Trích tài liệu Giờ Kinh Gia Đình Với Lời Chúa

của giáo phận Phú Cường

Lm. VŨ XUÂN HẠNH chuyển đăng

 

 

Ngày 03/12/2006, Chúa Nhật I Mùa Vọng. C

TỈNH THỨC ĐỢI CHỜ ƠN CỨU ĐỘ

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 21,25-28.34-36)

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: "Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc." "Vậy anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em, vì Ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất. Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người."

Suy Niệm

Mùa Vọng đến. Một năm mới của Phụng Vụ khởi đầu. Mùa gọi mời chúng ta ý thức về ý nghĩa cuộc sống của mỗi người. Ta sống ở đời để làm gì? Mùa Vọng mời gọi chúng ta sống tâm tình: Chờ Đợi. Ta trông đợi điều gì nơi trần gian? Ta mong gì khi sống trên trần thế?

Từ em bé cho đến người già, mỗi người chúng ta, ai cũng đã từng sống tâm tình Chờ Đợi. Em bé chờ đợi mẹ đi chợ về. Người già mong chờ con ghé thăm. Có những chờ mong, khi được, lại biến thành cay đắng. Có những ngày đợi, khi được, lại trở thành xót xa. Nhưng mẫu số chung cho ai sống đợi chờ là: lòng trí hướng về đối tượng mình mong, để đọc được tín hiệu đối tượng mình chờ đang tới. Sống trong tư thế sẵn sàng, chuẩn bị, để giây phút gặp được điều ta chờ, là phút giây hạnh ngộ tràn về.

Mùa vọng trong phụng vụ, cũng gọi mời ta hãy hướng lòng trí về Đấng Yêu ta, là nguồn cội hạnh phúc cho con người. Sống tâm tình Chờ đợi, là tỉnh thức để nhận ra những tín hiệu Đấng Yêu ta đang tới, qua những điềm lạ của vũ trụ hữu hình. Một biến cố bất ngờ xảy ra. Một tai ương bất ưng đổ xuống. Một công trình tan vỡ không ngờ! Trong những biến cố đó, người trông đợi Chúa, thay vì nao núng, Chúa gọi hãy vui lên. Vì “anh em sắp được cứu chuộc”. Mọi sự trên trần gian, dẫu tốt đẹp, nhưng sẽ phải biến tan, nhường chỗ cho một thế giới vĩnh hằng xuất hiện. Điều quan trọng là chúng ta sống trong tư thế sẵn sàng để gặp Đấng Yêu ta.

Cố bám vào những giá trị mau qua đời này, lòng “nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời”, là mối đe dọa làm ta mất cơ hội gặp Đấng Yêu ta. Lời Chúa mời ta hãy sống tích cực trong Mùa Vọng, cân nhắc và lựa chọn cách quyết liệt giữa giá trị mau qua và Vĩnh Cửu, không nhượng bộ, không thỏa hiệp. Muốn được như vậy, Cầu Nguyện là chính sức mạnh cho ta chiến thắng ma lực trần gian.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con bắt đầu sống một Mùa Vọng mới. Xin giúp mỗi người chúng con biết chuẩn bị cho ngày được gặp Chúa, bằng cuộc sống siêng năng Cầu Nguyện. Để nhờ Ơn Chúa, chúng con luôn hiên ngang trước những đe dọa của quyền lực ác thần. Amen.

     

     

Ngày 08/12/2006, thứ sáu sau Chúa Nhật I Mùa Vọng

Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội – Lễ trọng

NHƯ ĐỨC MẸ, CAN ĐẢM LÊN

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 1, 26-38)

Khi ấy, Bà Êlisabét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Maria. Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà." Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói: "Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận." Bà Maria thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!" Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được." Bấy giờ bà Maria nói: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cư làm cho tôi như lời sứ thần nói." Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

Suy Niệm

“Này Bà Sẽ Thụ Thai, Sinh hạ Mot Con Trai”

Đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, Chúa ban cho Mẹ Maria, để Mẹ xứng đáng là cung lòng cưu mang Ngôi Hai Thiên Chúa. Mẹ là Mẹ Chúa Cứu Thế, vì thế, nếu Mẹ mắc tội Nguyên Tổ như mọi người, thì làm sao cưu mang được Đấng là Nguồn Cội sự thánh thiện?

Bởi vậy khi được giải thoát khỏi tội tổ truyền, cung lòng của Mẹ trở thành cung điện cao sang, xứng đáng Con Thiên Chúa ngự vào để trở nên người trần thế như chúng ta.

Tín điều này, được Đức Giáo Hoàng Piô IX long trọng tuyên bố cho toàn thể Hội Thánh vào ngày 08.12.1854. Bốn  năm sau, năm 1858, tại Lộ Đức, Đức Mẹ hiện ra, công khai xác nhận với thánh nữ Bê-na-đe-ta: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội”.

Để Mẹ chu toàn ơn gọi “làm Mẹ Chúa Cứu Thế”, Thiên Chúa dự liệu cho Mẹ đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội. Đó là sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa dành cho Mẹ, và cho hết thảy mọi người chúng ta.

Khi chúng ta bước vào một bậc sống nào đó, đồng thời nhận lãnh một trách nhiệm tương ứng với bậc sống của mình, chúng ta lo sợ, hoang mang tự hỏi: không biết mình có chu toàn được không! Suy niệm về ơn Vô Nhiễm Tội của Mẹ, giúp chúng ta an lòng, tin tưởng vào sự quan phòng của Chúa. Thiên Chúa không phải như một người mẹ đem con bỏ chợ, để sống chết mặc nó. Nhưng Ngài hằng chăm sóc, dõi theo ta từng phút giây. Lo sợ, hoang mang khi nhận lãnh một trách nhiệm, là phản ứng của người biết ý thức phận yếu đuối của mình, để xin Chúa thêm ơn, giúp sức và biết tựa vào Chúa. Đó là phản ứng khôn ngoan. Nhưng lo sợ để từ chối trách nhiệm với lối xóm, cộng đoàn, lại là một phản ứng tiêu cực, hèn nhát, ích kỷ.

Được đặc ân cao trọng của Chúa, Mẹ càng trở thành một cộng tác viên đắc lực cho chương trình cứu chuộc của Chúa. Mẹ luôn sẵn sàng “Xin Vâng” trước mọi đề nghị của Chúa. Moi biến cố thuận nghịch trong cuộc đời, Mẹ luôn biết “ghi nhớ và suy niệm trong lòng”, để biết sẵn sàng thưa: “xin Chúa thực hiện nơi tôi theo như lời sứ thần nói”. Nghĩa là Mẹ luôn để Chúa được toàn quyền dùng Mẹ theo Ý Chúa.

Lạy Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cùng Chúa cho chúng con thắng vượt mọi mưu chước ma quỉ, thế gian, xác thịt cám dỗ. Xin giúp chúng con theo gương Mẹ, trong mọi nơi, mọi lúc, biết sẵn lòng thưa: “Xin Chúa cứ thực hiện những gì Chúa muốn nơi con”. Amen. 

    

 

Ngày 10/12/2006, Chúa Nhật II Mùa Vọng C

CẢI TẠO SA MẠC TÂM HỒN

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 3, 1-6)

Năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Tibêriô, thời Phongxiô Philatô làm tổng trấn miền Giuđê, Hêrôđê làm tiểu vương miền Galilê, người em là Philípphê làm tiểu vương miền Iturê và Trakhônít, Lyxania làm tiểu vương miền Abilên, Khanan và Caipha làm thượng tế, có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Dacaria là ông Gioan trong hoang địa. Ông liền đi khắp vùng ven sông Giođan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội, như có lời chép trong sách ngôn sứ Isaia rằng: Có tiếng người hô trong hoang địa: hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.

 Suy Niệm

Để sa mạc thành nơi có sự sống, điều kiện cần thiết trước hết là nước, bên cạnh đó là sự chăm sóc, lao công vất vả của con người để cải tạo sa mạc. Bởi không có nước, không có sự khai phá và chăm sóc của con người, đời đời sa mạc vẫn chỉ là sa mạc khô cằn.

Tâm hồn con người ví như sa mạc. Sa mạc tâm hồn cũng cần những điều kiện. Nếu so sánh điều kiện nước như là ơn Chúa; điều kiện cải tạo sa mạc và sự ra công chăm sóc tưới bón của con người là nỗ lực sống thánh thiện, là sự cố gắng vun bồi cho đời Kitô hữu của mình bằng cộng tác với ơn Chúa, bằng vâng phục thánh ý Chúa và yêu thương con người, đó chính là lúc ta hóa sa mạc lòng mình thành nơi tươi tốt, nơi mang sức sống của hoa trái thánh thiện, của ơn Chúa.

Hôm nay ta nghe tiếng Chúa, tiếng thẳm sâu trong sa mạc lòng ta thúc giục: “Hãy dọn đường cho Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi phải bạt cho thấp, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho bằng”.

