GIỜ KINH GIA ĐÌNH VỚI LỜI CHÚA

              

Tháng 05/2007

 

Để “tạo cơ hội tôn vinh và suy niệm Lời Chúa, riêng từng cá nhân, trong gia đình hoặc cộng đoàn” và giúp gia đình sống đạo hôm nay theo lời mời gọi trong thư mục vụ của HĐGM Việt Nam 2006, chúng con xin mạo muội được góp phần cổ võ việc công bố và suy niệm Lời Chúa từng ngày trong giờ kinh Gia đình qua tập suy niệm nhỏ nầy.

 

Chúng con xin đề nghị việc đọc “Giờ kinh Gia đình với Lời Chúa” như sau:

 

-  Hát kinh Chúa Thánh Thần

-  Đọc ba kinh: Tin, Cậy, Mến

-  Công bố Lời Chúa

-  Suy niệm

-  10 kính Kính Mừng kính Đức Trinh Nữ Maria

-  Kết thúc bằng bài hát về Đức Mẹ Maria.

 

Văn Phòng Tòa Giám Mục Phú Cường

 


 

MỤC LỤC

 

Ngaøy 01/05/2007, thöù ba sau CN IV Phuïc Sinh.

Ngaøy 02/05/2007, thöù tö sau CN IV Phuïc Sinh.

Ngaøy 03/05/2007, thöù naêm sau CN IV Phuïc Sinh.

Ngaøy 04/05/2007, thöù saùu sau CN IV Phuïc Sinh.

Ngaøy 05/05/2007, thöù baûy sau CN IV Phuïc Sinh.

Ngaøy 06/05/2007, Chuùa Nhaät V Phuïc Sinh C..

Ngaøy 07/05/2007, thöù hai sau CN V Phuïc Sinh.

Ngaøy 08/05/2007, thöù ba sau CN V Phuïc Sinh.

Ngaøy 09/05/2007, thöù tö sau CN V Phuïc Sinh.

Ngaøy 10/05/2007, thöù naêm sau CN V Phuïc Sinh.

Ngaøy 11/05/2007, thöù saùu sau CN V Phuïc Sinh.

Ngaøy 12/05/2007, thöù baûy sau CN V Phuïc Sinh.

Ngaøy 13/05/2007, Chuùa Nhaät VI Phuïc Sinh C..

Ngaøy 14/05/2007, thöù hai sau CN VI Phuïc Sinh.

Ngaøy 15/0/2007, thöù ba sau CN VI Phuïc Sinh.

Ngaøy 16/05/2007, thöù tö sau CN VI Phuïc Sinh.

Ngaøy 17/05/2007, thöù naêm sau CN VI Phuïc Sinh.

Ngaøy 18/05/2007, thöù saùu sau CN VI Phuïc Sinh.

Ngaøy 19/05/2007, thöù baûy sau CN VI Phuïc Sinh.

Ngaøy 20/05/2007, Chuùa Nhaät VII Phuïc Sinh C..

Ngaøy 21/05/2007, thöù hai sau CN VII Phuïc Sinh.

Ngaøy 22/05/2007, thöù ba sau CN VII Phuïc Sinh.

Ngaøy 23/05/2007, thöù tö sau CN VII Phuïc Sinh.

Ngaøy 24/05/2007, thöù naêm sau CN VII Phuïc Sinh.

Ngaøy 25/05/2007, thöù saùu sau CN VII Phuïc Sinh.

Ngaøy 26/05/2007, thöù baûy sau CN VII Phuïc Sinh.

Ngaøy 27/05/2007, Chuùa nhaät

Ngaøy 28/05/2007, thöù hai sau CN VIII Thöôøng Nieân.

Ngaøy 29/05/2007, Thöù ba sau CN VIII Thöôøng Nieân.

Ngaøy 30/05/2007, thöù tö sau CN VIII Thöôøng Nieân.

Ngaøy 31/05/2007, thöù naêm sau CN VIII Thöôøng Nieân.

 


 

Ngày 01/05/2007, thứ ba sau CN IV Phục Sinh

Lễ Thánh Giuse Thợ

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêô (Mt 13,54-58) 

Khi ấy, Đức Giêsu về quê, giảng dạy dân chúng trong hội đường của họ, khiến họ sửng sốt và nói: "Bởi đâu ông ta được khôn ngoan và làm được những phép lạ như thế? Ông không phải là con bác thợ sao? Mẹ của ông không phải là bà Maria; anh em của ông không phải là các ông Giacôbê, Giôxếp, Simôn và Giuđa sao? Và chị em của ông không phải đều là bà con lối xóm với chúng ta sao? Vậy bởi đâu ông ta được như thế?" Và họ vấp ngã vì Người. Nhưng Đức Giêsu bảo họ: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình và trong gia đình mình mà thôi." Người không làm nhiều phép lạ tại đó, vì họ không tin.

Ø       Suy Niệm

Cha ông Việt Nam đã đưa ra nhận định:

“Con vua thì lại làm vua, con sãi giữa chùa thì quét lá đa”. để nói lên một quan niệm khá phổ biến trong dân gian về sự phát triển giai cấp. Sự cao sang chỉ có thể bắt nguồn từ vua chúa, còn dân quê, dân giã thì mãi mãi là thứ dân quê mùa. Quan niệm đó không chỉ có trong dân tộc Việt Nam, nhưng nó còn xuất hiện trong dân Israel thời Chúa Giêsu.

Thật vậy, người đương thời đã kinh ngạc khi nhìn thấy những công việc của Chúa: “Bởi đâu ông nầy được khôn ngoan và làm được phép lạ? Ông không phải là con bác thợ mộc đó sao?...” Vâng, người ta không thể chấp nhận con của một bác thợ mộc, nghèo hèn chất phác lại thông thái khôn ngoan được. Bởi vì xét cho cùng, Chúa Giêsu cũng là thứ dân như họ, có thể nghèo hơn họ. Giuse không có một chỗ đứng gì trong hội đường, thì làm sao có thể có người con như thế được. Họ không chấp nhận Chúa bởi vì nguồn gốc trần thế của Chúa, bởi vì lòng ghen tương đố kỵ, và nhất là họ không nhận ra giá trị của việc lao động tay chân. Dưới con mắt của họ, những người lao động tay chân như Giuse, như Đức Maria thì chẳng có gì cao quí. Đối với họ, thước đo giá trị con người không ở những cách cư xử nhân bản, nhưng là những sự cao sang bên ngoài.

Quan niệm đó vẫn mãi tồn tại đến ngày nay, nhất là trong thế giới chủ trương hưởng thụ hôm nay. Một lần nữa, người ta lại đề cao giá trị con người bằng sự của cải giàu sang bên ngoài. Giới trẻ hôm nay được dạy cho biết làm thế nào để kiếm được nhiều tiền hơn là dạy cách sống làm người, sống nhân bản. Từ đó đưa tới những hệ quả là: nhân phẩm bị coi thường và tiền bạc vật chất được đề cao. Người ta không ngần ngại lao vào chuyện kiếm tiền để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ. Nhưng oái oăm thay, phần nhiều người ta không thích kiếm tiền bằng những nghề lao động tay chân chân chính. Vì như thế người ta vẫn bị xếp vào hạng người tầm thường.

Giới trẻ hôm nay được dạy cho biết, để được kính nể thì phải có nhiều tiền để tiêu xài, và cách kiếm tiền cũng phải mang tính “quí phái”, chứ không phải là lao động tầm thường như những công nhân trong xưởng thợ. Do đó, bao nhiêu chuyện đau lòng đã xảy ra: giới trẻ rơi vào con đường cướp giật, lừa đảo, mại dâm….

