|
Văn Hoá Việt
Nam
KHÔNG HÁT THÌ HÒ
Vào đây không hát thì hò
Chẳng phải con cò ngóng cổ đứng trông
Câu ca tiếng hát là vốn chung của mọi người
trên thế giới nhưng hò thì chỉ là sáng tác
của những người vùng sông biển. Thế giới
không lạ gì bài Tiếng hò trên sông Vôn-ga
được các hướng-đạo sinh phổ- biến rộng-rãi.
Giáo-sư Jacques Chailley, giáo-sư ưu-hạng
tại Đại-học Sorbonne Pháp, trong cuốn
Élements de philologie musicale
(Paris, 1985) đã tìm thấy tam cung
(tritonique) trong các điệu hò:

Khi theo học lớp âm-nhạc-học của giáo-sư
Chailley tại Paris, nhạc-sĩ Phạm Duy đã
thông-báo cho giáo-sư một nét nhạc đặc-biệt
của điệu ca miền Bắc như sau:

(sđd, tr. 87)
Đây mới chỉ là tam cung, nhưng nét nhạc rất
phong-phú. Thang tam cung còn hiển-hiện
trong các điệu hò Ý, Phi-châu, da đỏ miền
Ba-tây (Brésil), Áo. Đây là một điệu hò đáng
chú ý, do Louis Laloy ghi âm:

Người Việt Nam không lạ gì với điệu hò này.
Nhiều hình-thức hò đã làm giàu cho âm-nhạc
Việt Nam, tỉ-dụ hò huê-tình, hò cấy, hò mái
dài mà Lê Giang, Lư Nhất Vũ, Nguyễn Văn Hoà,
Minh Luân đã chịu khó lặn-lội về các miền
quê Bến Tre, Hậu Giang, Kiên Giang nghe hát,
thu băng, suy-luận tìm nguyên-lí sáng-tác,
đồng-thời đối chiếu với các loại nhạc
dân-gian như hát lí, nói thơ, nói vè,
tổng-kết thành-công về phương-pháp-luận
sáng-tác âm-nhạc dân-gian trong đó có loại
hò là sản-phẩm nổi bật của vùng văn-hoá nước
với các loại hò rời bến, hò cập bến, hò mắc
cạn, hò chống sào, hò kéo lưới, hò mái nhì,
hò mái đẩy, bắt cái hò khoan, gọi chung là
hò nước, đối-diện với hò cạn
là hò kéo gỗ, hò dệt vải, hò xay lúa, hò giã
gạo, hò tát nước, vv…
Đây là bài Hò huê tình do bà bảy Hiền
hát và do nhóm Lê Giang ghi âm.

Chỉ có tam cung như những bài hò khác, nhưng
các thanh-điệu của tiếng Việt ở các nốt móc
kép (double croche) làm cho câu hò phong-phú
không đâu sánh được.
HOÀ-ÂM VÀ ÂM-NHẠC NƯỚC
Trên thế-giới, chỉ có HAENDEL (1685-1759) là
đã viết nhạc nước (water-music). Nhờ biết
dùng những quãng 5, nhạc-sĩ đã gợi ra được
sự trong-trẻo và tươi mát của nước, tỉ-dụ:

Điều thú-vị mà chỉ có thiên-tài Haendel mới
giải-thích được là những đoạn có quãng năm
này lại rất có tính Á-đông và Việt Nam, điều
mà về sau này Ravela, César Frank và nhất là
Debussy người đã dự-thính một buổi
trình-diễn kịch-nghệ Việt Nam tại hội chợ
Paris năm 1889 đã viết (theo tài liệu Lê Văn
Khoa). Debussy rất chú-ý đến cách biểu-diễn
hắc-tiêu của một nhạc-sĩ Việt Nam, và cách
đánh trống của Việt Nam đã làm ông rất
thán-phục. Ông nói: ”cái trống thật là
kinh-hoàng…Thật điệu nghệ! Không dở chút
nào” (Lê Văn Khoa, Đối chiếu dân nhạc
Việt và Mỹ, tr.8).