Bằng lối nói đầy gợi ảnh: thung lũng; núi đồi; đường quanh co; lối đi lồi lõm…, tiếng kêu trong sa mạc lòng ta hối thúc ta ăn năn sám hối: Hãy cải đổi nếp sống, nếp nghĩ… Nếu cần, cải đổi toàn diện, cải đổi cả não trạng của mình. Vì tận trong tâm hồn mỗi người, có ai lường hết bao nhiêu lối suy nghĩ quanh co, sự tính toán lệch lạc. Tận trong tâm hồn có bao nhiêu hố sâu tăm tối, vì thiếu ánh sáng yêu thương. Chính nơi ấy, có bao nhiêu núi đồi của sự ngạo ngễ, của tự kiêu, tự mãn… Vì thế, Ta đừng tiếp tục sống như xưa nữa, nhưng hãy uốn nắn những quanh co, lấp bằng những lồi lõm của tội lỗi, của thói hư tật xấu, của những tham vọng và dục vọng thiếu ngay chính… Bạn và tôi hãy sám hối. Vì sám hối là dọn con đường của lòng mình chờ Chúa đến.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con ơn hoán cải, để chúng con mạnh dạn đi đến cùng trong việc sám hối tội lỗi. Nếu cần, xin cho chúng con can đảm chấp nhận cắt tỉa đớn đau những thói hư tật xấu của mình. Amen.

    

 

Ngày 12/12/2006, thứ ba sau CN II MV

ĐỨC MẸ GUADALUPE – NƯỚC MÊHYCÔ

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 18, 12-14)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các con nghĩ sao? Nếu ai có một trăm con chiên mà lạc mất một con, thì người đó lại không bỏ chín mươi chín con trên núi, để đi tìm con chiên lạc sao? Nếu người đó tìm được, thì quả thật Thầy bảo chúng con, người đó sẽ vui mừng vì con chiên đó hơn chín mươi chín con chiên không thất lạc. Cũng vậy, Cha chúng con ở trên trời không muốn để một trong những kẻ bé mọn này phải hư đi”.

Suy Niệm

Dạo tháng 5 năm 1990, Đức Gioan Phaolô II đã tôn phong Chân Phước cho một người thổ dân Mêhicô tên là Juan Diego, người được Đức mẹ hiện ra tại Guadalupe...

Juan Diego là một thổ dân nghèo sống với người cậu tại làng Telpetlao thuộc ngoại ô thủ đô Mêhicô vào khoảng năm 1531. Một buổi sáng thứ bảy nọ, trên đường đi đến Thánh Đường để dự Thánh Lễ, Juan Diego bỗng nghe có tiếng hát du dương từ trên một ngọn đồi. Anh tiến lại gần và thấy một thiếu nữ xinh đẹp tự xưng là Trinh Nữ Maria. Đức Mẹ nói với người thổ dân nghèo như sau: "Ta muốn có một đền thờ được dựng lên tại đây để Ta dùng tình thương, niềm cảm thông, sự giúp đỡ và bảo vệ của Ta mà bày tỏ Thiên Chúa cho loài người. Con hãy đi gặp vị Giám Mục thành Mêhicô và nói với Ngài rằng: Ta sai con đến gặp Ngài để bày tỏ ý muốn của Ta. Con hãy tin tưởng rằng Ta sẽ biết ơn con và ân thưởng cho con. Ta sẽ làm cho con được giàu có về nhân đức và tôn vinh con".

Juan đến gặp vị Giám Mục, nhưng anh ta buồn bã trở về làng, vì Giám Mục không tin lời anh. Đức mẹ lại hiện ra cho anh một lần nữa và cũng sai anh mang một sứ điệp như thế đến cho vị Giám Mục. Nhưng lần thứ hai, dù cho anh có van nài khóc lóc, vị Giám Mục vẫn một mực không tin. Vị Giám Mục nói với người thổ dân nghèo rằng: "Nếu Đức Mẹ thực sự muốn điều đó thì xin Ngài hãy bày tỏ một dấu lạ". Và ngài bí mật cho người theo dõi Juan. Lần thứ ba, Đức Mẹ lại hiện ra cho Juan Diego, nhưng Ngài bảo anh: "Hãy trở lại vào ngày mai và Ngài sẽ cho vị Giám Mục một dấu lạ".

Ngày hôm sau, Juan Diego không thể đến điểm hẹn với Đức Mẹ được vì anh còn phải đi tìm thầy thuốc cho người cậu đang bệnh nặng. Nhưng khi đi qua ngọn đồi, Juan vẫn được Đức Mẹ hiện ra. Ngài bảo đảm với anh rằng người cậu của anh sẽ được lành bệnh. Thay vì để Juan tiếp tục lên đường đi Mêhicô để tìm thầy thuốc, Đức Mẹ đã sai anh đến nơi Ngài hiện ra cho anh lần đầu tiên. Tại đây, Ngài cho anh những cánh hoa thật đẹp và dấu lạ để mang đến cho vị Giám Mục...

Lúc bấy giờ đang là mùa đông và ngọn đồi nơi Juan được Đức Mẹ hiện ra thường chỉ có những cây cỏ của sa mạc như các loại gai và xương rồng. Thế nhưng, hôm đó, hoa bỗng nở rộ trong sa mạc. Juan hái lấy dâng cho Đức Mẹ, Đức Mẹ sờ đến những cánh hoa và bảo anh lấy chiếc áo choàng để đựng hoa mang đến cho vị Giám Mục...

Khi đến tòa Giám mục, Juan vừa mở chiếc áo choàng ra để lấy hoa cho vị Giám Mục xem thì lạ lùng thay, hình ảnh Đức Mẹ đã được in trên chiếc áo của anh... Tin ở lời Đức Mẹ, vị Giám Mục đã tức tốc lên đường đến làng Đức Mẹ đã hiện ra với Juan. Ngài nhận thấy người cậu của anh đã được lành bệnh thật. Các cuộc lành bệnh lạ lùng lại tiếp tục diễn ra từ đó... Một đền thánh dâng kính Đức Mẹ đã được xây cất để rồi cuối cùng trở thành Vương Cung Thánh Đường Guadalupe như chúng ta vẫn quen gọi.

Trong Thánh Lễ tôn phong Chân Phước cho Juan Diego tại đền thánh Guadalupe ngay buổi chiều chủ nhật khi vừa đến Mêhicô, Đức Gioan Phaolô II đã kêu gọi người dân Mêhicô hâm nóng lại tinh thần truyền giáo. Truyền giáo theo đúng nghĩa là được sai đi để mang sứ điệp đến cho người khác. Cũng giống như tất cả những ai được diễm phúc gặp Đức Mẹ, chân phước Juan Diego đã được sai đi... Phải vất vả nhiều lần và dĩ nhiên, với sự giúp đỡ của Đức mẹ, Juan Diego mới có thể thuyết phục được vị Giám Mục...

Juan Diego được Đức Thánh Cha phong thánh ngày 31.7.2002. Ki-tô hữu, tự bản chất là người được sai đi và sứ điệp của họ chính là sứ điệp của yêu thương... Cùng với những cánh hoa của lòng ăn năn sám hối trong mùa Vọng, tiến dâng lên Chúa, để chuẩn bị dọn đường tâm hồn chờ Chúa đến, chúng ta không quên nguyện xin Đức Mẹ giúp chúng ta sống suốt mùa Vọng thánh thiện và xứng đáng như Đức Mẹ để Chúa được lớn lên, lớn lên mãi trong lòng ta.

Lạy Mẹ Maria, xin đừng từ khước chúng con, nhưng hãy nhận chúng con làm tông đồ của Mẹ, như Mẹ đã từng chọn thánh Juan Diego, chàng thanh niên thổ dân nghèo năm xưa, để chúng con cũng sẽ can đảm làm điều mà thánh Juan Diego đã làm, đó là mang sứ điệp tình yêu của Chúa vào giữa lòng thế giới. Amen.

   

     

Ngày 13/12/2006, thứ tư sau CN II Mùa Vọng

Lễ nhớ Thánh Lucia, Trinh Nữ Tử Đạo

ĐỨC KHIẾT TỊNH, CÁI QUÝ GIÁ CỦA ĐỜI NGƯỜI

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Lc 11, 28-30)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: “Hãy đến với Ta tất cả, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi”. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng”.

Suy Niệm

Trong hang toại đạo tại Syracusa, có mộ của thánh Lucia Trinh nữ tử đạo. Nhưng đời sống và cuộc tử đạo của ngài không được sử sách ghi lại rõ rệt. Một truyền thuyết cho biết, thánh Lucia là con của một gia đình quý tộc. Cha mất sớm, ngài được mẹ nuôi dưỡng ân cần chu đáo. Bà đã tập luyện cho con một đời sống đạo hạnh, lòng yêu mến Chúa cách hết sức gương mẫu, nhất là bà luôn dạy con biết giữ mình trinh khiết…

Thời gian trôi qua, thánh nữ càng lớn lên càng mặn mà duyên sắc. Một thanh niên giàu có quý phái trong vùng, mê nét đẹp của Lucia, nên ngỏ lời cầu hôn. Nhưng anh ta bị Lucia từ chối, lấy cớ mẹ đau phải lo chữa trị cho mẹ.

Thời gian mà thánh nữ Lucia đang sống, cũng là thời gian đầu của Hội Thánh, thời gian mà Hội Thánh Chúa Kitô chịu thử thách dữ dội bởi nhiều cuộc bắt đạo tàn nhẫn của các hoàng đế Lamã.

Chính vì thế, sau khi bị từ chối hôn nhân, người thanh niên toan cưới Lucia bị chạm tự ái. Anh ta cho rằng, Lucia coi thường mình, nên thay vì tiếp tục yêu thương, anh ta đem lòng thù hận.  Người thanh niên đã tố cáo thánh nữ là người Kitô hữu. 