Hôm nay, qua mẫu gương lao động của Giuse, một lần nữa Giáo hội đề cao giá trị của lao động. Chính qua việc lao động, con người được giáo dục ý thức về giá trị của cuộc sống. Sự sống được nẩy nở, phát triển từ những giọt mồ hôi được đổ ra do chính việc lao công. Lao động không chỉ giúp con người tư duy và khám phá, nhưng còn hướng đến sự tôn trọng các thành qủa do chính việc lao động mang tới. Từ sự tôn trọng đó, chúng ta ý thức xử dụng của cải một cách hợp lý, và biết nghĩ đến người khác. Có như thế chúng ta mới hiểu được giá trị tích cực của lao động chính là cộng tác với Thiên Chúa để làm đẹp bộ mặt trái đất nầy. Như Công đồng Vaticanô II đã dạy: “Lao động là việc tham dự vào công cuộc của Thiên Chúa. Bởi vì trong khi lao động để nuôi sống mình và gia đình, đồng thời cũng để phục vụ cho xã hội, tất cả mọi người nam nữ đều phải nhận thức rằng: lao động của họ là việc tiếp diễn công việc của Đấng Tạo Thành, là việc phục vụ cho anh em đồng loại, là sự đóng góp của cá nhân vào việc thực hiện chương trình kế hoạch của Thiên Chúa đối với lịch sử”(GS số 34).

Lạy Chúa, Chúa đã chọn cuộc sống lao động để thực hiện công cuộc cứu chuộc. Chúng con có thể quả quyết rằng, Chúa “âu yếm và thiết tha lao động và các hình thức lao động” (Đức Gioan Phaolô II). Xin cho chúng con yêu mến việc Chúa đã yêu mến và  thiết tha việc Chúa đã thiết tha. Xin đừng để chúng con lười biếng và sống ỷ lại, vì đó là nguồn gốc của tội lỗi. Amen.

 

 

Ngày 02/05/2007, thứ tư sau CN IV Phục Sinh

Lễ nhớ Thánh Athanasiô- Giám mục, tiến sĩ Hội Thánh

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 12,44-50)

Khi ấy, Đức Giêsu lớn tiếng nói rằng: "Ai tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng là tin vào Đấng đã sai tôi; ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi. Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối. Ai nghe những lời tôi nói mà không tuân giữ, thì không phải chính tôi xét xử người ấy, vì tôi đến không phải để xét xử thế gian, nhưng để cứu thế gian. Ai từ chối tôi và không đón nhận lời tôi, thì có quan toà xét xử người ấy: chính lời tôi đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết. Thật vậy, không phải tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải nói gì, tuyên bố gì. Và tôi biết: mệnh lệnh của Người là sự sống đời đời. Vậy, những gì tôi nói, thì tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói với tôi."

Ø       Suy Niệm

Đức tin không là một chọn lựa tôn giáo nhưng là một thái độ đáp trả lời mời gọi yêu thương của Thiên Chúa. Thật vậy, Thiên Chúa yêu con người đến nỗi “chạy theo con người” và “quay lại chống đối chính mình” (Đức Bênêđictô XVI) qua việc trao ban Người Con duy nhất cho nhân loại để phục hồi sự sống cho nhân loại. Bởi vậy, tin chính là khám phá tình yêu của Thiên Chúa và đáp lại bằng một thái độ đón nhận Người Con qua việc lắng nghe và sống theo giáo huấn của Người.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta đón nhận sứ điệp yêu thương của Thiên Chúa qua việc tin nhận Chúa Giêsu. Việc đón nhận nầy là hành trình đi vào sự hiệp thông Thiên Chúa Ba Ngôi: hiệp thông tình yêu. Thật vậy, như Thánh Gioan đã định nghĩa: “Thiên Chúa là Tình yêu”. Tình yêu được biểu lộ trong sự hiệp thông nên một giữa Cha và Con, để rồi: “ai tin vào Con tức là tin vào Cha, ai thấy Con là thấy Cha”.

Đức tin không chỉ là một hành vi tin nhận “có”, nhưng còn là lời đáp trả “sống” như Đấng mình tin. Có nghĩa là đức tin đòi hỏi một sự dấn thân sống yêu thương như Thiên Chúa. Đức tin dẫn đưa chúng ta vào sự hiệp thông với Thiên Chúa để yêu thương như Ngài. Tình yêu là một hành vi hướng tha, chủ thể của tình yêu không là qui hướng về mình, nhưng là về đối tượng của tình yêu.

Trong chiều hướng nầy, người tín hữu khi tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu, cũng chính là sống yêu thương như Người. Khi thực thi đức yêu thương, người kitô hữu chúng ta không nhằm thỏa mãn tính tự ái của mình, nhưng là nhằm làm chứng cho Tình Yêu Thiên Chúa. Do đó, như Chúa Giêsu luôn qui chiếu mọi hành vi về Chúa Cha, chúng ta cũng phải qui chiếu tất cả những thực hành đức tin về cho Thiên Chúa.

Chúng ta không lợi dụng Thiên Chúa để tìm vinh danh, lợi lộc cho chính mình, nhưng phải luôn nhớ chúng ta là con, cho nên trước tiên phải tìm vinh danh cho Cha ở trên trời. Bởi vậy trong khi thực thi đức ái, chúng ta luôn nhìn thấy sự hiện diện của Thiên Chúa, để chúng ta hành động với trọn “tim yêu” mà Đức Bênêđictô gọi là trọn “cái tâm”. Đó chính là chứng tá hùng hồn nhất để người ta có thể nhìn thấy Thiên Chúa qua chúng ta, như Chúa Giêsu đã khẳng quyết: “ai thấy Thầy là thấy Cha”.

Lạy Chúa, hơn bao giờ hết, nhân loại hôm nay đang khao khát sự thiện cách mãnh liệt. Xin cho chúng con ý thức ơn gọi kitô hữu của chúng con, chính là mang “sự thiện” đến cho nhân loại để đáp ứng cơn khát của họ. Đó chính là chúng con sống đức tin một cách tích cực hữu hiệu qua đời sống yêu thương. Cuộc sống hôm nay, người ta chỉ nhìn thấy đầy dẫy sự ích kỷ, và coi thường mạng sống người khác. Xin cho chúng con mang lại một ánh lửa yêu thương để xua đi những thái độ ích kỷ, hẹp hòi và vô cảm. Lạy Chúa xin cho chúng con cam đảm dấn thân sống yêu thương như Chúa yêu chúng con.

 

Ngày 03/05/2007, thứ năm sau CN IV Phục Sinh

Lễ Kính Thánh Philipphê và Giacôbê – Tông Đồ

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 14,6-14) 

Khi đến giờ lìa bỏ thế gian mà về với Chúa Cha, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người." Ông Philípphê nói: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện." Đức Giêsu trả lời: "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: `Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha'? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha. Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con. Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó”.

Ø       Suy Niệm

Ai Thấy Thầy Là Thấy Cha

Philipphê hôm nay xin Chúa Giêsu một điều rất chân thành: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha”. Có lẽ không chỉ một mình ông đâu, vì cái thắc mắc muốn biết rõ nguồn gốc của Thầy mình, nhằm để tạo một tương quan đã nằm trong tiềm thức của các ông xét về mặt con người, còn về mặt tâm linh thì cái thao thức được thấy Cha là một ao ước trọn lành đến độ Philipphê cho là: “đã đủ cho chúng con rồi”. Thế nhưng, sự trao đổi giữa Chúa Giêsu và các môn đệ không đơn thuần giải đáp nhằm thỏa mãn tính tò mò, mà là một bài thần học mà Chúa Giêsu muốn tỏ rõ về sự liên quan giữa Ngài và Cha chỉ là một. Chúa Giêsu không muốn lý giải cao siêu như các thần học gia sau này lý giải, mà đơn giản chỉ muốn nói cho các ông hiểu Ngài đã đi xuống trần gian cũng là để dẫn chúng ta đi lên với Cha. Ngài là con đường để về với Cha, và Ngài là hiện thân tình yêu của Cha. vậy tất cả cái gì mà Ngài đang có, đang hiện diện, đang hành động là làm trong hiệp nhất với Cha, cho nên, có Ngài đang ở cùng là quá đủ rồi. Cái thấy Cha ở đây được Chúa diễn tả như là hạnh phúc viên mãn tột cùng. Có nhiều người đã thấy Chúa Giêsu rao giảng, làm việc, chữa lành, nhưng họ không thấy Cha, bởi cái nhìn hạn hẹp đóng kín họ vào trong cái nhìn thuần trần gian. Thế nhưng, với các tông đồ, Chúa muốn cái nhìn đó không giới hạn, mà xuyên thấu vào cốt lõi chân lý mà Chúa Giêsu luôn tỏ lộ cho các ông. Vì thế, câu hỏi có vẻ ngờ nghệch đó của Philípphê không làm Chúa buồn, Chúa như thấu cảm được nỗi lòng của các môn đệ, Ngài mời gọi các ông củng cố đức tin, một đức tin không do lý luận mà do yêu mến, sẽ làm cho các ông hiểu, biết và thực thi lời của Đấng là hiện thân của Cha.