Sau khi đã thảo-luận, tôi và nhạc-sư Lê Văn
Khoa đã quyết-định coi hài-âm bậc 2 là
đặc-điểm của hoà-âm học Việt Nam. Dĩ nhiên,
ngoài loại hài-âm này, hoà-âm học cũng
bao-hàm các loại hài-âm khác, từ các hài-âm
bậc 3, bậc 5 và tất cả các loại hài-âm có
thể sử-dụng, nhưng các hài-âm bậc 2 vẫn
chiếm đa-số. Tỉ-dụ, các hài-âm sau đây lấy
trong bài Tìm người thương do Lê Văn
Khoa hoà-âm cho dương-cầm.

Những hài-âm này, cùng với những kỹ-thuật
chải (arpège), nhấn, v.v… sẽ tạo nên một nét
nhạc Việt Nam, có thể hơi giống nhạc
Trung-quốc nhưng mềm-mại hơn, uyển-chuyển
hơn, không cứng-cỏi như hoà-âm Tây-phương.
Hài-âm bậc 2 cũng có rất nhiều trong âm-nhạc
Mỹ, lí-do là vì nhạc Mỹ là một sự kết-hợp
hài-hoà giữa nhạc Tây-ban-nha và nhạc
Phi-châu da đen, cả 2 đều có những âm-giai
ngũ cung, do đó, có nhiều bài Mỹ hoàn-toàn
giống nhạc Việt Nam, nhất là những loại nhạc
gốc Anh và Ái-nhĩ-lan. Về điểm này, văn-hoá
Việt và văn-hoá Mỹ có nhiều cơ-may hội-tụ.
CHỮ NÔM
Chữ nôm bị các nhà nho chê là “nôm-na cha
mách qué”. Đó là một nhận-xét đúng vì sự
cấu-tạo của chữ nôm không chặt-chẽ bằng chữ
hán, cũng không cố-định như chữ hán. Ta có
thể mau chóng trình-bày những lí-do sau đây
để đánh giá lời phê-bình chữ nôm của các nhà
nho.
1. Chữ nôm có nhiêm-vụ ghi âm của tiếng
Việt. Tiếng Việt là một thứ tiếng có nhiều
sinh-lực, tiến-triển rất mau chóng. Việc ghi
các âm ấy phải thay đổi khi tiếng Việt thay
đổi, tỉ-dụ từ trời, ở thế-kỷ XVIII là
tlời, thế-kỷ XVII là blời,
thế-kỷ XV trở về trước là PLỜI,
thế-kỷ X là KLỜI. Các nhà sáng-chế
chữ nôm đã dùng nhiều biện-pháp để ghi những
âm này. Biện-pháp có giá-trị nhất là dùng
các dấu âm
巨,東,巴vv…
để phân-biệt các loại phụ-âm đầu của các
chữ; tỉ-dụ KLỜI, PLỜI, BLỜI, TLỜI, TRỜI,
GIỜI. Cứ xem những biến-âm ấy và những
phù-hiệu của nó thì phải công-nhận với các
nhà nho là họ nói đúng khi thấy chữ nôm chỉ
có một âm trời thôi mà có đến 3 cách viết.
Thực ra, đó không phải là khuyết-điểm mà là
ưu-điểm, chứng-cớ là nhà nghiên-cứu nào hiểu
rõ chức-năng của những dấu âm ấy thì
dễ thành-công trong việc đọc chữ nôm (như
Đoàn Khoách, Nguyễn Ngọc San, Lê Văn Quán,
Nguyễn Hữu Quang, Lê Hữu Mục), ai coi đó là
dấu nghĩa là hiểu sai ý muốn của
người xưa, và khó thành-công trong việc đọc
chữ nôm (Đào Duy Anh, Tạ Trọng Hiệp, đôi khi
cả giáo-sư Hoàng Xuân Hãn). Ở đây tôi không
bàn-luận về những ưu-điểm hay khuyết-điểm
của chữ nôm, tôi chỉ muốn chứng-thực nguồn
gốc nước của văn-hoá đã sản-sinh ra chữ nôm
như thế nào.