Nhận được sự tố cáo, nhà nước của hoàng đế Đôlêsien đã cấp tốc ra lệnh bắt giam cô gái xinh đẹp Lucia. Qua tất cả những lần bị tra khảo, bị ép buộc phải tế thần, bị đòn vọt, gông cùm và đủ mọi thứ hù dọa, cô thiếu nữ chân yếu tay mềm vẫn không hề bị lay chuyển. Ý chí sắt đá, đức tin kiên cường và lòng yêu mến Chúa dữ dội đã làm cho Lucia càng kiên cường, càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Cuối cùng, không thể làm gì hơn để lay chuyển tâm hồn một thiếu nữ ngoan cường ấy, người ta đã phải dùng lửa thiêu đốt thánh nữ. Chưa lấy làm đủ, sự tàn nhẫn của lòng người đã đâm thẳng một mũi gươm diễm phúc vào cổ thánh nữ. Như vậy, cùng với cái chết thân xác, linh hồn của người con gái trẻ thánh thiện đã về trời cao, hưởng nhan thánh Chúa.

Nơi cái chết của thánh Lucia, một cái chết nhằm bảo vệ đến cùng lòng yêu mến đối với Thiên Chúa, ta học được cái quý giá của lòng trinh tiết, của đức khiết tịnh và tinh thần tự chủ. Dâng hiến Thiên Chúa tình yêu khiết trinh của mình, thánh nữ Lucia dạy ta, không có gì có thể lớn hơn Thiên Chúa. Vì thế, sống giữa xã hội mà người thời  đại không còn đề cao sự trinh tiết như là cái quý giá của đời người, là Kitô hữu, chúng ta được mời gọi hãy lội ngược dòng. Nhất là các bạn trẻ, hãy kiên tâm đến cùng để sống cho đức khiết tịnh vì tình yêu Thiên Chúa, vì cái đẹp và giá trị lớn lao của một tâm hồn thanh sạch vẹn toàn.

Ngoài ra, chúng ta còn noi gương thánh nữ Lucia Trinh nữ tử đạo, hằng ngày hết lòng trông cậy vào quyền năng vô cùng của Chúa, để nhờ ơn Chúa, chúng ta lướt thắng mọi cám dỗ, mọi gian nan thử thách ở đời.

Lạy Chúa, thánh Nữ Lucia để lại cho chúng con bài học kiên vững của đức tin và lòng yêu mến Chúa. Xin cho chúng con biết noi gương thánh nữ, suốt cả cuộc đời trung thành với đức tin mà chúng con đã lãnh nhận, dù phải trả giá đến mức độ nào đi nữa. Amen.

    

 

Ngày 14/12/2006, thứ năm sau CN II Mùa Vọng

Thánh Gioan thánh giá, linh mục, lễ nhớ

YÊU THÁNH GIÁ NHƯ THÁNH GIOAN

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 11, 11-15)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: “Thật Ta bảo các ngươi, trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả, nhưng người nhỏ nhất trong nước trời lại cao trọng hơn ông. Từ thời Gioan Tẩy Giả đến giờ, nước trời phải dùng sức mạnh mà chiếm lấy, và những kẻ mạnh mẽ can đảm mới chiếm được. Tất cả các tiên tri và lề luật đã tuyên sấm cho đến Gioan và nếu các ngươi muốn hiểu, thì chính Gioan là Êlia, kẻ phải đến. Ai có tai thì hãy nghe”.

Suy Niệm

Gioan mồ côi cha từ thuở nhỏ. Mẹ ngài phải tần tảo làm thuê, làm mướn nuôi ngài ăn học. Vì hoàn cảnh nghèo khó, thánh nhân rất thông cảm với người nghèo, và luôn muốn sống một đời sống nghèo khó hết sức…

Lớn lên, trong khi đang học tại trường dòng Tên, Ngài cảm thấy muốn dâng mình cho Chúa, và ước ao được gia nhập dòng khổ tu. Năm 1567, thánh Gioan được thụ phong linh mục. Ngài cũng là người bạn thân thiết với thánh nữ Têrêsa Avila, vị bề trên cải tổ dòng Kín Cátminh. Thánh nữ mời thánh Gioan giúp mình trong việc cải tổ dòng Kín. Thánh Gioan đã vui vẻ nhận lời.

Thế là thánh Gioan bắt đầu một cuộc sống mới đầy gian lao đau khổ do cuộc canh tân nhà dòng đem lại. Thánh Gioan chủ trương đưa nhà dòng về lại với đời sống khổ tu nguyên thủy, nhưng một số đông tu sĩ chống lại ngài. Họ bắt giam ngài trong phòng tối và bỏ đói ngài. Ngoài ra, thánh Gioan đã phải chịu rất nhiều những đau khổ, sĩ nhục khác trong tinh thần lẫn thể xác. Nhưng càng đau khổ bao nhiêu, nhân đức và đời sống cầu nguyện của thánh Gioan càng triển nở bấy nhiêu. Chính vì sự chấp nhận mọi đau khổ để được nên giống Chúa Kitô, ngài đã tự gọi tên mình là “Gioan Thánh Giá”. Dù vậy, cuối cùng thánh nhân cũng đã thành công trong việc trợ giúp thánh nữ Têrêsa đưa nhà dòng Cátminh về lại linh đạo khổ tu ban đầu, đúng với ý nghĩa của một nhà dòng chiêm niệm, hy sinh và liên lỷ cầu nguyện.

Thánh Gioan Thánh Giá qua đời ngày 14.12.1591. Năm 1726, ngài được tôn phong hiển thánh. Đức Thánh Cha Piô XI tặng ngài danh hiệu Tiến sĩ Hội Thánh năm 1926.

Học lấy tấm gương và cuộc đời của thánh Gioan Thánh Giá, chúng ta hết lòng mến mộ thánh giá Chúa Kitô. Và vì để trở nên giống Chúa Kitô thánh giá, chúng ta kiên tâm đón nhận mọi thử thách trong cuộc đời mình. Chúng ta nguyện xin đi theo con đường thánh giá mà thánh Gioan đã đi để nên tôi trung của Chúa như chính thánh Gioan.

Lạy Chúa, Chúa biết chúng con luôn muốn trung thành theo Chúa suốt cuộc đời chúng con. Xin củng cố lòng tin của chúng con mỗi ngày, để chúng con sắc son yêu mến Chúa đến cùng, dù phải vượt qua nhiều thử thách. Amen. 

     

 

Ngày 17/12/2006, Chúa Nhật III Mùa Vọng năm C

TIN MỪNG CỨU THẾ

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 3, 10-18)

Bấy giờ, dân chúng lũ lượt đến xin ông Gioan làm phép rửa, họ hỏi ông rằng: "Chúng tôi phải làm gì đây?" Ông trả lời: "Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy." Cũng có những người thu thuế đến chịu phép rửa. Họ hỏi ông: "Thưa thầy, chúng tôi phải làm gì?" Ông bảo họ: "Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh." Binh lính cũng hỏi ông: "Còn anh em chúng tôi thì phải làm gì?" Ông bảo họ: "Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình." Hồi đó, dân đang trông ngóng, và trong thâm tâm, ai nấy đều tự hỏi: biết đâu ông Gioan lại chẳng là Đấng Mêsia! Ông Gioan trả lời mọi người rằng: "Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa. Tay Người cầm nia rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi." Ngoài ra, ông còn khuyên dân nhiều điều khác nữa, mà loan báo Tin Mừng cho họ.

Suy Niệm

Gioan Tẩy Giả đã chỉ cho mỗi hạng người biết mình có tội và phải làm gì để sửa đổi hầu đón nhận Đấng Cứu Thế.

Mỗi người trong phận vụ của mình có thể lập công cũng như gây thêm tội nếu không hoàn thành công việc với tinh thần trách nhiệm.

Bất cứ ai cũng phải thi hành đức bác ái, chia cơm sẻ áo cho người đói rách.

Người thu thuế khi thu tiền đúng mức đó là công trạng, khi tham nhũng đòi hỏi quá mức ấn định thì đó là tội lỗi.

Người quân nhân có súng ống gươm giáo để bảo vệ đất nước, giữ gìn an ninh, đó là công trạng. Còn khi lợi dụng sức mạnh của súng ống, gươm giáo để hà hiếp, để tống tiền dân lành thì đó là tội lỗi.

Công, tội đều ở cách hành động của mình mà ra cả.

Nhưng nên nhớ, thánh Gioan Tẩy Giả không phải là nhà cải cách xã hội, hay nói cách khác, ông không chỉ bảo những nguyên tắc luân lý để con người tạo lập một xã hội tốt đẹp ở đời này. Điều đó có thể đến sau, nhưng ý định đầu tiên và nòng cốt của thánh Gioan Tẩy Giả là “loan báo Tin Mừng cho họ”. Và Tin Mừng đây là gì? Thưa là Đấng Cứu Thế muôn dân mong đợi từ ngàn xưa giờ đã xuất hiện.

Nhưng Đấng đó như thế nào? “Đấng đó quyền phép hơn tôi”, Ngài sẽ rửa anh em trong Thánh Thần và lửa. Phép rửa của Gioan chỉ để biểu lộ lòng sám hối, còn bí tích Rửa Tội Chúa Giêsu thiết lập là sức mạnh của Chúa Thánh Thần, có sức thanh tẩy tội nguyên tổ nói riêng và tội loài người nói chung, giao hòa con người với Thiên Chúa, ban cho họ được làm nghĩa tử của Ngài và thu nhận họ vào Hội Thánh Chúa. Tội để lại những hậu quả khốc liệt, chỉ có giá máu của Chúa Giêsu mới rửa sạch mà thôi. Từ lúc ông bà nguyên tổ phạm tội đến thời Chúa Giêsu, con người vẫn chịu nô lệ tội lỗi và ma quỉ, nhưng từ lúc Chúa Kitô đến, qua bí tích Rửa Tội, Chúa đã thực sự giải thoát con người khỏi ách tội lỗi và ma quỷ.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết nghe lời thánh Gioan Tẩy Giả, sống đúng trách nhiệm bổn phận của chúng con mỗi ngày hầu thánh hóa tâm hồn dọn đường đón Chúa vào lòng để chúng con được hân hoan đón nhận ơn cứu độ Ngài mang đến. Amen.

