho họ dụ ngôn này: "Một người kia có hai con trai. Người con thứ nói với cha rằng: `Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng.' Và người cha đã chia của cải cho hai con. Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình. "Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo. Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ: `Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói! Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: `Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.' Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha. "Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. Bấy giờ người con nói rằng: `Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa ...' Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: `Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.' Và họ bắt đầu ăn mừng. "Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì. Người ấy trả lời: `Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì gặp lại cậu ấy mạnh khoẻ.' Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ. Cậu trả lời cha: `Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!' "Nhưng người cha nói với anh ta: `Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.'"

Ø       Suy Niệm

Ngày xưa người ta thích gọi dụ ngôn này là dụ ngôn Người con hoang đàng. Nhưng bây giờ, nhiều người không đồng ý như thế. Họ thích gọi dụ ngôn là dụ ngôn Người Cha nhân hậu. Có lẽ cách gọi sau hay hơn cách gọi trước vì, rõ ràng, dụng ý của thánh Luca khi viết dụ ngôn này, đã cho thấy vai trò của Người Cha chủ động trong tình yêu của ông, một tình yêu lớn  không thể tưởng, không thể hiểu nổi bởi nó vượt quá sức những gì ta có thể tưởng nghĩ, có thể hiểu được: một tình yêu vĩ đại không gì sánh bằng.

Trong mùa Chay, Hội Thánh mời gọi ta trở về với Chúa và trở nên giống Thiên Chúa. Hội Thánh dạy ta hãy để cho tình yêu của Chúa ngự trị trên cuộc đời mình, và hãy tin tưởng ngã vào tình yêu của Người. Bởi đó, dụ ngôn trên được gọi là dụ ngôn Người Cha nhân hậu lại càng ý nghĩa hơn, có sức mời gọi ta mạnh hơn, tích cực hơn, giúp ta hiểu rằng, khi ta trở về với Chúa, trước hết, là do tình yêu của Chúa, nại vào tình Chúa yêu ta, chứ không phải tự bản thân ta. Bởi nếu ta có cố gắng vươn lên, thì đó cũng chỉ là nỗ lực cộng tác của ta vào tình yêu của Chúa mà thôi. Chính Chúa là Đấng đoái nhìn đến ta, chủ động yêu thương và tha thứ cho ta.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết tin tưởng phó thác tuyệt đối vào tình yêu của Chúa. Chúng con biết, nhiều lần, chúng con cũng giống như người con hoang đàng bỏ Chúa mà ra đi theo thế gian, theo tiếng gọi của chước cám dỗ. Xin tha thứ cho chúng con. Xin uốn nắn lòng chúng con, để từ đây, nhất là trong mùa Chay thánh này, chúng con làm lại những gì đã đánh mất và xứng đáng hơn với tình yêu vô bờ của Chúa. Amen.

 

 

Ngày 19/03/2007, thứ hai sau CN IV MC

THÁNH GIUSE – BẠN TRĂM NĂM ĐỨC MARIA – LỄ TRỌNG

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 1,16.18-21.24a)

Ông Gia Cóp sinh Giuse, chồng của bà Maria, bà là mẹ Đức Giêsu cũng gọi là Đấng Kitô.

Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ." Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy.

Ø       Suy Niệm

Lễ Thánh Giuse

Thánh Giuse thuộc dòng tộc Đa Vít. Truyền thống Hội Thánh vẫn tin rằng, thánh Giuse được Chúa thánh hóa trước khi sinh ra, vì Chúa đã chọn thánh nhân làm cha nuôi của Con Chúa. Bởi: “Khi Thiên Chúa muốn tuyển chọn ai, để nhận lãnh một ơn gọi đặc biệt, hoặc một chức phận cao sang, Chúa luôn ban những ân sủng cần thiết cho người được tuyển chọn để thi hành ơn gọi hay sống chức vụ của mình. Ân sủng của Chúa sẽ tô điểm rất đầy đủ cho người được tuyển chọn ấy”.

Hội Thánh tin như thế, vì điều đó không đi ngược với những gì Thánh Kinh đã cho biết về thánh Giuse. Bởi địa vị của thánh Giuse quá cao trọng: Người được coi là cha của Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. Người là bạn của Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu. Từ đời đời, Thiên Chúa đã tuyển chọn thánh Giuse làm dưỡng phụ của Chúa Giêsu. Người là Đấng gìn giữ Con Thiên Chúa và gìn giữ gia đình thánh tại Nagiareth. Chúa Giêsu là cả kho tàng ơn cứu độ loài người, vì thế, cách nào gìn giữ Chúa Giêsu, thánh Giuse cũng là Đấng bảo hộ kho tàng ơn cứu rỗi của chúng ta.

Dù quyền cao chức trọng là thế, nhưng thánh Giuse lại sống rất âm thầm, rất giản dị, không khoe khoang, nhưng khiêm nhường rất mực. Đặc biệt, thánh nhân đề cao đức vâng lời trong suốt đời mình. Một mực vâng theo thánh ý Chúa đến cùng. Thánh Kinh cho thấy đức vâng lời của thánh Giuse là một nhân đức tuyệt hảo, đáng là chuẩn mực cho sự vâng lời của chúng ta.

Chúng ta không thể biết ngày qua đời của thánh Giuse. Có lẽ thánh nhân đã qua đời trước cuộc thương khó của Chúa Giêsu, vì nếu không như thế, thì chắc thánh Giuse đã có mặt, hoặc được Thánh Kinh nhắc đến trong biến cố đau thương này. Và Nếu có thánh Giuse bên cạnh, chắc Chúa Giêsu cũng đã không trối Đức Maria cho thánh Gioan.

Chiêm ngắm cuộc đời và gương sống của thánh Giuse, chúng ta rút ra nhiều bài học quý giá. Thánh Giuse dạy ta sống trọn niềm tin tưởng và phó thác cho Chúa bằng một tình yêu toàn vẹn, không hề gợn chút nghi nan nào. Thánh Giuse dạy chúng ta biết khiêm nhường, biết yêu đời sống thanh vắng để tìm khám phá thánh ý Chúa. Thánh Giuse dạy ta tìm sống thinh lặng, sống ẩn mình, sống thanh bần trong niềm bình an nhằm đón nhận tất cả mọi biến cố, mọi cảnh huống rơi vào giữa đời mình, gia đình mình. Thánh Giuse còn dạy ta yêu mến Chúa bằng hiến dâng trái tim yêu mến Chúa từng phút giây, trọn cuộc đời của mình… Thánh Giuse còn dạy ta rất nhiều bài học. Mỗi một người, khi chân thành chiêm ngắm thánh Giuse, đều có thể rút ra cho mình một bài học kinh nghiệm sống với Chúa và với con người.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa không ngần ngại gọi thánh Giuse là cha, và hết lòng tuân phục người cha trần thế của mình. Xin lắng nghe lời chúng con khẩn nài, nhờ sự bàu cử của thánh Giuse, cho chúng con suốt đời trung thành yêu mến và vâng phục thánh ý Chúa trên từng ngày sống của mỗi chúng con. Amen.