-
Tinh-thần sáng-chế chữ nôm là lòng thao-thức
tự-do của người Việt. Thoát thai từ nước,
kiên-định trong nguồn gốc nước của mình,
người Việt ý-thức được rằng sự thống-trị của
chữ hán trong xã-hội Việt Nam sẽ gây ra một
kết-quả duy-nhất thảm-khốc là sự tiêu-vong
của văn-hoá Việt Nam. Phải có văn-tự Việt để
ngăn chặn sức bành-trướng của Hán-tộc. Điều
này, Ngô Quyền đã thấy rõ nhất khi vãn-hồi
được độc-lập dân tộc. Các thiền-sư đời Lý đã
có công lớn bảo-vệ ý-chí độc-lập ấy trong
công-trình sáng-chế chữ nôm mà họ là
thành-phần cốt-cán. Các nhà văn-hoá thời ấy
đã hiểu rằng muốn đánh đổ chữ hán, phải
nương-tựa vào nó mới có đủ sức mạnh hoá-giải
lực-lượng của nó. Dựa vào chữ hán, chữ nôm
đã sử-dụng được 9.000 từ hán đã có sẵn và
chỉ cần tạo ra 1.000 chữ nữa để có đủ 10.000
chữ cần thiết. Nguyễn Trường Tộ rất
hoan-nghênh phương-pháp này và khen các nhà
sáng-chế chữ nôm đã nắm vững kỹ-thuật
cấu-tạo.
-
Phương-pháp cấu-tạo rất giản-dị: về âm, mượn
âm của chữ hán: có nhiều cách mượn, hoặc
mượn toàn phần, hoặc mượn bán phần, mượn
bộ-phận (mà người ta theo phép lục-thư
gọi là giả-tá). Nguyên-tắc là làm sao chọn
được những chữ ít nét để dễ đọc và dễ đánh
lạc hướng người Trung-hoa. Phải hiểu rõ
nguyên-tắc ấy để thấy rằng khi người xưa
viết chữ ba (sóng) là
巴
không phải vì họ không biết chữ
波
nhưng chính là vì họ không muốn dùng chữ đó.
Nhiều khi các cụ có thói quen viết tắt chữ
hán, như bà
婆
đã được viết đơn-giản là
[?],
phong
風
là phong/
[?.
Rồi từ những chữ viết bớt nét ấy (hán
gọi là giảm-hoạch) thêm vào các dấu chỉ
nghĩa, tỉ dụ muốn tạo chữ bông, các
cụ viết
芃
(bông+thảo), chữ buông được viết
𢭾
(bông+thủ). Đây là những chữ nôm thuần-tuý
(nôm-học gọi là nôm lõi), chữ hán không có.
Có lẽ vì lí-do này mà nhà nho chê chữ nôm là
muốn viết sao thì viết (nôm-na cha mách
qué). Nói ác-độc như vậy chỉ vì nhà nho quá
sính chữ hán chỉ muốn cho chữ hán độc-tôn.
-
Đọc nôm, ta phải biết các đặc-tính nước của
chữ nôm: tự-do, mềm-mại, uyển-chuyển, hay
uốn mình theo văn-mạch, dể đổi âm khi đổi
vị-trí ngữ-pháp. Vua Tự Đức đã có hảo-ý
canh-tân chữ nôm nhưng tính sùng-thượng
nho-giáo quá đáng đã làm cho thiện-chí của
nhà vua thất-bại, kéo theo sự tiêu-trầm của
chữ nôm, chữ nôm không bao giờ sống yên-ổn
[thiếu
hàng cuối trong bản photocopy tr.29]





NGHĨA MẸ NHƯ NƯỚC.