   

 

Ngày 24/12/2006, Chúa Nhật IV Mùa Vọng C

HAI BÀO THAI SỰ DIỆU KỲ CỦA CỦA ƠN CHÚA

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 1, 39-45)

Hồi ấy, bà Maria vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Êlisabét. Bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em."

Suy Niệm

Cuộc gặp gỡ giữa Mẹ Maria và bà thánh Elisabeth đã chỉ cho thấy dấu chỉ của một niềm hy vọng lớn lao vào lời nói của Sứ thần Thiên Chúa “đối với Thiên Chúa, không gì mà không làm được”(Lc 1,36), vì nơi đây, hai người phụ nữ, một người quá già và một người còn rất trẻ đang mang thai trong niềm hy vọng. Bà Elisabeth quá già để có thể mang thai, con Đức Maria thì vẫn còn là một thiếu nữ trinh trong chưa “biết đến người nam”, thế mà cả hai đang mang thai. Chuyện gì đã xảy ra?

Chuyện xảy ra do bởi Thánh ý của Thiên Chúa và cả hai đang thực hiện một cuộc hành trình của niềm hy vọng vào Thánh Ý Chúa.

Đức Maria gặp bà Elisabeth để được củng cố niềm tin và can đảm tiếp tục con đường cộng tác với Thiên Chúa. Vì chính Mẹ đã nhìn thấy, người bà con già nua đang mang thai. Đúng như lời Sứ thần đã nói: “Đối với Thiên Chúa, thì không có gì là không thể”. Mẹ đã không còn áy náy khi thưa “xin vâng”. Mẹ không còn băn khoăn khi “không biết người nam” mà lại mang thai. Người đời có thể chống lại Mẹ, nhưng ai có thể chống lại Thiên Chúa. Nhìn thấy bụng dạ của bà Elisabeth, Mẹ cất tiếng ngợi khen: “linh hồn tôi ngợi khen Chúa” (Lc 1,46). Vì quả thật, Thiên Chúa đã đoái thương nhìn đến Mẹ như người tớ nữ hèn mọn.

Đức Maria gặp bà Elisabeth không chỉ là củng cố niềm tin của mình, nhưng Mẹ cũng đã củng cố niềm vui của người bà con. Gặp thấy Mẹ, bà Elisabeth mới thực sự để cho niềm vui vỡ òa: “Này tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy mừng lên”.

Niềm vui của đứa trẻ nhảy mừng diễn tả niềm hạnh phúc của người mẹ. Thật vậy, Elisabeth không đơn thuần là mang thai Gioan, nhưng bà còn mang một dấu chỉ của niềm hy vọng. Từ nay, người ta không còn nguyền rủa bà là son sẻ, là cây khô bị chúc dữ, bà không còn bị người đời khinh chê là bạc phước. Đứa con nhảy mừng là niềm vui của người sắp làm mẹ. Niềm vui của bà Elisabeth còn là niềm vui của người sắp được làm mẹ. Đứa con trong bụng là dấu chỉ của sự hy vọng mà bà trông chờ đã lâu, nay được hiện thực. Niềm vui bà có được chính là ân huệ của Thiên Chúa dành cho những ai kính sợ Người. Bà cũng đã đọc thấy ân huệ đó nơi Đức Maria khi nhìn vào thai bào nơi Mẹ: “Em thật có phúc, vì  đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì  Người đã nói với em”.

Mọi biến cố cuộc đời là dấu chỉ của niềm hy vọng. Người đời có thể không thích thú lắm khi một bà già mang thai, một thiếu nữ chưa có chồng mà có bầu. Chắc chắn cũng không thiếu những lời đàm tiếu, thế mà bà Elisabeth cũng như Mẹ Maria đã cất tiếng ngợi khen, vì những gì mà Mẹ cũng như thánh nữ nhận được. Mẹ và Thánh nữ hiểu được Thánh Ý Chúa.  Đó cũng là lời mời gọi chúng ta, những tín hữu, đừng bao giờ thất vọng, ngã lòng khi những biến cố xảy đến như là một bất hạnh trước mặt người đời, nếu cả cuộc đời chúng ta thực sự tín thác vào Thiên Chúa, thì những biến cố lại chính là những hồng ân. Bởi Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi kẻ kính sợ Người. Người chỉ xin ta hãy vững lòng tín thác.

Lạy Chúa, cuộc sống luôn là niềm vui. Thế nhưng ít người khám phá ra điều đó, người ta chỉ nhìn thầy đời đầy dẫy khổ đau, bởi con người luôn tìm sự thỏa mãn cho chính mình. Niềm vui chỉ có được khi chúng con đọc được Thánh Ý Chúa trong mọi biến cố của đời sống. Cả cuộc đời chúng con luôn được bao phủ bởi tình yêu Chúa. Xin cho chúng con nhận ra được điều đó để chúng con có được niềm vui như thánh nữ Elisabeth, mà cất tiếng ngợi khen như Mẹ Maria. Amen.

     

 

Ngày 24/12/2006, Chiều : Lễ Giáng Sinh (lễ đêm)

VUA HÒA BÌNH Ở ĐÂU?

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 2,1-14)

Thời ấy, hoàng đế Augúttô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyri. Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi. Bởi thế, ông Giuse từ thành Nadarét, miền Galilê lên thành vua Đavít tức là Bêlem, miền Giuđê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc vua Đavít. Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai. Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ. Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ." Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương."

Suy Niệm

Một thầy thượng tế đến gặp tiên tri Elia đang đứng trước cửa hang và hỏi: “Chừng nào Đấng Messia sẽ tới?”. Tiên tri trả lời: “Hãy đi gặp Ngài mà hỏi”. Có lẽ thời nay, không ai trong chúng ta đặt câu hỏi đó, bởi hằng năm trong đêm Giáng Sinh, chúng ta nhắc lại niềm xác tin: Đấng Messia đã đến. Tuy nhiên có câu hỏi chúng ta vẫn thường đặt ra đó là: chừng nào sẽ đến thời gian không còn cảnh bất công, bóc lột, không còn nghe tiếng súng đạn bay, không còn những cảnh giết chóc ghê rợn, không còn cảnh tượng những người vô tội bị chết cách oan uổng, trẻ em bị giết trước khi chào đời…? Bối rối trước những cảnh đó, chúng ta lại hỏi: Chừng nào “vua an bình sẽ ngự tới?” Chúng ta trông chờ một Thiên Chúa mạnh mẽ oai phong để kiến tạo hòa bình, một vị Thiên Chúa sẽ loại bỏ sự thù hận và bạo lực ra khỏi thế giới bằng cách thế nhẹ nhàng.

Sự chờ đợi của chúng ta có trở thành vô nghĩa chăng, khi mà Chúa Kitô, Đấng Messia đã đến, và chính trong đêm nay, Ngài được gọi là “Vua an bình”. Vâng, vua an bình đã đến, Ngài đến để thiết lập một nền hòa bình, dĩ nhiên không theo cách thế chúng ta chờ đợi, nhưng là cách thế của Thiên Chúa.

Vị Thượng tế hỏi tiên tri Elia: “tôi có thể tìm thấy Đấng Messia ở đâu?” Vị tiên tri trả lời: “Ngài ngồi nơi cổng thành”. “Thế nhưng làm sao tôi nhận ra Ngài?” Vị tiên tri trả lời: “Ngài ngồi đó trong dáng vẻ nghèo hèn, giữa những người thương tật. Ngài đang dỡ bỏ những vải băng vết thương để chữa lành họ. Và Ngài thầm nghĩ: có thể người ta đang cần Tôi!”

Quả thật, Vua an bình đã đến không kèn trống với đội binh hùng dũng để biểu dương sức mạnh, Ngài đến âm thầm trong hang đá nhỏ nghèo hèn. Ngài kiến tạo hòa bình không bằng sức mạnh của binh tướng, nhưng bằng trái tim yêu thương. Hòa bình ngự trị không bằng con đường khuất phục người khác, nhưng là bằng bàn tay giơ ra để đón nhận, để băng bó, để thứ tha, để xoa dịu, để cảm thông.

“Cứ dấu nầy mà nhận ra Người: một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”. Đấng nhân loại đợi trông đã đến, nhưng không như lòng trông đợi. Dấu chỉ sự phân biệt của Vua An Bình với những người khác chính là không có sự phân biệt với người thấp hèn nhất trong xã hội, Người đó: một em bé quấn trong tã, quấn trong cuộc sống thường ngày của con người với bao âu lo của kiếp sống nhân sinh, quấn trong cái lo của người cha, của người mẹ đang tất tưởi lo cho đàn con, của người nông dân đang vất vả dưới cánh đồng, của người công nhân đang ưu tư về đồng lương quá thấp, của những người già cô đơn, của những người bị bỏ rơi vì tật bệnh…. Người đó: một em bé đang nằm trong máng cỏ, nằm trong kiếp sống khốn khổ của những con người không đủ cơm ăn, áo mặc, nằm trong cảnh những em bé suy dinh dưỡng vì sự bất công của xã hội, nằm trong cảnh đau thương của những người nghèo không đủ tiền để chữa bệnh… Người đó: người đến không để cất đi những khổ đau của nhân lọai, nhưng là để sữa chữa những con tim chai cứng, vô cảm trước những khổ đau của đồng loại. Ngài không muốn hiện diện giữa nhân loại như kẻ xa lạ, nhưng như người anh em của mọi người và cùng với mọi người chữa lành những thương đau. Đó chính là phương thế để kiến tạo một nền an bình đích thực. Con đường an bình xuất phát từ trái tim biết rung cảm trước nỗi bất hạnh của người khác, biết lên án bạo lực và bất công.