 

Ngày 20/03/2007, thứ ba sau CN IV MC

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 5,1-3a.5-16)

Hôm đó là ngày lễ của người Do Thái, Chúa Giêsu lên Giêrusalem. Tại Giêrusalem gần cửa “Chiên”, có một cái hồ, tiếng Do Thái gọi là Bếtsaiđa, chung quanh có năm hành lang. Trong các hành lang nầy, có rất nhiều người đau yếu, mù lòa, què quặt, bất toại nằm la liệt. Trong số đó, có một người nằm đau liệt đã ba mươi tám năm. Khi Chúa Giêsu thấy người ấy nằm đó và biết anh đã đau từ lâu, liền hỏi: “Anh muốn được lành bệnh không?” Người đó thưa: “Thưa Ngài, tôi không được ai đem xuống hồ, mỗi khi nước động. Khi tôi lết tới, thì có người xuống trước tôi rồi”. Chúa Giêsu nói: “Anh hãy đứng dậy vác chõng mà về”. Tức khắc người ấy được lành bệnh. Anh ta vác chõng và đi. Nhưng hôm đó lại là ngày Sabbat, nên người Do Thái bảo người vừa được khỏi bệnh rằng: “Hôm nay là ngày Sabbat, anh không được phép vác chõng”. Anh ta trả lời: “Chính người chữa tôi lành bệnh bảo tôi: “Vác chõng mà đi”. Họ hỏi: “Ai là người đã bảo anh: “Vác chõng mà đi”. Nhưng kẻ đã được chữa lành không biết người là ai, vì Chúa Giêsu đã lánh vào đám đông tụ tập nơi đó. Sau dó, Chúa Giêsu gặp anh ta trong đền thờ, Người nói: “Nầy, anh đã được lành bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn khổ hơn trước”. Anh ta đi nói cho người Do Thái biết: Chính Chúa Giêsu là người đã chữa anh ta lành bệnh. Vì thế người Do Thái gây sự với Chúa Giêsu, vì Người đã làm như thế trong ngày Sabbat.

Ø       Suy Niệm

Người bất toại 38 năm không được ai đưa xuống hồ để được khỏi bệnh. Tình trạng người này coi như tuyệt vọng: 38 năm không phải là ít, nó gần bằng một đời người; và 38 năm nằm liệt có thể ví như đã chết, vì không có khả năng tự mình tìm phương thế cứu lấy mình, dù nằm bên cạnh suối nước chữa bệnh. Hoàn cảnh anh ta cũng hết sức khốn đốn: không có người thân, không còn bạn bè vì bệnh quá lâu nên người ta bỏ anh, đúng như anh ta xác nhận “tôi không có ai…”

Thếù nhưng giữa đám người đui mù, què quặt nằm la liệt ở Cửa Chiên, Chúa Giêsu lại chọn con người này để chữa lành mặc dù anh ta không hề lên tiếng van xin. Điều đó có nghĩa là, Thiên Chúa luôn có mặt trong mọi nỗi đau của con người và khi con người lâm cơn tuyệt vọng thì chỉ một mình Thiên Chúa khởi xướng việc chữa lành, bởi những kẻ khốn khổ nhất là kẻ được Thiên Chúa lưu tâm nhiều nhất: “Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ, cứu những tâm thần thất vọng ê chề”(Tv 34, 19).

Câu hỏi “Ngươi có muốn khỏi bệnh không?” của Chúa Giêsu có vẻ như dư thừa, vì ai bị bệnh mà lại không muốn được chữa khỏi. Thế nhưng, câu hỏi đó của Ngài cốt để gợi lên hy vọng nơi người bệnh và để anh ta nói lên tình trạng tuyệt vọng của mình. Nếu muốn được chữa lành, anh ta phải chọn chỗi dậy, và nếu muốn khỏi bệnh anh ta phải tỉnh thức để giữ mình và chừa bỏ tội lỗi sau khi đã được làm cho lành mạnh. Bởi vì, Chúa Giêsu cho biết, giữa tội lỗi và bệnh tật có một mối liên hệ rất ư gần gũi.

Hôm nay, Chúa Giêsu cũng đặt câu hỏi đó đối với mỗi người trong chúng ta là những kẻ mang đủ thứ bệnh tật trong tâm hồn: “Ngươi có muốn khỏi bệnh không?”

Phải chăng đã bao lần chúng ta cảm thấy bất lực và khốn khổ vì cứ sa đi ngã lại trong một thứ tội nào đó mà không thể vượt qua được? Thực ra, một phần lớn là vì chúng ta không thực sự muốn đoạn tuyệt với tội, vẫn còn có một chút yêu thích luyến tiếc nào đó đối với tội lỗi và muốn ở lại trong tình trạng cũ; hoặc chúng ta không nhìn nhận mình bất lực mà cứ cậy dựa vào sức riêng để chống lại tội lỗi để rồi chuốc lấy thất bại thảm hại; hoặc tệ hơn, chúng ta ngã lòng không tin tưởng vào tình yêu tha thứ và chữa lành của Thiên Chúa để rồi không chịu chỗi dậy sau mỗi lần vấp ngã.

Những lần té ngã, tái phạm là bình thường và không tránh được trong thân phận làm người. Cái “khốn hơn” ở đây là nằm bẹp luôn sau mỗi lần té ngã thay vì vác chõng mà đi; cái “khốn hơn” còn là việc tin rằng tất cả đều hoàn tất mà không biết việc vô cùng cần thiết cần phải làm là tỉnh thức để chăm sóc sự sống hầu cho nó mang lại hoa trái; nói cách khác, chúng ta đừng dựa vào ân sủng để rồi cứ nằm im trong sự bất lực.

Lạy Chúa, Chúa đã tha thứ  và phục hồi sự sống thiêng liêng cho chúng con trong Bí Tích Giải Tội; xin cho chúng con biết giữ gìn sự sống ấy và làm cho nó tăng triển mỗi ngày để những ân huệ Chúa ban cho chúng con không trở nên vô ích. Amen.

 

Ngày 21/03/2007, thứ tư sau CN IV MC

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 5,17-30)

Khi ấy, Chúa Giêsu trả lời dân Do Thái rằng: “Cha Ta làm việc liên lỉ, Ta cũng làm việc như vậy”. Bởi thế người Do Thái càng tìrn cách giết Người. Vì không những Người đã phạm luật nghỉ ngày Sabbat, lại còn gọi Thiên Chúa là Cha mình, coi mình ngang hàng với Thiên Chúa. Vì thế, Chúa Giêsu trả lời họ rằng: “Quả thật, quả thật, Ta nói cho các ngươi biết: Chúa Con không thể tự mình làm gì, nếu không thấy Chúa Cha làm. Điều gì Chúa Cha làm, thì Chúa Con cũng làm y như vậy. Vì chưng, Chúa Cha yêu Chúa Con và bày tỏ cho Chúa Con biết mọi việc mình làm, và sẽ còn bày tỏ những việc lớn lao hơn thế nữa, đến nỗi các ngươi sẽ phải thán phục. Bởi vì cũng như Chúa Cha cho người chết sống lại và làm cho họ sống thế nào, thì Chúa Con cũng vậy, Ngài làm cho ai sống là tùy ý Ngài. Vì hơn nữa, Chúa Cha không xét xử ai cả, và trao cho Chúa Con trọn quyền xét xử, để cho mọi người tôn trọng Chúa Con cũng như tôn trọng Chúa Cha: ai không tôn trọng Chúa Con thì không tôn trọng Chúa Cha Đấng đã sai Ngài. Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: Ai nghe lời Ta và tin Đấng đã sai Ta, thì được sống đời đời và khỏi bi xét xử, nhưng được từ cõi chết mà qua cõi  sống. Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi, vì đến giờ và ngay bây giờ, kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa, và ai đã nghe thì sẽ được sống. Cũng như Chúa Cha có sự sống nơi chính mình thế nào, thì Người cũng cho Chúa Con có sự sống nơi mình như vậy, và ngươi đã ban cho Chúa Con quyền xét xét, vì Ngài là Con Người, các ngươi đừng ngạc nhiên về điều này, vì đến giờ mọi kẻ trong mồ, sẽ nghe tiếng Con Thiên Chúa và ra khỏi mồ; kẻ đã làm việc lành thì sống lại để được sống, còn kẻ đã lành việc dữ thì sống lại để bị xét xử. Ta không thể tự mình làm điều gì. Nghe sao, Ta xét xử vậy. Và án Ta xử  thì công minh, vì Ta không tìm ý riêng Ta, mà tìm ý Đấng đã sai Ta”.

