GIỜ KINH GIA ĐÌNH VỚI LỜI CHÚA

              

Tháng 04/2007

 

Để “tạo cơ hội tôn vinh và suy niệm Lời Chúa, riêng từng cá nhân, trong gia đình hoặc cộng đoàn” và giúp gia đình sống đạo hôm nay theo lời mời gọi trong thư mục vụ của HĐGM Việt Nam 2006, chúng con xin mạo muội được góp phần cổ võ việc công bố và suy niệm Lời Chúa từng ngày trong giờ kinh Gia đình qua tập suy niệm nhỏ nầy.

 

Chúng con xin đề nghị việc đọc “Giờ kinh Gia đình với Lời Chúa” như sau:

 

-  Hát kinh Chúa Thánh Thần

-  Đọc ba kinh: Tin, Cậy, Mến

-  Công bố Lời Chúa

-  Suy niệm

-  10 kính Kính Mừng kính Đức Trinh Nữ Maria

-  Kết thúc bằng bài hát về Đức Mẹ Maria.

 

Văn Phòng Tòa Giám Mục Phú Cường

 


 

 

Ngày 01/04/2007, Chúa Nhật Lễ Lá,

Tưởng Niệm Cuộc Thương Khó Của Chúa

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 9,28-40) 

Bấy giờ,, Đức Giêsu dẫn đầu các môn đệ, tiến lên Giêrusalem. Khi đến gần làng Bết-pha-ghê và làng Bê-ta-ni-a, bên triền núi gọi là núi Ô-liu, Người sai hai môn đệ và bảo: "Các anh đi vào làng trước mặt kia. Khi vào sẽ thấy một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh cởi dây ra và dắt nó đi. Nếu có ai hỏi: `Tại sao các anh cởi lừa người ta ra', thì cứ nói: `Chúa có việc cần dùng!' Hai người được sai liền ra đi và thấy y như Người đã nói. Các ông đang cởi dây lừa, thì những người chủ nói với các ông: "Tại sao các anh lại cởi lừa người ta ra?" Hai ông đáp: "Chúa có việc cần dùng." Các ông dắt lừa về cho Đức Giêsu, rồi lấy áo choàng của mình phủ trên lưng lừa, và giúp Người cỡi lên. Người đi tới đâu, dân chúng cũng lấy áo choàng trải xuống mặt đường. Khi Người đến gần chỗ dốc xuống núi Ô-liu, tất cả đoàn môn đệ vui mừng bắt đầu lớn tiếng ca tụng Thiên Chúa, vì các phép lạ họ đã được thấy. Họ hô lên: Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời! Trong đám đông, có vài người thuộc nhóm Pha-ri-sêu nói với Đức Giê-su: "Thưa Thầy, Thầy trách môn đệ Thầy đi chứ!" Người đáp: "Tôi bảo các ông: họ mà làm thinh, thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên!"

Ø       Suy Niệm

Phụng vụ Chúa Nhật lễ Lá hôm nay như tóm gọn lại cuộc hành trình của một kiếp người bao gồm: yêu thương và giận ghét, thành công và thất bại, hy vọng và thất vọng, tin tưởng và sợ hãi, trung thành và phản bội, hạnh phúc và đau khổ, sống và chết. Vâng, đó là tất cả toàn bộ trạng thái mà cuộc sống trong kiếp nhân sinh nầy phải kinh qua.

Tất cả đã được trình bày cụ thể từ biến cố vào thành Giêrusalem của Chúa Giêsu với bối cảnh: “Người đi tới đâu dân chúng cũng lấy áo choàng trải xuống mặt đường… và hô lên: Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa”, cho tới cái chết đau thương trên Thập giá, đến nỗi Chúa phải thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con”. Vâng kiếp sống con người là thế đó, chẳng có gì là bền vững trường tồn. Chúa nhật lễ Lá là một lời mời gọi chúng ta biết đâu là bến đỗ đích thật, đâu là tạm bợ chóng qua.

Chắc chắn bến đỗ của chúng ta không là nơi trần thế nầy, bởi con người dễ thay lòng đổi dạ chẳng có gì là bền vững: những con người vừa cất tiếng hoan hô, chỉ vài giờ sau đó họ la hò đòi đóng đinh Chúa; con người thề quyết sống chết với Thầy, cũng chỉ vài giờ sau đó đã chối thầy; và có lẽ các Môn đệ khi thấy Thầy vào Thành Thánh Giêrusalem vinh quang cũng bừng lên niềm hy vọng: rồi đây họ sẽ cũng được chức nầy tước nọ, nhưng chỉ vài giờ sau đó họ bỏ trốn với tâm trạng thất vọng chán chường; một Maria Madalêna có lần đã tràn ngập hạnh phúc khi được ngồi bên Thầy để nghe Lời Thầy, giờ đây đau khổ chứng kiến một khuôn mặt không còn hình tượng người ta; một Đức Maria đã có lần được ca tụng: phúc cho vú đã cho Thầy bú, giờ đây đớn đau nghe những lời thóa mạ dành cho Con mà cảm nhận như là dành cho chính mình…. Cuộc đời là thế đấy, nói như Cô-he-lét: “sau khi nhìn thấy mọi công việc thực hiện dưới mặt trời, tôi nhận ra: tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát” (Gv 1, 14).

Nói thế không phải để chúng ta bi quan về cuộc sống, nhưng để chúng ta hiểu rằng: giá trị của cuộc sống không là những thực tại trần gian nhưng là thực tại Nước Trời, Nước mà Chúa Giêsu đã ban cho người trộm cùng bị đóng đinh bên cạnh Chúa: “Tôi bảo thật với anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng”. Chính nơi đó, chúng ta thực sự sống như lòng mong ước không có bất trung và phản bội, không có giận hờn và ghen ghét, không có căm thù và giết chóc, không có lừa lọc và gian dối, không có bóc lột và ức hiếp. Đó là Nước của tình yêu: mọi người đều là anh chị em với nhau và cùng gọi Thiên Chúa là Cha. Nước đó đã được khởi sự ngay trên trần gian qua con người của Chúa Giêsu, Đấng được Cha sai đến để loan báo Nước Trời. Việc loan báo không chỉ bằng lời nhưng còn bằng chính cuộc sống của Chúa Giêsu: Đấng yêu thương nhân loại cho đến nỗi hiến mạng sống mình để cho nhân loại được sống.

Chúa Nhật Lễ Lá mời gọi chúng ta suy niệm về cuộc sống để định hướng cho cuộc đời của mình. Khi trao ban sự sống cho chúng ta, Chúa muốn chúng ta đạt được sự sống đích thật trong Nước Trời. Bởi đó, Chúa mời gọi chúng ta bước vào con đường dẫn tới sự sống: con đường yêu thương, từ bỏ chính mình để sống yêu thương. Cái chết trên Thập giá không là một thất bại, nhưng là một chiến thắng trong cuộc chiến giữa sự cho đi và giữ lại, giữa tính ích kỷ và lòng vị tha. Và chỉ có sự chiến thắng đó chúng ta mới có thể đạt tới Nước Trời.

Lạy Chúa, chúng con bắt đầu bước vào Tuần Thánh, chúng con được mời gọi suy niệm cách đặc biệt về cuộc Thương khó của Chúa, không phải để chúng con khóc thương ủy mị, nhưng là để chúng con học cách yêu thương như Chúa. Xin cho chúng con hiểu được giá trị của cuộc sống chính là biết yêu thương, một tình yêu vị tha quảng đại. Amen.

 

 

Ngày 02/04/2007, thứ Hai Tuần Thánh

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 12,1-11)

Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu đến làng Bêtania, nơi Lagiarô đã chết được Người cho sống lại. Tại đây, người ta dọn bữa cho Người ăn, Matta hầu bàn, còn Lagiarô cũng là một trong những kẻ đồng bàn với Chúa Giêsu. Bấy giờ Maria lấy một cân dầu thơm, dầu cam tùng hảo hạng, và xức chân Chúa Giêsu, rồi lấy tóc mình mà lau. Hương thơm tỏa ra đầy nhà. Một môn đệ là Giuđa Iscariô, kẻ sẽ nộp Chúa Giêsu, liền nói: “Tại sao không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đồng mà cho người nghèo khó?“ Hắn nói thế không phải vì lo lắng cho người nghèo khó đâu, mà vì hắn là tên trộm cắp, lại được giữ túi tiền, nên thường xuyên bớt xén các khoản tiền người ta bỏ vào đó. Vậy Chúa Giêsu nói: “Hãy để mặc cô ấy làm công việc chỉ về ngày táng xác Ta. Vì các ngươi sẽ có người nghèo luôn bên cạnh các ngươi. Còn Ta, các ngươi sẽ không gặp Ta mãi đâu“. Có đám đông người Do thái biết Chúa Giêsu đang ở đó, nên kéo đến, không những vì Chúa Giêsu mà còn để thấy Lagiarô, kẻ đã chết được Chúa Giêsu cho sống lại. Thế là các thượng tế quyết định giết luôn cả Lagiarô nữa, vì tại ông mà nhiều người Dothái đã bỏ họ và tin theo Chúa Giêsu.

Ø       Suy Niệm

Tin mừng hôm nay nhắc đến Maria và Giuda Iscariot như là hai khuôn mặt tiêu biểu của những người cất bước theo Chúa Giêsu.

Có những người theo Chúa với trọn quả tim yêu như Maria. Khi Chúa đến thăm, Maria đã không ngần ngại dùng tài sản được coi quí giá nhất để đón tiếp Chúa: “một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quí giá xức chân cho Chúa”. Chưa hết, bà còn tận hiến trọn vẹn cho Chúa qua việc lấy tóc mình lau chân Chúa. Gioan tường thuật việc làm nầy của bà Maria để nói đến tình yêu đích thật mà bà dành cho Chúa. Maria hành động như vậy vì bà khám phá ra tình yêu nơi Chúa Giêsu. Như vậy, cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và bà Maria là một cuộc gặp gỡ của một tình yêu mẫu mực. Sự hiện diện của Chúa Giêsu trên trần gian như là qùa tặng của tình yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương nhân loại bằng một tình yêu không biên giới. Bà Maria nhận ra tình yêu đó, bà đã đón nhận và đáp trả bằng một tình yêu đích thật. Bà đã hiến trao tất cả cho tình yêu. Tất cả những gì thuộc về bà, bà đã hiến dâng để phục vụ cho tình yêu. Đó cũng là điều mà Chúa Giêsu đòi hỏi nơi người đi theo Chúa: các con hãy yêu như Thầy yêu. Một tình yêu hiến dâng thực sự. Không tiếc nuối, không giữ lại. Tất cả mọi sự chỉ qui về một mối, vì đối tượng mình yêu.

Cũng có những người theo Chúa để mưu cầu ích lợi cho chính mình, và Giuda Iscariot là gương mặt tiêu biểu. Giuđa theo Chúa không vì yêu mến Chúa, nhưng vì quyền lợi và mưu cầu ích lợi cho chính mình.  Khi thấy Maria lấy dầu thơm hảo hạng, quí giá để xức chân Chúa, ông tiếc, và cho việc làm đó là phí phạm. Tại sao ông lại có thái độ đó? Vì ông không yêu mến Thầy, không quí trọng Thầy, ông chỉ yêu mến túi tiền. Gioan đã thẳng thắn: ông ta là một tên ăn cắp, tham lam quỹ chung. Vâng, ngày nay cũng có biết bao hạng người tin theo Chúa cũng như Giuđa. Và để che đậy cho lòng tham và sự gian trá của mình, người ta mượn danh nghĩa “lo cho người nghèo, vì người nghèo” làm bức bình phong. Tội nghiệp cho những người nghèo!

Đối tượng phục vụ của Giáo hội chính là người nghèo. Công đồng Vat. II đã nhấn mạnh: Giáo hội phải là Giáo hội của người nghèo. Nhưng đâu là động lực thúc đẩy Giáo hội phục vụ người nghèo? Thưa chính tình yêu dành cho Thiên Chúa. Nếu không yêu Chúa mãnh liệt thì không thể yêu “người nghèo”. Vì tình yêu dành cho họ không chỉ mang đặc tính nhân ái thường tình, vì nó chỉ thể hiện sự thương hại. Tình yêu dành người nghèo không là một sự thương hại, một cảm tính thương xót nhất thời, nhưng nó mang tính tôn giáo được phát xuất từ một thái độ sống đức tin: nhìn thấy hình ảnh Thiên Chúa nơi người nghèo khó. Chính Chúa Giêsu đã dạy cho chúng ta về thái độ tôn giáo của hành vi yêu thương nầy: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt  25, 40). Do đó, làm sao mà có thể chăm lo cho người nghèo đích thật nếu trước tiên không thể hiện một tình yêu dành cho Chúa bằng một trái tim yêu đích thật.

Lạy Chúa, Chúa mời gọi chúng con phải chia cơm xẻ áo cho những người cùng khốn, nhưng hành vi chia sẻ đó phải được nảy sinh từ một tình yêu trọn vẹn dành cho Chúa. Như vậy việc yêu thương những người nghèo mới thực sự đạt tới ý nghĩa mà Chúa mong muốn. Xin dạy chúng con trên hết mọi sự phải mở rộng trái tim hướng về Chúa, để từ đó mới có thể trao ban cho người khác đích thật. Amen.

 

Ngày 03/04/2007, thứ Ba Tuần Thánh

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 13,21-33.36-38) 

Khi ấy, Chúa Giêsu đang ngồi ăn với các môn đệ, tâm hồn Người bị xao xuyến, nên Người tuyên bố: “Thầy nói thật cho các con biết, một người trong các con sẽ nộp Thầy”. Các môn đệ nhìn nhau phân vân, không biết Người nói về ai? Có một môn đệ được Chúa Giêsu yêu quý, đang ở bàn ăn gần lòng Chúa Giêsu. Vậy Phêrô làm hiệu cho môn đệ ấy và nói: “Hỏi xem Thầy nói về ai đó”. Môn đệ ấy nghiêng người sát ngực Chúa Giêsu và hỏi Người: “Thưa Thầy, ai vậy?” Chúa Giêsu trả lời: “Thầy chấm miếng bánh trao cho ai, là người đó“. Và Người chấm một miếng bánh trao cho Giuđa, con ông Simon Iscariô.

Ăn miếng bánh xong rồi, Satan nhập vào hắn. Chúa Giêsu nói với Giuđa: “Con tính làm gì thì làm mau đi“. Nhưng những người đang ngồi ăn, không ai hiểu được vì sao Người lại nói với hắn như vậy. Có nhiều người tưởng rằng hắn giữ túi tiền, nên Chúa Giêsu bảo hắn hãy mua những gì chúng ta cần dùng trong dịp lễ, hoặc Người bảo hắn bố thí cho người nghèo. Vậy sau khi nhận miếng bánh đó, Giuđa liền đi ra. Bấy giờ là đêm tối. Khi Giuđa đi rồi, Chúa Giêsu phán: “Bây giờ Con Người được vinh hiển, và Thiên Chúa đã được vinh hiển nơi Người. Nếu Thiên Chúa đã được vinh hiển nơi Người thì Thiên Chúa lại cho Người được vinh hiển nơi chính mình, và Thiên Chúa cho Người được vinh hiển. Các con yêu quý, Thầy chỉ còn ở với các con một ít nữa. Các con sẽ tìm Thầy, và như Thầy đã nói với người Dothái: nơi Ta đi, các ngươi không thể đến được, nay Thầy cũng nói với các con như vậy“. Simon Phêrô hỏi Người: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu?” Chúa Giêsu trả lời: “Nơi Thầy đi, nay con chưa thể theo tới đó được, nhưng sau này con sẽ theo Thầy”. Phêrô thưa lại: “Tại sao con không thể theo Thầy ngay bây giờ được, con sẽ liều mạng sống con vì Thầy”.  Chúa Giêsu nói: “Con liều mạng sống con vì Thầy ư ? Thầy nói thật cho con biết: trước khi gà gáy, con đã chối Thầy ba lần”.