Chúng ta cũng thế, trong một cách nhìn nào đó về Thiên Chúa, chúng ta cũng khao khát muốn biết, nhưng khổ cái là chúng ta chỉ muốn biết do thỏa mãn tò mò nhiều hơn. Thật thế, dân ta mà nghe nơi nào có phép lạ chẳng hạn, chẳng gì ngăn nổi bước chân họ, có người quanh năm ngày tháng nhà thờ bên cạnh chẳng ngó ngàng gì tới, thế mà chỉ cần đâu có phép lạ thì y như rằng có mặt để khấn nài xin ơn. Cũng có nhiều người chúng ta chỉ biết mình đã được rửa tội, còn chuyện sống đặc ân đó ra sao thì miễn bàn. Điều đó chứng tỏ rằng, cái biết của chúng ta rất giới hạn. Tuy nhiên, để biết và đi đến yêu mến đòi chúng ta nhiều điều, từ cầu nguyện, học hỏi, lắng nghe giáo huấn, đến cố gắng, chuyên cần đọc Kinh Thánh. Thế nhưng, người Kitô hữu chưa có thói quen đọc Kinh thánh nói chi chuyện nghiềm ngẫm. Người ta sợ mất thì giờ khi tham dư Thánh lễ, tĩnh tâm, vv nhưng sẵn sàng phung phí vào những chuyện vui chơi mà lại không cảm thấy mất thời giờ chút nào. Như vậy, chuyện thấy Chúa Giêsu với chúng ta thật lơ mơ và thấy Chúa Cha thì quả lờ mờ. Câu chuyện tin yêu, mến Chúa và thực hành lời Chúa chính là cốt lõi để chúng ta thấy Chúa. Điều này là chuyện dễ làm nhưng vẫn còn thiếu nơi đời sống đạo của chúng ta. Phải chăng hôm nay Chuá đang nhắc nhớ chúng ta ý thức  hơn,

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết Chúa, để rồi chúng con biết chúng con, xin đừng để chúng con hời hợt và quên lãng tình Chúa, nhưng luôn khao khát và say mê tìm Chúa. Amen.

 

 

Ngày 04/05/2007, thứ sáu sau CN IV Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 14,1-6)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không thì Thầy đã nói với các con rồi. Thầy đi để dọn chỗ cho các con. Và khi Thầy đã ra đi và dọn chỗ cho các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu, thì các con cũng ở đó với Thầy. Thầy đi đâu, các con đã biết đường rồi”. Ông Tôma thưa Người rằng: “Lạy thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường đi?” Chúa Giêsu đáp: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”.

Ø       Suy Niệm

Thầy Là Đường, Là Sự Thật Và Là Sự Sống

Khi tìm hiểu về các tôn giáo, chắc ai cũng nghe về một số giáo lý dạy ăn ngay ở lành, nhưng hôm nay, ngoài việc kính mến Thiên Chúa và yêu thương người, chúng ta lại còn bắt gặp một giáo lý tuyệt vời của Chúa Giêsu: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống”. Quả thật, chưa thấy vị lập đạo nào dám khẳng định như Đức Kitô. Đức Kitô là đường dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa thật. Chính vì thế, Ngài đã đến trong thế gian, để nối kết trời và đất, để thiết lập một chính lộ mà chính Ngài đã trải thảm đỏ để đưa chúng ta là tội nhân về với phẩm vị là con Chúa. Con đường đó Chúa đã đi qua và được nhuộm bằng máu đào khổ giá, và chúng ta phải đi trên con đường đó mới đến đựơc với Cha. Không phải Chúa muốn chúng ta đau khổ Ngài mới vui, nhưng vinh quang chỉ dạt được sau khi đã cố gắng.

Trong suy nghĩ của chúng ta vẫn  quan niệm sự thật thì mất lòng, cho nên một cách nào đó trong ứng xử ít muốn nói sự thật. Còn Chúa Giêsu, Ngài khẳng định một cách rạch ròi rằng, Ngài là sự thật. Ngài khẳng định Ngài là sự thật không có ý làm mất lòng, nhưng xác định Ngài là chân lý, một chân lý tối thượng, là lẽ phải để mọi người dõi theo. Vì Ngài là sự thật, nên Ngài đã chẳng ngần ngại nói lên sự dối trá của thế gian, đi vào mọi ngõ ngách của bóng tối để làm bùng sáng chân lý tình yêu của Ngài. Ngài là sự thật của cứu độ, của lòng thương xót, của bao dung, của từ tâm. Đi trong sự thật của Ngài, chúng ta không bị mất lòng mà đi đến sự sống thật, sự sống của Đức Kitô Phục Sinh. Thế nhưng, đi trong sự thật quả là không dễ chút nào. chúng ta thử dừng lại ở những con số mà ngẫm nghĩ thử xem có đúng không: cứ coi cái xe Honda trong nhiều gia đình sử dụng, có mấy cái là đồ chính hãng của Nhật; đồ dùng cũng thế, nhiều đồ giả lắm; trong khu xóm cũng thế nhiều Kitô hữu lắm,… thế nhưng có bao nhiêu người kính mến Chúa yêu thương người, có bao nhiêu người đi tham dự thánh lễ thật…

Ngày nay dường như văn hóa sự chết đang là vấn đề nhức nhối của xã hội và của chính chúng ta. Nhiều nước đang muốn hợp pháp hóa vấn đề này, hoặc là rất trái ngược khi bỏ án tử hình nhưng lại cho phép hủy thai, và an tử. Ngày nay việc tìm đến sự chết qua hưởng thụ lại tăng cao. Vài ngày, báo chí lại đưa tin phá được động lắc, hoặc là một siêu thị đen về ma túy, bắt phá nhiều nhưng chẳng thấy giảm, nghe mà cứ rợn cả người. Chúa Giêsu đã khẳng định rất chắc chắn Thầy là sự sống, một sự sống trường tồn chứ không lây lất, và là sự sống thật dồi dào và phong phú. Chính vì vậy, suốt cuộc đời rao giảng, Ngài đem sự sống đến cho người nghèo, cô đơn, người bệnh tật, người tội lỗi, người đã chết, và nhất là chính Ngài đã tự sống lại để hủy diệt nọc độc sự chết và minh chứng Ngài chính là sự sống đời đời, và ai cũng phải đi qua Ngài mới có sự sống thật. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã chết đi là để cho chúng ta có sự sống đời đời, nhưng chúng ta lại dửng dưng hoặc lại xem thường. Người ta rất dễ liên minh với văn hóa sự chết và chẳng mặn mà gì với lời giáo huấn của Chúa. Lý do vì sức đề kháng của chúng ta đang bị tiêu hao bởi nhiều loại virus hưởng thụ, lười biếng và như là sự lờn thuốc do mất cảm thức về tội và sự nguy hiểm đem tới là: sống để rồi chết. Một sự chọn lựa chẳng khôn ngoan, thế mà người ta lại hí hững lao vào và sống như chẳng có Chúa, hay Chúa đã chết rồi.

Lạy Chúa Giêsu, con đường sự thật Chúa đã đi là để mong chúng con bước theo, vì đó là chính lộ đem đến cho chúng con sự sống. Quả thật, ai trong chúng con cũng ước mong và khao khát, nhưng sao chúng con lại ngần ngại và lừng khừng, xin cho chúng con hôm nay nhận ra chân lý “Thầy là đường là sự thật và là sự sống” và hăm hở bước theo và biết khước từ những cám dỗ trên đường đi. Amen.