Ø       Suy Niệm

Chúng ta vẫn thường được khuyên bảo hãy thi hành thánh ý Thiên Chúa. Ý muốn Thiên Chúa là thánh thiện luôn nhắm đến những kết quả thiện hảo. Do vậy, kẻ thực thi Ý Chúa thì không sợ gặp thất bại. Trái lại, nếu việc làm không tương hợp với  Thánh Ý thì khó lòng gặt được những kết quả tốt đẹp. Giống như cỗ máy đồng hồ: chỉ cần một răng bánh xe nào đó không ăn khớp với nhau, thì toàn bộ cỗ máy hoạt động lệch lạc khiến cho đồng hồ chạy sai ! Đó là lý do vì sao chúng ta gặp nhiều đổ vỡ và thất bại trong các công việc mình làm.

Nhưng làm sao biết được thánh ý Thiên Chúa để thi hành?

Chúa Giêsu là mẫu gương của người thi hành trọn vẹn Thánh Ý như Ngài xác nhận “Ta không thể tự ý mình làm điều gì… vì Ta không tìm cách làm theo ý riêng Ta, nhưng theo ý Đấng đã sai Ta”. Nhưng làm sao biết được Thánh Ý nếu không nghe, không thấy? Thật vậy, Chúa Giêsu đã thấy Chúa Cha làm việc như Ngài xác quyết “Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ  điều Người nhìn thấy Cha làm”. Nhưng làm sao Chúa Giêsu thấy được Cha Ngài nếu Ngài không gặp gỡ? Và Ngài gặp gỡ Chúa Cha bằng cách nào? Chính những giờ cầu nguyện trong thinh lặng âm thầm mà Ngài gặp gỡ Cha Ngài. Và nhờ sự tương giao thân tình gần gũi với Cha như thế mà Ngài đã “bắt gặp” Cha đang làm việc, nắm bắt được điều Cha muốn, và làm được điều Cha làm. Nhờ thế, Ngài được Cha tuyên bố “ Ta hài lòng về Người!” (Mt 3,17).

Như thế, Chúa Giêsu là mẫu gương cho mọi con cái Thiên Chúa. Chúng ta phải chiêm ngắm Chúa Cha để Ngài dạy cho chúng ta hiểu được ý muốn của Ngài và học lấy việc làm của Ngài: không thể có đời sống Kitô giáo mà lại không có cầu nguyện, không có một mối quan hệ thân mật riêng tư nào với Thiên Chúa!

Lạy Chúa, xin thương ban cho chúng con tinh thần ham thích cầu nguyện và tỏ cho chúng con biết được ý muốn của Ngài, cùng ban ơn nâng đỡ giúp chúng con thi hành trọn vẹn Thánh Ý. Amen.

 

Ngày 22/03/2007, thứ năm sau CN IV MC

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 5,31-47)

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với dân Do Thái rằng: "Nếu chính Ta làm chứng về mình, thì chứng của Ta sẽ không xác thực. Có một Đấng khác làm chứng về Ta, và Ta biết chứng Người làm về Ta thì xác thực. Các ngươi đã sai người đi hỏi Gioan, và Gioan đã làm chứng cho sự thật. Phần Ta, Ta không cần chứng của loài người, nhưng Ta nói những điều nầy để các ngươi được cứu thoát. Gioan là cây đèn cháy sáng. Các ngươi cũng rnuốn vui hưởng ánh sáng đó một thời gian. Nhưng Ta có một bằng chứng hơn chứng của Gioan: vì công việc Chúa Cha đã giao cho Ta hoàn thành, là chính công việc Ta đang làm. Các việc đó làm chứng về Ta rằng Chúa Cha đã sai Ta. Và Chúa Cha, Đấng đã sai Ta, chính Người cũng làm chứng về Ta. Nhưng chưa bao giờ các ngươi được nghe tiếng Người, chưa bao giờ nhìn thấy mặt Người, và lời Người, các ngươi cũng chẳng giữ lại được, vì các ngươi không tin Đấng Người đã sai đến. Các ngươi tra cứu Sách Thánh, vì tưởng rằng trong đó các ngươi sẽ tìm thấy sự sống muôn đời; chính Sách Thánh lại làm chứng về Ta, vậy mà các ngươi vẫn không chịu đến với Ta để được sống. Ta không tìm vinh quang nơi loài người. Nhưng Ta biết các ngươi không có lòng yêu mến Thiên Chúa. Ta đến nhân danh Chúa Cha, nhưng các ngươi không chịu đón nhận. Nếu có một người nào khác nhân danh mình mà đến, các ngươi sẽ đón nhận nó. Các ngươi là những người nhận vinh quang lẫn nhau mà không tìm vinh quang do một Thiên Chúa, thì làm sao các ngươi có thể tin được? Các ngươi đừng tưởng rằng Ta sẽ tố cáo các ngươi với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ngươi là Môi Sen, tức là người mà các ngươi vẫn tin tưởng. Vì nếu các ngươi tin Môisen, thì có lẽ các ngươi cũng đã tin Ta. Bởi vì chính Môisen đã viết về Ta. Nhưng mà nếu các ngươi không tin điều Môi Sen đã viết, thì làm sao các ngươi tin lời Ta được”.

Ø       Suy Niệm

Chúa Giêsu nói với những người Do Thái rằng, Người là Nguồn Sự Sống, và đây là các chứng cứ:

* Gioan Tẩy Giả làm chứng Người là Đấng Cứu Thế đến từ Thiên Chúa.

* Các công việc Người làm hay các phép lạ của Người  cho thấy Người là Thiên Chúa.

* Chúa Cha cũng lên tiếng làm chứng về Người.

Nhưng những người Do Thái không nghe được tiếng Chúa Cha, cũng chẳng bao giờ thấy tôn nhan Ngài. Lý do là vì họ “không để cho Lời Ngài ở mãi trong lòng”, do đó, họ không nghe thấy điều Ngài làm chứng cho Chúa Giêsu nên họ không đến với Người cũng như không tin vào Người. Kết quả là họ không có được sự sống đời đời, nghĩa là không được cứu độ.

Hôm nay, Chúa Giêsu cũng muốn nói với bạn rằng, Ngài là Đấng Cứu Độ của loài người, nhưng Ngài có là Đấng Cứu Độ của riêng bạn hay không, điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào việc bạn có tin nhận và dấn thân đi theo Ngài hay không. Đây là mối tương giao hoàn toàn cá vị giữa bạn và Ngài, và Chúa cần một mối tương giao như thế để Ngài có thể ban sự sống đời đời cho bạn.

Có thể là từ thuở bé, bạn đã được Rửa Tội nhờ đức tin của cộng đoàn, nhưng để cho sự sống thần linh mà bạn lãnh nhận trong Bí tích Rửa tội được lớn lên và sinh hoa kết quả, bạn phải có một mối tương quan hoàn toàn riêng tư với Thiên Chúa.

Nhưng làm sao bạn biết được và tin theo Chúa Giêsu nếu Chúa Cha không lôi kéo bạn và, qua Thánh Thần của Ngài, làm cho bạn hiểu được Mầu Nhiệm Đức Giêsu Kitô bằng tiếng nói nhiệm mầu của Ngài trong linh hồn bạn? Điều kiện để bạn có thể nghe được tiếng Thiên Chúa Cha, đó là bạn phải để cho “lời của Ngài ở mãi trong lòng” bạn.

Chuyên cần cầu nguyện dựa trên một đoạn Tin Mừng và lập đi lập lại một câu Tin Mừng nào đó là một cách “làm cho Lời cư ngụ”với bạn. Vậy hãy cầm lấy quyển Thánh Kinh lên và hãy đọc, và rồi bạn sẽ nghe được Thiên Chúa nói với bạn về Đức Giêsu Kitô - Đấng Cứu Độ duy nhất mà ngoài Người ra, bạn không thể tìm được sự sống mà linh hồn bạn khao khát, ở bất cứ nơi nào khác.

Lạy Chúa, xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe, bởi Chúa có Lời ban sự sống đời đời. Amen.