Ø       Suy Niệm

Bữa ăn của Chúa Giêsu hôm nay với các môn đệ như chùng lại, không phải vì tiệc tàn, nhưng của một bữa ăn minh bạch hóa mọi vấn đề, không nhằm vạch trần để kết tội ai, nhưng để nói lên nỗi lòng của Con Thiên Chúa. Ngài xao xuyến vì mãnh lực ma quỉ ghê gớm quá và nó chẳng chối từ ai. Những môn đệ đi theo Chúa cận kề mỗi ngày, thế mà cũng bị nó chiếm hữu, lôi kéo vào hùa với nó, để rồi bi kịch này, ngàn đời luôn được nhắc lại như một nỗi đau tận cùng. Cử chỉ của Chúa khi trao cho Giuđa miếng bánh, một của ăn bình thường, nhưng hôm nay khác thường, bởi vì phải nói với Giuđa: Thầy trao tình yêu của Thầy cho con nè, miếng ăn là để cho có sự sống, chứ đâu phải là miếng tồi tàn, để rồi con rẻ rúng bán Thầy. Một cử chỉ thân thiện được đáp lại bằng sự lạnh lùng chết người, Giuđa đã ra đi không một chút chần chừ, và khi ấy là đêm tối, một ý nghĩa đầy ẩn dụ, đêm tối là đi vào nơi xấu, của sự sợ hãi, là của ma quỉ, Giuđa đã bội phản Thầy, coi những lời Thầy hằng ân cần mỗi ngày dạy dỗ như phù du, chối từ chân lý, chối từ sự thật để làm điều giả trá. Cái đau của Chúa không phải lo sợ sẽ bị tra tấn sau này khi bị quân dữ bắt, mà chuyện con người đã vô cảm trước tình yêu của Ngài. Ôi thế thái nhân tình tệ bạc quá.

Câu chuyện không chỉ dừng ở Giuđa, mà còn tận cùng với Phêrô, một con người chân thật, nhiệt huyết, nhưng ăn nói vỗ vã, khác với Giuđa khi ấy là đêm tối, để rồi sự liên minh ma quỉ này hành động bằng việc hôn trao nộp Thầy cho quân dữ. Mặc dầu không nói là “đêm tối”, nhưng Chúa trao cho Phêrô lời cảnh cáo “trước khi gà gáy, thì con đã chối Thầy ba lần” để nói lên rằng, con người mỏng dòn yếu đuối lắm, mặc dầu trước đó Phêrô đã mạnh miệng nói rằng con sẽ liều mạng sống con vì Thầy. Và Chúa như muốn nói con đường Thầy đi đến nơi vinh hiển là con đường phải chiến đấu không ngừng nghỉ, không dễ dàng có được vì ma quỉ luôn rình mò để bắt chộp chúng ta.Ġ

Bữa tiệc minh bạch hóa mọi vấn đề, nhưng không dễ gì tiêu hóa hết ngay được. Chính Chúa cũng đã nói với các môn đệ điều mà Ngài đã từng nói với người Do Thái, nơi Ngài đi đến, đó chắc chắn là đỉnh đồi Canvê, nơi Ngài chịu đau khổ, và cũng nhằm nói cho các ông ấy hiểu rằng, không phải cứ nói đi theo Thầy đến tận cùng là sẽ đi đến đó được, phải chiến đấu cật lực với cái xấu không thôi lại rơi rụng như  Giuđa, hoặc gần như một Phêrô.

Lời Chúa trong Tuần Thánh này đòi chúng ta đừng như một Giuđa bội phản, dừng lại kịp thời như Phêrô đã chối Thầy, một cái đòi hỏi  cao hơn là đừng đi vào bóng đêm tội lỗi nữa, cái bóng đêm đã làm Chúa phải tỉnh thức luôn trong vườn Dầu để cầu nguyện, cái bóng đêm đã quật ngã Giuđa, cái bóng đêm làm cho các tông đồ chạy tan tác trong vườn Dầu. Tội lỗi cũng sẽ hơn thế, nó ràng buộc chúng ta, ngăn cản chúng ta, mê hoặc chúng ta, làm chúng ta mất Chúa và tha nhân. Tội là sự phản bội, là chối Chúa và làm chúng ta mất Chúa, Chúa luôn chờ chúng ta để trao chúng ta vinh hiển của Ngài khi chúng ta đi theo con đường của Ngài.

Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con là những kẻ tội lỗi.

 

 

Ngày 04/04/2007, thứ Tư Tuần Thánh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 26,14-25)

Khi ấy, một người trong Nhóm Mười Hai tên là Giuđa Iscariô đi gặp các thượng tế và thưa với họ: "Các ông cho tôi bao nhiêu, tôi sẽ nộp Người cho các ông". Họ liền ấn định cho hắn ba mươi đồng bạc. Và từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Chúa Giêsu. Ngày thứ nhất trong tuần ăn bánh không men, các môn đệ đến thưa với Chúa Giêsu: "Thầy muốn chúng con chuẩn bị cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?" Chúa Giêsu đáp: "Các con hãy vào thành, đến nhà một người kia và nói rằng: "Thầy bảo: giờ Ta đã gần, Ta sẽ mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ tại nhà ông". Các môn đệ làm như Chúa Giêsu đã truyền, và sửa soạn Lễ Vượt Qua. Chiều đến, Chúa Giêsu ngồi bàn ăn với mười hai môn đệ. Và khi các ông đang ăn, Người nói: "Thầy nói thật với các con, có một người trong các con sẽ nộp Thầy". Các môn đệ rất buồn rầu, và từng người bắt đầu lần lượt hỏi Chúa Giêsu: "Thưa Ngài, có phải con không?" Người trả lời rằng: "Kẻ giơ tay cùng chấm chung một đĩa với Thầy, đó chính là kẻ nộp Thầy. Thực ra, Con Người sẽ ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ sẽ nộp Con Người: thà người đó đừng sinh ra thì hơn!" Giuđa, kẻ nộp Người cũng thưa Người rằng: "Thưa Thầy, có phải con không?" Chúa đáp: "Đúng như con nói !".

Ø       Suy Niệm

Ở mấy xứ đạo, khi thấy ai nguội lạnh khô khan, thì thế nào họ cũng nói thằng Giuđa kìa. Oan cho Giuđa lắm. Ông này là môn đệ Chúa Giêsu và được tuyển chọn đàng hòang, ông ta cũng chăm chỉ, thậm chí cả đêm hôm khuya khoắt cũng đi làm việc! Ông đâu biếng nhác. Ấy thế mà cuộc thương khó của Chúa Giêsu luôn nhắc đến tên ông như một nhân vật phản diện, và Giuđa nhập vai diễn của mình xuất sắc quá, đến độ Chúa Giêsu còn khen: “Thật ra Con Người sẽ ra đi như đã chép về Người, khốn cho kẻ nộp Con Người, thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn”. Chắc chắn Chúa hiểu Giuđa hơn ai hết và như các môn đệ, chắc chắn Chúa cũng thương Giuđa như bao môn đệĠkhác. Nhưng sao lại có chuyện trớ trêu như thế này, cái gì làm cho ông trở thành kẻ nội gián, cái gì đã cản ngăn ông, không để ông trở thành nhóm mười hai? Câu trả lời sẽ luôn bỏ ngõ vì có nhiều cách trả lời: tại ông ấy ham tiền, giả dối, tại ông ấy mất lòng trông cậy, tại ông ấy lỡ dại, tại ông ấy nghĩ Chúa quyền phép, nên chuyện bắt được Chúa là chuyện còn khuya…

Đã nhiều lần Chúa đã nói các môn đệ hãy tỉnh thức luôn luôn, chắc Giuđa cũng nghe điều đó, Nhưng lần này chắc ông đã sơ hở nên ma quỷ đã thừa cơ lợi dụng, đã biến ông thay vì đối xử thân tình với Thầy lại quay qua nộp Thầy, một hành động đáng chê trách vì bội phản. Giuđa đã làm chuyện rồ dại, nhưng còn rồ dại hơn, khi mà nhóm mười hai ai cũng buồn rầu vì câu chuyện Chúa vừa nói về sự bội phản, ai cũng kiểm điểm và thì thầm với Thầy: có phải con không? Ấy vậy mà Giuđa không mảy may xuy xuyển, thay đổi, đã giơ tay cùng chấm một dĩa và hỏi Thầy như là thách thức, và ngầm để che lấp đi trước cái nhìn của anh em, Chúa đã không nói mày là thằng đốn mạt, đáng nguyền rủa mà rất thân tình: “Đúng như con nói” để Giuđa có cơ hội quay lại. Một tình yêu không loại trừ, hất hủi, một tình yêu bao dung và độ lượng, nhưng Giuđa quyết định đi theo cái mà ông ta đã tính tóan.

Nỗi lòng Giuđa ra sao chắc chúng ta không thấu hiểu hết được, nhưng nhìn vào thái độ của Chúa Giêsu, chúng ta thấy một niềm tin về lòng thương xót. Chúa luôn nhân từ và chờ đợi, nếu mà Giuđa vì ham tiền, chắc chắn chúng ta ít lần đã mê man vì nó, nếu ông ấy giả dối thì chúng ta cũng đâu phải là không có, ông ấy mất lòng trông cậy thì chuyện đó chúng ta cũng vẫn có hoài, ông ấy lỡ dại thì chúng ta cũng lỡ dại mà, ông ấy ỷ i chắc chắn điều đó chúng ta không thiếu bao giờ, hay chúng ta chính là ông ấy, điều đó có thể và không có thể.

Câu chuyện Tin Mừng hôm nay đã kể lại các môn đệ ai cũng kiểm điểm mình và hỏi Thầy có phải con không? Điều này chúng ta phải làm thật nhiều, vấn tâm lại, soi xét lại trong tình thương của Chúa, chúng ta mới thấy rằng, nếu đã không có Giuđa Iscariốt trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu, thì coi chừng hôm nay tôi là người đóng vai Giuđa trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu cũng nên!

Lạy Chúa Giêsu, Chúa yêu nhân loại bao nhiêu thì lại bị những tệ bạc đáp trả bấy nhiêu. Giuđa đã dám hỏi Chúa, có phải con không? Xin cho chúng con cũng đặt mình trước mặt Chúa và hỏi có phải con không, nếu đúng là con thì xin cho con ơn trở lai , nếu không đúng là con, thì cho con được thêm niềm tin Amen.


 

Ngày 05/04/2007, thứ Năm Tuần Thánh

THÁNH LỄ TIỆC LY

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 13,1-15)

Trước ngày lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết đã đến giờ mình phải bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha. Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng. Sau bữa ăn tối, ma quỷ gieo vào lòng Giuđa, con ông Simon Ítcariốt ý định nộp Chúa Giêsu. Chúa Giêsu biết rằng: Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, và vì Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sẽ trở về cùng Thiên Chúa, Người chỗi dậy, cởi áo, lấy khăn thắt lưng, rồi đổ nước vào chậu. Người bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Vậy Người đến chỗ ông Simon Phêrô, ông này thưa với Người rằng:  "Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?" Chúa Giêsu đáp: "Việc Thầy làm, bây giờ con chưa hiểu, nhưng sau này con sẽ hiểu". Phêrô lại thưa lại: "Không đời nào Thầy mà lại rửa chân cho con", Chúa Giêsu bảo: "Nếu Thầy không rửa cho con, con sẽ chẳng được dự phần với Thầy". Phêrô liền thưa: "Vậy xin Thầy hãy rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa". Chúa Giêsu nói: "Ai đã tắm rồi, thì chỉ cần rửa chân, vì cả mình đã sạch. Tuy các con đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!". Vì Người biết ai sẽ nộp Người, nên mới nói: "Không phải tất cả các con đều sạch đâu". Sau khi đã rửa chân cho các môn đệ xong, Chúa Giêsu mặc áo vào, và khi đã trở về chỗ, Người nói: "Các con có hiểu việc Thầy vừa làm cho các con không? Các con gọi Thầy là 'Thầy" và là `Chúa' thì phải lắm, vì đúng thật, Thầy là như vậy. Vậy nếu Ta là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Vì Thầy đã làm gương cho các con, để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con”.

Ø       Suy Niệm

BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Tình yêu chính là ý nghĩa của Bí tích Thánh Thể. Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã quì gối rửa chân cho các Tông đồ và cũng trong Bữa Tiệc ly Ngài đã thiết lập Bí tích Thánh Thể cũng như loan báo về cái chết của Ngài. Phêrô đại diện các Tông đồ đã có lý khi khước từ Chúa Giêsu rửa chân cho ông vì đây là công việc của tôi tớ trong nhà. Theo tục lệ người Do Thái, trước khi vào bàn ăn, tôi tớ trong nhà phải đi rửa chân cho khách. Chúa Giêsu đã muốn thực hiện cử chỉ ấy để thực thi chính điều Ngài đã nói: Con người không đến để được hầu hạ, nhưng để hầu hạ và hiến mạng sống làm giá chuộc nhiều người.

Cử chỉ yêu thương mà Chúa Giêsu đã làm cho các Tông đồ là một quyết tâm sống trọn ý nghĩa yêu thương của Ngài, cũng như người tôi tớ không sống cho mình mà cho người khác. Nhưng Ngài chưa lấy làm đủ, Ngài còn biểu lộ tình yêu qua hình ảnh một miếng bánh trao ban để ở mãi với con người. Bị bẻ ra và tiêu tan, Chúa Giêsu đã sống đến cùng những đòi hỏi của yêu thương. Thánh Gioan đã tóm gọn cuộc sống Chúa Giêsu qua câu: "Ngài đã yêu các kẻ thuộc về Ngài và đã yêu đến cùng", nghĩa là sẵn sàng sống chết cho người mình yêu. Tình yêu đến cùng ấy, Chúa Giêsu đã thể hiện qua cái chết trên Thập giá, và Ngài còn muốn tái diễn hàng ngày dưới hình dạng Bánh và Rượu trong bí tích Thánh Thể. Cũng như tôi tớ chỉ sống và chết cho người khác, chiếc bánh chỉ hiện hữu để được ăn, được hao mòn, được tiêu tán. Dưới hình thức lương thực, Chúa Giêsu muốn thể hiện tình yêu của Ngài đối với chúng ta; tiếp nhận Ngài qua Bí tích thánh thể, chúng ta sống bằng chính sự sống của Ngài, ăn uống Ngài, chúng ta cũng được mời gọi nên giống Ngài và san sẻ sự sống của Ngài cho người khác.

Sống và chết cho người khác, nên một với Ngài là thực hiện sứ mệnh của Ngài tức là phục vụ và phục vụ cho đến cùng. Sứ mệnh phục vụ ấy Chúa Giêsu truyền lại cho chúng ta qua Bí tích Truyền chức. Linh mục là người được ủy thác để lặp lại lời của Chúa Giêsu: "Các con hãy làm việc này, mà nhớ đến Ta". Làm việc này không những là cử hành Bí tích Thánh Thể để Chúa Giêsu luôn ở mãi giữa nhân loại, mà còn chu toàn sứ mệnh phục vụ của Ngài. Không chỉ riêng linh mục, nhưng tất cả những ai nhờ phép rửa được tháp nhập vào sự sống Đức Kitô, nghĩa là mọi kitô hữu trong lời nói và hành động cũng yêu thương và chết để nhớ đến Ngài. Mỗi cử chỉ và hành vi bác ái đều là một nghĩa cử tưởng nhớ đến Chúa Giêsu, đều là một tiếp tục, hay đúng hơn là một hiến lễ được dâng trên bàn thờ.

Lạy Chúa Giêsu, ngày hôm nay cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng con tưởng nhớ việc Chúa lập Bí tích Thánh Thể và truyền chức linh mục trong ngày thứ năm tuần thánh, chúng con nhớ đến cách đặc biệt các linh mục. Xin chúa ban cho các ngài luôn trung thành với sứ mệnh phục vụ. Xin cho tình yêu Chúa luôn ngự trị trong tâm hồn chúng con để chúng ta cũng sống yêu thương và phục vụ. Amen.