 

 

Ngày 05/05/2007, thứ bảy sau CN IV Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 14,7-14)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Nếu các con biết Thầy, thì cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ các con biết và đã xem thấy Người”. Philipphê thưa: “Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha và như thế là đủ cho chúng con”.

Chúa Giêsu nói cùng ông rằng: “Ai thấy Thầy là xem thấy Cha. Sao con lại nói: Xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha? Con không tin rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy ư ? Những điều Thầy nói với các con, không phải tự mình mà nói, nhưng chính Cha ở trong Thầy, Ngài làm mọi việc. Các con hãy tin rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy. Ít ra các con hãy tin vì các việc Thầy đã làm. Thật, Thầy bảo thật các con: Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm được các việc Thầy đã làm. Người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn, vì Thầy về với Cha. Và điều gì các con nhân danh Thầy mà xin Cha, Thầy sẽ làm, để Cha được vinh hiển trong Con. Nếu điều gì các con nhân danh Thầy mà xin cùng Thầy, Thầy sẽ làm cho”.

Ø       Suy Niệm

Nhìn Thấy Chúa Trong Cuộc Sống

Trong Tin Mừng hôm nay, Philip, một trong nhóm mười hai đã xin Chúa Giêsu tỏ cho thấy Thiên Chúa Cha. Chắc hẳn khi nói điều đó, Philip đã liên tưởng đến hình ảnh một Thiên Chúa quyền năng đã tỏ vinh quang Ngài trên núi Sinai, một Thiên Chúa mà Môsê chỉ được thấy phía sau lưng Ngài. Tâm trạng của Philip cũng là tâm trạng của rất nhiều người trong chúng ta, đó là một niềm tin đòi hỏi sự lạ. Bởi thế, không ít người sẵn sàng hao tốn tiền bạc và thời giờ để để tìm đến những nơi xẩy ra sự lạ, đối với họ, một lần hành hương có ý nghĩa và giá trị cho cả cuộc đời.

Đáp lại yêu cầu Philip, Chúa Giêsu đã đưa ra một khẳng định và một câu hỏi: trước hết Ngài nêu lên một chân lý: "Ai thấy Thầy là thấy Cha Thầy". Đó là một thực tại đã quá hiển nhiên. Câu hỏi tiếp sau đó như một nhắc nhở cho Philip: Hãy nhìn lại cuộc sống thân tình giữa Thầy và các môn đệ. Những lời Thầy nói, những việc Thầy làm, không phải là của Thầy, mà là của Thiên Chúa Cha ở trong Thầy.

Sự thân tình quen thuộc đã khiến cho các môn đệ không nhận ra Ngài là Thiên Chúa. Lời nhắc nhở của Chúa Giêsu đối với Philip cũng là lời nhắc nhở chúng ta: đừng để những nét quen thuộc bên ngoài che mất thực tại bên trong.

Tìm kiếm Thiên Chúa là điều tốt, nhưng thật đáng trách khi đứng trước mặt Ngài mà chẳng nhận ra Ngài. Chúng ta nôn nao tìm dấu lạ, nhưng dấu lạ xẩy ra trước mắt mà chẳng nhìn thấy: hàng ngày qua lời truyền phép, Chúa Giêsu hiện diện trên bàn thờ, nhưng đã thấy khi chúng ta tỏ thái độ cung kính tin nhận Ngài hay chưa? Trong cuộc sống biết bao lời cầu xin được dâng lên Thiên Chúa nhưng đã mấy lần chúng ta phản tỉnh để nhận ra ơn lành Ngài ban?

Ước gì chúng ta giữ mài thái độ tìm kiếm, một sự tìm kiếm không ở đâu xa, nhưng trong chính cuộc sống quen thuộc hàng ngày. Đập vỡ chiếc vỏ quen thuộc bằng cách ngạc nhiên đặt câu hỏi, chắc chắn chúng ta sẽ nhận ra khuôn mặt của Thiên Chúa.

Lạy Cha,  xin ban cho chúng con có được con mắt đức tin, để chúng con luôn nhận ra sự hiện diện và hoạt động của Chúa qua mọi biến cố của cuộc sống thường ngày. Amen.

 

 

Ngày 06/05/2007, Chúa Nhật V Phục Sinh C

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 13,31-33a.34-35)

Khi Giuđa ra khỏi phòng tiệc ly, Đức Giêsu nói: "Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người. Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau."

Ø       Suy Niệm

Bài Tin Mừng hơm nay nói về những lời trăn trối tha thiết của Chúa Giêsu trước khi Ngài lìa bỏ trần gian này một cách hữu hình qua bản tính nhân loại của Ngài.

Chúa Giêsu nhắc cho chúng ta không phải chờ đến ngày nào đó, tự nhiên thành thánh Giêrusalem mới từ trời rơi xuống, nhưng mỗi người phải làm một viên đá sống động xây dựng thành thánh đó. Câu chứng minh hùng hồn nhất cho điều Người dạy chính là: “Ai yêu mến Thầy sẽ giữ lời thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và chúng ta sẽ đên và ở trong người ấy". Vậy ta hãy yêu mến Chúa và giữ lời Chúa dạy, để nhờ đó ta trở thành đền thờ sống động của Thiên Chúa Ba Ngôi ngự.

Chúa Giêsu dầu có ra đi một cách hữu hình, nhưng Người hứa ban bình yên cho chúng ta: "Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban bình an của Thầy cho các con". Bao lâu có Chúa ở cùng chúng ta, bấy lâu chúng ta có sự bình an, bình an trong tâm hồn và bình an hoà thuận với nhau nữa. Dầu vậy, Chúa Giêsu vẫn biết, sức con người chúng ta yếu đuối, giới hạn và Thiên Chúa cũng không đòi hỏi sự hoàn hảo nơi chúng ta, loài thụ tạo bất toàn. Nhưng điều quan trọng là Người hứa ban Chúa Thánh Thần, Đấng phù trợ. Chính Chúa Thánh Thần sẽ dạy chúng ta mọi điều và sẽ nhắc nhở chúng ta những gì Chúa Giêsu đã dạy. Vậy sức mạnh của con người, niềm tự hào của con người là nơi Chúa Thánh Thần, như thánh Phaolô nói: Nếu có ai tự hào, hãy tự hào trong Chúa và Chúa Thánh Thần chính là nguồn gốc ơn hiệp nhất nên một.

Với tinh thần Tin Mừng hôm nay, chúng ta hãy cầu nguyện cho nhân loại biết sống chung hoà bình với nhau, biến thế giới này thành một vương quốc duy nhất. Nơi đó con người sống biết nghĩ đến nhau, biết yêu thương nhau trong bình an và trật tự, sẵn sàng biết ơn của Chúa Thánh Thần luôn luôn tác động để đi đến hoàn hảo. Lúc đó lời hứa của Chúa được thực hiện, và con người sống nên một với sự hướng dẫn của Chúa và Con Chiên.

Để có việc làm cụ thể trong việc xây dựng thành thánh Giêrusalem mới, trong tuần này mỗi người chúng ta hãy cố gắng ý thức rằng, tôi là người tin Chúa, tôi có bổn phận tìm mọi cách truyền bá việc lành và tiêu diệt sự xấu, sự dữ trong bất cứ hoàn cảnh nào tôi đang sống. Và luôn ý thức rằng cái gì tốt là tốt, cái gì xấu là xấu chứ không có việc hoà giải với sự xấu, đối thoại với sự xấu.

Lạy Chúa xin ban ơn trợ giúp cho chúng con, và giúp chúng con luôn sống xứng đáng là người con của Chúa. Xin cho mỗi người chúng con biết nỗ lực xây dựng Nước Chúa mỗi ngày bằng chính đời sống chứng tá yêu thương. Amen.