 

Ngày 23/03/2007, thứ sáu sau CN IV MC

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 7,1-2.10.25-30)

Khi ấy, Chúa Giêsu đi lại trong xứ Galilêa; Người không muốn đi lại trong xứ Giuđêa, vì người Do Thái đang tìm giết Người. Lúc đó gần đến lễ Trại của người Do Thái. Nhưng khi anh em của Người lên dự lễ rồi, thì Người cũng đi, nhưng không đi cách công khai, mà lại đi cách kín đáo. Có một số người ở Giêrusalem nói: “Đây không phải là người họ đang tìm giết sao? Kìa ông ta đang nói công khai mà không ai nói gì cả. Phải chăng các nhà chức trách đã nhận ra ông là Đấng Kitô? Tuy nhiên, ông này thì chúng ta biết rõ đã xuất thân từ đâu. Còn khi Đấng Kitô tới, thì chẳng có ai biết Người bởi đâu”. Vậy lúc bấy giờ Chúa Giêsu đang giảng dạy trong đền thờ, Người lớn tiếng nói rằng: “Phải, các ngươi biết Ta, và biết Ta xuất thân từ đâu; Ta không tự Ta mà đến, nhưng thực ra, có Đấng sai Ta mà các ngươi không biết Ngài. Riêng Ta, Ta biết Ngài, và Ta bởi Ngài, và chính Ngài đã sai Ta”. Bởi thế họ tìm cách bắt Đức Giêsu, nhưng không ai đụng tới Người, vì chưa tới giờ Người.

Ø       Suy Niệm

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu mạc khải cho nhân loại về mầu nhiệm Thiên Chúa chân thật. Chúa muốn mọi người nhận ra và sống theo chân lý ấy.

Những người Do Thái nghĩ rằng họ biết Chúa: “Ông này không phải là người họ đang tìm giết đó sao?”. Nhưng thực ra họ biết theo cái nhìn tự nhiên rất nông cạn và hời hợt. Hơn nữa, thái độ cứng lòng và cố chấp đã che lấp tâm hồn của họ, không cho họ nhìn ra và đón nhận chân lý mà Chúa mạc khải cho. Họ tự hào biết rõ nguồn gốc lý lịch tầm thường của Chúa, nên họ khẳng định Chúa không phải là Đức Kitô: “Ông ấy, chúng ta biết xuất thân từ đâu rồi; còn Đấng Kitô, khi Người đến thì chẳng ai biết Người xuất thân từ đâu”. Nhưng Chúa đã vạch trần cái biết lệch lạc cố chấp ấy để quả quyết rằng, Chúa là Thiên Chúa, là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Chúa đến để dẫn đưa nhân loại về với Thiên Chúa hằng sống và chân thật: “… các ông không biết người. Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi”.

Chúng ta phải tin rằng, chính Chúa đã cho chúng ta nhận ra ý nghĩa đích thực của đời người, đã cho chúng ta gặp và đạt được sự sung mãn đích thực của cuộc sống là chính Chúa. Vì thế, chúng ta phải xác tín mãnh liệt vào Chúa, để niềm tin nơi chúng ta không chỉ là theo Chúa cách cầm chừng có mức độ, hay chỉ sống những điều xem ra dễ dãi và cố tình bỏ qua những đòi hỏi của Tin Mừng.

Thánh Phaolô quả quyết rằng: “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là Chúa Kitô sống trong tôi”. Nghĩa là chúng ta thực sự thuộc về chân lý không phải chỉ trên đầu môi chót lưỡi, trên lý thuyết, nhưng bằng và qua chính cuộc sống của mình. Đời sống của chúng ta từ trong tư tưởng, lời nói, hành vi, cử chỉ…tất cả phải hoà điệu tự nhiên với chân lý Phúc Âm, để chúng ta được nên một với sự Thiện chân thật là chính Chúa.

Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con ý thức như lời thánh Phaolô nói không phải sống cho riêng mình mà là biết sống để làm chứng cho Chúa Kitô là Đường là Sự Thật và là Sự Sống giữa trần gian này. Amen.

 

Ngày 24/03/2007, thứ bảy sau CN IV MC

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 7,40-53)

Khi ấy, sau khi nghe Chúa Giêsu giảng, có nhiều người trong đám dân chúng nói rằng: “Ông nầy thật là tiên tri”. Kẻ khác nói: “Ông này thật là Đấng Kitô”. Người khác nữa lại nói: “Đấng Kitô xuất thân từ Galilêa sao? Nào Kinh Thánh chẳng nói: “Đấng Kitô xuất thân bởi dòng dõi Đavid, và từ làng Bêlem, quê hương của Đavid?” Vì thế, dân chúng bất đồng ý kiến nhau về Người. Trong số đó, có một ít kẻ định bắt Người, nhưng không ai dám ra tay bắt Người. Vậy khi những người thừa hành đến với thượng tế và biệt phái, các ông này hỏi họ rằng: “Tại sao các ngươi không điệu nó tới?” Các người thừa hành thưa rằng: “chẳng hề có ai nói như người ấy”. Các người biệt phái trả lời rằng: “Chớ thì các ngươi cũng bị mê hoặc rồi sao? Trong các vị thủ lãnh và các người biệt phái, có ai tin người ấy đâu? Chỉ có lũ khốn nạn đó nó không biết gì Lề Luật”. Nicôđêmô là người đã tới gặp Chúa Giêsu ban đêm, cũng là người trong nhóm họ, nói với họ rằng: “Chớ thì luật của chúng ta có lên án cho ai mà không nghe họ, hoặc không biết rõ họ làm gì không?” Nhưng họ trả lời rằng: “Hay ông cũng là người Galilêa? Hãy đọc kỹ Kinh Thánh, ông sẽ thấy rằng không có tiên tri nào xuất phát từ Galilêa”. Sau đó ai về nhà nấy.

Ø       Suy Niệm

Sự xuất hiện của Chúa Giêsu tạo ra một cuộc tranh chấp quyết liệt giữa những người tin và những kẻ chống đối. Sự chống đối của những người Pharisêu ngày càng gây cấn, hôm nay họ đã có một quyết định dứt khoát: sai lính đến bắt Chúa.

Trong đám dân chúng đang vây quanh Chúa Giêsu hôm nay, kẻ thì thán phục cho người là một tiên tri, kẻ khác lại tự hỏi đây có phải là Đấng Kitô phải đến không. Quân lính được sai đến để bắt Ngài lại không dám, khi nghe Ngài giảng. Còn người Pharisêu thì từ chối thẳng thừng: “Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pha-ri-sêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu? Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa!". Khi ông Nicôđêmô lên tiếng, thì liền bị họ đã kích kịch liệt: “Cả ông nữa, ông cũng là người Galilê sao? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy: không một ngôn sứ nào xuất thân từ Galilê cả.".

Cuộc sống luôn là một sự chọn lựa, và đức tin lại càng đòi hỏi phải chọn lựa quyết liệt hơn. Chúng ta tin vào Chúa là chúng ta tin vào tình yêu vô biên của Chúa, và đồng thời đức tin đòi chúng ta phải chấp nhận dấn thân trọn vẹn, chấp nhận một sự đổi đời. Chúa ban đức tin cho chúng ta không phải để ru ngủ trong yêu thương, trái lại, chúng ta biết Chúa đòi chúng ta chọn lựa một cách quyết liệt để đi theo Chúa, để sống cho Chúa và cho anh chị em. Chúa đến bằng con đường thập tự và đòi buộc chúng ta cũng phải dứt khoát theo Chúa.

Theo Chúa như vậy thật sự là khó. Cuộc sống ở đời có bao nhiêu cám dỗ ngọt ngào, bao nhiêu thử thách cam go. Và vì thế chúng ta thường theo Chúa nửa vời lấp lửng, chúng ta muốn vừa được Chúa vừa được thế gian, vừa theo Chúa vừa sợ hy sinh gian khổ. Rốt cuộc chúng ta chỉ chuốt lấy đau khổ vào thân. Cũng chính vì chúng ta không dứt khoát chọn lựa đứng về phía Chúa mà sau bao nhiêu năm theo Chúa chúng ta vẫn ì ạch ở giữa đường.