Bởi vậy, từ nay nếu có ai hỏi Vua Hòa Bình hiện ở đâu, chúng ta sẽ không ngần ngại trả lời: Người ỡ giữa bạn và tôi, trong từng ngày sống, từng hoàn cảnh sống của mỗi con người.

Lạy Chúa, con đường Chúa đến với nhân loại thật bình thường làm chúng con ngỡ ngàng. Chúa đến để chia sẻ cuộc sống với chúng con, còn chúng con vô tâm đến nỗi không biết Người là ai. Chính trái tim vô cảm của chúng con làm cho cuộc sống sống trở nên nghèo và khổ. Xin cho chúng con bước vào con đường dấn thân như Chúa, vì chỉ có tình yêu mới mang lại hạnh phúc đích thật. Amen.

    

 

Ngày 25/12/2006, Lễ Chúa Giáng Sinh (lễ ban ngày)

Lễ Trọng – Lễ Buộc

“NGƯỜI NHÀ” VÀ “NGƯỜI NGOÀI”

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 1, 1-18)

Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng. Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gio-an. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng. Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa. Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật. Ông Gio-an làm chứng về Người, ông tuyên bố: "Đây là Đấng mà tôi đã nói: Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi." Từ nguồn sung mãn của Người,  tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà có. Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết.

Suy Niệm

“Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng đón nhận”. Đó chính là thái độ của nhân loại đối xử với Đấng tác thành nên mình. Con người khước từ Ánh sáng, bởi Ánh sáng làm sáng tỏ những toan tính đen tối nơi con người.

Con người không cho Chúa vào nhà vì con người không muốn yêu thương như Người. Quả thật, chính tình yêu là nguyên nhân làm cho con người không muốn tiếp nhận Chúa Giêsu. Họ không thể đón nhận một Giêsu kêu gọi yêu thương người khác như chính mình. Yêu như Chúa dạy là một mất mát lớn lao, họ đã đổ bao công sức, bao lươn lẹo mới gầy dựng được một gia tài, thế mà Chúa biểu bán đi, phân phát cho người nghèo; họ đã ngược xuôi mới có thể có một chỗ danh vọng trong xã hội, thế mà Chúa lại biểu đừng ham chỗ nhất trong hội đường; họ đã phải đấu tranh, phải chiến đấu mới giành được phần lợi về cho mình thế mà Chúa lại biểu: hãy yêu thương kẻ thù… Không thể được, Người không thể vào nhà được, vì Người chủ trương ngược lại với quyền lợi của con người.

Bởi lòng tham, tính ích kỷ của “người nhà”, Chúa Giêsu trở thành “người ngoài”: “con chim có tổ, con chồn có hang, Con Người không có chỗ gối đầu” (Mt 8, 20). Người có quyền đấu tranh để dành lại quyền lợi của mình, nhưng không, Người quyết định chọn một chỗ “ngoài nhà”. Nơi đây, Người qui tụ tất cả những người được coi là “người ngoài”: trước hết là những mục đồng nghèo nàn, sau đó là những kẻ thu thuế và đĩ điếm, những người bị bênh phong cùi và bị qủi ám. Người qui tụ họ lại và làm cho kẻ “ngoài nhà” thành người “trong nhà”. Người biến những chỗ rốt hết, những chỗ thấp hèn trong xã hội trở thành cửa ngõ dẫn vào Vương Quốc Thiên Chúa.

Cho nên, Tin Mừng của ngày Giáng Sinh chính là Tin Mừng của niềm hy vọng, Thiên Chúa đón nhận nơi chốn mà chúng ta dành cho Người: Chuồng lừa, nhà kho. Chính những nơi chốn đó, Người đã mang lại niềm an bình lớn lao dành cho những người bị loại trừ, bị đặt ra ngoài lể của đời sống xã hội. Có một sự an bình không chỉ dành cho những người chiến thắng, những người được gọi là “người nhà”, nhưng còn dành cho những người thua thiệt, những “người ngoài ”.

Vì thế không phải chỉ có những người luôn hài lòng với chính mình vì những gì mình có là có an bình, nhưng còn có an bình của Thiên Chúa dành cho những người thiếu thốn, bị bóc lột, bị khinh chê. Không phải những người có cuộc đời đầy may mắn, không đau khổ, không nước mắt là được hưởng an bình, những còn có an bình của Thiên Chúa dành cho những người bị bóc lột, bị ức hiếp, những người tràn ngập khổ đau trong cuộc sống. Con Thiên Chúa nằm trong máng cỏ là dấu chỉ của thứ an bình này.

An bình của Thiên Chúa chính là quà tặng từ một trái tim biết yêu thương, một trái tim biết rung động trước những nỗi khổ đau của đồng lọai, một trái tim biết cảm thông trước những khuyết điểm, yếu đuối của tha nhân.

Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, Chúa đến nghèo hèn, sinh ra trong chốn nghèo hèn, không phải Chúa ủng hộ cuộc sống nghèo hèn, nhưng Chúa muốn chỉ cho chúng con biết, tại sao con người phải sống nghèo hèn. Nguyên nhân của sự nghèo hèn đó là lòng tham và cuộc sống ích kỷ. Nơi hang đá nhỏ, Chúa dạy chúng con biết kiến tạo một cuộc sống hạnh phúc, đó là biết khước từ những tham muốn, những hưởng thụ ích kỷ, biết quan tâm đến người khác. Thế giới không chỉ của riêng mình, nhưng của mọi người, hãy sống có trách nhiệm với người khác, an bình sẽ ngự trị. Amen.

     

     

Ngày 26/12/2006, thứ ba, trong tuần Bát Nhật Giáng sinh

Lễ Kính Nhớ Thánh Tê-Pha-Nô – Tử Đạo tiên khởi

ĐỐI NGHỊCH GIỮA TÌNH YÊU VÀ SỰ ÁC

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 10, 17-22)

Ngày ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Chúng con hãy coi chừng người đời, họ sẽ nộp chúng con cho công nghị; họ sẽ đánh đòn chúng con nơi hội đường. Vì Ta, chúng con sẽ bị điệu đến trước vua quan, để làm chứng trước mặt họ và các dân. Nhưng khi người ta nộp chúng con, chúng con chớ lo lắng phải nói sao và nói gì, vì không phải chúng con nói, nhưng là Thánh Thần của Chúa Cha chúng con sẽ nói thay cho. Anh sẽ nộp em cho người ta giết, cha sẽ nộp con, con cái chống đối cha mẹ và làm cha mẹ phải chết. Vì Ta, chúng con sẽ bị mọi người ghét bỏ, nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, sẽ được cứu rỗi”.

Suy Niệm

Thánh Stêphanô đã bị giết chết vì ngài loan báo về cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu.

Tin Mừng luôn đối diện với sự căm thù của con người. Tin Mừng về ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu luôn bị người đời căm ghét. Tại sao? Bởi con người không thích vinh quang của Thiên Chúa, họ thích vinh quang trần thế. Chúa Giêsu  hiểu rõ điều đó, và Người đã thổ lộ điều đó cách rõ rãng: “Vì danh  Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét”.

Quả thật, lịch sử Hội Thánh luôn in đậm sự thù ghét của thế gian, máu các thánh tử đạo đã không ngừng tuôn đổ trong từng thời gian của Hội Thánh. Thế nhưng, những cuộc bách hại, những lời lăng nhục không làm Hội Thánh tàn lụi hay vỡ tan, nhưng trái lại, Hội Thánh vẫn lớn lên, vẫn tồn tại, vì  Hội Thánh là công trình của Thiên Chúa.

Thế gian luôn đối nghịch với Thiên Chúa, vì Người là tình yêu. Bản tính của Thiên Chúa là tình yêu, bản tính của thế gian là gian ác. Tình yêu và gian ác không thể sống chung với nhau. Thế nhưng tình yêu không bao giờ loại trừ gian ác, tình yêu luôn muốn biến đổi gian ác thành tình yêu, trong khi đó gian ác luôn nỗ lực tiêu diệt tình yêu. Tình yêu không sợ gian ác, nhưng gian ác sợ tình yêu. Với tình yêu Thiên Chúa, Stêphanô đã đáp trả lại hành vi kẻ giết mình bằng lời cầu: “Lạy Chúa, xin đừng chấp tội họ”. Còn thế gian với bản tính gian ác thì bịt tai, la ó chống lại, không muốn nghe về Đấng đã chết vì yêu.