Người mẹ từ thời cổ xưa được coi là sự
bền-vững của dân-tộc. Lạc-Long-quân
tượng-trưng cho hoạt-động và phát-triển
lúc nào cũng phải tìm về với Âu-cơ, bà
chúa Gò, bà chúa núi, như là tìm về một
điểm tựa để ổn-định đời mình. Chữ vợ,
đời cổ gọi là đà-bị, được viết nôm là
𡢼
(bị+nữ), viết tắt là
𡞕,
có ý chỉ một người đàn bà lúc nào cũng
dự-phòng sẵn-sàng mọi việc để cho
gia-đình lúc nào cũng được đầy-đủ. Chữ
nôm đề cao người mẹ tuyệt-đối. Đó là một
người phụ-nữ đẹp nhất đời
媄
(mĩ+nữ). Có thể mĩ chỉ là một chữ
dùng để chỉ-âm, nhưng ngay về âm, đó
cũng là một âm-thanh đẹp nhất. Vậy về
người mẹ, ta thử xét về vai-trò của
người đàn bà, người vợ và người mẹ trong
những liên-hệ với phong-tục xã-hội, một
xã-hội mà các thần-thánh đa-số là
phụ-nữ.
NGƯỜI ĐÀN BÀ.
Xã-hội nước chú-trọng về nông-nghiệp
trọng tĩnh nên rất hiểu rõ vai trò của
người đàn bà. Trong Lĩnh
Nam chích quái,
đời sống thượng-cổ đã được mô-tả trong
một thái-độ rõ-rệt đề-cao vai trò của
người đàn bà. Truyện Hồng Bàng là truyện
Âu-cơ và Lạc Long-quân. Bà là một người
đàn bà vô-địch về đông con. Hàng trăm đó
là ít vì chữ trăm trong tiếng việt có
nghĩa là lắm, là nhiều không kể được.
Nhờ bà có nhiều con mà ta biết người
Việt rất chú-trọng đến vấn-đề hạnh-phúc
của một người đàn bà là phải có nhiều
con. Có nhiều con mới được trọng-vọng,
mới được mời đỡ đầu cho những cặp
tân-hôn, mới được đảm-bảo trong lúc tuổi
về già. Cũng vì tập-quán thích đông con
mà người Việt-cổ chú-trọng tới
tín-ngưỡng phồn-thực. Tín-ngưỡng này
được kể lại trong Truyện bánh chưng
bánh giầy, thực-sự phải nói là
Truyện bánh tét bánh giày, tét
nguyên là tên của hoàng-tử Tét Seo
mà các nhà dịch Lĩnh Nam chích quái,
kể cả tôi đã dịch sai là Tiết
Liêu, hay sai hơn nữa là Tiết
Liệu. Năm 1993, tôi đã đăng trên báo
Làng Văn (số xuân) một bài báo cải chính
cách dịch sai trái này và đã chữa
Tiết Liêu thành Tét Seo, theo
kinh-nghiệm đọc nôm của tôi. Tét Seo
dần dần bị đọc trại thành Tết Sêu,
đọc ngược lại là Sêu Tết với
ý-nghĩa nhà trai đợi bánh trái đến tặng
nhà gái để tăng-cường tình giao-hảo. Về
ý-nghĩa phồn-thực, tét là bánh
tét, bánh nếp hình trục, to và dài
(TĐTV), tượng trưng cơ-quan sinh-dục của
đàn ông và bánh giầy, hình tròn, làm
bằng nếp trắng, giã thật mịn (TĐTV),
tượng trưng cơ-quan sinh-dục của đàn bà.