Trong đời sống có những lúc chúng ta phải công khai đứng về phía Chúa và tuyên xưng lòng tin một cách chân thành như các vệ binh hay ít nữa là bênh vực Chúa như ông Nicôđêmô. Nhiều lúc chúng ta không làm được vì thường chúng ta sợ bị liên lụy thiệt thòi.

Lạy Chúa, xin giúp cho con can đảm giữ vững lập trường mà mình đã chọn. Chỉ có Chúa là Chúa, là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống của con. Xin gìn giữ con trọn đời trung thành với Chúa. Amen.

 

Ngày 25/03/2007, Chúa Nhật V Mùa Chay C

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 8, 1-11)

Khi ấy, Đức Giêsu đến núi Ôliu. Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ. Lúc đó, các kinh sư và người Pharisêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, rồi nói với Người: "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?" Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi." Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất. Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, và người phụ nữ thì đứng ở giữa. Người ngẩng lên và nói: "Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?" Người đàn bà đáp: "Thưa ông, không có ai cả." Đức Giêsu nói: "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!"

Ø       Suy Niệm

Ai Sạch Tội Thì Hãy Ném Đá Chi Này Đi

Trong đời, ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm đã từng kết án người và bị người kết án. Chẳng có gì tốt đẹp xảy ra, khi ta kết án người khác. Cũng chẳng có gì hạnh phúc an vui, khi ta bị người khác kết án. Không có gì tốt đẹp, vậy mà chúng ta thường lại thích điều không tốt đẹp ấy, nên cuộc sống trở nên nặng nề, buồn thảm.

Tâm lý thường tình của con người là: người có lỗi lại  thường hay xét đoán và kết án. Người thánh thiện, đạo đức thì lại ít kết án. Cha ông có để lại cho ta lời nhắc nhở: “Chân mình thì lấm bê bê, lại còn cầm đuốc mà rê chân người.” Thói đời là vậy. Còn thói quen của người Kitô hữu thì sao? Nghe những câu chuyện giữa những người có đạo nói với nhau, sẽ biết thói hay xét đóan và kết án người, vẫn chi phối, ngự trị trong trái tim người Kitô hữu chúng ta.

Vẫn biết “nào ai lấy thước mà đo lòng người”, vậy mà người ta quá dễ để làm công việc mà cha ông dạy nên tránh. Trong thực tế, ta xét thì ít, mà đoán thì nhiều. Xét thì phải có đủ chứng cứ rõ ràng. Phải có đủ tâm và đủ tầm mới không lầm lạc. Phải thóat được thành kiến chi phối mới không thiên vị. Phải có nhiệm vụ, thẩm quyền, mới được làm công việc khó khăn này.  Ai có đủ điều kiện đó? Rất hiếm người có đủ điều kiện để xét người khác. Vì vậy, chúng ta đoán là nhiều. Đoán thì đoán già, đoán non. Đoán vô tội vạ. Chẳng theo căn cứ khách quan nào mà theo, nhưng chủ yếu, đóan theo cách tôi cho là tốt hoăc xấu. Từ đó, nghe một người có ý kiến về người khác, chúng ta biết được lòng dạ của người xét đóan hơn là người bị xét đóan. Và như vậy người xét đóan và kết án đã tự tố cáo mình.

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trở về với lương tâm, với sự thật. Khi một người biết nghe tiếng lương tâm mình, biết trở về với sự thật của cõi lòng mình, người ta sẽ không còn hung hăng mà đòi ném đá người khác. “Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi”.

  Lạy Chúa Giêsu, Chúa không kế án chúng con, dù chúng con tội lỗi nhiều. Xin đừng để chúng con, là những tội nhân, lại kết án anh em. Chỉ có Chúa là Đấng Thánh, quyền năng và thấu suốt mọi sự mới có quyền xét xử và kết án . Xin giúp chúng con mỗi ngày biết sống khiêm tốn, đừng kết án để khỏi bị Chúa kết án. Amen.

 

 

Ngày 26/03/2007, thứ hai sau CN V Mùa Chay

LỄ TRUYỀN TIN – LỄ TRỌNG

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh luca (Lc 1, 26-38)

Bà Êlisabét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đavít. Trinh nữ ấy tên là Maria. Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”. Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói: "Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận." Bà Maria thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!" Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được." Bấy giờ bà Maria nói: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cư làm cho tôi như lời sứ thần nói." Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

Ø       Suy Niệm

“XIN VÂNG”

  Một gia trưởng đang chao đảo về niềm tin của mình, đến thăm một người bạn vừa bị tai nạn. Nhìn người bạn nằm bất động, bốn người con thơ dại và người vợ bệnh hoạn của bạn trong cơn túng cực, anh lại càng nghi ngờ về Thiên Chúa. Niềm tin vào Chúa có giá trị gì trong hoàn cảnh cực kỳ khó chấp nhận này? Anh im lặng thở dài, biết nói gì với người đang khổ đau !

Người bạn bị nạn lên tiếng khi thấy anh im lặng nặng nề:

“Cảm ơn bạn đã đến thăm, tôi biết Thiên Chúa là Cha, đang cho tôi những cơ hội tốt nhất để lớn lên trong Đức Tin và ơn phúc thiêng liêng”. Anh gia trưởng kia lên tiếng chất vấn lại:

“Thiên Chúa ở đâu trong hòan cảnh bi đát này?”

Người bị nạn trả lời: “Dù tôi không thấy hết, nhưng tôi biết những gì xảy đến cho tôi, Chúa thấu suốt, và nếu Chúa cho phép xảy ra, nghĩa là trong biến cố này, có những viên ngọc quí của Nước Trời, xin cảm tạ Chúa! Như người con, nhiều khi nó không hiểu điều tốt mà người cha dự liệu trao cho nó, được ẩn dấu dưới những điều vất vả nặng nhọc mà người cha bắt nó làm. Lúc đó, chỉ có lòng thảo hiếu và phó thác vào người cha, nó mới chấp nhận được, mới làm theo ý cha nó được”.

Người gia trưởng kia ra về, anh tìm lại được ánh sáng của niềm tin, nhờ thái độ đón nhận của người bạn trong cơn hoạn nạn mà vẫn mạnh mẽ, trong sáng về lòng tin.

Mẹ Maria đã sẵn sàng thưa: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền!” Người cha bị nạn cũng đã biết thưa như Mẹ, khi tin tưởng và cảm tạ Chúa, dù điều xảy ra trái với mong đợi của mình. Tin nơi Chúa là xác tín rằng: “mọi sự Chúa đều làm được, và chúng ta vui lòng đón nhận mọi sự xảy đến trong cuộc đời với niềm tin phó thác, cậy trông nơi Chúa”.

Chúa vẫn dùng nhiều biến cố, nhiều trung gian để truyền tin cho chúng ta biết và đón nhận Thánh Ý Chúa. Nhiều lần chúng ta không nhận ra, không chấp nhận. Vì thế, đời ta có nhiều khi dang dở, muộn phiền. Đời ta có nhiều lần hoang mang, vô nghĩa. Không thuận theo Ý Chúa, không tập “xin vâng” theo gương Mẹ, thì lúc đó, đời ta như giòng nước chảy vào ao tù, không sức sống và không lối thoát.

Lạy Mẹ Maria, xin giúp mỗi người trong gia đình chúng con biết theo gương Mẹ, mỗi ngày tập sống tâm tình “Xin Vâng” như Mẹ. Nhờ đó, Chúa thực hiện được chương trình cứu độ chúng con, và mọi người. Amen.