 

 

Ngày 06/04/2007, thứ Sáu Tuần Thánh

Tưởng Niệm Cuộc Thương Khó Của Chúa Giêsu

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 19,25-30)

Đứng gần thập giá Chúa Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu là bà Maria, vợ ông Clêôpas, cùng với bà Maria Mađalêna. Khi thấy Mẹ và người môn đệ Người thương mến đứng bên cạnh, Chúa Giêsu nói với Mẹ Người rằng: "Thưa Bà, đây là con của Bà." Rồi Người nói với môn đệ: "Đây là mẹ của con." Kể từ lúc đó, người môn đệ đã lãnh nhận bà về nhà mình. Sau đó, Chúa Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: "Tôi khát!". Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, cắm vào một cành cây hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. Khi đã nếm giấm rồi, Chúa Giêsu nói: "Mọi sự đã hoàn tất!". Rồi Người gục đầu xuống và trút hơi thở cuối cùng.

Ø       Suy Niệm

Thập Giá  Đức Kitô

"Bây giờ  Chúa đang ở đâu ?".

Mỗi lần bóng tối của Thập giá làm dấy lên trong chúng ta câu hỏi như thế, chúng ta nghe vọng lên từ nỗi đớn đau của chúng ta câu trả lời duy nhất là: "Ngài đang có mặt đó". Ngài đang có mặt đó, bởi vì Ngài là Tình yêu. Chỉ có Tình yêu mới có thể đến tận cùng của khoan dung và tha thứ. Thập giá vẫn mãi mãi là tột đỉnh của sự độc ác dã man của con người, sự độc ác dã man đó càng bộc lộ, thì tình yêu Thiên Chúa càng bày tỏ.

Lý luận thông thường không thể hiểu cạn được tại sao một Thiên Chúa lại có thể chịu treo trên Thập giá. Nhưng đó lại là sức mạnh, là sự khôn ngoan của tình yêu. Dù tội lỗi con người có ngập tràn, dù sự độc ác của con người có chất ngất, Thiên Chúa vẫn yêu thương và tha thứ.

Thập giá không chỉ là biểu trưng của sự độc ác và tội lỗi con người, mà còn là vẻ đẹp của chính tình yêu Thiên Chúa. "Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài. Ngài không sai Con Ngài đến để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con Một Ngài mà được cứu thoát". Đó phải là xác tin của chúng ta khi ngắm nhìn Thập giá Chúa Giêsu. Thiên Chúa yêu thương chúng ta ngay cả khi chúng ta còn là tội nhân. Thiên Chúa yêu thương chúng ta ngay cả khi chúng ta khước từ. Không có tình yêu nào cao cả hơn.

Vì yêu thương chúng ta, Ngài chấp nhận chịu treo trên Thập giá. Vì yêu thương chúng ta, Ngài trải qua mọi khốn cùng của kiếp người. Không phải đinh sắt đã đóng Ngài vào Thập giá, mà chính là tình yêu. Đó là tất cả vẻ đẹp cao vời của Thập giá. Thập giá là nơi ngự trị của Thiên Chúa. Chính trong những nơi cơ cực, nghèo hèn, bỉ ổi và đớn đau nhất, mà sự hiện diện của Thiên Chúa lại càng mãnh liệt hơn. Chính từ Thập giá mà tiếng gọi yêu thương của Ngài càng thắm thiết hơn.

Từ trên Thập giá, Chúa Giêsu ôm trọn từng nỗi khổ đau của con người. Nhìn ngắm Thập giá của Ngài, đôi mắt chúng ta càng phải mở rộng ra để nhận thấy bao nỗi thống khổ cơ cực của những người xung quanh. Lúc đó, Thập giá không còn vắng bóng Thiên Chúa mà trái lại là điểm xuất phát của những cử chỉ yêu thương, từ đó tình yêu và sự hiện diện của Thiên Chúa sẽ bừng dậy.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa, vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ. xin cho chúng con biết tôn thờ Thánh Giá Chúa và học được bài học yêu thương từ Thánh Giá. Amen.

 

 

Ngày 07/04/2007, thứ Bảy Tuần Thánh

TƯỞNG NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca ( Lc 24, 1-12 )

Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn. Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giêsu đâu cả. Họ còn đang phân vân, thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói, đứng bên họ. Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói: "Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Galilê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại." Bấy giờ các bà nhớ lại những điều Đức Giêsu đã nói. Khi từ mộ trở về, các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy. Mấy bà nói đây là bà Maria Mácđala, bà
Gioan-na, và bà Maria, mẹ ông Giacôbê. Các bà khác cùng đi với mấy bà này cũng nói với các Tông Đồ như vậy. Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin. Dầu vậy, ông Phêrô cũng đứng lên chạy ra mộ. Nhưng khi cúi nhìn, ông thấy chỉ còn có những khăn liệm thôi. Ông trở về nhà, rất đỗi ngạc nhiên về sự việc đã xảy ra.

Ø       Suy Niệm

NIỀM HY VỌNG PHỤC SINH

Lối xóm gọi anh là Tư còm vì thân hình gầy còm, lại sáng sỉn, chiều say, tối lăn quay, ngày mai nhậu tiếp và khi nhậu say, anh chửi bới tất cả xóm làng không trừ ai. Người ta tìm hiểu được biết, anh có một vợ năm con, đạp xích lô suốt ngày không đủ nuôi mấy miệng ăn. Các con anh lần lượt bỏ học vì không đủ tiền đóng học phí, nhà anh nằm trên vũng sình lầy và dột nát. Sống trong hoàn cảnh kéo dài tháng này qua năm khác như thế, anh đâm ra thất vọng nên mượn chén rượu giải sầu, nhưng chén rượu càng vơi, thì chén sầu càng đầy ắp. Hiểu được hoàn cảnh của anh, lối xóm kẻ công người của cất lại cho anh căn nhà trên đất liền chắc chắn và kín đáo; lối xóm lại tiếp tục đem đến lon gạo, bó củi, cái nồi, cái dao, cái chén, cái tô. Thế là anh có đủ vật dụng cần thiết cho cuộc sống hàng ngày và một căn nhà đàng hoàng bảo đảm cho sức khoẻ: các con anh cũng được các bà mẹ nhận đỡ đầu và đài thọ học phí, tất cả đều được đi học trở lại. Quá cảm động trước lòng ưu ái của bà con lối xóm, anh Tư còm đã bỏ rượu hẳn và bắt đầu giữ đạo sốt sắng cùng với gia đình anh.

Theo một nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói: anh Tư còm được phục sinh từ cõi chết của những ngày say sưa và bê trễ. Anh đã chết cho tính nghiện ngập của mình và sống lại trong tình yêu thương của Chúa và của mọi người.

Chúng ta đã trải qua 40 ngày của Mùa Chay là thời gian chuẩn bị cho Phục sinh bằng ăn năn sám hối, hãm mình đền tội, thực thi bác ái. Giờ đây chúng ta sắp mừng lễ Phục Sinh. Chúng ta vui mừng vì Chúa Kitô sống lại từ cõi chết, chúng ta cũng hân hoan vì Ngài đã hứa cho chúng ta sẽ được sống lại với Ngài. "Cùng chết với Ngài, chúng ta sẽ được sống lại với Ngài". Qua việc lặp lại lời tuyên hứa khi chịu phép thanh tẩy trong nghi thức Vọng Phục Sinh, chúng ta khẳng định lại chân lý này và cố gắng mỗi ngày chết cho tội nhiều hơn để sống lại với Chúa trọn vẹn hơn.

Trong biến cố Phục Sinh, với quyền năng Thiên Chúa, ngôi mộ chôn cất Chúa Giêsu đã mở ra và Ngài đã bước ra khỏi mồ. Cũng với quyền năng Thiên Chúa, những hòn đá chôn vùi cuộc đời chúng ta sẽ bị lăn đi. Đó có thể là hòn đá của ích kỷ chỉ biết đến lợi riêng của mình. Đức Kitô Phục Sinh sẽ giúp chúng ta lăn hòn đá ấy đi để biết dấn thân phục vụ Chúa và tha nhân. Đó có thể là hòn đá tham lam, mê ăn uống đã từng đè nặng tâm hồn và thân xác chúng ta. Đó có thể là hòn đá lãnh đạm, thiếu tình thương đã ngăn cản chúng ta phục vụ Chúa và anh em. Đó có thể là hòn đá an phận, nhút nhát khiến chúng ta chỉ giữ đạo ngày Chủa Nhật qua việc đọc kinh, xem lễ. Đức Kitô Phục Sinh sẽ giúp chúng ta sống đạo, sống niềm tin, thực thi bác ái tích cực hơn.

Mỗi năm khi mừng lễ Phục sinh, chúng ta chiêm ngưỡng tình thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta, và chúng ta đón nhận sức mạnh của Đức Kitô để phá vỡ những hòn đá chôn vùi cuộc đời mình. Để thực sự sống lại với Đức Kitô, trong ngày hôm nay, chúng ta hãy tìm thời giờ sống những giây phút thinh lặng để tìm xem những hòn đá nào cần phải lăn đi, như thiếu trong sạch, lười biếng, không lương thiện, kiêu căng, giần hờn, ghen tuông. Cùng với Đức Kitô, chúng ta hãy ném nó ra khỏi cuộc đời chúng ta, để tận hưởng niềm vui Phục Sinh trọn vẹn hơn. Nhưng Phục Sinh cuộc đời mình mà thôi chưa đủ, mỗi người chúng ta còn có bổn phận giúp thân nhân, bạn hữu và đồng loại cùng hưởng ơn Phục sinh.

Chúa Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chết để cho chúng con được sống, xin cho mỗi người chúng con quyết tâm tiếp tục cuộc sống của Chúa: dám sống cho một niềm vui và dám chết cho một cuộc tình. Tin vào tình thương của Chúa, chúng con xin tận hiến cuộc đời để sống trọn vẹn luật yêu thương: yêu Chúa và thương anh em. Amen

 

 

Ngày 08/04/2007, Chúa Nhật Phục Sinh năm C

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 20,1-9)

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Bà nói: "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu." Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Simôn Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết.

Ø       Suy Niệm

Đời Sống Mới

 Hôm nay chúng ta vui mừng sống trong ngày khải hoàn của Đức Giêsu Kitô. Đây là ngày Chúa Cha siêu tôn Đức Giêsu Kitô và đặt Ngài làm Chúa các Chúa, vua muôn vua. Đây là ngày Đức Giêsu Kitô bắt đầu cuộc sống mới: Cuộc sống vượt không gian và thời gian; cuộc sống vinh thắng trên sự chết. Vì thế, Ngài sẽ làm chủ sự chết, không còn lệï thuộc vào sự chết, và Ngài sẽ không còn phải chết nữa. Đây là ngày đánh dấu sự chiến thắng của Đức Giêsu Kitô trên các thế lực hoả ngục là tội lỗi và sự chết.

Lý do nào mà Đức Giêsu Kitô có được ngày vinh thắng này? Thưa vì Ngài phải trả giá bằng con đường tự hạ. “Vì ngài đã tự hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết. Chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn người và tặng ban danh hiệu trỗi vượt trên mọi danh hiệu” (Pl 2,8-9).

Khi hân hoan sống trong ngày chiến thắng của Đức Kitô Phục Sinh, mỗi người chúng ta được kêu gọi cố gắng vươn tới một con người mới như Đức Kitô Phục Sinh. Sống con người mới như Đức Giêsu Phục Sinh, nghĩa là chúng ta hãy trở lại sống ơn Bí Tích thánh tẩy: Hãy làm lại đời sống chúng ta giống như chiếc áo trắng mà chúng ta lãnh nhận trong ngày rửa tội: Hãy làm cho đời sống chúng ta như ngọn nến cháy sáng mà chúng ta đã đón lấy trong ngày được ơn tái sinh. Để sống được như thế, điều cơ bản là chúng ta hãy tránh xa tội lỗi, hãy sống thánh thiện như Cha trên trời là Đấng Thánh. Đừng bao giờ làm nô lệä cho tội lỗi, cho dù có gặp những thuận lợi về tiền bạc, danh lợi hay quyền thế. Sống như thế là chúng ta đang tự chết đi cho con người cũ và ích kỷ, để bắt đầu sống một con người mới như Đức Giêsu Phục Sinh.

Lạy Giêsu Kitô Phục Sinh, xin ban Thánh Thần Chúa trên chúng con, để chúng con biết can đảm từ bỏ con người quá khứ. Nhờ đó chúng ta sẽ khởi hành làm lại con người mới theo hình ảnh thánh thiện của Chúa Phục Sinh. Amen.

 

Ngày 09/04/2007, thứ Hai, tuần Bát Nhật Phục Sinh

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 28,8-15)

Khi ấy, các bà vội vã ra khỏi mồ vừa sợ hãi vừa hớn hở vui mừng, chạy đi báo tin cho các môn đệ của Chúa Giêsu. Và này, Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: “Chào các bà”. Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: “Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho anh em của Ta rằng: họ phải trở về Galilêa, rồi ở đó họ sẽ gặp Ta”. Đang khi các bà lên đường, thì mấy người lính canh vào thành báo tin cho các thượng tế biết tất cả nhũng gì đã xảy ra. Các thượng tế liền họp với các kỳ lão, và sau khi bàn định, cho lính một số tiền lớn và bảo rằng: “Các anh hãy nói rằng: “Ban đêm khi chúng tôi đang ngủ, thì môn đệ ông đến lấy trộm xác ông. Nếu việc này đến tai tổng trấn, chúng tôi sẽ thương lượng với ông, không để các anh bị phiền hà đâu”. Bọn lính canh nhận tiền và đã làm đúng như họ đã dặn chúng. Bởi thế, lời đó được loan truyền nơi người Dothái cho đến ngày nay.

Ø       Suy Niệm

Chứng Nhân Phục Sinh

 Thông thường khi giao cho ai một trọng trách gì, thì những việc quan trọng sắp được giao phải phù hợp với khả năng trình độ của người ấy. Đức Giêsu Kitô Phục Sinh thì không đánh giá theo tiêu chuẩn của người đời. Ngài dựa trên lòng mến và hy sinh nhiệt tình của con người, để ban cho họ sứ vụ. Bằng chứng là Madalêna, một người phụ nữ bình thường trong xã hội và tôn giáo Do Thái, được Chúa chọn làm chứng nhân đầu tiên của Mầu Nhiệm Phục Sinh, mầu nhiệm cao cả trong đạo công giáo.

Đối với quan niệm người Do Thái, phụ nữ thì không có chức quyền gì trong sinh hoạt tôn giáo hay xã hội. Nhưng đối với Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, thì tất cả mọi người không phân biệt nam nữ, giai cấp, giàu nghèo, đều có quyền chia sẻ Mầu Nhiệm Phục Sinh của Chúa cho mọi người, miễn là đương sự có tình mến đặc biệt với Chúa, nhất là có hồn tông đồ nhiệt thành rao giảng Tin Mừng.

Lạy Chúa, xin cho chúng con cũng trở thành chứng nhân Mầu Nhiệm Phục Sinh của Chúa bằng đời sống thánh thiện, vui tươi trong việc bổn phận, cũng như khi gặp gỡ mọi người, đặt biệt là biết đem niềm vui Phục Sinh của Chúa đến với anh chị em nghèo khổ, bằng hành động hy sinh bác ái. Amen.

 

 

Ngày 10/04/2007, thứ Ba, tuần Bát Nhật Phục Sinh

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 20,11-18)

Khi ấy, bà Maria đang còn đứng gần mồ Chúa mà than khóc. Nhìn vào trong mồ, bà thấy hai thiên thần mặc áo trắng đang ngồi nơi đặt xác Chúa Giêsu, một vị ngồi phía đàng đầu, một vị ngồi phía đàng chân. Hai vị hỏi: “Tại sao bà khóc ?”. Bà trả lời: “Người ta đã lấy mất xác Chúa tôi và tôi không biết người ta đã để Người ở đâu?”. Vừa nói xong, bà quay lại, thì thấy Chúa Giêsu đã đứng đó, nhưng bà chưa biết là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu hỏi: “Bà kia, tại sao mà khóc, bà tìm ai?”. Maria tưởng là người giữ vườn, bà thưa: “Thưa ông, nếu ông đã mang xác Người đi, thì xin cho tôi biết, ông đã đã đặt Người ở đâu, để tôi đến lấy xác Người”. Chúa Giêsu gọi: “Maria”. Quay mặt lại, bà thưa: “Lạy thầy”. Chúa Giêsu bảo bà: “Đừng động đến Ta, vì Ta chưa về cùng Cha Ta, nhưng hãy đi báo tin cho các anh em của Ta và bảo họ rằng: “Ta về cùng Cha Ta cũng là Cha của các con, về cùng Thiên Chúa Ta cũng là Thiên Chúa của các con”. Maria Mađalêna đi báo tin cho các môn đệ rằng: “Tôi đã trông thấy Chúa và Chúa đã phán với tôi những điều ấy”.