 

 

Ngày 07/05/2007, thứ hai sau CN V Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 14, 21-26)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán bảo các môn đệ rằng: “Ai nghe các giới răn Thầy truyền và tuân giữ, người ấy là kẻ yêu mến Thầy. ai yêu mến Thầy, sẽ được Cha Thầy yêu mến, và Thầy cũng yêu mến và tỏ mình ra cho người ấy”. Ông Giuđa, không phải Giuđa Iscariô, thưa với Người rằng: “Lạy Thầy, tại sao Thầy sẽ tỏ mình ra cho chúng con, mà không tỏ ra cho thế gian?” Chúa Giêsu trả lời: “Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ Lời thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy. Kẻ không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Lời mà các con nghe, không phải là của Thầy, nhưng là của Cha, Đấng đã sai Thầy. Thầy đã nói với các con những điều này khi còn ở với các con. Nhưng Đấng phù trợ là Thánh Thần, mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, chính Người sẽ dạy các con mọi điều, và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con”.

Ø       Suy Niệm

Để Được Ơû Với Chúa

Để được ở trong tay Chúa, để được ở với Chúa, để được Chúa cư ngụ trong tâm hồn, đó là mục đích của cuộc sống đức tin mà người kitô hữu phải không ngừng theo đuổi. Đó cũng là một trong những ý tưởng nổi bật trong Tin Mừng Gioan. Những môn đệ đầu tiên đã đến xem nơi Chúa Giêsu cư ngụ và đã ở lại với Ngài. Chúa Giêsu đã kêu gọi trước tiên là đến và ở với Ngài.

Bài Tin mừng hôm nay cũng muốn đào tạo ý tưởng ấy. "Ai yêu mến Ta, Ta sẽ yêu mến nó và sẽ tỏ mình ra cho nó". Trong Cựu ước, Đền Thờ vốn được quan niệm như nơi cư ngụ của Thiên Chúa, nhưng với Chúa Giêsu, Đền thờ Thiên Chúa từ nay sẽ là tâm hồn con người; từ nay nhờ phép rửa, người kitô hữu trở thành đền thờ của Chúa. Nhưng sự hiện diện ấy của Thiên Chúa, người kitô hữu chỉ cảm nhận được khi họ yêu mến Chúa Giêsu và tuân giữ giới răn của Ngài. Sự hiện diện ấy, người kitô hữu chỉ có thể làm lan toả chung quanh bằng việc tuân giữ giới răn của Chúa Giêsu, nghĩa là sống theo Ngài, sống với Ngài, sống bằng chính sức sống của Ngài.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở người kitô hữu về sứ mệnh làm chứng cho sự hiện diện của Chúa trong trần thế. Người ta không thể cho đi điều mình không có. Nguyên tắc này càng đúng hơn trong đời sống đức tin: người kitô hữu sẽ không là chứng nhân sự hiện diện của Chúa, nếu cuộc sống của họ không có sức toả lan sự hiện diện ấy. Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta cách làm chứng cho sự hiện diện ấy, đó là tuân giữ các giới răn của Ngài. Khi những người ngoài nhìn vào cộng đoàn kitô tiên khởi, họ đã phải thốt lên: "Kìa xem họ yêu thương nhau dường nào!” Đó cũng là thách đố đang được đặt ra cho người tín hữu chúng ta: chúng ta phải sống thế nào để sự hiện diện của Chúa không chỉ giới hạn trong nơi thờ phượng hay trong những sinh hoạt tôn giáo, mà phải được thể hiện bằng cả cuộc sống chúng ta nữa.

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn được ở với Chúa và luôn được ở trong tay Chúa. Ước gì, qua cuộc sống mỗi ngày, chúng con luôn cảm nhận được sự hiện diện yêu thương của Chúa, và đáp trả tình yêu ấy bằng những cố gắng sống yêu thương, quảng đại, để sự hiện diện và tình yêu của Chúa cũng được người khác cảm nhận. Amen.

 

 

Ngày 08/05/2007, thứ ba sau CN V Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 14,27-31a)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng. Lòng các con đừng xao xuyến và đừng sợ hãi. Các con đã nghe Thầy nói với các con rằng: Thầy đi rồi Thầy sẽ trở lại với các con. Nếu các con yêu mến Thầy, thì các con hãy vui mừng vì Thầy về với Cha, bởi lẽ Cha trọng hơn Thầy. Giờ đây, Thầy nói với các con trước khi việc xảy ra, để khi việc xảy ra thì các con tin. Thầy không còn nói nhiều với các con nữa, vì thủ lãnh thế gian đã đến. Nó không có quyền lực gì đối với Thầy. Nhưng để cho thế gian biết rằng, Thầy yêu mến Cha, thì Thầy làm như Cha đã truyền dạy”.

Ø       Suy Niệm

Sứ Giả Bình An

Trong cuộc sống, ai trong chúng ta cũng mong muốn điều lành hơn điều dữ, mong muốn bình an hơn là hỗn loạn. Vì Chúa biết sự cần thiết của ơn bình an, nên Chúa sẵn sàng ban ơn bình an cho con người: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con”.

Gia đình và cộng đoàn chúng ta chỉ có ơn bình an của Chúa Kitô Phục Sinh thật sự, khi chúng ta biết sống khiêm nhường bằng lòng với những gì mình có như: Khả năng, ơn gọi trong cuộc sống, ngay cả tiền của … Sở dĩ cộng đoàn chúng ta thường mất bình an cũng do nguyên nhân tham lam quá độ của bản thân.

Thứ đến, chúng ta phải liên kết mật thiết với Chúa Giêsu. Vì Chúa là Bình An cũng như là Ơn Bình An mà Chúa Cha ban cho nhân loại. Sống liên kết với Chúa, chúng ta sẽ múc lấy tinh thần và cách sống như Chúa. Nhờ đó trong cuộc sống, chúng ta luôn hành động như Chúa, là biết xây dựng sự bình an, xây dựng sự hiệp thông trong cộng đoàn chúng ta đang sống.

Lạy chúa Giêsu Kitô Phục Sinh, xin cho chúng con luôn sống khiêm nhường và gắn bó với Chúa. Để đời sống chúng con cũng trở thành món quà bình an trao cho những anh chị em chúng con. Amen.

 

 

Ngày 09/05/2007, thứ tư sau CN V Phục Sinh

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 15,1-8)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Thầy là cây nho thật và Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào trong Thầy không sinh trái thì Người chặt đi, còn cành nào sinh trái thì Người tỉa sạch để nó sinh nhiều trái hơn. Các con đã được tỉa sạch nhờ Lời Thầy nói với các con. Các con ở trong Thầy, và Thầy ở trong các con. Cũng như cành nho, tự nó không thể sinh trái được, nếu không gắn liền với cây nho. Các con cũng vậy, nếu không ở trong Thầy. Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, thì kẻ ấy sẽ sinh trái. Vì không có Thầy, các con không thể làm được gì. ai không ở trong Thầy, thì bị vứt ra ngoài như cành nho, và sẽ khô héo, người ta sẽ thu lại và quăng vào lửa cho nó cháy đi. Nếu các con ở trong Thầy và Lời Thầy ở trong các con, thì các con muốn gì, cứ xin thì sẽ được. Đây là điều làm Cha Thầy được vinh hiển, là các con sinh nhiều trái, và như thế, các con trở nên môn đệ của Thầy”.

Ø       Suy Niệm

Sống Hiệp Thông

“Thiên Chúa là Tình Yêu, Ngài đến trần gian để mặc khải Tình Yêu, nhờ đó chúng sẽ được sống và sống dồi dào”. Sự sống dồi dào mà chúng ta đón nhận từ nơi Chúa khi chúng ta hiệp thông vào sự sống của Thiên Chúa, phải liên kết mật thiết với Ngài như cành nho và cây nho. Chúng ta sẽ cảm nhận điều này rõ nét nhất nơi Bí Tích Thánh Thể. Vì Bí Tích Thánh Thể là Bí Tích của sự sống, của Tình Yêu, của hiệp thông…

Nhưng Chúa không chỉ muốn chúng ta dừng lại ở sự hiệp thông trong tương quan hàng dọc với Thiên Chúa để tìm sự sống cho mình, Chúa còn muốn chúng ta phải trao ban sự sống của Chúa cho những anh chị em đau khổ ở gần ta. Anh chị em đau khổ cũng là những cành nho như chúng ta và có chung một thân thể chính là Đức Kitô, là Giáo Hội. Chúng ta gắn liền với những anh chị em đau khổ này khi chúng ta cùng đồng hành, quan tâm, nâng đỡ bằng những hành động bác ái cụ thể. Khi lên kết với những cành khác, và với thân thể của Đức Kitô, thì sự sống của chúng ta sẽ dồi dào và vững bền.