 

 

Ngày 27/03/2007, thứ ba sau CN V Mùa Chay

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 8, 21-30)

Khi ấy Chúa Giêsu nói với những người biệt phái rằng: “Ta ra đi, các ông sẽ tìm kiếm Ta và sẽ chết trong tội của các ông. Nơi Ta đi các ông không thể tới được”. Người Do thái nói với nhau rằng: “Ông ta sắp tự vẫn hay sao mà lại nói: Nơi Ta đi các ông không thể tới được". Chúa Giêsu nói tiếp: “Các ông thuộc về hạ giới, còn Ta, Ta bởi trời cao; các ông thuộc về thế gian này, còn Ta, Ta không thuộc về thế gian này. Ta đã nói: Các ông sẽ chết trong tội các ông. Vì, nếu các ông không tin Ta, các ông sẽ chết trong tội của các ông”. Vậy họ liền hỏi: “Ông là ai? Chúa Giêsu trả lời: “Là Nguyên thủy đang nói với các ông đây! Ta có nhiều điều phải nói và đoán xét về các ông, nhưng Đấng đã sai Ta là Đấng chân thật, và điều Ta nói ra trong thế gian đây, chính là điều Ta đã nghe biết ở Ngài”. Nhưng họ không hiểu là Người nói về Chúa Cha, vì thế Chúa Giêsu nói: “Khi nào các ông đưa Con Người lên cao, các ông sẽ nhận biết Ta là ai, Ta không tự mình làm điều gì. Điều Ta nói, chính là điều Chúa Cha đã dạy Ta. Đấng đã sai Ta đang ở với Ta; Ngài không để Ta một mình, bởi vì Ta luôn luôn làm điều đẹp lòng Ngài”. Khi Người nói những điều ấy thì có nhiều kẻ tin vào Người.

Ø       Suy Niệm

Chúa Cảnh Giác Người Do Thái Và Chúng Ta

Dù cùng một gia đình, hai người có hai lưu tâm khác nhau thì dễ nảy sinh cảnh “ông nói gà, bà hiểu vịt”, hoặc “đồng sàng, dị mộng”.

Khi ta không có lòng mến Chúa, thiếu vắng niềm tin, chắc chắn cũng xảy ra cảnh như thế. Phúc Âm hôm nay đã cho chúng ta thấy rõ điều đó. Chúa Giêsu nói Ngài về quê trời vinh phúc, những kẻ tội lỗi sẽ không theo Ngài về trời được, nếu không tin nơi Ngài, không chấp nhận Ngài là Đấng xóa tội trần gian, Người Do Thái lại nói: “Ông ấy sẽ tự tử hay sao?” Vì sao chúng ta lại thường không thích làm việc lành, việc đạo đức? Vì tâm tình, trí khôn ta thích những gì thuộc hạ giới.  Ai thuộc về trời cao, ai tin và theo Chúa Giêsu, người đó mới có thể yêu mến những sự thuộc về trời.

Xét lại lòng mình, cách cư xử của mỗi người chúng ta trong một ngày thôi, chúng ta sẽ biết mình ta đang thuộc về trời hay bởi đất. Âm thanh, tín hiệu của trời gởi cho đất đã hơn hai ngàn năm, mà chúng ta còn chấp nhất nhau, tranh giành, lên án nhau, những tâm tình đó, không thể bởi trời cao được.

“Nếu không tin Tôi… các ông sẽ mang tội mình mà chết”, tin không phải là một ý nghĩ, suy tưởng. Tin là một sự sống. Sự sống  thì tăng trưởng hay thoái hóa. Không tăng là thoái. Không thể có tình trạng hôm nay cũng bằng hôm qua. Mỗi giây phút là phải có sự phát triển, nếu không là suy vong. Một người nghiện rượu, bác sĩ nói nếu anh không bỏ rượu thì mạng sống lâm nguy. Anh ta biết điều đó, nhưng có ích gì, nếu mỗi ngày anh ta không hành động theo lời khuyến cáo của bác sĩ. Tin vào Chúa, nhưng có ích gì, nếu mỗi ngày ta không thực hiện Lời Chúa dạy ta, ta “sẽ mang tội mình mà chết”.

Lạy Chúa, chúng con thường được nghe cảnh báo “đức tin không hành động là đức tin chết”. Hôm nay Chúa cũng cảnh báo chúng con: “nếu không tin tôi, các ngươi sẽ mang tội mình mà chết”. Xin giúp mỗi người chúng con biết lấy việc làm mà nói lên lòng tin. Amen.

 

Ngày 28/03/2007, thứ tư sau CN V Mùa Chay

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 8, 31-42)

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với những người Do thái đã tin nơi Ngài rằng: “Nếu các ngươi cứ ở trong lời Ta, các ngươi sẽ thật là môn đệ của Ta, và sẽ được biết sự thật, và sự thật giải thoát các ngươi”. Họ thưa lại Người: “Chúng tôi là con cháu Abraham, và chưa bao giờ làm nô lệ ai cả. Tại sao Ông lại nói: “Các ngươi sẽ được tự do”. Chúa Giêsu trả lời rằng: “Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: Hễ ai phạm tội, thì làm nô lệ cho tội. Mà tên nô lệ không ở mãi trong nhà; người con mới ở vĩnh viễn trong nhà. Vậy nếu Chúa Con giải thoát các ngươi, thì các ngươi sẽ được tự do thực sự. Ta biết các ngươi là con cháu Abraham, thế mà các ngươi lại tìm giết Ta: vì lời Ta không thấm nhập vào lòng các ngươi. Ta nói những điều Ta đã thấy nơi Cha Ta. Còn các ngươi, các ngươi làm điều các ngươi đã thấy nơi cha các ngươi”. Họ đáp lại: “Cha chúng tôi chính là Abraham!”. Chúa Giêsu nói: “Nếu thực các ngươi là con cháu Abraham, thì các ngươi làm công việc của Abraham! Nhưng các ngươi đang tìm giết Ta, là người đã nói cho các ngươi biết sự thật mà Ta nghe tự Thiên Chúa. Điều đó Abraham đã không làm! các ngươi đang làm việc của cha các ngươi!”. Họ lại nói: chúng tôi không phải là những đưá con hoang! chúng tôi chỉ có một Cha là Thiên Chúa!”. Chúa Giêsu nói: “Nếu Thiên Chúa là Cha các ngươi, thì các ngươi yêu mến Ta, vì Ta tự Thiên Chúa mà đến; vì Ta không tự mình mà đến, nhưng chính Ngài đã sai Ta đến.”

Ø       Suy Niệm

Một người vừa dự lễ về tới ngõ, thấy chó nhà bên đang xé rác trước cửa nhà mình, nên hét chưởi toáng lên. Kết án nhà bên cạnh thậm tệ chỉ vì con chó làm bẩn ngõ nhà mình. Cuộc cãi vã bùng nổ.

Lời Chúa vừa nhận lãnh từ thánh lễ: “đừng xét đoán, đừng kết án”, ông như chưa bao giờ nghe. “Nếu các ông ở lại trong Lời Tôi, thì các ông thật là môn đệ Tôi”, nghĩa là không nhớ Lời Chúa và không hành động theo Lời Chúa, thì chúng ta không phải là môn đệ Ngài.

Biết bao lần trong đời ta, cứ tưởng mình cũng là người Kitô hữu, nhưng thực sự, chúng ta chỉ là những Kitô hữu giả thôi. Những chuyện không hài lòng, những biến cố không vừa ý, nhìn cách phản ứng của chúng ta, thì sẽ biết lời nào ở trong chúng ta. Nếu Lời Chúa luôn ở trong chúng ta, chắc chắn, chúng ta sẽ có phản ứng của Tin Mừng. Nhưng lờiø trần gian, tinh thần thế tục ở trong chúng ta, chúng ta sẽ phản ứng theo lối thế tục.