Ø       Suy Niệm

Mâu thuẫn của cuộc sống

Thế giới chúng ta đang sống chất chứa biết bao điều nghịch lý. Trong khi phần đông con người ngày đêm tìm cách kéo dài tuổi thọ của mình, thì song song đó, tại các bệnh viện, hàng năm theo số liệu thống kê, số trường hợp nạo phá thai tăng lên không ngừng! Như vậy con người ngày nay quý trọng sự sống hay hủy diệt sự sống ? Một câu hỏi không dễ cho chúng ta trả lời !

Maria Madalêna, một người phụ nữ bê tha, tội lỗi đã hủy hoại cuộc sống mình trong chốn ăn chơi trụy lạc, nhưng cũng lại là người lấy dầu thơm xức chân cho Đấng là nguồn mạch sự sống. Nơi con người Madalêna cũng có những nghịch lý.

Không một người đàn ông thế giá nào muốn bị bắt gặp đang nói chuyện với Madalêna, những người khác đến với cô cũng chỉ vì nhu cầu nhục dục; còn Đức Giêsu lại để cho cô lấy dầu thơm xức chân và lấy tóc mình mà lau. Đức Giêsu đã trò chuyện với cô và đưa cô về con đường ngay chính. Và đây cũng là lần đầu tiên trong đời, Madalêna cảm thấy tiếng “Yêu” không phải là một tiếng dơ bẩn. Đức Giêsu đã đem đến cho cô một niềm hy vọng cho một cuộc đổi đời. Từ một kẻ hủy hoại cuộc sống đã tìm ra được nguồn sức sống, lý tưởng sống cho đời mình.

Và đó cũng là lý do tại sao trong lúc trời còn chưa rạng đông vào ngày thứ nhất trong tuần, Madalêna đã vội vã ra mộ thăm Chúa. Cô chẳng sợ hãi chút nào vì cô tin rằng, chính con người đó đã vực cô từ nơi tận cùng của kiếp người lên, và nói với cô: “Con ta đã chết nay sống lại”. Điều đó quả là tuyệt vời !

Và Đức Giêsu Phục Sinh đã hiện ra với cô và gọi tên cô. Thật vinh dự và hạnh phúc cho Madalêna biết bao. Từ một con người hủy hoại cuộc sống, được cứu sống và nay lại được chính Đấng chiến thắng sự chết để Phục Sinh hiện ra trong ngày đầu của biến cố. Như vậy, mọi cố gắng phục thiện của con người đều có giá trị trước mặt Thiên Chúa; và đôi khi Thiên Chúa dùng chính những nghịch lý của cuộc đời mà biến đổi con người.

Chúng ta là ai trong thế giới này? Cuộc sống của chúng ta có phù hợp với những gì chúng ta tin không ?

Soi chiếu đời sống của mình vào Chúa, chắc chắn chúng ta sẽ biết phải sống thế nào cho phù hợp với niềm tin vào Chúa Phục Sinh, nếu không, Chúa sẽ như người làm vườn xa lạ, chúng ta khó mà nhận ra Ngài !

Lạy Chúa, chúng con là những kẻ yếu đuối lầm lạc, con mắt đức tin của chúng con còn mờ tối, xin Chúa cất tiếng gọi để chúng con nghe tiếng Chúa mà thưa rằng: “Rabboni” – Lạy Thầy. Amen.

 

 

 

Ngày 11/04/2007, thứ Tư, tuần Bát Nhật Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 24, 13-35)

Cùng ngày thứ nhất trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Emmmau, cách Giêrusalem sáu mươi dặm. Dọc đường, các ông nói với nhau về những việc vừa xảy ra. Đang khi họ nói chuyện và trao đổi ý kiến với nhau, thì chính Chúa Giêsu tiến lại cùng đi với họ, nhưng mắt họ bị che phủ nên không nhận ra Người. Người hỏi: “Các ông có chuyện gì, vừa đi vừa trao đổi với nhau mà buồn bã vậy?” Một người tên là Clêopas trả lời: “Có lẽ ông là khách hành hương duy nhất ở Giêrusalem mà không hay biết những sự việc vừa xảy ra trong thành mấy ngày nay”. Chúa Giêsu hỏi: “Việc gì thế?” Các ông thưa: “Sự việc liên can đến ông Giêsu, quê thành Nagiarét, Người là một vị tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ trước mặt toàn thể dân chúng. Thế mà các trưởng tế và thủ lãnh của chúng ta đẽ bắt nộp Người để xử tử và đóng đinh Người vào thập giá. Về phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel. Các việc ấy xảy ra nay đã đến ngày thứ ba rỗi. Nhưng mấy người phụ nữ trong hóm chúng tôi, thật sự đã làm cho chúng tội lo sợ. Họ đền mồ từ tảng sáng và không thấy xác Người. Họ trở về nói đã thấy Thiên Thần hiện ra bảo rằng: “Người đang sống”. Vài người trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và thấy mọi sự đều đúng như lời các người phụ nữ đã nói, còn Người thì họ không gặp”. Bấy giờ, Người bảo họ: “Ôi kẻ khờ dại chậm tin các điều tiên tri đã nói. Chớ thì Đấng Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vinh quang sao?” Rồi Người bắt đầu từ Môisê đến tất cả các tiên tri, và giải thích cho hai ông tất cả những lời Kinh Thánh nói về Người. Khi gần đến làng hai ông định tới, Người giả vờ muốn đi xa hơn nữa. Nhưng hai môn đệ nài ép Người rằng: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều, và ngày sắp tàn”. Người liền vào với các ông. Đang khi cùng các ông ngồi bàn ăn, Người cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ liền sáng ra và họ nhận ra Người. Đoạn Người biến mất. Họ nói với nhau: “Phải chăng lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng lên trong ta, khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó sao?” Ngay lúc ấy, họ chỗi dậy trở về Giêrusalem và gặp mười một tông đồ và các bạn đang tụ họp. Hai ông bảo họ: “Thật Chúa đã sống lại và hiện ra với Simon”. Hai ông cũng thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Ngưồi lúc bẻ bánh như thế nào.

Ø       Suy Niệm

Đồng Hành

Có một cuốn phịm nổi tiếng, với tựa đề là “Jesus star”. Đây là cuốn phịm nhạc nổi tiếng về cuộc đời Chúa Giêsu. Bằng ngôn ngữ âm nhạc, tác giả muốn diễn tả cuộc đời Chúa Giêsu theo tâm thức con người thời nay. Nhưng một thiếu sót lớn của cuốn phim là đã không đề cập đến biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu. Cuốn phim kết thúc với cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá.

Phải chăng Chúa Giêsu chết là hết chăng?

Nhiều người xem cuốn phim này sẽ kết luận như thế. “Chết là hết”. Đó là ý nghĩ thông thường của con người. Hai môn đệ trên đường Emmau cũng có ý nghĩ “thông thường” như thế. Sau khi chứng kiến cái chết của Chúa Giêsu, các ông đã chán nản, thất vọng, buồn sầu. Niềm hy vọng vào “Vị Cứu Tinh của Israel” nay tan biến hết. Các ông chỉ còn biết quay về làng cũ, với nghề nghiệp, với đời thường của mình.

Có lẽ, tâm trạng của hai môn đệ trên đường Emmau cũng là tâm trạng của mỗi người chúng ta hôm nay. Những thất bại, nhưng chán trường, những xung đột trong cuộc sống, những vấp váp của kiếp người, và cả những bất công của xã hội… mà chúng ta gặp trong cuộc sống, đã làm cho con mắt đức tin của chúng ta không nhận ra Chúa Giêsu Phục Sinh nơi các biến cố ấy. Và cũng vì thế, qua cách sống, chúng ta đang dần xa Giáo hội, xa cộng đoàn, xa gia đình mà chúng ta đang sống, để ra đi mà không biết mình đi về đâu như hai môn đệ xưa.

Nhưng rồi Chúa Giêsu đã đến. Ngài đến như một người xa lạ, cùng đồng hành, cùng ăn, cùng uống thật thân quen và gần gũi. Ngài đến với chúng ta qua từng hoàn cảnh, từng con người chúng ta gặp gỡ, từng lời chúng ta an ủi nhau. Có điều là chúng ta có đôi mắt đức tin để nhận ra Chúa qua từng hoàn cảnh đó của cuộc sống hay không mà thôi. Và chỉ khi nào chúng ta có được đôi mắt đức tin, thì tâm hồn mới được bừng nóng lên như hai môn đệ xưa cảm thấy sốt sắng khi đàm đạo với Chúa Giêsu Phục Sinh, Đấng mà các ông tưởng là người xa lạ.

Lạy Chúa, cuộc đời có nhiều thay đổi, có nhiều trào lưu đôi khi làm cho con người chúng con nao núng, đức tin của chúng con vào Chúa bị thử thách tứ bề; có những lúc chúng con buông xuôi chán nản, xa ngã. Xin Chúa hãy cùng đồng hành với chúng con và soi sáng để chúng con nhận ra ý nghĩa của cuộc đời trong ánh sáng Phục Sinh của Chúa.


 

Ngày 12/04/2007, thứ Năm, tuần Bát Nhật Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 24, 35-48)

Khi ấy, hai môn đệ thuật lại những việc đã xảy ra dọc đường, và hai ông đã nhận ra Chúa lúc Người bẻ bánh như thế nào. Các ông còn đang nói, thì chính Chúa Giêsu hiện ra đứng giữa các ông và phán: "Bình an cho các con. Này Thầy đây đừng sợ!" Nhưng mọi người bối rối tưởng mình thấy ma. Chúa Giêsu lại nói: "Tại sao các con lại bối rối và lòng các con lo nghĩ như vậy? Hãy nhìn xem chân tay Thầy, chính Thầy đây mà! Cứ chạm đến xem, ma đâu có xương thịt như các con thấy Thầy có đây?" Nói xong, Người đưa tay chân ra cho các ông xem. Thấy họ còn chưa tin và vì vui mừng mà bỡ ngỡ, Chúa hỏi: "Ở đây các con có gì ăn không?" Các ông dâng cho Người một mẩu cá nướng và một tảng mật ong, Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông và đưa phần còn lại cho họ. Rồi Người nói: "Đúng như lời Thầy đã nói với các con, khi Thầy ở với các con là: cần phải ứng nghiệm tất cả mọi lời đã ghi chép về Thầy trong sách Luật Môsê, trong các Sách Tiên tri và các Thánh Vịnh”. Rồi Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh. Người lại nói: "Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, và ngày thứ ba, người sẽ từ cõi chết sống lại, Rồi phải nhân danh Người mà rao giảng sự thống hối và ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem. Còn các con, các con sẽ làm chứng về những điều ấy”.

Ø       Suy Niệm

Chia Sẻ

Cuộc sống con người luôn hội đủ mọi vấn đề: buồn vui, sướng khổ, hạnh phúc, bất an, giàu nghèo… tất cả như quyện vào nhau và làm cho cuộc sống này luôn có những khoảng lặng đẩy con người đôi khi rơi vào sự ray rứt tột cùng, hoặc có những ảo tưởng quá trớn. Khi vui họ muốn được chia sẻ niềm vui; lúc buồn họ cần được nâng đỡ, ủi an; bình an thì cám ơn đất trời; bất an thì tìm thầy coi quẻ… Nhưng  có mấy ai nghĩ rằng cuộc sống phải như thế, muôn màu muôn vẻ; hơn nữa đó cũng là điều kỳ diệu của Đấng Bề Trên.

Nói chung, con người ai cũng muốn được chia sẻ kiếp người của mình với người thân, bạn bè, với những người cùng cảnh ngộ, với những ai mà họ tin tưởng phó thác.

Các môn đệ trong Tin mừng hôm nay cũng đang trong hoàn  cảnh: họ buồn vì Thầy - Chúa của họ đã chết; họ lo sợ bị người Do Thái xử tử; họ hoang mang vì những tin đồn mà những phụ nữ cũng như hai môn đệ trên đường Emmau nói cho họ… và họ đã hội họp lại với nhau để chia sẻ, để cầu nguyện cho khỏi sợ. Và Chúa Giêsu đã hiện ra với họ, Ngài phán: “Bình an cho các con! Này Thầy đây, đừng sợ”. Không biết vì vui mừng hay yếu tin mà các ông tưởng mình thấy “ma”! Con người đôi khi cũng dễ lầm lạc trong chính cái nhìn của mình! Nhưng dù sao đi nữa, thì với sự nâng đỡ của chính Chúa, các môn đệ đã trở nên mạnh mẽ trong đức tin, và bình an trong tâm hồn.

Chúa chỉ cần chúng ta tin thôi. Có tin sẽ có đổi mới. Có tin sẽ có quyết tâm. Chúa sẽ nâng đỡ ủi an cho những ai tín thác nơi Ngài. Và nơi đâu có hai ba người họp lại vì danh Chúa thì có Chúa ở giữa họ: “Mọi người còn đang đứng bàn chuyện thì Chúa Giêsu hiện ra đứng giữa họ”.

Chúa đến với con người bằng những cách thức đời thường: cùng đồng hành, cùng ăn cùng uống, và có lúc như người làm vườn. Chúng ta có nhận ra Chúa không? Chúng ta tìm Chúa nơi đâu? Và chúng ta đã có sự bình an của Ngài ?

Niềm tin vào Chúa Phục Sinh phải là động lực mạnh mẽ làm cho cuộc sống của chúng ta luôn trào dâng sự bình an, nhiệt tình dấn thân rao giảng Lời Chúa, biến đổi con người thành chứng nhân cho niềm tin Chúa Phục Sinh giữa đời thường như Lời Chúa nói trong Tin mừng hôm nay: “Còn các con, các con sẽ làm chứng cho Thầy về những điều ấy”.

Lạy Chúa Giêsu Giêsu Phục Sinh, xin nâng đỡ những yếu đuối , và củng cố đời sống đức tin của chúng con, để với ơn Chúa, dù trong hoàn cảnh nào chúng con cũng được bình an, cũng biết rao giảng Lời của Chúa và dấn thân cho mọi người nhận ra sự Phục Sinh của Chúa trong chính đời sống chúng con. Amen.

 

Ngày 13/04/2007, thứ Sáu, tuần Bát Nhật Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 21,1-14)

Khi ấy, lúc các môn đệ đang ở bờ biển Tibêria, Chúa Giêsu lại hiện đến. Sự việc xảy ra như sau: Simon Phêrô, Tôma cũng gọi là Điđimô, Nathanael quê ở Cana xứ Galilêea, các con ông Giêbêđê, và hai môn đệ nữa đang ở với nhau. Phêrô bảo: “Tôi đi đánh cá đây”. Các ông khác đáp lại: “Chúng tôi cùng đi với ông”. Mọi người ra đi xuống thuyền. Nhưng suốt đêm ấy các ông không bắt được con cá nào.

Vào lúc rạng đông, Chúa Giêsu xuất hiện trên bờ biển - Các môn đệ không biết là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu hỏi: “Này các con, có gì ăn không?” Họ đồng thanh đáp: “Thưa không”. Chúa Giêsu bảo: “Hãy thả lưới bên phải thuyền thì sẽ được”. Các ông liền thả lưới và gần như không thể kéo nổi lưới lên, vì đầy cá. Người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến liền nói với Phêrô: “Chính Chúa đấy!” Simon Phêrô nghe nói là Chúa, liền khoác áo vào và nhảy xuông biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào, kéo theo lưới đầy cá, vì không còn xa đất bao nhiêu, chỉ độ hai trăm thước tay. Khi các môn đệ lên bờ, họ thấy có sẵn lửa và than, trên để cá và bánh. Chúa Giêsu bảo: “Các con hãy mang cá mới bắt được lại đây”. Simon Phêrô xuống thuyền kéo lưới lên bờ. Luới đầy toàn cá lớn. Tất cả được một trăm năm mươi ba con. Dù cá nhiều như vậy mà lưới không rách. Chúa Giêsu bảo: “Các con hãy lại ăn đi”. Những người ngồi ăn: không ai dám hỏi: “Ông là ai?” Vì mọi người đã biết là Chúa. Chúa Giêsu lại gần, lấy bánh và cá trao cho các môn đệ.