Thế gian không chấp nhận Tình yêu Thiên Chúa, vì thế gian sợ phải từ bỏ những dự tính của mình. Những dự tính chất chứa hận thù, giết chóc mà Đức Gioan Phaolô II đã chỉ ra: những dự tính của một nền văn hóa sự chết. Thật vậy thế gian chỉ yêu mến những kẻ thuộc về nó, những kẻ ủng hộ dự tính của nó. Những người ủng hộ sự bạo tàn, ức hiếp, ủng hộ một cuộc sống đề cao sự tự do cá nhân,  ủng hộ một đời sống hưởng thụ trụy lạc, đề cao chủ nghĩa khoái lạc và chủ nghĩa vật chất, những người đó sẽ được thế gian nuông chiều. Thế nhưng dự tính đó sẽ đưa con người đi tới đâu? Chắc chắn sẽ tới sự hủy diệt, bởi vì nơi tính ích kỷ không bao giờ nảy sinh sự sống. Xã hội hôm nay đang rơi vào khủng hoảng của sự bất an, bởi vì thế gian loại trừ tình yêu.

Sự sống chỉ có thể nảy sinh từ tình yêu. Và Tình yêu được thể hiện qua Thần Khí của Chúa Cha. Thần khí sẽ hiện diện bên những người thuộc về Thiên Chúa khi họ bi lôi ra trước mặt quan quyền. Thần khí không dùng sức mạnh trần thế để đối đáp, nhưng là bằng sức mạnh của tình yêu. Lời đáp trả với kẻ thù chính là lời thứ tha nẩy sinh từ tình yêu đích thật. Và chính lời thứ tha nầy làm sự sống được nẩy sinh. Và chính lời thứ tha là lời mời gọi thế gian giao hòa với Tình yêu.

Lạy Chúa, như một Stêphanô, người môn đệ của Chúa, chúng con cũng sẽ bị thế gian kết án và ghét bỏ. Xin đừng để chúng con nhụt chí, nhưng giúp chúng con luôn can đảm, đừng bao giờ chiều theo thế gian. Xin giúp chúng con luôn can đảm sống theo sự chủ dẫn của Thánh Thần tình yêu. Amen.

     

 

Thứ tư 27.12.2006, Lễ thánh Gioan Tông đồ, lễ kính 

BƯỚC CHÂN CỦA LÒNG YÊU MẾN

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Lc 20, 2-8)

Ngày thứ nhất trong tuần, Maria Madalena chạy đến gặp Simon Phêrô và môn đệ khác mà Chúa Giêsu yêu; bà nói: “Người ta đã lấy xác Chúa khỏi mộ rồi, chúng tôi không biết họ để đâu”. Bấy giờ Phêrô ra đi với môn đệ kia đến mộ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô và đến mộ trước ông. Cúi nhìn vào, người môn đệ đó thấy tấm khăn liệm xác hãy còn, nhưng không vào. Bấy giờ, Simon Phêrô theo sau cũng đến, và đi vào trong mộ, thấy khăn liệm xác còn đó, và khăn che mặt để trên phía đầu Người, không để chung với khăn liệm xác, nhưng đã cuốn riêng để vào một chỗ. Bấy giờ môn đệ đã đến trước cũng vào, ông đã thấy và đã tin.

Suy Niệm

Gioan luôn được trình bày trong các tấm tranh như là một chàng thanh niên non trẻ thư sinh. Nhưng thực ra, Gioan không là thư sinh, nhưng là một chàng trai mạnh mẽ đầy cá tính, chính Chúa Giêsu xác nhận điều đó khi Người gọi Giacôbê và Gioan là “những người con của sấm sét”. Hơn nữa, Gioan phải mạnh mẽ lắm, Chúa mới trao phó Mẹ cho ngài. Tin Mừng hôm nay cũng chỉ cho thấy: Phêrô và môn đệ kia (tức Gioan), cả hai cùng chạy ra mộ, nhưng “môn đệ kia” chạy nhanh hơn. Chắc chắn không phải vì Gioan trẻ tuổi hơn Phêrô. Phêrô không thể quá già so với Gioan, 12 Môn đệ của Chúa Giêsu trạc tuổi với nhau. Gioan chạy nhanh hơn vì sức mạnh của tình yêu. Ngài là “môn đệ Chúa Giêsu thương mến”.

Thật vậy, chính tình yêu dành cho Thầy đã thúc đẩy Gioan chạy nhanh tới mộ. Cái chết đau thương của thầy vẫn còn đó, thế mà chuyện gì nữa lại xảy ra với thi thể của Thầy? Thầy có chết thật không? Đó vẫn luôn là câu hỏi vấn vương nơi Gioan, mặc dầu chính ngài đã đứng dưới chân Thập giá chứng kiến cái chết của Thầy. Tại sao? Vì tình yêu của Thầy dành cho Gioan. Tình yêu không thể để Gioan dừng lại nơi cái chết của Thầy, và hình như ngài không thất vọng. Nghe tin xác Thầy không còn nằm trong mộ, ngài chạy tới mộ phần không là để tìm xác Thầy, nhưng là để xác tín niềm hy vọng của ngài không là điều viễn vông. Và khi vước vào phần mộ, thấy ngôi một trống ngài đã tin.

Đức tin không xuất hiện một cách đột ngột vì thấy ngôi mộ trống, nhưng đức tin đã được gieo vãi, đã được ươm trồng bởi những ngày tháng sống bên Thầy, như là “môn đệ chúa Giêsu thương mến”, Gioan luôn khắc ghi những lời Thầy thổ lộ, đã đọc được thực chất con người của Thầy. Thầy là Lời của Thiên Chúa, Lời hóa thành nhục thể, sống giữa con người, Thầy là Con Một hằng ở nơi cung lòng của Chúa Cha, và vì thế Thầy không chết (x. Ga 1,1-19), thầy không chết vì Thầy là “Nước hằng sống” (x.Ga 4.14), Thầy sẽ không chết vì Thầy có sự sống nơi mình như Chúa Cha (x. Ga 5,26). Thầy sẽ không chết vì từ nơi Thầy, Nước hằng sống sẽ tuôn chảy (x. Ga 7,38), Thầy không chết, vì chính Thầy đã khẳng định: “Thầy sống và anh em cũng được sống” (x.Ga 14,19)… Chỉ có tình yêu mới làm cho Gioan hiểu thấu sứ vụ của Thầy, hiểu được lời Thầy nói. Và ngài tin Thầy đang sống

Niềm tin vào Thầy đang sống đã được thanh luyện vượt thoát khỏi tư duy bình thường về một sự sống trong thân xác trần thế. Ngài đã thấy và đã tin. Ngài đã thấy ngôi mộ trống, cho nên ngài tin sự sống của Thầy không còn bị lệ thuộc vào cái thế giới không gian nầy; ngài đã thấy những tấm khăn liệm đã được cuốn lại, và như vậy, rõ ràng sự sống của Thầy không còn bị chi phối bởi những nhu cầu vật chất của thế trần. Chính tình yêu đã mở đôi mắt đức tin của Gioan.     

Sự sống lại chính là đối tượng đức tin của chúng ta. Thế nhưng đức tin đó nhiều khi bị chôn vùi bởi những đam mê thế tục, bởi danh vọng và tiền bạc. Tâm trí chúng ta luôn đầy ắp những dự tính, những lo toan, những ước mơ. Để rồi cuộc sống của chúng ta bị cuốn hút vào những cơn lốc của chủ nghĩa thế tục, hưởng thụ, chúng ta đánh mất tình yêu đối với Thiên Chúa, và thay thế vào đó là một tình yêu dành cho chính mình. Chính tình yêu vị kỷ đó đã làm chúng ta mất định hướng của cuộc đời. Chúng ta rơi vào thất vọng và đau khổ nẩy sinh từ đó. Niềm vui của cuộc đời chỉ có thể nẩy nở từ tình yêu dành cho Thiên Chúa. Vì chính từ đó chúng ta sẽ khám phá ra sự sống lại. Và chỉ có sự sống lại là câu trả lời cho những vấn nạn của cuộc sống dương thế của chúng ta.

Lạy Chúa,  chính tính yêu đã dẫn đưa Gioan ra khỏi hố sâu của vực thẳm thất vọng, ngài đã tin vào sự sống lại của Chúa. Xin cho chúng con cũng biết thắp sáng niềm tin bằng chính cuộc sống gắn bó với Tin Mừng. Xin tình yêu Chúa chiếm trọn hồn con để thay thế cho những đam mê dục vọng, những tham muốn vật chất thấp hèn. Vì chí có tình yêu Chúa mang lại cho chúng con sự sống đích thực. Amen.

 

 

Ngày 28/12/2006, thứ năm trong tuần Bát Nhật Giáng  Sinh

Lễ Kính các Thánh anh hài, tử đạo

TIẾNG KHÓC NÀO MANG LẠI BÌNH AN?

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 2, 13-18)

Khi các đạo sĩ ra đi, Thiên Thần Chúa hiện ra với ông Giuse trong lúc ngủ và bảo ông: “Hãy thức dậy, đem hài nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập, và ở đó cho tới khi tôi báo lại ông: vì Hêrôdê sắp sửa tìm kiếm hài nhi để sát hại Người”. Ông thức dậy, đem hài nhi và mẹ Người lên đường trốn sang Ai Cập đang lúc ban đêm. Ông ở lại đó cho tới khi Hêrôdê băng hà, hầu làm trọn điều Chúa dùng miệng tiên tri mà phán rằng: “Ta gọi Con ra khỏi Ai Cập”. Bấy giờ, Hêrôdê thấy mình bị các Đạo sĩ đánh lừa, nên nổi cơn thịnh nộ và sai quân đi giết tất cả con trẻ em ở Belem và vùng phụ cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo thời gian vua đã cặn kẽ hỏi các Đạo sĩ. Thế là ứng nghiệm lời tiên tri Giêrêmia đã nói: “Tại Rama, người ta nghe những tiếng khóc than nức nở, đó là tiếng bà Rakhel than khóc con mình, bà không chịu cho người ta an ủi bà, vì các con bà không còn nữa”.