Khi Lời Chúa ở trong ta, chúng ta sẽ được Tin Mừng chi phối. Nếu tinh thần phàm tục lấn át Tin Mừng, chúng ta sẽ làm nô lệ cho tội. Được thỏa mãn những dục vọng bản năng thấp kém, chúng ta tưởng như thế là được tự do, nhưng đó là làm nô lệ. Tự do đúng nghĩa là khi con người có khả năng làm được điều tốt và có khả năng từ chối điều xấu, mà trí khôn cho ta biết, dưới ánh sáng của Tin Mừng Chúa Giêsu soi chiếu.

Chúng ta vẫn tự hào mình là người có Đạo, nhưng trong thực tế, cũng chẳng khác người Do Thái xưa. Họ tự hào là con cái Abraham, nhưng lại tìm cách giết Chúa Giêsu. Chúng ta xưng mình là con Chúa, nhưng cách sống lại đang phỉ báng Chúa, làm hại Giáo Hội. Nếu trong lối xóm người Công Giáo, không hơn người lương về tinh thần bác ái, hiền hòa, lối đi, ngõ nhà không sạch sẽ hơn lối xóm lương dân, chúng ta đang làm ô  danh Chúa.

Lạy Chúa, xin giúp mỗi người chúng con biết luôn ở lại trong Lời Chúa, để Lời Chúa mãi là “ngọn đèn soi cho con bước”. Đừng  để chúng con mang danh là Kitô hữu mà lại sống xa lạ với Tin Mừng . Amen.

 

Ngày 29/03/2007, thứ năm sau CN V Mùa Chay

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 8, 51-59)

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với người Do thái rằng: “Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: Nếu ai giữ lời Ta, thì muôn đời sẽ không phải chết”. Người Do Thái lại nói: “Bây giờ thì chúng tôi biết rõ ông bị quỷ ám. Abraham đã chết và các tiên tri cũng vậy, thế mà ông lại nói: "Ai giữ lời Ta, thì không bao giờ phải chết. Chẳng lẽ ông lại lớn hơn cha chúng tôi là Abraham sao? Ngài đã chết, các tiên tri cũng đã chết. Ông cho mình là ai?”. Chúa Giêsu trả lời: “Nếu Ta tự tôn vinh chính mình, thì vinh quang của Ta sẽ không giá trị gì. Chính Cha Ta tôn vinh Ta. Người là chính Đấng các ngươi xưng là Thiên Chúa của các ngươi. Vậy mà các ngươi không biết Người. Còn Ta, Ta biết Người. Nếu Ta nói: Ta không biết người, thì Ta cũng nói dối như' các ngươi. Nhưng Ta biết Người, và Ta giữ lời người. Cha các ngươi là Abraham đã hân hoan, vì nghĩ sẽ được thấy ngày của Ta. Ông đã thấy và đã vui mừng”. Người Do thái liền nói: “Ông chưa được năm mươi tuổi, mà đã trông thấy Abraham rồi sao?”. Chúa Giêsu trả lời: “Quả thật, quả thật, Ta nói với các ngươi: Khi Abraham chưa sinh ra, thì Ta đã có rồi”. Bấy giờ họ lượm đá ném Ngài, nhưng Chúa Giêsu ẩn mình đi ra khỏi đền thờ.

Ø       Suy Niệm

“Ai Tuân Giữ Lời Tôi, Sẽ Không Phải Chết”

Cuộc sống trần gian vốn có những qui luật để bảo vệ bình an, trật tự cho con người, cho xã hội. Ai làm trái với những qui định, sẽ phải chịu trừng phạt hoặc chịu những hậu quả đau thương cho bản thân, cho người khác.

Nhưng những gì do con người qui định, lại thường quá giới hạn và bất toàn, chỉ phục vụ cho lợi ích của một tầng lớp nào thôi. Từ đó, có những bất phục tùng, những phản kháng. Cách phản ứng thường tình này, trở thành một thói quen vô thức, khiến chúng ta bất phục tùng với cả Lời Chúa nữa.

Một thanh niên bị bạn khiêu khích, đang chuẩn bị hung khí để đi trả thù. Lòng dâng trào sự thù hận. Tâm trí đang căng thẳng  trước khi hành động. Đêm nay, tên khiêu khích xúc phạm sẽ không được sống trên đời. Trời tối, đêm về, tâm hồn anh chỉ còn là một màu đen. Tắt đèn, giả vờ nằm ngủ. Anh nhìn ngọn đèn nhỏ trên bàn thờ gia đình. Một chút ánh sáng mờ nhạt còn lại trong phòng tối . Bất giác, ánh sáng le lói của ngọn đèn thờ kia dọi vào tim anh, khi nhìn tượng Chúa mà ngọn đèn kia bao năm dọi sáng cho anh nhìn thấy Chúa giữa đêm tối. Lời Chúa như một ánh chớp chiếu tỏa hồn anh. Lời yêu thương từ Thập Giá hôm nào anh đã học, nay vang lên trong tâm trí anh. Lòng hận thù bị phá tan. Bước chân sắp ra đi để trả thù, để giết người, phút chốc, anh đã quì gối trên sàn nhà, mắt đăm đăm nhìn tượng Chúa, anh thưa:

“Lạy Chúa, xin giúp con biết tha thứ như Chúa đã tha cho con. Xin cho con thực hiện Lời Chúa truyền là: anh em hãy yêu cả kẻ thù”. Chưa bao giờ anh thấy Lời Chúa sống trong anh như hôm nay, như chính giây phút giằng co khốc liệt này. Nhưng cuối cùng  Lời Chúa đã giữ anh thoát tai họa và chết chóc.

Lời Chúa là chân lý. Lời Chúa là tình thương. Tất cả những Lời mà Chúa trao ban cho chúng ta là để chúng ta khi đón nhận thì được sống đời đời. Chúng ta giữ hay không giữ cũng không thêm, không bớt gì cho vinh quang Chúa. Nhưng sẽ liên hệ đến vận mệnh của mỗi người chúng ta. Tuân giữ thì được sống. Khước từ là chết.

Lạy Chúa, nếu có bao lần thất bại trong đời, nếu có bao tội con phạm, tất cả, là do con không còn giữ Lời Chúa. Anh thanh niên kia đã được Lời Chúa cứu thoát cả xác lẫn hồn. Xin cho mỗi người trong gia đình và cộng đoàn chúng con, biết để tâm suy gẫm học hỏi và nhất là quyết thực hành Lời Chúa dạy chúng con, để Lời Chúa luôn gìn giữ chúng con trong sự sống ơn thánh. Amen.

 

Ngày 30/03/2007, thứ sáu sau CN V Mùa Chay

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 10, 31-42)

Khi ấy, người Do Thái lượm đá để ném Chúa Giêsu. Người lên tiếng hỏi rằng: “Ta đã cho các ngươi thấy nhiều việc tốt lành bởi Cha Ta. Vậy vì việc nào mà các ngươi muốn ném đá Ta!”. Người Do Thái trả lời: “Chúng tôi muốn ném đá ông không phải vì việc lành, nhưng vì một lời lộng ngôn; bởi vì ông chỉ là người mà lại tự cho mình là Thiên Chúa”. Chúa Giêsu đáp lại: “Nào trong sách luật của các ngươi không có chép câu nầy: “Ta đã nói: các ngươi là thần”. Vậy nếu sách luật gọi những kẻ được nghe lời Chúa là thần, mà Kinh Thánh không thể hủy diệt được, thì tại sao các ngươi nói với Đấng đã được Chúa Cha thánh hóa và sai đến trong trần gian rằng: “Ông nói lộng ngôn”. vì Ta đã nói: “Ta là Con Thiên Chúa. Nếu Ta không làm những việc của Cha Ta, thì các ngươi đừng tin Ta. Nhưng nếu Ta làm những việc đó, thì dầu các ngươi không muốn tin Ta, thì hãy tin vào các việc đó, để các ngươi biết và tin rằng: Cha ở trong Ta, và Ta ở trong Cha”. Bởi đó họ tìm cách bắt Người, nhưng người thoát khỏi tay họ. Người lại qua bên kia sông Giođan, nơi trước kia Gioan đã làm phép rửa. Và Người ở lại đó. Có nhiều kẻ đến cùng Người. Họ nói: “Gioan đã không làm một phép lạ nào. Nhưng mọi điều Gioan nói về người này đều đúng cả”. Và có nhiều kẻ tin Người.