Đây là lần thứ ba, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ khi Người từ cõi chết sống lại.

Ø       Suy Niệm

Hai người bạn chơi thân với nhau, thì cho dù cách xa lau năm, họ vẫn dễ dàng nhận ra nhau. Đối với hai người đang yêu, thì điều đó càng rõ ràng hơn, họ dễ nhận ra nhau ngay cả khi người kia ở phía bia kia bức màn, hay dễ nhận ra nhau khi nghe được tiếng nói của người yêu vọng lại từ xa.

Khi yêu thương ai thật lòng, chúng ta thường ghi nhớ thật sâu đậm hình dáng thân thương của người đó, chúng ta dễ dàng khám phá ra những điều bí ẩn về người đó, để rồi luôn tin tưởng vào người mình yêu. Điều đó cho thấy rằng, “Tình yêu có thể giúp khám phá ra những gì mà bình thường, người không yêu không thể nào khám phá ra được”.

Đoạn Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu hiện ra với các Tông Đồ của Ngài, sau một đêm các ông vất vả thả lưới mà không được gì.

Điều thứ nhất đáng làm cho chúng ta chú ý là các Tông Đồ không nhận ra Thầy của mình: “Các ông không biết là Chúa Giêsu”. Không phải là tất cả các môn đệ, vẫn còn đó một người như là kiểu mẫu cho những người biết mến yêu, đó chính là Gioan: “Người môn đệ Chúa yêu liền nói với Phêrô ‘Chính Thầy đó”.

Chúa Giêsu đã phục sinh. Đó là một sự thật. Sự thật đó đang ở trước mặt các Tông Đồ của Chúa Giêsu, nhưng chỉ có một mình Gioan là nhìn ra sự thật đó. Tình yêu và chỉ có tình yêu mới làm cho Gioan nhận ra Chúa Giêsu phục sinh. Tình yêu đó đạt đến sự hoàn hảo của nó khi biết sẻ chia. Thật vậy, sau khi Gioan nhận ra Chúa Kitô Phục Sinh, Gioan đã nhanh chóng giới thiệu cho Phêrô như chia sẻ niềm vui mà Gioan đang được diễm phúc vui hưởng.

Lạy Chúa, xin ban thêm cho chúng con lòng tin yêu, để dù trong đau thương hay thất bại, chúng con vẫn có thể nhìn ra Chúa Kitô Phục Sinh đang hiện diện ở cạnh bên, để rồi, chúng con  mau mắn giới thiệu Ngài cho người khác với tất cả niềm xác tín và yêu mến. Amen.

Ngày 14/04/2007, thứ bảy, tuần Bát Nhật Phục Sinh 

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Maccô (Mc 16,9-15)

Khi Chúa Giêsu sống lại, sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, thì trước hết, Người hiện ra với bà Maria Mađalêna, kẻ đã được Chúa đuổi bảy quỷ. Bà đi báo tin cho những kẻ đã từng ở với Người và nay đang buồn thảm khóc lóc. Họ nghe bà nói Chúa sống lại và bà đã thấy Chúa, nhưng họ không tin. Sau đó, Chúa Giêsu lại hiện ra dưới hình thức khác với hai môn đệ đang trên đường về miền quê. Hai ông trở về báo tin cho anh em, nhưng họ cũng không tin các ông ấy. Sau cùng, Chúa Giêsu hiện ra với mười một tông đồ lúc đang ngồi ăn. Chúa khiển trách các ông đã cứng lòng, vì các ông không tin những kẻ đã thấy Người sống lại. Rồi Người phán: “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho muôn loài”.

Ø       Suy Niệm

Sáng sớm ngày đầu tuần, bà Maria Macđala đã ra thăm mộ Chúa Giêsu. Bà tìm Chúa nơi ngôi mộ thanh vắng. Chắc chắn, trong suy nghĩ và ý định của bà lúc ấy, không hề có một chút khái niệm nào về việc Chúa sống lại. Bởi thế, trong khi đi tìm Chúa nơi ngôi mộ vắng, bà không hề tìm Chúa sống lại, nhưng tìm người đã chết, tìm người mà bà yêu thương, nhằm tìm kiếm một chút thỏa mãn sự tiếc nhớ chưa thể nguôi ngoai trong lòng mình.

Nhưng thật bất ngờ, một bất ngờ đáng kinh ngạc. Bởi trong khi đi tìm người chết, bà lại bắt gặp Đấng sống lại và hằng sống. Càng bất ngờ hơn, càng đáng kinh ngạc hơn, khi sự tìm kiếm nơi cõi chết ấy lại chính là hồng ân, là diễm phúc lớn không thể tả mà Chúa đã ưu tiên tặng ban cho bà: Bà là người đầu tiên trong thế giới loài người, qua mọi thế hệ, được đón nhận và loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Maccô đã ghi nhận niềm hạnh phúc ấy của bà Maria Macđala: “Sau khi sống lại vào lúc tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, Chúa Giêsu hiện ra trước tiên với bà Maria Macđala, là kẻ đã được Người trừ cho khỏi bảy quỷ. Bà đi báo tin cho những kẻ đã từng sống với Người mà nay đang buồn bã khóc lóc”.

Đức tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh vừa là đức tin nền tảng, vừa là đức tin cao cả, có một không hai, làm nên ý nghĩa đích thực của đời sống mỗi Kitô hữu. Đức tin Phục Sinh ấy cho chúng ta niềm vui sống và sống mãnh liệt nhờ đặt tất cả niềm hy vọng được tham dự vào sự phục sinh của Chúa Giêsu.

Nhưng chỉ mới tin mà thôi, chưa đủ. Niềm tin ấy đòi chúng ta phải loan báo cho anh chị em của mình. Bà Maria Macđala đã để lại cho chúng ta tấm gương của người tin và loan báo niềm tin ấy. Chúng ta hãy loan báo niềm tin Phục Sinh mà mình cưu mang bằng cả đời sống phó thác cho Chúa trong vui tươi, tin cậy và bình an. Chúng ta cũng hãy loan báo niềm tin Phục Sinh bằng lối sống tốt lành, thân thiện với mọi người xung quanh, nhất là những người chưa có cùng niềm tin với chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, nhờ sự phục sinh của Chúa, chúng con hứa quyết tâm, từ nay sống tận tình hơn với Chúa và với mọi người. Amen.

 

 

Ngày 15/04/2007, Chúa Nhật II Phục Sinh năm C

CHÚA NHẬT VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 20, 19-31)

Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em!" Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tôma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em." Rồi Người bảo ông Tôma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." Ông Tôma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" Đức Giêsu bảo: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!" Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.

Ø       Suy Niệm

Chắc không ai sống trong đời mà lại không có bất cứ một vết thẹo. Có thể là vết thẹo của một lần đùa giởn vô ý gây ra. Có thể là vết thẹo của một lần đứt tay, hay một vết trầy xướt trên thân thể. Cũng có thể là vết mỗ do bệnh tật lâu ngày đã liền da… Tuy nhiên, có những vết thẹo được nhìn thấy bên ngoài, trên thân xác, nhưng cũng không ít những vết thẹo trong tâm hồn, trong trái tim, trong trí nhớ, trong cuộc đời… không bao giờ chủ nhân của nó quên được.

Mỗi vết thẹo dù trên thân xác, hoặc trĩu nặng trong tâm hồn đều gợi lại một câu chuyện, một sự tích, một lý do nào đó. Có khi là những kỷ niệm của niềm vui, nhưng cũng có khi là những đau đớn không thể nguôi ngoai…

Hôm nay, bài Tin Mừng tường thuật cho chúng ta đến hai lần Chúa hiện ra. Cả hai lần, Chúa đều cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn của mình. Chính những vết thẹo, cũng chính là dấu thập giá còn mới nguyên trên thân thể Chúa là bằng chứng để các môn đệ tin chắc rằng, Chúa của họ đã phục sinh.

Chúa Kitô đã phục sinh. Sự phục sinh dù vinh hiển và khải hoàn đến đâu, vẫn không thể xóa nhòa bất cứ một dấu ấn nào của thập giá trên thân thể Người. Dấu vết thập giá không chỉ là những kỷ niệm về một cái chết nhục nhã còn ghi lại trên thân thể Đấng Phục Sinh, mà còn là nỗi đau trong tâm hồn nhân loại mỗi khi họ nhìn dấu vết thập giá mà nhận ra sự khủng khiếp do tội lỗi của chính mình gây ra.

Dấu vết kinh hoàng của thập giá trên thân thể Đấng Phục Sinh còn là một nhắc nhở cho ta về khuôn mặt tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa. Chính vì tình yêu ấy, Thiên Chúa đã cúi mình thật sâu trong thân phận con người để ta được diễm phúc làm con Thiên Chúa. 

Mãi mãi, dấu thánh giá vẫn không bao giờ mai một trong Hội Thánh nói riêng và trong nhân loại nói chung. Bất cứ nơi đâu, nếu nhìn thấy bóng dáng thánh giá, người ta vẫn nhận ra rằng, tình yêu của Thiên chúa là một tình yêu chung thủy, vẫn mãi mãi hiện diện giữa lòng đời.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa nhật thứ hai Phục Sinh cũng là Chúa nhật mà cả Hội Thánh tuyên xưng lòng thương xót của Chúa. Xin cho chúng con, mỗi một lần nhìn lên Thánh Giá là mỗi một lần chúng con ý thức ngày một hơn lòng thương xót của Chúa vẫn bao trùm lấy cuộc đời chúng con, để cảm tạ Chúa và yêu thương anh chị em xung quanh suốt đời chúng con. Amen.

 

 

Ngày 16/04/2007, thứ hai sau CN II Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 3, 1-8)

Khi ấy, trong nhóm Biệt phái có người tên là Nicôđêmô, một đầu mục của người Do Thái, ông đến gặp Chúa Giêsu ban đêm và thưa rằng: “Lạy Thầy, chúng tôi nhận biết Thầy là một vị tôn sư Thiên chúa ủy phái đến. Vì không ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở cùng người đó”. Chúa Giêsu đáp: “Tôi nói thật cho ông biết: nếu không tái sinh bởi trời, thì chẳng ai được thấy Nước Thiên Chúa”. Nicôđêmô thưa với Chúa Giêsu rằng: “Một người gã già, làm sao có thể tái sinh? Không lẽ người ấy lại phải vào lòng mẹ mà sinh ra lần nữa hay sao?” Chúa Giêsu đáp: “Tôi bảo thật cho ông biết, nếu không tái sinh bởi nước và Thánh Thần, thì không ai được vào Nước Thiên Chúa. Sự gì sinh bởi huyết nhục là huyến nhục, sự gì sinh bởi thần linh là thần linh. Ông đừng ngạc nhiên vì nghe tôi nói rằng: “Các ngươi phải tái sinh bởi trời”. Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng chẳng biết gió từ đâu đến và đi đâu. Mọi kẻ sinh bởi thần linh cũng vậy”.

Ø       Suy Niệm

Thiên Chúa là Đấng giải thoát. Chúa ngự nơi đâu, và bất cứ nơi đâu biết mềm lòng để đón nhận Chúa, thì nơi đó sẽ lãnh nhận ơn giải thoát của Chúa. Chẳng hạn, Thiên Chúa ngự giữa đoàn dân đang bị làm nô lệ hết sức hà khắc bởi người Aicập, Người đã giải thoát họ. Môisen chính là dụng cụ Chúa dùng để giải thoát dân của Chúa ra khỏi cảnh nô lệ lầm than.

Rồi khi Thiên Chúa làm Người, ngự trong cung lòng Đức Maria, Người cũng đã giải thoát Đức Mẹ khỏi mọi ảnh hưởng của vết nhơ tội lỗi.

Hôm nay, khi ông Nicôđêmô đến trò chuyện với Chúa Giêsu, Chúa cũng mạc khải cho ông về một cuộc giải thoát lớn lao: Giải thoát cả nhân loại trong bí tích rửa tội. Chúa nói: “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa nếu không sinh lại bởi nước và Thánh Thần”.

Khi lãnh nhận bí tích rửa tội, ta được dìm trong nước là dấu chỉ ta đã chết cho tội. Khi ra khỏi nước, ta trở thành con người mới mặc lấy sự sống mới của Chúa Giêsu phục sinh. Chính trong bí tích rửa tội, ta được lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần mà Đấng Phục Sinh trao ban để được tham dự vào sự phục sinh của Chúa Giêsu, và được sống đời đời với Người.

Bất cứ ai tin mà mở lòng đón nhận Chúa qua bí tích Rửa Tội, tâm hồn họ trở thành đền thờ, nơi mà Chúa yêu thích ngự vào. Nơi nào Chúa ngự, nơi đó Chúa ban ơn giải thoát. Chúa ngự trong tâm hồn họ, thì tất cả họ đều được Chúa giải thoát khỏi mọi tội lỗi, đưa họ trở về làm con Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến trong tâm hồn chúng con. Xin ban Thánh Thần của Chúa, để Người thánh hóa và giải thoát chúng con khỏi mọi ảnh hưởng của tội lỗi.  Xin cho những anh chị em tân tòng, là những người vừa mới lãnh nhận bí tích rửa tội được ơn giải thoát của Chúa mà sống một đời thanh sạch, trung thành với đức tin vừa lãnh nhận. Amen.

 

 

Ngày 17/04/2007, thứ ba sau CN II Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 3, 7b-15)

Khi ấy, Đức Giêu nói với ông Nicôđêmô rằng: “Các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên. Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy." Ông Nicôđêmô hỏi Người: "Làm sao những chuyện ấy có thể xảy ra được?" Đức Giêsu đáp: "Ông là bậc thầy trong dân Ítraen, mà lại không biết những chuyện ấy! Thật, tôi bảo thật ông: chúng tôi nói những điều chúng tôi biết, chúng tôi làm chứng về những điều chúng tôi đã thấy, nhưng các ông không nhận lời chứng của chúng tôi. Nếu tôi nói với các ông về những chuyện dưới đất mà các ông còn không tin, thì giả như tôi nói với các ông về những chuyện trên trời, làm sao các ông tin được?" Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống. Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời”.

Ø       Suy Niệm

“Các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên. Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai được sinh ra bởi Thánh Thần thì cũng vậy”.

Bất cứ ai trong cuộc đời này, nếu đã làm người, đều được một lần sinh ra. Cuộc sinh hạ lần thứ nhất này cho chúng ta được làm con của con người. Trong lời trên, Chúa Giêsu không đề cập đến cuộc hạ sinh này, nhưng đề cập đến một cuộc hạ sinh khác, một cuộc hạ sinh không do con người, nhưng do “ơn trên”: “Các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên”.

Vậy cuộc sinh ra mà Chúa gọi là “sinh ra một lần nữa” và sinh bởi “ơn trên” là cuộc hạ sinh nào? Đó là cuộc hạ sinh trong bí tích rửa tội. Chúng ta đã được sinh ra lần thứ nhất từ trong bụng mẹ để được làm người. Nhưng cuộc hạ sinh chúng ta lần thứ hai trong bí tích Rửa Tội do ơn Chúa, cho ta được làm con của Chúa. Và “ơn trên” mà Chúa ban chính là Chúa Thánh Thần. Kết quả của ơn Chúa Thánh Thần hoạt động nơi những ai đã nhận lãnh bí tích rửa tội thật hữu hiệu, làm cho họ tin tưởng Chúa hơn, yêu mến Chúa hơn, gắn bó với Hội Thánh và sống đời sống gương mẫu để làm chứng cho Chúa. Đó là hiệu quả của ơn Chúa Thánh Thần. người ta thấy hiệu quả này nơi những Kitô hữu nào biết sống đức tin của mình. Cũng như hoạt động tự do và mãnh liệt của gió, đời sống của người “được sinh ra bởi ơn trên” cũng là một đời sống dấn thân hết sức, hoạt động hết sức cho Nước trời, cho lợi ích của tâm hồn con người. Họ cũng sẽ sống mãnh liệt hết sức cho tình yêu, cho lòng bác ái, cho sự công bằng, cho nền văn hóa của lòng đạo đức.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết giương cao đời sống chứng nhân mà bí tích rửa tội đòi hỏi chúng con. Xin cho ơn Chúa Thánh Thần thúc giục mạnh mẽ trong tâm hồn chúng con. Amen.