Lạy Chúa, xin cho đời sống chúng con cũng trở thành chứng nhân hiệp thông với Chúa và anh chị em nghèo khổ. Amen.

 

 

Ngày 10/05/2007, thứ năm sau CN V Phục Sinh

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 15,9-11)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến các con. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Nếu các con tuân giữ lệnh Thầy truyền, thì các con sẽ ở lại trong tình yêu của Thầy. Cũng như thầy đã tuân giữ lệnh truyền của Cha Thầy, nên Thầy ở lại trong tình yêu của Người. Thầy nói vậy với các con điều đó, để niềm vui của Thầy ở trong các con, và niềm vui của các con được trọn vẹn”.

Ø       Suy Niệm

Tình Yêu

“Không ai sống được nếu không yêu,

Không thương, không nhớ một người nào”

Nói về tình yêu thì rất dễ, nhưng để sống yêu thương thì không phải là chuyện dễ dàng, đành rằng ai cũng yêu cho dù phần trăm yêu rất nhỏ bé, yêu cái duyên, cái thùy mỵ, cái tế nhị… thì ai yêu chả được; còn yêu cái sần sùi, cái gai góc, cái chua ngoa… mới là chuyện làm cho chúng ta nhúc đầu; bởi vì người ta nói “xa thơm, gần thối” mà !

Nhưng dù sao đi nữa, thì tình yêu cũng là chất xúc tác của cuộc sống, nhờ có tình yêu mà cuộc đời này đẹp hơn, thế giới này đáng sống hơn và con người cảm thấy gần gũi nhau hơn. Tình yêu làm cho cuộc sống phong phú, tuy cũng có những lúc tình yêu làm cho con người đau khổ, nhưng cũng chính tình yêu làm cho con người hiểu được giá trị và ý nghĩa của đau khổ! “Sống không có tình yêu là chết mà biết thở”.

Thiên Chúa đã yêu thương con người nên Ngài đã bày tỏ tình yêu thương của Ngài qua sự đau khổ của Người Con Chí Ái là Đức Giêsu; do đó, Đức Giêsu chính là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa cho con người. Cũng chính vì thế, mà trước khi giã từ các môn đệ, Đức Giêsu đã căn dặn các ngài là “Các con hãy ở lại trong tình yêu của Thầy”. Như vậy, đối với Đức Giêsu, tình yêu là một gia sản mà chính Ngài đã nhận lãnh nơi Đức Chúa Cha thì nay Ngài cũng muốn các môn đệ yêu dấu của Ngài thừa hưởng gia sản ấy để các ông được yêu, “được sống và sống dồi dào”.

Vì yêu mà con người được sống, thì “Ở lại trong tình yêu” , con người sẽ được tình yêu tắm gội và biến đổi. Nhưng để ở lại trong tình yêu, thì con người phải tuân giữ lệnh truyền yêu thương của Đức Giêsu, một tình yêu luôn hướng về tha nhân và mong muốn điều tốt lành cho tha nhân; cũng như chính vì yêu mà Thiên Chúa làm cho mọi sự tốt đẹp và cho con người chung hưởng tình yêu của Ngài.

Một tình yêu đích thực là một tình yêu luôn hướng về người khác, “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian nên đã ban Con Một của Mình, để cho thế gian được sống”. Vì thế, thế gian muốn sống thì phải ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa, mà ở lại trong tình yêu thì chính tình yêu làm cho cuộc sống có ý nghĩa cũng như đem lại bình an cho tâm hồn; vì “Tình yêu chính là Thiên Chúa”.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết yêu Chúa và yêu người, xin cho chúng con biết ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa và sống làm sao cho mọi người nhận ra Chúa chính là tình yêu, để không chỉ chúng con được sống mà mọi người chúng con gặp cũng đượ sống nhờ tình yêu của Chúa. Amen.

 

 

 

 

Ngày 11/05/2007, thứ sáu sau CN V Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 15, 12-17)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Đây là lệnh truyền của Thầy: Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình. Các con là bạn hữu của Thầy, nếu các con thi hành những điều Thầy truyền. Thầy không còn gọi các con là tôi tớ, vì tôi tớ không biết việc chủ làm; Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết. Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con, và đã cắt đặt, để các con đi, và mang lại hoa trái, và để hoa trái các con tồn tại, để những gì các con xin Cha nhân danh Thầy, Người sẽ ban cho các con. Thầy truyền cho các con điều này là: các con hãy yêu mến nhau”.

Ø       Suy Niệm

Tình Yêu Và Lòng Người

Cuộc đời mỗi người luôn trải qua những bước thăng trầm, lúc vui lúc buồn, khi sướng khi khổ, yêu thì yêu cho đến cuồng dại, ghét thì ghét đến tím ruột tím gan… tất cả như quyện vào nhau để rồi chỉ còn một cách giải thích : đời là thế !

Còn cuộc sống là do con người. Con người làm nên cuộc sống. Nó tốt, nó xấu cũng do con người. Con người đang yêu thì cuộc sống đẹp. Con người bất mãn thì cuộc sống như đi vào ngõ cụt. Hơn nữa, lòng con người cũng dễ thay đổi theo cuộc sống. Chúng ta thường nghe nói: “Khi vui thì vỗ tay vào, còn khi túng quẫn thì nào có ai”. Cho nên các cụ thuở xưa thì bảo rằng : “Sông sâu biển rộng khôn dò, có ai lấy thước mà đo lòng người”. Vì thế, chuyện sáng tung hô, chiều đả đảo là chuyện thường tình, thời gian thay đổi thì con người cũng có thể thay đổi (!) .

Nói lên những chuyện trên đây, chúng ta cùng muốn nói lên nhân tình thế thái, nói lên lòng người đối với nhau như là gợi ý để cùng nhau suy nghĩ một chút về câu đầu và câu cuối trong đoạn Tin Mừng hôm nay. Cả hai câu cùng có một ý nghĩa. Đó là mệnh lệnh cuối cùng và cũng là lời trăn trối, lời di chúc của Đức Giêsu cho các môn đệ trước cuộc khổ nạn của Ngài: “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau”, “Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau”.

Mới ngày nào, dân chúng hồ hởi tung hô Đức Giêsu là vua và cùng Ngài tiến vào thành thánh Giêrusalem nhưng liền sau đó lại lên án xử tử Ngài. Phêrô mới thề sống thề chết với Ngài đã hèn nhát chối Thầy. Giuda, kẻ đã đồng bàn với Thầy đã tham lam phản bội bán Thầy với giá 30 đồng bạc. Còn với Tôma, dù biết bao lần chứng kiến những phép lạ, những dấu chỉ Đức Giêsu đã thực hiện, thêm vào đó là lời chứng của các bạn đồng nghiệp, vẫn khăng khăng: “nếu tôi không nhìn thấy, không đụng đến Ngài thì tôi không tin”, đúng là một kẻ cứng lòng! Và khi chứng kiến những thay đổi đó của dân riêng (Người Dothái), của những người được tuyển chọn (các môn đệ), chúng ta cũng chỉ có thể nói lên : đời là thế !