Suy Niệm

Sau tiếng khóc chào đời của bé Hài Nhi Giêsu, là tiếng khóc bà “Rachel khóc thương con mình”. Tiếng khóc của Chúa Hài Đồng mang lại niềm hy vọng lớn lao cho con người đang rên siết trong sự chết: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”. Tiếng khóc của bà Rachel dưới con mắt của con người quả thật là tiếng khóc đau thương, bà “không chịu để ai an ủi, vì con bà không còn nữa”. Con bà đã chết vì sự xuất hiện của tiếng khóc chào đời nơi Hài Nhi Giêsu!

Tuy nhiên, xét cho cùng, tiếng khóc chào đời của bé Giêsu là tiếng khóc cần thiết đến vô cùng, để loài người đạt tới niềm vui và hạnh phúc trường cửu, đạt tới ơn cứ độ được chiếu giãi bởi chính tình yêu của Thiên Chúa. Bởi đã từng có tiếng khóc của bà Rachel vì sự nhẫn tâm, vi tội của loài người, vì nỗi khốn cùng của nhân loại, mới có tiếng khóc của Bé Giêsu. Nói đúng hơn, chính vì để giải thoát loài người, giải thoát nỗi đau đớn của bà Rachel mà bé Giêsu, Chúa Trời toàn năng đã làm người trong thân phận bé thơ mọn hèn ấy.

Thật vậy, cái khóc của bà Rachel diễn tả cái kiếp thương đau của con người. Tại sao các em bé ở Bêlem phải chết, khi chúng còn đang ngậm bầu sữa mẹ? Phải chăng tại bé Giêsu? Trước khi Chúa Giêsu xuất hiện trên trái đất, thì con người đã khóc. Tiếng khóc hình thành từ ngày Nguyên Tổ cắt đứt mối hiệp thông với Thiên Chúa. Bởi đó, tiếng khóc của bà Rachel như là lời tố cáo: nguyên cớ của đau khổ con người gánh chịu chính là do tội lỗi của con người, do lòng kiêu ngạo khước từ chân lý, sự ngạo mạn coi mình là Chúa và khinh mạn loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của nhân loại từ ngàn xưa đến nay.

Hêrôđê xuống tay giết các trẻ hài nhi tại Bêlem như là một hành vi loại trừ sự hiện diện của Thiên Chúa, một sự cao ngạo thách thức Thiên Chúa. Hành vi đó không dừng lại ở nơi Hêrôđê, nó luôn được tái diễn từ thế kỷ nầy sang thế kỷ khác. Và vì thế mặc dầu Thiên Chúa ngự giữa con người, nhưng con người vẫn luôn phải khóc than, vì con người luôn tìm cách loại trừ Thiên Chúa. Không chấp nhận sự hiện diện của chân lý, cũng có nghĩa là loại trừ niềm vui và hạnh phúc. Vì chỉ có nơi Thiên Chúa, chúng ta mới nhận được niềm vui đích thật, vì Ngài là Tình yêu.

Khi nhân loại bước vào thế kỷ XXI. con người càng chứng kiến nhiều tiếng khóc than của các bà mẹ: khóc vì những đứa con chết một cách tức tưởi vì những viên đạn của chủ nghĩa hận thù cực đoan, khóc vì nhìn những đứa con chết khô không có một giọt sữa, một chén cháo vì lòng tham ích kỷ của thế lực bóc lột của giới tư bản, và nhất là những tiếng khóc hối hận đau thương vì những đứa con đã bị giết khi chưa kịp cất tiếng khóc chào đời vì tính ích kỷ, đam mê dục vọng, vì chủ nghĩa hưởng thụ vô trách nhiệm mà xã hội hôm nay đang nỗ lực quảng bá. Đó là những tiếng khóc bi thương vì con người không chấp nhận Thiên Chúa, không chấp nhận Tin Mừng yêu thương.

Bởi thế, chúng ta, không trừ ai, cần lắm, cần đến vô cùng tiếng khóc chào đời của bé Giêsu năm xưa. Bởi chỉ có tiếng khóc ấy mới hứa hẹn mang lại cho ta hạnh phúc, tình yêu và bình an.

Lạy Chúa, các trẻ ở Bê lêm bị giết chết vì sự gian ác của Hêrôđê, nẩy sinh từ lòng tham, và sự ngạo mạn không chấp nhận Tin Mừng Yêu thương. Xin Chúa cho thế giới hiểu được rằng, bao lâu con người loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống, con người mãi mãi sống trong đau thương. Xin cho con luôn can đảm dấn thân làm chứng cho Tin Mừng bằng cách mạnh dạn không thỏa hiệp với những thế lực của một nền văn hóa sự chết hôm nay. Amen.

    

 

Ngày 29/12/2006, thứ sáu trong tuần Bát Nhật Giáng Sinh

 “RA ĐI BÌNH AN”

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 2, 22-35)

Khi mãn thời hạn thanh tẩy theo Luật Môisê, ông bà đem Chúa Giêsu lên thành Giêrusalem, để dâng cho Chúa, như đã viết trong lề luật Chúa rằng: “mọi con trai đầu lòng sẽ được gọi là của thánh dâng cho Thiên Chúa”, và việc dâng lễ vật như đã nói trong lề luật Chúa là một cặp chim gáy hoặc hai bồ câu con. Và lúc đó, tại Giêrusalem có một người tên là Simêon, là người công chính và có lòng kính sợ Chúa, đang mong đợi niềm an ủi Israel, có Thánh Thần ở trong ông. Ông được Thánh Thần mách bảo là sẽ không thấy giờ chết đến, trước khi thấy Đấng Kitô của Chúa. Được Thánh Thần thúc giục, ông vào đền thờ. Khi cha mẹ bồng trẻ Giêsu đến, để thi hành cho Người các nghi thức theo luật dạy, thì ông ẵm lấy Người trên cánh tay mình, và chúc tụng Thiên Chúa rằng: “Lạy Chúa, bây giờ Chúa để cho tôi tớ Chúa đi bình an, theo như lời Chúa. Vì chính mắt tôi đã thấy ơn cứu độ mà Chúa đã sắm sẵn trước mặt muôn dân. Ánh sáng đã chiếu soi các lương dân. Vinh quang cho Israel dân Chúa”. Cha mẹ Người đều kinh ngạc về những điều đã nói về Người. Simêon chúc lành cho hai ông bà và nói với Maria mẹ Người rằng: “Đây, trẻ này được đặt lên khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối. Về phần bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà, để tâm tư nhiều tâm hồn được biểu lộ”.

 Suy niệm

Như một trẻ trai bình thường khác trong dân Israel, Chúa Giêsu cũng được Mẹ Maria và thánh Giuse dâng hiến trong đền thánh. Thế nhưng Simeon đã nhận ra giữa cái dáng vẻ bình thường đó chiếu tỏa một ánh sáng kỳ diệu, trên cái gương mặt bình thường đó ông nhận diện ra Đấng Cứu Độ đã xuất hiện như Thiên Chúa đã hứa.

Simeon nhận ra ánh sáng cứu độ không bởi chiêm tinh bói toán, hay bởi diện mạo bên ngoài của Hài Đồng Giêsu, nhưng đây là kết quả của một cuộc đời sống gắn bó với Thiên Chúa. Thánh Kinh đã xác quyết: ông là người công chính và sùng đạo. Ông hằng mong ngóng niềm an ủi của Israel. Được nhìn thấy ơn cứu độ, Simêon cảm thấy no đủ và ông chẳng còn mong muốn chi ngoài việc được “ra đi bình an”.

Hằng năm, Giáo Hội vẫn mừng lễ Giáng Sinh, mừng biến cố Ngôi Hai xuống thế làm người, qua đó Thiên Chúa ở giữa con người. Hơn thế nữa, hằng ngày, qua Bí tích Thánh Thể, Thiên Chúa luôn ở với con người. Thế mà chúng ta, những kitô hữu vẫn  chưa thực sự là dấu chỉ của một sự ra đi an bình. Chúng ta vẫn nặng lòng với thế trần, vẫn mong mỏi làm sao kéo dài tuổi thọ, vẫn cố tìm một tin tức: tôi sống tới bao giờ? Vẫn quá bôn chen với cuộc sống và không ngần ngại loại trừ tiếng nói lương tâm, chúng ta vẫn thờ ơ với sự công bình và đức yêu thương. Và mãi mãi, mặc dầu mang danh kitô hữu, chúng ta cũng như bao dân ngoại khác, không nhận ra Chúa đang ở với con người.

Làm sao có thể nhận ra Chúa được khi chúng ta không tạo ra mối dây liên kết với Thiên Chúa. Sáng kiến thiết lập Bí Tich Thánh Thể là phương thế tuyệt hảo của mối dây hiệp thông giữa Thiên Chúa với các tín hữu. Thế nhưng, với trào lưu tục hóa hôm nay, người tín hữu đang xa dần với nguồn mạch hiệp thông này. Và điều đó đưa tới những hậu quả tồi tệ trong mối tương giao với nhau trong cuộc sống hằng ngày. Vì không nhận ra Chúa ở giữa con người, cho nên chúng ta không học được cách yêu thương của Thiên Chúa. Chúng ta không thể đi ra khỏi chính mình, cho nên mãi mãi chúng ta không thể sống quảng đại cho đi, tha thứ, và rung cảm trước những nỗi đau của tha nhân. Không nhận ra Chúa đang hiện diện giữa con người, chúng ta thiếu tôn trọng lẫn nhau, gây chia rẽ và tạo ra hận thù. Và rồi cuộc sống của chúng ta tràn ngập bất an. Chẳng bao giờ chúng ta có thể thanh thản: xin được ra đi bình an.