 

 

Ngày 18/04/2007, thứ tư sau CN II Phục Sinh

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 3,16-21)

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô rằng: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Người, để tất cả những ai tin vào Con Một của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời. vì Thiên Chúa không sai Con của Người giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ. Ai tin Người Con ấy thì không bị luận phạt, ai không tin thì đã bị luận phạt rồi, vì không tin vào danh Con Một Thiên Chúa. Và đây là án phạt: đó là sự sáng đã đến thế gian, và người đời đã yêu tối tăm hơn sự sáng, vì hành động của họ xấu xa. Thật vậy, ai hành động xấu xa thì ghét sự sáng, và không đến cùng sự sáng, vì sợ những việc làm của mình bị khiển trách. Nhưng ai hành động trong sự thật thì đến cùng sự sáng, để hành động của họ được sáng tỏ, là họ đã hành động trong Thiên Chúa”.

Ø       Suy Niệm

Có nhiều thứ được mạo danh là tình yêu, nhưng thực ra, đó không phải là tình yêu, mà chỉ là lạm dụng, là lừa đảo. Chẳng hạn sống thử trước hôn nhân, chiếm đoạt thân xác, hay khi nhân danh tình yêu nhưng chỉ nhắm đến của cải… Là kitô hữu, chúng ta cần loại trừ thứ “yêu” ấy, chỉ tìm kiếm tình yêu đích thực mà thôi. Qua lời Chúa Giêsu mà thánh Gioan ghi nhận trong Tin Mừng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời”, ta thấy tình yêu đích thực phải có hai yếu tố:

- Tình yêu đích thực là tình yêu trao hiến: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một”. Không phải Thiên Chúa trao tặng một cành hoa, một món quà, mà là trao hiến chính Con Một của mình. Người không trao cái gì ở ngoài mình, nhưng trao dâng cái quý giá nhất, thân thiết nhất, cao cả nhất của lòng mình, đó là trao dâng Người Con duy nhất của mình. Qua việc hiến tặng chính Người Con duy nhất, cũng chính là nguồn tình yêu duy nhất của mình, nguồn tình yêu không thể thiếu được, Thiên Chúa đã hiến tặng chình mình. Thiên Chúa chấp nhận để Con mình phải chết cho nhân loại được sống. Người trao cho chúng ta một tình yêu đích thực, một tình yêu tận hiến đến cùng, không hề giữ lại cho riêng mình.

- Tình yêu đích thực là tình yêu chia sẻ: “Ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời”. Thiên Chúa là Đấng Vĩnh cửu. Thiên Chúa trao ban tình yêu là chính Người Con Duy nhất của Người, thì cùng với tình yêu ấy, Thiên Chúa chia sẻ hạnh phúc vĩnh cửu của Người, để đưa ta vào hưởng nếm chính sự sống của Người. Tình yêu chia sẻ ấy làm cho ta “khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời”.

Bởi Chúa là tình yêu, một tình yêu đích thực làm kiểu mẫu cho tình yêu của chúng ta. Vì thế, ta hãy bắt chước Chúa mà yêu nhau chân thực bằng một tình yêu trao hiến và biết chia sẻ. Trao hiến và chia sẻ, nghĩa là chúng ta dám hy sinh chính mình, hy sinh tất cả thời giờ, sức lực, tiền của… để mọi người quanh ta, nhất là những anh chị em bất hạnh có một cuộc sống ý nghĩa hơn, hạnh phúc hơn.

Lạy Chúa, giữa một thế giới nghèo nàn tình yêu, xin cho chúng con là những Kitô hữu, biết yêu như Chúa, để chúng con biết sống nhờ và sống cho tha nhân; biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh. Amen.

 

 

Ngày 19/04/2007, thứ năm sau CN II Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 3, 31-36)

Khi ấy, chúa Giêsu nói với Nicôđêmô rằng: “Đấng từ trên cao mà đến thì trổi vượt trên hết mọi người. Kẻ bởi đất mà ra thì thuộc về đất và nói những sự thuộc về đất. Đấng từ trời mà đến thì vượt trên hết mọi người. Điều gì Người thấy và nghe, thì Người làm chứng về điều đó. Nhưng lời chứng của Người không ai chịu chấp nhận. ai chấp nhận lời chứng của Người, thì quả quyết Thiên Chúa là Đấng chân thật. Đấng được Thiên Chúa sai đến thì nói lời thiên Chúa, vì được Chúa ban cho thần linh khôn lường. Chúa Cha yêu mến Chúa Con, nên đã ban mọi sự trong tay Chúa Con, ai tin vào Chúa Con thì có sự sống đời đời. Còn ai không tin vào Chúa Con, thì sẽ không được thấy sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên người ấy”.

Ø       Suy Niệm

Nhìn lên thánh giá, suy nghĩ nông cạn và non nớt của loài người dễ cho rằng, đó là một thất bại to lớn. Thực ra, đối với Kitô hữu, Thánh giá chính là hiện thân, là sự thành công lớn lao của một tình yêu tận cùng, một tình yêu vượt hết mọi rào cảng, vượt thắng tất cả sự tàn nhẫn và tội ác của con người.

Nơi thánh giá, chúng ta nhận ra rằng, chính khi tội ác của con người lên đến cao điểm, thì cũng là lúc tình yêu của Thiên Chúa dâng cao tột cùng. Nơi thánh giá, tình yêu chiến thắng tội ác; sự sống chiến thắng sự chết; ánh sáng chiến thắng bóng tối; tha thứ chiến thắng hận thù. Đó cũng chính là phương tiện mà loài người dùng để khử trừ Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn mình, lại được Thiên Chúa dùng để quay lại cứu độ loài người.

Vì thế, Thánh giá, nơi treo Đấng Cứu Độ trần gian, lại chính là nơi phát sinh nguồn sống vô tận. Thánh giá, nơi Thiên Chúa hiến con mình, lại trở thành nơi cứu chữa cả một đoàn con đông đảo trên khắp trần gian. Và thánh giá, nơi sĩ nhục không gì bằng, lại trở nên vinh quang vô cùng cho tất cả những ai tin. Bởi tất cả những ai tin, sẽ thuộc về Chúa Kitô và sẽ được Người cứu thoát như chính Người đã từng tuyên bố: “Chúa Cha yêu thương Người Con và đã giao mọi sự trong tay Người. Ai tin vào Người Con thì được sự sống đời đời”.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con điều khó khăn trên mọi khó khăn, đó là ơn nhận ra thánh giá của Chúa trong mọi nỗi khổ đau của đời con. Xin cho con được lâu bền trên chính con đường thánh giá mà Chúa trao, để con được thấy tình yêu chia sẻ và nâng đỡ của Chúa trong suốt mọi chặng đường thánh giá của đời con. Amen.

 

Ngày 20/04/2007, thứ sáu sau CN II Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 6, 1-15)

Khi ấy Chúa Giêsu đi sang bên kia biển Galilêa, cũng gọi là biển Tibêria. Có đám đông dân chúng theo Người, vì họ đã thấy những phép lạ Người làm cho những kẻ bệnh tật. Chúa Giêsu lên núi và ngồi đó với các môn đệ. Lễ Vượt Qua của người Do Thái đã gần tới. Chúa Giêsu ngước mắt lên và thấy đám đông dân chúng đến với Người. Người hỏi ông Philípphê: "Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn?" Người hỏi như thế là có ý thử ông, vì chính Người đã biết việc Người sắp làm. Philípphê thưa: "Thưa thầy, hai trăm bạc bánh cũng không đủ để mỗi người được một chút”. Một trong các môn đệ tên là Anrê, em ông Simon Phêrô, thưa với Người: “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng bấy nhiêu thì thấm vào đâu cho từng ấy người”. Chúa Giêsu nói: "Cứ bảo người ta ngồi xuống đi."

Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông khoảng năm ngàn. Bấy giờ, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho những người ngồi đó, và cá cũng phân phát như thế, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ thích. Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ: "Các con hãy thu lại những miếng lúa mạch mà người ta ăn còn dư kẻo phí đi." Họ thu lại mười hai thúng đầy bánh do năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn mà còn dư. thấy phép lạ Chúa Giêsu đã làm, người ta đều nói rằng: “Ông này thật là vị tiên tri phải đến trong thế gian!" Nhưng Đức Giêsu biết rằng người ta sắp đến bắt Người để tôn làm vua, nên Người lại trốn lên núi một mình.

Ø       Suy Niệm

Quyền năng Thiên Chúa có thể làm được mọi sự. Thế nhưng, ở đây phép lạ đã không xảy ra từ con số không. Chúa Giêsu đã cần đến 5 chiếc bánh và 2 con cá như là chất liệu đầu tiên, để từ đó, Ngài làm cho trở nên nhiều hơn. Chẳng phải là Ngài bất năng, nhưng là Ngài muốn rằng, con người phải cộng tác vào việc nuôi sống người anh em đồng loại của mình bằng một sự đóng góp, có thể là rất ít ỏi lúc khởi đầu. Nhưng tuy là ít ỏi, miễn là sẵn lòng cho đi, thì với quyền năng của Thiên Chúa, Ngài sẽ làm cho sự đóng góp đó trở thành phong nhiêu.

Mặt khác, để phép lạ có thể xảy ra, Thiên Chúa cũng đòi hỏi nơi con người một sự can đảm dám bẻ ra tấm bánh mà mình đã nhận được hay đang có được mà cho đi. Chính khi dám bẻ đôi tấm bánh và trao cho người anh em bên cạnh mà người ta phát hiện ra rằng, tấm bánh mình đang cầm trên tay vẫn còn có thể bẻ đôi ra mãi. Và kết quả là, mọi người đều có bánh để ăn thậm chí còn dư thừa nữa!

Rõ ràng là Thiên Chúa không muốn thấy cảnh con cái Ngài thiếu thốn hay đói khát, cũng như thấy những kẻ cho người khác thức ăn hay của cải mình có, phải thiếu hụt hay thiệt thòi; chính Ngài bù đắp và bù đắp cách dư dật “Anh em hãy cho thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em”(Lc 6, 38).

Ngày nay chúng ta thấy nhiều người đói khổ và có lẽ chúng ta cũng mơ đến một phép lạ nào đó để tất cả mọi người nghèo đói trên thế giới đều có cơm ăn áo mặc. Nhưng phép lạ đó hoàn toàn tùy thuộc ở chúng ta, bởi lẽ Thiên Chúa tự trói buộc quyền năng của Ngài vào hành động quãng đại hào phóng của chúng ta đối với người anh em đồng loại của mình. Bao lâu chúng ta dám mở rộng lòng mình và mở rộng bàn tay mà cho đi những gì mình có, thì bấy lâu Chúa vẫn còn sẵn sàng thực hiện phép lạ để giúp đỡ cả chúng ta lẫn người anh em xung quanh chúng ta.

Bạn có thấy những người đói khổ, nghèo túng xung quanh bạn không và bạn đã làm gì để giúp đỡ họ?

Lạy Chúa, xin giúp con biết mở rộng đôi tay, không nắm lại giữ khư khư tất cả, trước cửa nhà có người nghèo đói lả, xin dạy con biết chia sẻ vui lòng. Amen.

Ngày 21/04/2007, thứ bảy sau CN II Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 6,16-21)

Chiều đến, các môn đệ của Chúa Giêsu xuống bờ biển, rồi lên thuyền, sang bên kia, trẩy về hướng Capharnaum. Trời đã tối mà Chúa Giêsu vẫn chưa đến với họ. Bỗng cuồng phong nổi lên, biển động mạnh. Khi chèo đi được chừng hai mươi lăm hoặc ba mươi dặm, thì họ thấy Chúa Giêsu đi trên mặt biển, tiến lại gần thuyền, họ hoảng sợ. Nhưng Chúa Giêsu nói với họ: “Chính thầy đây, đừng sợ”. Họ định rước Người lên thuyền, nhưng ngay lúc ấy, thuyền đã đến nơi họ định tới.

Ø       Suy Niệm

Các môn đồ một mình xuống thuyền mà không có Chúa Giêsu đi cùng, lại bị sóng to gió lớn giập dồi thì quả là vô cùng vất vả và không kém phần lo sợ. Nhưng đó lại là điều Chúa Giêsu muốn và có lẽ chính Ngài đã bắt buộc họ xuống thuyền đi sang bên kia biển hồ (x.Mt14 và Mc16), vì hình như Ngài muốn ngăn chặn sự bồng bột của môn đồ kẻo họ đồng tình với dân chúng trong việc muốn tôn Ngài lên làm vua, nhờ đó các ông sẽ được thơm lây.

Đôi lúc trong cuộc đời, bỗng dưng tai ương bệnh nạn ập xuống trên chúng ta; thất bại buồn phiền, tối tăm vây bủa tứ phía, lời cầu khẩn của chúng ta dường như không được Chúa lắng nghe. Những lúc đó, chúng ta chớ vội ngã lòng mà phiền trách Chúa, vì có thể đó là cách Chúa đem ta ra khỏi một hoàn cảnh nào đó vốn nguy hại cho ta hay cho phần rỗi đời đời của ta. Và vì Chúa can thiệp theo cách đó, nên chúng ta cần tin chắc rằng, trong những bước tiếp theo, nghĩa là dù cho hoàn cảnh có như thế nào đi nữa, Chúa cũng sẽ không bỏ rơi chúng ta. Nói cách khác, có những lúc Thiên Chúa ẩn mặt đi, để chúng ta một mình đối mặt với bao đau thương nguy khốn. Nhưng thật ra, Chúa vẫn luôn có đó, Chúa nhìn thấy tất cả và Ngài sẽ can thiệp đúng lúc, giống như Ngài đã đến với các môn đồ sau khi đã để họ một mình trên thuyền bị sóng gió dập dồi, hiển linh cho họ qua việc Ngài đi trên sóng nước, để tỏ uy quyền chúa tể toàn năng, đủ sức bảo vệ và đưa họ tới bến. Thái độ cần có của chúng ta đó là, phó thác tin tưởng và hãy cảm tạ Chúa trong mọi hoàn cảnh như Thánh Phaolô đã từng khuyên bảo (x.Ep 5, 20)

Lạy Chúa, xin cho con vững lòng trông cậy dù cuộc đời có ngập tràn bóng tối và sóng gió tư bề. Amen.

 

Ngày 22/04/2007, Chúa Nhật III Phục Sinh C

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 21,1-14)

Sau đó, Đức Giêsu lại tỏ mình ra cho các môn đệ ở Biển Hồ Tibêria. Người tỏ mình ra như thế này. Ông Simôn Phêrô, ông Tô-ma gọi là Điđymô, ông Nathanaen người Ca-na miền Galilê, các người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. Ông Simôn Phêrô nói với các ông: "Tôi đi đánh cá đây." Các ông đáp: "Chúng tôi cùng đi với anh." Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả. Khi trời đã sáng, Đức Giêsu đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Đức Giêsu. Người nói với các ông: "Này các chú, không có gì ăn ư?" Các ông trả lời: "Thưa không." Người bảo các ông: "Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá." Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá. Người môn đệ được Đức Giêsu thương mến nói với ông Phêrô: "Chúa đó!" Vừa nghe nói "Chúa đó!", ông Simôn Phêrô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước. Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. Đức Giêsu bảo các ông: "Đem ít cá mới bắt được tới đây!" Ông Simôn Phêrô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. Đức Giêsu nói: "Anh em đến mà ăn!" Không ai trong các môn đệ dám hỏi "Ông là ai?", vì các ông biết rằng đó là Chúa. Đức Giêsu đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy. Đó là lần thứ ba Đức Giêsu tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi trỗi dậy từ cõi chết.