Đời là thế vì đời hay thay đổi. Còn Thiên Chúa thì không như thế, vì Thiên Chúa không thay đổi. Ngài luôn yêu thương, “Yêu thương cho đến nỗi bằng lòng chịu chết” cũng chỉ vì yêu. Biết nhân tình thế thái hay thay đổi, lòng người dễ đổi thay, chỉ với tình yêu mới làm cho con người trung thành, mới có sức cải tạo xã hội, nên Ngài đã truyền cho ác môn đệ: “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” và “Điều Thầy truyền dạy cho các con là các con hãy yêu thương nhau”.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết thay đổi cuộc sống, biết trung tín với Chúa và với anh em bằng một tình yêu mà chúng con đã lãnh nhận từ Chúa, để qua cách nói, cách cư xử chúng con luôn sống theo lệnh truyền yêu thương của Chúa. Amen.

 

Ngày 12/05/2007, thứ bảy sau CN V Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 15, 18-21)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Nếu thế gian ghét các con, các con hãy biết rằng họ đã ghét Thầy trước. Nếu các con thuộc về thế gian, thế gian sẽ yêu những gì thuộc về nó, nhưng các con không thuộc về thế gian, vì chính Thầy đã chọn các con khỏi thế gian, nên thế gian ghét các con. Các con hãy nhớ lại lời Thầy đã nói với cacù con: Tôi tớ không trọng hơn chủ. Nếu họ đã bắt Thầy, thì họ cũng sẽ bắt bớ các con; nếu họ tuân giữ lời Thầy, thì họ cũng tuân giữ lời các con. Tại vì danh Thầy mà họ sẽ làm cho các con tất cả những điều đó, bởi vì họ không biết Đấng đã sai Thầy”.

Ø       Suy Niệm

Lễ Nhớ Thánh Nêrêô, Akilêô,Và  Thánh Păngraxiô – Tử Đạo

Môn Đệ Không Hơn Thầy

Cái gì cũng có giá của nó. Theo Chúa cũng không ngoại lệ, như Đức Giêsu đã nói: “Nếu thế gian ghét các con, các con hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước”.

Đức Giêsu đã bị bao người khinh bỉ, hiểu lầm: bị nhà cầm quyền nghi ngờ, bị pharisiêu, kinh sư và tư tế chống đối, bị đồng hương coi thường, không tin… và cuối cùng là bị hành hạ và giết chết trên thập giá. Tất cả như chứng tỏ: thế gian đã ghét Đức Giêsu.

“Môn đệ không hơn Thầy”. Những người tin theo Đức Giêsu, các tông đồ, các môn đệ cũng đồng một số phận như thế. Nhìn vào thời Giáo hội sơ khai, ngay từ khi bắt đầu thi hành sứ mạng, Giáo hội đã gặp rất nhiều khó khăn và chống đối. Dù giảng đạo ở bất cứ nơi đâu, 12 tông đồ và các môn đệ khác cũng gặp những thử thách lớn lao: cấm đoán, bắt bớ, hành hạ bằng đủ mọi thứ cực hình… và cuối cùng hầu hết các ngài cũng chịu tử đạo như người Thầy yêu quí của mình.

Nối tiếp các Tông đồ, Giáo hội ngày nay cũng đang bị bách hại một cách gay gắt, tuy rằng sự bách hại ngày nay đã mang một hình thức khác, nhưng tựu chung, tất cả cũng là “Môn đệ không hơn Thầy”. Cụ thể là các thánh Nêrêô, Akilêô, và Păngraxiô là những điển hình cho Giáo hội bị bách hại.

Nhờ máu của các thánh tử đạo mà Giáo hội ngày càng lớn mạnh, và trải qua nhiều thế kỷ đã có hằng trăm ngàn người sẵn sàng hiến mạng sống mình để làm chứng cho đức tin. Và trong đau thương, thử thách họ đã cảm nghiệm sâu xa lời Đức Giêsu nói thật là một lời tiên tri : “Nếu thế gian đã ghét các con, các con hãy biết rằng họ đã ghét Thầy trước”. Ngày nay, khi đứng trước cái chết của các thánh tử đạo, nhiều người đã thắc mắc: “Nếu đạo Công Giáo là đạo chân chính, thì tại sao khi rao giảng đến đâu Giáo hội cũng đều bị bách hại?”

Đó là một câu hỏi không dễ trả lời, nhưng với Lời Chúa soi sáng: “Sự thật sẽ giải thoát các con”, chúng ta tin tưởng rằng: dù có khó khăn đến đâu, dù có chịu bao cực hình gian khổ, cuối cùng thì “Máu của các thánh Tử Đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu”.

Là người ai cũng sợ chết, lại đứng trước lời tiên báo của Đức Giêsu về những khó khăn, những thử thách, những gian khổ, những hiểm nguy… mà chúng ta có thể gặp khi tin theo Chúa, khiến chúng ta không khỏi lo lắng, băn khoăn, sợ hãi… nhưng chúng ta luôn tin tưởng vào tình yêu thương và quan phòng của Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn được bình an, để dù gặp những gian nan, thử thách, chúng con vẫn xác tín vào sự phù trợ nâng đỡ của Chúa. Amen.

 

 

 

Ngày 13/05/2007, Chúa Nhật VI Phục Sinh C

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 14,23-29)

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy. Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy. Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em. Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi. Anh em đã nghe Thầy bảo: `Thầy ra đi và đến cùng anh em'. Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy. Bây giờ, Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra, để khi xảy ra, anh em tin”.

Ø       Suy Niệm

Bình An Của Đấng Phục Sinh

Con người sống trong thế giới hôm nay thực sự có hưởng được bình an đích thực không? Một câu hỏi gai góc đặt ra như muốn giúp mỗi người tự suy sét mình có được bình an thật sự chưa. Nhưng bình an thật sự là bình an như thế nào? Để phân biệt được đâu là bình an thật sự, chúng ta cần biết được bình an mà chúng ta đang hưởng là của ai ban cho, và nó được đặt trên nền tảng nào.

Chúa Giêsu phân biệt hai thứ bình an hoàn toàn khác nhau: Bình an của Chúa ban tặng và bình an của thế gian.

Bình an của Chúa Giêsu Phục Sinh ban tặng là bình an của Đấng là sự sống, Đấng đã chiến thắng sự chết. Chúa Giêsu ban tặng bình an cho chúng ta vì Ngài yêu thương chúng ta. Đây mới là bình an thật sự vì được đặt trên nền tảng là tình yêu của Đấng Bất Tử. Do đó, bình an của Chúa Giêsu ban tặng là bình an không bị giới hạn vào thời gian và không gian, không bị phai tàn theo thăng trầm trong cuộc sống của chúng ta. Bình an đó có giá trị vượt thời gian, mang tính đời đời. Bình an đó có sức mạnh vô hình, có khả năng biến lành dữ ra lành, giúp vượt qua mọi đau khổ thử thách trong cuộc sống.

Ngược lại, bình an của thế gian ban tặng là bình an được đặt trên nền tảng là sức mạnh của quyền lực, sức mạnh của kinh tế, của tiến tài. Người ta chỉ có được bình an này khi dùng quyền, dùng sức mạnh, dùng kinh tế để loại bỏ đối thủ, những người có nguy cơ đe dọa cuộc sống của chúng ta. Vì được đặt trên nền tảng là những thứ chỉ có giá trị ở trần gian, nên thứ bình an của thế gian là bình an chóng qua, và nếu có tồn tại lâu chăng nữa thì cũng chỉ dừng lại trên trần gian này mà thôi.

Để cho bình an của Chúa Giêsu Phục Sinh được ở lại mãi trong cuộc đời của mỗi chúng ta, đòi hỏi chúng ta phải luôn hướng về Chúa, đặt mình dưới tình yêu của Chúa, ở lại trong tình yêu của Chúa. Nó một cách khác là phải để cho Đức Kitô phục sinh đồng hành và ở với chúng ta. Bài học từ buổi đầu sơ khai của đất trời chúng ta vẫn còn nhớ: Ađam và Eva đã không muốn đặt mình dưới quyền Thiên Chúa tình yêu, nghe lời xúi giục của satan, nên hậu quả là đời sống họ bị mất bình an, phải chịu nhiều đau khổ.