Ø       Suy Niệm

Chúa Giêsu Bị Bách Hại

Chúng ta dễ chấp nhận mình là kẻ tội lỗi, nhưng để dám chấp nhận đòi hỏi chúng ta là “con Thiên Chúa”, thì chúng ta sợ hãi, ngại ngùng. Chúa Giêsu tuyên bố Ngài đồng bản tính với Chúa Cha. Ngài là Thiên Chúa. Người ta tìm cách bách hại, vì Chúa Giêsu đã dám mở ra một tương lai mới cho nhân loại. Con người muốn cứ mãi ở yên trong thân phận xa cách Thiên Chúa. Làm con Chúa thì không.

Người Do Thái dù thấy những việc tốt đẹp của Chúa Giêsu, nhưng họ không muốn chấp nhận Ngài là Thiên Chúa đã đến với họ. Vì nếu chấp nhận Chúa Giêsu, họ phải thay đổi cuộc sống của họ. Họ phải canh tân lối sống, nếp nghĩ của họ. Họ loại trừ Chúa, để họ được sống yên ổn với con người cũ của mình.

Con người hôm nay cũng như thế. Không muốn thay đổi con người cũ của mình, chúng ta thường tìm cách chống đối Giáo Hội. Chúng ta chỉ trích phê bình giáo huấn Hội Thánh. Người con khi muốn tìm cách thỏa mãn những đam mê dục vọng của mình, thường lên án cha mẹ là lỗi thời, lạc hậu, khó khăn, thiếu cảm thông.

“Ông nói phạm thượng”, người Do Thái đã kết án Chúa Giêsu như thế khi Ngài nói: “Tôi là Con Thiên Chúa”. Chúng ta không cố gắng để sống đúng với danh nghĩa của mình, và chúng ta cũng không muốn chấp nhận ai sống cao cả hơn chúng ta. Thấy một người có đời sống mẫu mực, chúng ta thường tìm những lý do để hạ giá người đó.

“Nếu tôi không làm các việc của Cha Tôi, thì các ông đừng tin Tôi”. Con người dù cố chấp đến đâu, cũng không thể chối bỏ được những sự việc hiển nhiên mà Chúa Giêsu đã thực hiện nhân danh Cha Ngài. Chúng ta cũng cần phải lấy việc làm mà chứng minh đức tin của chúng ta. Một người Kitô hữu mà không có những việc bác ái yêu thương, không có lối sống hiền hòa, phục vụ, không có tinh thần của Tám Mối Phúc Thật, thì làm sao nói được mình là “Con Chúa” ?

  Lạy Chúa Giêsu, dù có phải chết, Chúa vẫn quả quyết trước mặt mọi người Chúa là Con Chúa Cha. Xin cho chúng con biết sống đúng với danh nghĩa của mình là con Thiên Chúa. Dù khi sống như vậy, chúng con bị thua thiệt, bị loại trừ. Amen.

 

Ngày 31/03/2007, thứ bảy sau CN V Mùa Chay

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 11, 45-56)

Khi ấy, trong số những người đến thăm cô Maria, có nhiều người tin vào Chúa Giêsu. Nhưng trong nhóm có kẻ đi gặp người biệt phái và thuật lại các việc Chúa Giêsu đã làm. Do đó, các thượng tế và biệt phái họp công nghị, và nói: “Chúng ta phải xử trí sao đây? Vì người nầy làm nhiều phép lạ. Nếu chúng ta để mặc người ấy làm như thế, thì mọi người sẽ tin theo và quân Rôma sẽ kéo đến phá hủy nơi nầy và dân tộc ta”. Một người trong nhóm là Caipha làm thượng tế năm đó, nói với họ rằng: “Quý vị không hiểu gì cả! Quý vị không nghĩ rằng, thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt”. Không phải tự ông nói điều đó, nhưng với danh nghĩa là thượng tế năm ấy, ông đã nói tiên tri rằng, Chúa Giêsu phải chết thay cho dân, và không phải cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác về một mối. Bởi vậy từ ngày đó, họ quyết định giết Người. Vì thế, Chúa Giêsu không còn công khai đi lại giữa người Do Thái nữa. Người đi về miền gần hoang địa, đến thành phố tên là Ephrem, và ở lại đó với các môn đệ. Khi đó đã gần đến Lễ Vượt Qua của người Do Thái. Có nhiều người từ các miền lên Giêrusalem trước lễ, để được thanh tẩy. Họ tìm Chúa Giêsu; họ đứng trong đền thờ và bàn tán với nhau: “Anh em nghĩ sao? Người có đến hay không?” Còn các thượng tế và biệt phái đã ra lệnh rằng, nếu ai biết Người ở đâu, thì phải tố cáo để họ bắt Người.

Ø       Suy Niệm

Các Thủ Lãnh Do Thái Quyết Định Giết Chúa Giêsu

Khi người ta đã đầy ắp trong lòng sự hận thù, thành kiến, cố chấp, thì việc thánh thiện vẫn bị đồng hóa với tội ác. Mọi nỗ lực yêu thương xây dựng, bị cho là khiêu khích gây chiến.

Khi Chúa Giêsu làm phép lạ lẫy lừng, cho người chết đang thối rữa sống lại, có nhiều người “đã tin vào Người”. Khi ấy, những kẻ đãõ quyết loại trừ Chúa, những người kiêu căng tự mãn, lại cho đó là một hiểm nguy, là điều chướng mắt không thể chấp nhận. Họ họp Thượng Hội Đồng để quyết định giết Chúa Giêsu.

Thời nào cũng vậy, có người nhạy cảm với điều lành. Có người nhạy bén theo ác quỉ. “Yêu nhau trái ấu cũng tròn. Ghét nhau trái bồ hòn cũng méo”, quả là không sai chút nào. Những người không muốn thay đổi nếp sống tội lỗi của mình, thường cho lối sống của người lành là phá hoại, là nguy hiểm. Dĩ nhiên, chiêu bài họ đưa ra bao giờ cũng là vì  những lý do cao cả. Mặc dù họ nhận ra “người này làm nhiều dấu lạ”, nhưng họ nghĩ ra một nguy hiểm giả tạo để có cớ mà giết Ngài, để ngăn chặn những bất lợi, nguy hiểm cho họ ,“Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rôma sẽ đến phá hủy cả dân tộc ta”. Họ sợ điều do họ nghĩ ra chứ không phải là sự thật.

  Khi muốn loại trừ ai, khi không muốn chấp nhận chân lý, chúng ta cũng thường nghĩ ra một nguy hiểm giả tạo, để có đủ lý do mà khước từ, mà lên án. Chấp nhận bị vu khống, bị xuyên tạc, bị loại trừ, đó là cách sống, là lý tưởng sống giữa đời của người Kitô hữu. Dù bị hiểu lầm, xuyên tạc, người Kitô hữu hãy vững mạnh, can trường để sống Tin Mừng. Sống thảo hiếu với Chúa là Cha, chẳng bao giờ làm chúng ta phải hối hận nuối tiếc. Dù phải trả giá cả mạng sống, nhưng đời chúng ta vẫn mãi cao đẹp.

  Lạy Chúa, xin giúp chúng con ý thức sứ mạng của người Kitô hữu sống giữa đời. Rồi sẽ đến một ngày ai can đảm sống đức tin sẽ an vui dù giờ chết đến. Xin cho chúng con dám sống lý tưởng: sống thì cho anh em được hưởng nhờ phúc lộc. Chết thì đem lại cho người khác được điều tốt lành. Amen.

 

 

MỤC LỤC GIỜ KINH GIA ĐÌNH