Ø       Suy Niệm

Người lạ mặt đứng trên bãi biển buổi sáng hôm ấy là Chúa Giêsu mà không ai nhận ra được. Rồi khi, theo lời đề nghị của người lạ mặt đó, mẻ lưới lạ lùng được kéo lên khỏi mặt nước với rất nhiều cá, cũng không ai nhận ra Ngài, chỉ trừ Gioan, người môn đệ Chúa thương mến, là người đầu tiên nhận ra người lạ mặt đó chính là Thầy của mình.

Dường như Gioan nhạy bén hơn những anh em khác trong việc nhận ra Thầy! Sở dĩ thế là vì giữa Gioan và Chúa Giêsu có một mối tương giao rất mực thân tình. Gioan dành cho Chúa Giêsu một chỗ đứng đặc biệt trong con tim của mình. Và sự hiện diện của Chúa Giêsu trong tim Gioan làm cho con tim của ông trở nên mềm mại.

Khi con tim mềm mại, nó dễ cảm (nhận) được những động tĩnh xung quanh. Nó cũng có được nhiều hơn những khoảnh khắc “bừng tỉnh” hay “bất chợt nhận ra”sự hiện diện sống động của Thiên Chúa trong những thực tại xung quanh nó. Thực tại đó có thể là một buổi hoàng hôn vàng nắng, hay một đóa hoa tươi thắm vươn lên từ một hốc đá rêu phong, hoặc một ân phứớc nhận được trong đời…

Xin Chúa mở đôi mắt chúng ta để chúng ta nhìn thấy và nhận ra được Chúa Giêsu, cả trong những biến cố phi thường lẫn trong những sự việc bình thường của chuỗi ngày mình sống. Có những thực tại mà nếu bạn lưu tâm để ý và chịu khó đào sâu suy nghĩ, bạn sẽ thấy bàn tay Ngài đang hoạt động trong khi kẻ khác lại không nhận ra. Hãy khám phá ra sự hiện diện của Thiên Chúa ngay ngày hôm nay, để sự hiện diện đó của Ngài củng cố nơi bạn niềm tin vào sự chăm sóc và tình yêu không mệt mỏi của Ngài dành cho bạn .

Lạy Chúa Giêsu, xin mở đôi mắt tâm linh của con để con được nhìn thấy Chúa; và xin Máu Thánh Chúa làm cho con tim khô cứng của con nên mềm mại để con cảm được tình yêu của Chúa thấm nhập mọi sự và để con đáp trả tận tình. Amen.

 

Ngày 23/04/2007, thứ hai sau CN III Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 6,22-29)

Sau khi Đức Giêsu cho năm ngàn người ăn no nê, các môn đệ thấy Người đi trên mặt Biển Hồ. Hôm sau, đám đông dân chúng còn đứng ở bờ bên kia Biển Hồ, thấy rằng ở đó chỉ có một chiếc thuyền và Đức Giêsu lại không cùng xuống thuyền đó với các môn đệ, nhưng chỉ có các ông đi mà thôi. Tuy nhiên, có những thuyền khác từ Tibêria đến gần nơi dân chúng đã được ăn bánh sau khi Chúa dâng lời tạ ơn. Vậy khi dân chúng thấy Đức Giêsu cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Caphácnaum tìm Người. Khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói: "Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?" Đức Giêsu đáp: "Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận." Họ liền hỏi Người: "Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?" Đức Giêsu trả lời: "Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến."

Ø       Suy Niệm

Bối cảnh của bài Tin Mừng hôm nay là sau khi đã được nghe Chúa Giêsu giảng dạy và chứng kiến việc Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều cho dân chúng được ăn no nê. Sang hôm sau họ lại tìm kiếm Chúa, nhưng Ngài đã xuống thuyền đi Caphácnaum. Tại đây Chúa đã dạy cho họ biết phải làm thế nào để được lương thực thường tồn.

“… các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”. Khi đám đông dân chúng tìm gặp được Chúa Giêsu, thay vì họ sẽ được Chúa khen ngợi vì đã vất vã tìm kiếm Chúa, nhưng ngược lại, Chúa đã quở trách họ vì Chúa biết rõ họ theo Chúa để được ăn no nê, chứ không vì những dấu lạ Chúa đã làm, hay vì những giáo lý Chúa đã dạy.

Con người ngày hôm nay cần công ăn việc làm để có của ăn nuôi thân. Nhưng cuộc sống không phải chỉ cần của ăn mau qua, mà còn cần lương thực trường tồn nơi Chúa Giêsu. Khi chúng ta làm việc, chúng ta mong muốn công việc của chúng ta mang lại kết quả lâu bền. Không ai có thể kiên trì trong một công việc mà họ biết chắc sẽ thất bại hoặc sẽ hư đi ngay trong chốc lát. Thế nhưng, nhiều khi chúng ta lại đành chịu hao tốn tất cả tiền tài, sức lực, thậm chí cả cuộc sống, để thu góp cho mình lương thực nuôi xác và của cải đời này, mà quên đi tìm những của cải vững bền tồn tại muôn đời.

Của cải vật chất và cơm bánh hằng ngày là những cái cụ thể xuất hiện trước mắt chúng ta, lôi kéo, cám dỗ, thúc bách chúng ta. Cái nghèo, cái đói làm cho chúng ta khiếp sợ. Cái giàu, cái no, cái đẹp, lôi cuốn chúng ta. Vì thế chúng ta thường bận tâm đến chuyện ăn mặc, chuyện tiền bạc, đến độ bỏ quên Chúa, chẳng còn thiết tha với việc cầu nguyện và dự lễ, chẳng còn tôn trọng giới răn của Chúa.

Chúng ta phải biết khôn ngoan đi tìm của cải tồn tại muôn đời. Tiên vàng hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa, còn các sự khác chúng ta hãy tin rằng Chúa sẽ thêm cho. Đặc biệt chúng ta hãy biết rằng Lời Chúa và Mình Thánh Chúa là lương thực thần linh mà Chúa đã thương ban tặng cho chúng ta. Chúng ta phải đón nhận với tất cả lòng khao khát, mến tin và tri ân để nhờ đó chúng ta được sống sự sống của Chúa và sống muôn đời.

Lạy Chúa, khi ra công làm việc để có của nuôi thân, xin cho chúng con ý thức rằng đời sống tâm linh là điều đáng quan tâm gấp bội. Bởi vì, “người ta sống không chỉ bằng cơm bánh, mà còn sống bởi những lời do miệng Thiên Chúa phán ra”. Amen.

 

Ngày 24/04/2007, thứ ba sau CN III Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 6,30-35)

Khi ấy, đám đông thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Ngài sẽ làm dấu lạ gì để chúng tôi thấy và tin Ngài? Ngài làm được việc gì? Cha ông chúng tôi đã ăn bánh bởi trời”. Chúa Giêsu đáp: “Ta bảo thật các ngươi, không phải Môisê đã ban bánh bởi trời, mà chính Cha Ta mới ban cho các ngươi bánh bởi trời đích thực, vì bánh của Thiên Chúa phải là vật từ trời xuống và ban sự sống cho thế gian”. Họ liền thưa: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi bánh đó luôn mãi”. Chúa Giêsu nó: “Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta sẽ không hề đói, ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ”.

Ø       Suy Niệm

Napoleon là một vị tướng tài giỏi vì những chiến thắng oanh liệt của ông.

Mọi người đã tổ chức một buổi lễ để tôn vinh những công lao mà ông đã lập được. Người ta đã đặt câu hỏi với ông rằng: kỷ niệm nào sâu đậm và đáng qúi nhất đối với ông? Người ta cứ tưởng ông sẽ kể một trong những chiến công oanh liệt của ông, nhưng sau một hồi thinh lặng ông xúc động và chậm rãi trả lời:

“Kỷ niệm qúy báo nhất, sâu đậm nhất và tôi cảm thấy hạnh phúc nhất đó là ngày tôi được Rước Lễ Lần Đầu”.

Cả hội trường im lặng và ngỡ ngàng. Một lúc sau, tiếng vỗ tay mới dần dần vang lên cùng với những ánh mắt thán phục và cảm mến dành cho ông.

Những người Do Thái xưa là những người dân chất phác. Họ chỉ chú trọng vào những gì là thực tế cho cuộc sống, những nhu cầu cơ bản của họ là ăn uống, cuộc sống mưu sinh. Chúa Giêsu là nhà sư phạm đại tài, đã hướng họ từ của ăn vật chất, tạm bợ đến gía trị thiêng liêng, thường tồn, “Vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian”. Chúa Giêsu đã khẳng định, ngoài những thứ lương thực tạm bợ hằng ngày chúng ta dùng, thì vẫn còn một thứ bánh khác có giá trị đem lại sự sống cho thế gian, bánh đó xuất phát từ thiên Chúa và do tình thương của thiên Chúa mà đến.

Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, không phải chỉ cần lương thực phần xác, mà còn cần lương thực phần hồn. Lương thực phần xác có thể làm cho thân xác chúng ta no thỏa, nhưng chắc chắn không thể làm cho tâm hồn chúng ta được an vui hạnh phúc. Chúng ta thấy biết bao nhiêu người ăn sung mặc sướng mà vẫn buồn sầu, chán chường, thất vọng, khổ đau, thiếu vắng tình yêu, rắc gieo tội ác. Nhưng ngược lại chúng ta cũng thấy nhiều người tuy đói ăn, thiếu mặc nhưng lại sống trong niềm vui, hạnh phúc và yêu thương.

Chính Chúa là sức sống, Ngài đã từ trời xuống để đem sự sống đích thực cho chúng ta. Chúng ta phải biết đón nhận Chúa vào đời sống của mình để được no thỏa tình yêu và ơn thánh Chúa. Chúng ta hãy để cho Lời Chúa hướng dẫn chúng ta mọi nơi mọi lúc, nhờ đó chúng ta được sống trong bình an và hạnh phúc. Chúng ta phải thường xuyên đến với Chúa trong Thánh Lễ để được nuôi sống bằng lương thực là chính Chúa. Như Napolêon đã cảm nhận được ngày hạnh phúc nhất và đáng nhớ nhất trong đời đó là ngày đón rước Chúa lần đầu trong cuộc đời của mình.

Lạy Chúa, xin cho con biết đón nhận Chúa như là lương thực bổ dưỡng nuôi dưỡng đời sống mình. Và đồng thời xin giúp con biết loại trừ những của ăn độc hại cho linh hồn là những tư tưởng ước muốn xấu xa, thấp hèn, hận thù, tham lam. Lạy Chúa, con đến với Chúa xin Chúa đón nhận con. Amen.

 

Ngày 25/04/2007, thứ tư sau CN III Phục Sinh

Lễ Kính Thánh MÁC-CÔ – Tác Giả Sách Tin mừng

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Mác-cô (Mc 16, 15-20)

Khi ấy, Đức Giêsu hiện ra với Nhóm Mười Một và nói với các ông rằng: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin thì sẽ bị kết án. Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ, họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhầm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khỏe”. Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.

Ø       Suy Niệm

Hãy Đi Rao Giảng Tin Mừng

Thánh Mác-cô hăng say cộng tác với thánh Ba-na-ba, với thánh Phaolô, và nhất là với thánh Phêrô trong công việc truyền giáo. Ngài đã góp nhặt những bài giảng giáo lý của thánh Phêrô tại Rôma để chép cuốn Tin Mừng thứ hai mang tên Ngài.

Nhắc đến thánh Mác-cô, người ta nghĩ ngay đến công trình của Ngài: Tin Mừng theo thanh Mác-cô. Những ngày tháng theo thánh Phêrô đi rao giảng Tin Mừng, được Ngài ghi chép để truyền lại, để thúc bách chúng ta theo gương các ngài, mà cộng tác vào công việc rao giảng Tin Mừng Nước Trời.

Mỗi loài Chúa dựng nên, đều có một ý nghĩa cho môi trường nó hiện diện, dù đó chỉ là một ngọn cỏ, lá cây tầm thường.

Con người là kiệt tác của công trình Chúa. Vậy mỗi người chúng ta có ý thức về ý nghĩa đời mình phải như thế nào không? Có những người đã sống mỗi giây phút thật đẹp. Đẹp cho đời và đẹp cho cả Nước Trờiø. Trái lại, có những người sống làm hại, làm ô nhiễm cho môi trường họ sống. Phải làm gì cho đời mỗi người  chúng ta trở nên đẹp, quý giá, đáng trân trọng? Tin mừng thánh Mác-cô cho chúng ta biết phải làm gì. Đó là làm theo lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. Có bao giờ chúng ta nghiêm chỉnh đặt chương trình hành động cho mình, cho gia đình trước lời mời gọi này không? Đây không phải là chuyện tùy ý, mà là một trọng trách, là ý nghĩa của đời mỗi người chúng ta. Không ý thức mà chu toàn, là sống không đẹp một đời, là sống thừa, sống làm hại cho chính mình và cho môi trường chung quanh.

Người tin nơi Chúa mà hành động, họ sẽ đem lại cho thế gian những điều tốt lành.  Họ trừ được quỉ, nói được những tiếng mới lạ. Trừ được ma quỉ, là đem lại phúc lộc cho người, là cất đi những nguyên cớ gây bất hạnh cho anh em. Đó không phải là điều đáng ngưỡng mộ sao!

Lạy Chúa, các Tông Đồ của Chúa đã thực thi lệnh truyền Chúa một cách tốt đẹp. Nhờ đó mà chúng con hôm nay được nhận biết Chúa. Xin giúp chúng con biết noi gương các ngài, ý thức trách nhiệm rao giảng Tin Mừng, như một bổn phận quan trọng nhất trong đời. Amen.

 

 

Ngày 26/04/2007, thứ năm sau CN III Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 6,44-51)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: “Không ai đến được với Ta, nếu Cha Ta là Đấng sai Ta, không lôi kéo kẻ ấy, và Ta, Ta sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. Trong sách các tiên tri có chép rằng: “Mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy bảo”. Ai nghe lời giáo huấn của Chúa Cha, thì đến với Ta. Không một ai đã xem thấy Cha, trừ Đấng bởi Thiên Chúa mà ra. Đấng ấy đã thấy Cha. Ta bảo thật các ngươi: Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời. Ta là bánh ban sự sống. Cha ông các ngươi đã ăn Manna trong sa mạc và đã chết. Đây là bánh bởi trời suống, để ai ăn bánh này thì khỏi chết. Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống dời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống”.

Ø       Suy Niệm

Chúa Giêsu Là Bánh Hằng Sống

Con người chịu hậu quả của tội là làm theo bản năng hạ đẳng. Để có thể tin vào Chúa, làm những việc lành đạo đức cao cả, luôn cần phải có ơn Chúa. Đó là điều Chúa Giêsu khẳng định: “Chẳng ai đến với Tôi được, nếu Chúa Cha không lôi kéo người ấy”. Chắc chắn từ “lôi kéo”, không mang ý nghĩa áp đặt làm mất tự do của con người, nhưng là ơn ban cho con người có khả năng tin vào Chúa Giêsu để nhờ đó mà được cứu độ.

Vì thế, đến với Chúa, đến với các ơn thiêng cao trọng của Chúa, chúng ta luôn phải cầu xin với lòng khiêm nhường. Để có sức chống lại mãnh lực ác quỉ, chúng ta luồn cần phải có ơn Chúa giúp sức. Cậy dựa vào sức con người, vào những giới hạn mong manh của mình, chắc chắn chúng ta thất bại. Những người muốn thăng tiến bản thân, muốn canh tân gia đình, mà không siêng năng nhận lãnh các bí tích, đặc biệt là Bí Tích Thánh Thể, là ước muốn hão huyền.

Chúa Giêsu đã khẳng định điều này, khi Ngài nói: “Ai ăn bánh này thì khỏi phải chết”. Vậy không lãnh nhận Thánh Thể là chết. Ta chết về tâm linh, nên không có sức chống lại cám dỗ và sự dữ. Ta không có Thánh Thể, không có sự sống thần linh, nên ta không có khả năng làm việc lành, chừa bỏ tội lỗi.