Để có được Chúa Phục Sinh ở cùng, để có được sự bình an của Chúa Phục Sinh, đòi hỏi trước hết là phải yêu mến Chúa. Dấu chỉ cụ thể cho thấy ta yêu Chúa là tuân giữ lời của Chúa. Hoa quả của việc tuân giữ lời Chúa là không những được Chúa Phục Sinh ở cùng, mà cả Ba Ngôi Thiên Chúa cùng ở và đồng hành với chúng ta trong suốt cuộc đời.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, bình an mà chúng con đi tìm bấy lâu nay là bình an của thế gian, chóng qua, nhanh phai tàn với thời gian. Chỉ có bình an của Chúa mới thỏa mãn được cơn khát an bình của chúng con. Xin cho chúng con biết siêng năng lắng nghe và thực hành lời Chúa, để Chúa mãi ở trong chúng con, để rồi chúng con sẽ cảm nếm được bình an thật sự của Chúa. Amen.

 

 

Ngày 14/05/2007, thứ hai sau CN VI Phục Sinh 

Lễ Kính Thánh Mát – Thi – A, Tông Đồ

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 15, 9-17)

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn. Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết. Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau”.

Ø       Suy Niệm

Chúng ta không được biết nhiều về cuộc đời của thánh Mathia tông đồ, chỉ biết ngài qua cuộc tuyển chọn để nên tông đồ của Chúa thay thế Giuđa được sách Công vụ Tông đồ (1, 15-25) tường thuật mà thôi. Theo lời của thánh Phêrô, thì thánh Mathia đã là môn đệ của Chúa từ lâu. Thánh Phêrô nói: “Vậy, trong những người cùng chúng ta theo Chúa Giêsu, kể từ ngày Gioan làm phép rửa cho đến ngày Ngài được rước lên khỏi chúng ta, cần phải có một người cùng chúng ta làm chứng về sự sống lại của Người” (Cv 1, 21-22).

Tuy sách Thánh cho biết, người đưa ra ý kiến là thánh Phêrô, nhưng thánh nhân không đơn phương quyết định ai sẽ là người thay thế Giuđa. Thánh nhân đưa ý kiến, nhưng tông đồ đoàn và các môn đệ của Chúa cùng nhau tuyển chọn bằng cách đưa ra người xứng đáng là Giuse và Mathia, để mọi người quyết định bằng rút thăm sau khi đã cầu nguyện. “Lạy Chúa, Chúa biết lòng mọi người, xin tỏ ra trong hai người này Chúa chọn ai để được dự phần chức vụ vào nhiệm vụ tông đồ mà Giuđa đã lìa bỏ”. Chính Thiên Chúa, chứ không phải con người, đã tuyển chọn Mathia, khi những lá thăm của tông đồ đoàn và các môn đệ dồn cho người tên là Mathia. Từ đó, Mathia là tông đồ của Chúa, thay thế Giuđa. Tông đồ đoàn trở lại con số mười hai như ý Chúa muốn.

Việc tôn kính thánh Mathia tông đồ chỉ xuất hiện tại Rôma vào thế kỷ thứ IX. Lễ kính ngài được cử hành trong mùa Phục Sinh, phù hợp với thời gian mà ngày xưa, tông đồ đoàn đã cầu nguyện để tuyển chọn ngài.

Theo một truyền thuyết có từ lâu trong Hội Thánh, thánh Mathia tông đồ đã đi truyền giáo tại Êtiôpi và lãnh phúc tử đạo tại đây. Theo lệnh của hoàng hậu Hêlêna, di hài của thánh Mathia được tôn kính trong một đan viện mang tên của ngài tại Tria. Đan viện này là nơi hành hương nổi tiếng thời Trung cổ.

Mừng lễ thánh Mathia tông đồ, nhắc ta nhớ đến chính ơn gọi làm Kitô hữu của mình: Giống như thánh Mathia, ơn gọi làm Kitô hữu và làm tông đồ của chúng ta, theo từng vai trò của mỗi người, dù phát xuất trong Hội Thánh, vẫn do chính Thiên Chúa, bắt nguồn nơi Thiên Chúa. Bởi chỉ có một mình Người mới là nguồn gốc của mọi ơn gọi. chính Người mời gọi và tuyển chọn chúng ta. Chúa Giêsu đã từng nói: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em, để anh em ra đi, sinh được hoa trái và hoa trái của anh em tồn tại”.

Lạy Chúa, xin cho mỗi chúng con hôm nay, cũng được tiếp bước các thánh tông đồ và các môn đệ của Chúa xưa, mà làm chứng cho Chúa bằng cả cuộc đời chúng con. Amen.

 

 

Ngày 15/0/2007, thứ ba sau CN VI Phục Sinh

Ø       Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 16, 5-11)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Bây giờ, Thầy về với Đấng đã sai Thầy, mà các con không ai hỏi Thầy: Thầy đi đâu? Nhưng vì Thầy đã nói với các con điều đó, nên lòng các con tràn ngập u sầu. thầy đi thì ích lợi cho các con, vì nếu Thầy không đi, thì Đấng Phù Trợ sẽ không đến với các con. Khi Người đến, Người sẽ tố cáo thế gian về tội lỗi, về sự công chính và về án phạt. Về tội lỗi: vì họ đã không tin vào Thầy. Về sự công chính: vì Thầy về cùng Cha, và các con sẽ không còn thấy Thầy. Về án phạt: vì thủ lãnh thế gian này đã bị xét xử”.

Ø       Suy Niệm

“Thầy nói sự thật cho các con: Thầy đi thì có lợi cho các con. Vì nếu Thầy không đi, thì Đấng Bào Chữa sẽ không đến với các con; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Ngài đến với các con”.

Ta phải hiểu làm sao về những lời này? Chúng ta cùng nhau tìm hiểu cách vắn gọn: Thời gian Chúa Giêsu hiện diện ở trần gian, được coi là sự hiện diện hữu hình của Thiên Chúa. Nhưng sự hiện diện hữu hình này không phải là sự hiện diện hoàn hảo nhất, tròn đầy nhất. Thân xác và nhân tính của Chúa Giêsu chỉ có thể hiện diện trong một thời gian và bị giới hạn trong một không gian. Nó như một bức màn che chắn, khiến loài người khó nhận ra cái toàn hảo, cái tuyệt đối của một Thiên Chúa toàn năng nơi con người Giêsu ấy. Chính vì thế, trong một giới hạn của kiếp người, Chúa Giêsu không thể làm tất cả những gì Người muốn. Cần phải có một sự hiện diện khác, một sự hiện diện toàn thể, sự hiện diện bao trùm và tròn đầy. Đó là sự hiện diện thuộc về Thần Khí: Sự hiện diện của Chúa Thánh Thần thay cho sự hiện diện hữu hình của Chúa Giêsu nơi trần gian. Sự hiện diện linh thánh ấy chỉ có thể thực hiện sau khi xác phàm qua đi mà thôi. Chính vì thế, Chúa Giêsu khẳng định: “Thầy ra đi thì có lợi cho các con. Vì nếu Thầy không ra đi, thì Đấng bào Chữa sẽ không đến”. Mà nếu Chúa Thánh Thần không đến, sẽ không bao giờ thực hiện được sự hiện diện toàn thể nhưng vô hình ấy.

Chúa Thánh Thần mà Chúa Giêsu gọi là “Đấng Bào Chữa” chính là sự hiện diện mới của Chúa Giêsu. Từ nay, Chúa Giêsu hiện diện giữa lòng thế giới bằng chính Thánh Thần của Người. Chúa Thánh Thần không bị ảnh hưởng bởi một giới hạn nào. Chúa Thánh Thần sẽ thánh hóa chúng ta. Người làm cho chúng ta yêu mến, lắng nghe và sống lời của Chúa Giêsu.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin đổ tràn ơn thánh vào tâm hồn của từng người Kitô hữu chúng con, để chúng con cũng biết thánh hóa mọi môi trường chúng con sống và hiện diện. Xin cho chúng con biết sống vì tình yêu của Thiên Chúa, để chúng con biết hy sinh vì cuộc sống của mọi anh em xung quanh chúng con. Amen.

 

 

Ngày 16/05/2007, thứ tư sau CN VI Phục Sinh

Ø        Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 16, 12-15