Vì thế, hãy ra đi, hãy dấn thân, hãy cho đi chính mình, để đổi lấy bình an. Chỉ có bình an trong cuộc đời mình hôm nay, ngày mai ta mới có thể nói được như cụ già Simêô: “Xin cho tôi tớ Chúa ra đi bình an”.

Lạy Chúa, xin dạy con luôn biết tạo mối dây hiệp thông với Chúa để từ đó con có thể nhận diện ra Chúa nơi tha nhân, nơi môi trường con sống, nơi những biến cố của cuộc đời. Xin dạy con hiểu: sự nhận diện ra Chúa là sức mạnh để con đối diện với những thử thách của cuộc đời, là động lực để con luôn sống an vui và thanh thản để thân thưa: xin cho con được ra đi bình an.

     

Ngày 30/12/2006, thứ bảy trong tuần Bát Nhật Giáng Sinh

HÃY NÊN NGHÈO NHƯ CHÚA

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 2, 36-40)

Khi ấy, có bà tiên tri Anna, con ông Phanuel, thuộc chi họ Asê, đã cao niên. Mãn thời trinh nữ, bà đã sống với chồng được bảy năm. Rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi bốn tuổi. Bà không rời khỏi đền thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa. Chính giờ ấy, bà cũng đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho những ai đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel. Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nagiaret. Và con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người.

 Suy Niệm

Trong đêm Giáng Sinh, Tin Mừng đã loan báo trước tiên cho những mục tử chăn chiên ngoài đồng. Họ thuộc tầng lớp nghèo hèn trong xã hội. Hôm nay, trong đền thánh, Tin Mừng lại được mặc khải cho góa phụ Anna, một người mà xã hội thường dành cho những cái nhìn khinh bỉ. Góa bụa trong xã hội Israel thời đó được xếp vào hạng người nghèo khó.

Tin Mừng trước tiên là sứ điệp gởi đến cho những người nghèo khó. Thiên Chúa luôn đứng về phía người nghèo. Điều đó diễn tả trọn vẹn bản tính Thiên Chúa, Đấng là tình yêu. Tình yêu trình bày chiều kích hiến tặng tất cả những gì mình có cho đối tượng mình yêu. Tình yêu đích thật luôn đối nghịch với lòng tham, tính ích kỷ hẹp hòi. Tình yêu luôn là quà tặng cho nhau, trở nên “nghèo” vì hiến tặng, vì trao ban.

Thiên Chúa trở nên nghèo giữa nhân loại, điều đó thể hiện tình yêu tuyệt đỉnh của Người. Vì yêu, Người trao ban tất cả, trở nên quà tặng cho nhân loại. Ngài trở nên nghèo, để giải thoát con người khỏi cảnh nghèo. Giải thoát không có nghĩa là trao ban cho người nghèo tiền bạc, sự giàu sang vật chất. Vì như vậy sẽ nẩy sinh ra một thế hệ nghèo mới. Giải thoát có nghĩa là loại trừ căn gốc làm cho nhân loại trở nên nghèo.

Bởi vậy, Tin Mừng là lời mời gọi trở về với Đấng Yêu thương, loại trừ sự bon chen của lòng tham, của sự hưởng thụ ích kỷ, là những nguyên nhân gây ra cảnh nghèo khó . Tin Mừng đến để mời gọi con người trở về với “cái tâm” ngay thẳng mà Đấng Tạo Hóa đã ban tặng ngay từ đầu của công trình tạo dựng. Đó chính là hiệp thông với Thiên Chúa trong tâm tình con thảo, và loại trừ khỏi chính mình “cái tôi” cao ngạo, để trở nên “nghèo” trước Thiên Chúa. Bởi tất cả những gì con người có đều nhận lãnh từ Thiên Chúa.

Chúng ta, những kitô hữu, phải lan tỏa Tin Mừng yêu thương đến với muôn dân. Nhưng trước tiên chúng phải như bà Anna, phải tiếp cận với Tin Mừng để nhận diện ra Tin Mừng. Nói cách khác, từng người chúng ta phải là những “người nghèo”. Không phải là nghèo tiền nghèo bạc, nhưng nghèo đam mê, nghèo tham vọng, nghèo lòng tham muốn, nghèo ích kỷ. Có như thế chúng ta mới nhận ra một Chúa Giêsu nằm trong máng cỏ là ai, một Chúa Giêsu chết treo trần truồng trên thập giá là ai và tại sao như thế. Từ sự nhận diện đó, chúng ta hiểu được sứ vụ của chúng ta là tiếp tục kiến tạo một môi trường sống công bình yêu thương.

Lạy Chúa, xin dạy chúng con hiểu sứ điệp của Tin Mừng chính là phục vụ cho người nghèo, hay nói cách khác là phục vụ cho một nền công lý và hòa bình, phục vụ cho việc xây dựng một cộng đoàn yêu thương, biết chia sẻ, không bóc lột, không lợi dụng để mưu cầu cho ích lợi bản thân. Xin cho chúng con biết lan tỏa sứ điệp nầy trong chính đời sống kitô hữu của chúng con. Amen.

 

     

Ngày 31/12/2006, Chúa Nhật trong tuần Bát Nhật Giáng Sinh

THÁNH GIA, BÀI HỌC CỦA GIA ĐÌNH

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 2, 41-52)

Hằng năm, cha mẹ Đức Giê-su trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ. Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại Giêrusalem, mà cha mẹ chẳng hay biết. Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giêrusalem mà tìm. Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu. Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: "Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!" Người đáp: "Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?" Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói. Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nadarét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.

Suy Niệm

Chưa bao giờ đời sống gia đình đang đứng trước những thách đố lớn lao như ngày hôm nay. Bởi vậy, lễ Thánh Gia Thất mà chúng ta mừng kính hôm nay như là một cơ hội để chúng ta tái khám phá lại giá trị không thể thay thế được của đời sống gia đình.

Khủng hoảng gia đình khởi sự từ chính cá nhân của từng thành viên trong gia đình, mà mấu chốt chính là việc đề cáo tự do cá nhân quá trớn, đến độ đánh mất ý thức trách nhiệm đối với các thành viên khác trong gia đình. Từng thành viên chỉ biết đòi hỏi hơn là trở thành quà tặng cho nhau. Tự ái và tính ích kỷ là nguyên nhân xô đẩy gia đình đến bên bờ vực thẳm của gẫy đổ.

Nơi Thánh Gia Thất, chúng ta thấy một sự hài hòa tuyệt vời trong từng vai trò. Nơi Thánh Gia Thất chúng ta đọc được một bản hòa tấu nhịp nhàng trong ba nhân vật với ba cá tính khác nhau. Thánh Giuse, người thợ mộc chất phác, thâm trầm, con người đắn đo trong các quyết định, nhưng cương quyết trong hành động; Đức Maria, người phụ nữ đạo đức, sống nội tâm, dịu dàng và nỗ lực đọc Thánh Ý Chúa trong mọi biến cố cuộc cuộc đời; Chúa Giêsu luôn bị thôi thúc bởi sứ vụ Cha trao, nhưng cũng không bao giờ bỏ quên chỗ đứng của mình trong gia đình Thánh Gia.

Sự hòa nhịp được thể hiện trong chính đời sống đạo đức của gia đình Thánh Gia. Tất cả đều hướng về Thánh Ý. Từ lòng đạo đức nẩy sinh sự tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng ơn gọi của từng người, sứ vụ của từng thành viên. Sự tôn trọng đó là sợi chỉ đỏ liên kết các thành viên trong gia đình Thánh Gia trở thành mẩu mực cho mọi gia đình. Bởi từ sự tôn trọng, các thành viên sống cho nhau, bảo vệ giữ gìn nhau.

Đời sống gia đình hôm nay càng ngày càng gãy vụn, bởi thay vì tôn thờ Thiên Chúa, thì người ta tôn thờ tiền bạc, vật chất và sự hưởng thụ. Từ chỗ đó, người ta thiếu hẳn sự tôn trọng lẫn nhau, coi nhau như là dụng cụ phục vụ cho sở thích của riêng mình. Trong gia đình, người ta đòi hỏi lẫn nhau thay vì trở thành quà tặng cho nhau. Tình yêu gia đình không còn là một tình yêu trao ban hiến tặng cho nhau, nhưng là một tình yêu cho mình và vì minh, một tình yêu quy ngã ích kỷ.

Lạy Chúa, chưa bao giờ xã hội phải đối diện với những khủng hoảng lớn lao như ngày hôm nay, vì tế bào nền tảng của xã hội là gia đình đang bị phá vỡ. Xin cho gia đình kitô hữu chúng con vượt qua được những cơn giông bão này, bằng việc học cách sống nơi gia đình Thánh Gia Chú: Sống đạo đức, lấy Chúa làm chỗ dựa, sống tôn trọng lẫn nhau, sống cho nhau và sống vì nhau. Amen.

     

MỤC LỤC GIỜ KINH GIA ĐÌNH