Mỗi ngày, chúng ta được cung cấp rất nhiều thứ nhân danh sự tiến bộ, hạnh phúc cho con người. Nhưng chúng ta thấy gì? Một thời đại mất phương hướng. Người tự tử tăng. Tội ác tràn ngập. Nhân nghĩa hao mòn từng ngày. Sự thật vắng bóng trong mọi sinh hoạt xã hội. Sự giả dối trở thành một nếp sống. Người ta tìm mọi cách để giảm tội ác nhưng chỉ gặt điều ngược lại ở mức độ tinh vi khó lường hơn. Đó chẳng phải là ứng nghịêm Lời Chúa đó sao!

“Ai nghe và đón nhận giáo huấn Chúa Cha, thì sẽ đến với Ta”. Vậy ai không đến với Chúa Giêsu, là không nhận Chúa Cha. Từ đó chúng ta cũng thừa hiểu tại sao, khi một người không có ơn Chúa, thường là tai họa cho mọi người. Lo thăng tiến mọi mặt mà bỏ hoang tâm hồn, đó là một thảm họa cho con người và xã hội.

Lạy Chúa Giêsu, nguyên nhân làm cho chúng con không tiến bộ trên đường nhân đức, là do chúng con cậy dựa vào sức con người. Đó là một sai lầm. Xin giúp chúng con biết luôn tìm về với Thánh Thể Chúa để được thêm sức mạnh mà chiến thắng tội lỗi. Amen.

 

 

Ngày 27/04/2007, thứ sáu sau CN III Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 6,52-59)

Khi ấy, những người Do Thái tranh luận với nhau rằng: “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình mà cho chúng ta ăn được?” Bấy giờ Chúa Giêsu nói với họ: “Ta bảo thật các ngươi: nếu các ngươi không ăn thit Con Người và uống Máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong  các ngươi. ai ăn thịt Ta và uống Máu Ta thì có sự sống đời đời. Và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Tà thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Đấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn Manna và đã chết. ai ăn bánh này sẽ sống đời đời”. Người giảng dạy những điều này tại hội đường Capharnaum.

Ø       Suy Niệm

Lương Thực Đích Thực: Thánh Thể

Việt Nam đang có tham vọng đầu tư  môït số tiền lớn để cải tạo chiều cao của dân Việt. Cách đây 50 năm, chiều cao của dân Nhật thấp hơn dân Việt Nam. Nhưng sau 50 năm, họ đã cao hơn trung bình 15cm. Cải tạo bằng cách thay đổi chế độ dinh dưỡng, nghĩa là phải ăn uống theo tiêu chuẩn, đúng với đòi hỏi phát triển của cơ thể trong mỗi giai đoạn đời người.

Hôm nay, người ta đang chứng kiến chiều cao tâm linh của dân Việt cũng thấp dần trước chỉ số chiều cao vật chất ngày đang cao lên. Khi giá trị tâm linh bị hạ thấp, thì bản năng thú nơi con người nổi lên. Mỗi ngày trên các phương tiện truyền thông, điều xấu đầy dẫy, làm người ta hoang mang. Các bậc phụ huynh bất lực nhìn con cái phát triển theo hướng “tính con” thì lớn mà “tính người” thì nhỏ lại. Ai cứu chúng ta thoát khỏi thảm trạng này? Lương thực nào cho ta dưỡng chất, để tăng chiều cao tâm linh của con người hôm nay?

Chúa Giêsu khẳng định mạnh mẽ “nếu các ông không ăn thịt Con Người….thì các ông không có sự sống nơi mình”. Khi sự sống thiêng liêng không có trong ta, hậu quả là chúng ta chỉ làm được những việc đưa tới sự chết. Chết nghĩa tình. Chết ý nghĩa sống. Chết sự sống thần linh trong con người.

Nhưng khi chúng ta đón rước Thánh Thể, cũng không tất nhiên là chúng ta có sự sống đời đời. Vì “như tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi sẽ sống nhờ tôi như vậy”. Sống nhờ là thế nào? Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta cách sống nhờ theo gương Ngài: “Lương thực của Ta là làm theo Ý Chúa Cha. Cha Ta làm việc thế nào, thì Ta cũng làm như vậy”. Khi chúng ta đón rước Thánh Thể mà lại sống theo ý mình, làm theo ý mình, theo ý thế gian, thì không thể làm nẩy sinh sự sống đời đời. Chỉ khi nào ta bắt chước Chúa Giêsu: lấy ý Chúa làm lương thực, bắt chước những việc Chúa đã làm cho con người, chúng ta mới thực sự là những người tin Chúa, có sự sống của Chúa.

   Lạy Chúa Giêsu, Chúa là lương thực thần linh, để ai ăn thì sẽ được sống đời đời với Chúa. Xin cho chúng con biết yêu mến Thánh Thể. Biết siêng năng đến với Bí Tích cực trọng này. Nhất là biết sống cho xứng đáng với ơn phúc mà chúng con được nhận lãnh, khi được hiệp nhất với Chúa. Amen.

 

Ngày 28/04/2007, thứ bảy sau CN III Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 6,60-69)

Khi ấy, có nhiều môn đệ của Chúa Giêsu nói rằng: “Lời này chói tai quá, ai nghe cho được!” Tự biết rằng các môn đệ đang lẩm bẩm về chuyện đó, Chúa Giêsu nói với họ: “Điều đó làm các ngươi khó chịu ư ? Vậy nếu các ngươi thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? Chính thần trí mới làm cho sống, chứ xác thịt nào có ích gì? Những lời Ta nói với các ngươi là thần rí và là sự sống, nhưng trong các ngươi có một số người không tin”. Vì từ đầu Chúa Giêsu đã biết ai là những người không tin, và kẻ nào sẽ nộp Ngươi. Và Người nói: “Bởi đó, Ta bảo các ngươi rằng: “Không ai có thể đến với Ta, nếu không được Cha Ta ban cho”. Từ bấy giờ, có nhiều môn đệ rút lui không còn theo Người nữa. Chúa Giêsu liền nói với nhóm muời hai rằng: “Cả các con nữa, các con có muốn bỏ đi không?” Simon Phêrô thưa với Người: “Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng Thầy là Đấng Kitô, con Thiên Chúa”.

 

 

 

Ø       Suy Niệm

Chọn Chúa Hay Bỏ Ngài

Khi loan báo về Thánh Thể, người Do Thái và ngay cả các môn đệ cho đó là điều không thể hiểu, khó chấp nhận. Chúa Giêsu không làm giảm nhẹ đòi hỏi căn bản là phải đón nhận Ngài. Chấp nhận tin và theo Chúa là sống. Không tin và khước từ Chúa là chết.

Để chấp nhận Chúa là lẽ sống cho con người, không phải là sản phẩm của sức tự nhiên con người, mà là do ơn Chúa ban: “Không ai đến với Thầy được, nếu không có ơn Chúa Cha ban”. Vì thế, ý thức khả năng con người hữu hạn, không thể dùng lý trí, sức riêng mình mà nhận thức được các thực tại siêu nhiên, chúng ta phải có lòng khiêm nhường xin ơn Chúa giúp. Phải có Thần Khí Chúa ở trong ta “Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì!”.

Sống trong một cộng đoàn, chúng ta thường bị ảnh hưởng lẫn nhau. Nếu không có một đức tin vững mạnh, không có một lòng mến Chúa cho trưởng thành, chúng ta đễ chạy theo số đông. Chúa hỏi các tông đồ khi có nhiều người  rút lui, không theo Ngài nữa “anh em có muốn bỏ Thầy không?”. Chúa không áp đặt, không làm chúng ta mất tự do. Tin và theo Chúa là một việc của lòng tin tự do. Khi chúng ta thiếu một sự tự do để thực hiện những hành vi của lòng tin, thì hành vi đó chỉ là máy móc vô hồn. Không đủ sức đứng trước bão tố. Nhưng khi có một xác tín mạnh mẽ vào Chúa, chúng ta mới có sức mạnh và độ bền, để theo đuổi đến cùng những việc bởi lòng tin Chúa. Làm việc lành nửa vời, làm việc đạo đức thiếu bền chí, là những dấu hiệu một đức tin chưa đủ lớn. Muốn sống đức tin trưởng thành, muốn vững vàng trước mọi sóng gió cuộc đời để tin theo Chúa, chúng ta phải có được xác tín như thánh Phêrô: “Lạy Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết theo ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”. Khi yêu sự sống đời này hơn đời sau, chúng ta chọn những gì thuộc đời tạm này. Khi lưu tâm yêu mến sự sống đời đời, chúng ta mới có thể chọn Chúa hơn tất cả.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa mãi yêu chúng con, ban cho chúng con muôn vàn ơn phúc cao trọng. Xin gìn giữ chúng con trong ơn Chúa. Đừng để chúng con được Chúa chọn làm con mà “lại  là quỉi”. Amen.

 

Ngày 29/04/2007, Chúa Nhật IV Phục Sinh C

LỄ CHÚA CHIÊN LÀNH

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 10, 27-30)

Khi ấy, Đức Giêsu nói với dân Do Thái rằng: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một."

Ø       Suy Niệm

Tôi Ban Cho Chúng Sự Sống Đời Đời

Để thu được những lá phiếu, những người ra tranh cử chức quyền, thường đưa ra những lời hứa, làm thỏa mãn nhu cầu hạnh phúc của dân. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, dân thất vọng. Những nước có dân chủ tự do thì biểu tình, đòi họ từ chức. Những nước không dân chủ thì ta thán, óan trách. Dân mất lòng tin.           

Hôm nay, chúng ta mừng lễ Chúa Chiên Lành, lễ cầu cho ơn gọi linh mục và tu sĩ. Thế giới, xã hội đang rất cần những mục tử là hiện thân của Chúa Chiên Lành, biết hy sinh tính mạng vì đoàn chiên. Giữa một xã hội đề cao lối sống hưởng thụ, chúng ta xin Chúa cho những người trẻ biết quảng đại sống đời hiến dâng. Giữa một xã hội đầy giả dối, sai lầm, chúng ta xin Chúa cho các mục tử nêu cao đời sống chính trực. Giữa một xã hội thất nhân, thất đức, chúng ta xin Chúa cho chúng ta biết lắng nghe lời vị Mục Tử Nhân Lành.

Không chỉ là cầu xin, mà chúng ta biết cộng tác với Chúa Chiên Lành. Chúa hứa ban cho những ai theo Chúa sự sống đời đời. Nhưng phải biết nhận ra tiếng chủ chiên, biết lắng nghe và can đảm bước theo Ngài. Chúa không hứa cho chúng ta không phải đau khổ, nhưng Chúa hứa sẽ giữ chúng ta không bị diệt vong. Chúa không hứa cho chúng ta một đời sống không chiến đấu, nhưng Ngài hứa giữ chúng ta thoát tay ma quỉ: “không ai cướp được chúng khỏi tay Tôi”. Vì Ngài đã tuyên bố Ngài đồng bản tính với Chúa Cha, nên quyền năng Ngài là vô cùng vô tận.

Mỗi ngày, mỗi việc, Chúa Chiên Lành vẫn gọi từng con chiên, là mỗi người chúng ta. Khi vui, lúc buồn, chúng ta có nhận ra được tiếng Chúa trong mọi biến cố không?

Một người con nghe lời cha mẹ dạy bảo. Một người tín hữu khiêm nhường nghe tiếng người hướng dẫn. Một linh mục vâng lời bề trên. Nếu được thực hiện với lòng tin, là những biểu hiện cụ thể chúng ta đang nghe và theo Chúa Chiên Lành.

Lạy Chúa Giêsu, Đấng chăn chiên nhân lành, chúng con cảm tạ tình thương Chúa đã vì chúng con mà chịu khổ nạn. Xin đừng để chúng con dại khờ chạy theo tiếng của những mục tử ác độc, là thói sống, lối nghĩ của thế gian. Nhưng biết trọn đời tin và vâng nghe Lời Chúa. Vì chỉ có Chúa mới đưa chúng con tới sự sống đời đời. Amen.


 

Ngày 30/04/2007, thứ hai sau CN IV Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 10,1-10)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: “Ta bảo thật các ngươi: ai không qua cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo vào lối khác, người ấy là kẻ trộm cướp. Còn ai qua cửa mà vào, thì là kẻ chăn chiên. Kẻ ấy sẽ được người giữ cửa mở cho, và chiên nghe theo tiếng kẻ ấy. Kẻ ấy gọi đích danh từng con chiên của mình và dẫn ra. Khi đã lùa chiên mình ra ngoài, kẻ ấy đi trước và chiên theo sau, vì chúng quen tiếng kẻ ấy, chúng sẽ không theo người lạ, trái lại, còn trốn tránh, vì chúng không quen tiếng người lạ”. Chúa Giêsu phán dụ ngôn này, nhưng họ không hiểu Người muốn nói gì. Bấy giờ Chúa Giêsu nói thêm: “Ta bảo thật các ngươi: Ta là cửa chuồng chiên. Tất cả những kẻ đã đến trước đều là trộm cướp, và chiên không nghe chúng. Ta là cửa, ai qua cửa mà vào, thì sẽ được cứu rỗi, người ấy sẽ ra vào và tìm thấy của nuôi thân. Kẻ trộm có đến thì chỉ đến để ăn trộm, để sát hại và phá hủy. Còn Ta, Ta đến để cho chúng được sống và được sống dồi dào”.

Ø       Suy Niệm

Tôi Đến Cho Chiên Được Sống Dồi Dào

Chúng ta đang sống trong một thế giới, một xã hội phát triển “văn minh sự chết”. Những biểu lộ của nền văn minh sự chết mỗi ngày một tăng cao.

Hằng ngày, chúng ta nghe và nhìn thấy gì? Một xã hội người dân không tin vào người lãnh đạo. Người ta không dám sống với sự thật mà lương tri mách bảo. Giả dối lan tràn trong mọi tầng lớp. Nạn phá thai, giết hại hài nhi tăng cấp số nhân. Chúng ta đang chứng kiến thời đại tung hoành của các mục tử giả. Khốn nỗi, những lời hứa của những mục tử giả, thường kèm theo những đe dọa, hoặc những lời dụ dỗ, đang được nhiều người chạy theo.

Khi lương tâm đã mất, đạo đức bị coi rẻ, thì không một biện pháp nào có thể ngăn chặn lòng tham lam vô đáy của con người. Người ta dùng ngục tù, hình phạt để ngăn chặn. Nhưng chẳng giảm bớt mà còn tăng lên. Tội ác càng biến thể cách tinh vi hơn. Cứ thử nhìn vào những biện pháp: chống tham nhũng, chống phá rừng, chống tệ nạn xã hội, chống thất thoát của chung… Nhưng tội ác hôm nay nhiều và nặng hơn hôm qua.

Giữa một màu xám buồn không lối thoát đó, là người Công Giáo, chúng ta không thể không nhận ra một nguyên nhân: tiếng của vị Mục Tử Nhân Lành không được lắng nghe. Ngưới ta chạy theo những mục tử giả. Họ hứa thiên đàng nơi trần thế khi giới thiệu một lối sống hiện đại buông thả, những kỹ thuật thỏa mãn bản năng thấp kém của con người. Một lối sống bệnh hoạn đã sản sinh. Sống không cần biết ngày mai.

Chúa Giêsu, vị Mục Tử từ trời đến, không phải chỉ để giới thiệu một lối sống vội vàng kẻo hết tuổi đời. Nhưng Ngài làm cho chúng ta sống phong phú ý nghĩa. Sống giàu nghĩa yêu thương, đầy lòng nhân ái. Sống sự thật trong hiện tại, để tồn tại mãi trong đời đời. Ngài đã hy sinh mạng sống cho chúng ta chứ không phải như những mục tử giả sẵn sàng giết và nộp chiên để  thu vén lợi lộc cho mình. Hy sinh cả mạng sống cho đoàn chiên, đó là dấu hiệu phân biệt mục tử thật và mục tử giả.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã hy sinh mạng sống để giải thoát chúng con khỏi tội lỗi và sự chết. Xin cho chúng con biết nghe theo Lời Chúa, và can đảm bước theo đường Chúa đi, để chúng con được hưởng vinh quang với Chúa trong sự sống đời đời. Amen.

 

 

MỤC LỤC GIỜ KINH GIA ĐÌNH