Sách Lĩnh
Nam chích quái
viết: “tất cả để ngụ-ý công-đức
sinh-thành lớn-lao của cha mẹ”, đúng như
ý muốn của vua cha là “để tiến cúng
tiên-vương cho tròn đạo hiếu”. Vậy báo
hiếu là đẻ nhiều con, đúng với ý-nghĩa
phồn-thực mà mô-hình bánh giầy bánh tét
hình-dung ra. Hình-ảnh nam-nữ giao-phối
đầy rẫy trên các mặt trống đồng (Trần
Ngọc Thêm, tr. 266) Phải thấy rõ những
hình-ảnh ấy mới hiểu được tục “giã cối
đón dâu”, tục “trai gái giã gạo”, tục rã
La (mà thanh-niên thích hơn thú bơi Đăm,
rước Lá chùa Thầy), tại sao lấy vợ phải
lấy các cô có “lưng chữ cụ
具,
vú chữ tâm
心
vì có lưng chữ cụ thì đàn bà mới
“thắt đáy lưng ong, vừa giỏi chiều chồng
lại khéo nuôi con.” Khi nhà nho nói:
“Thập nam viết hữu, thập nữ viết vô”, họ
tưởng là họ đã biểu-lộ được một cách
mãnh-liệt lòng khinh-bỉ đối với đàn bà,
không biết rằng đó là một lời khen. Cái
vô đó mới giàu nữ-tính, nhưng cũng vì nó
vô, nghĩa là không có gì cả, không có
chất, không có mùi, không có hình-tượng,
cho nó giống nước ở đâu cũng được, nước
muốn vào đâu thì vào, ra đâu thì ra, cái
tự-do của người đàn bà thật vô-cùng.
Ngược lại, anh con trai tưởng rằng mình
hữu, cho rằng mình tự-do, nhưng cái
tự-do của anh bị trói buộc trong
xiềng-xích đủ loại, xiềng-xích của
học-hành thi-cử, xiềng-xích của
bằng-cấp, của công-danh sự-nghiệp! Dễ
mấy ai tự biết là mình bị trói buộc như
Đào Tiềm? Dễ mấy ai dám treo ấn từ quan
khi “thất trảm sở của mình bị nhà vua bỏ
xó, như Chu An? Không gì bằng ở nhà,
đúng như tự-dạng của chữ an
安
chỉ rõ, và làm nội-tướng, lo giáo-dục
các con, ru con ngủ bằng “những câu xa
vời” mà đứa con sẽ không bao giờ quên. Ở
nhà để duy-trì tín-ngưỡng phồn-thực,
truyền bá văn-hoá chữ sinh, chuộng sự
sống.
NGƯỜI VỢ.
Nhưng vai-trò của người vợ Việt Nam
không phải dễ-dàng như người ta tưởng.
Thường thường thì có lẽ cũng thực không
có gì khó. Khi chồng bận việc quan thì ở
nhà “ngọt bùi thiếp đỡ hiếu nam, Luyện
con đèn sách thiếp làm phụ thân”. Khi
“chồng giận thì vợ làm lành, Miệng cười
hớn-hở rằng anh giận gì? Thưa anh anh
giận em chi, Muốn lấy vợ lẽ em thì lấy
cho?” Thật là cô vợ khéo biết chiều
chồng số một. Hoặc chàng cứ tiếp-tục làm
dữ “thì vợ bớt lời, Cơm sôi nhỏ lửa một
đời không khê”. Ca-dao có rất nhiều câu
phân-tích liên-hệ vợ chồng rất chặt-chẽ
và đề-xuất những phương-pháp ứng-xử rất
hữu-hiệu. Làm sao khi về làm dâu nhà
người ta, cô dâu trẻ không làm phật ý
chồng, đó là một điều khó, không mất
lòng mẹ chồng, đó là một khó-khăn
ghê-gớm, không để gia-đình nhà mình
không xung-khắc với gia-đình nhà chồng,
đó lại là một khó-khăn to lớn hơn nữa.
Người Việt Nam có thói quen không muốn
mất lòng ai, không muốn để cho ai cười
mình. Cái thể-diện hay cái sĩ-diện là
một cái gì rất quan-trọng đối với người
Việt Nam nói chung, và đối với người vợ
trong gia-đình nhà chồng nói riêng.
Bây giờ ta bàn tới nổi khó-khăn của
người vợ đối với bạn trai của mình và
của chồng. Đã gọi là bạn thì phải có
cảm-tình và có bổn-phận. Truyện xẩy ra
trong 3 trường-hợp, mỗi trường-hợp đưa
ra một bài học khác nhau.
Truyện trầu cau: Hai anh em họ Cau.
Cô con gái họ Lu (Phù-lu là trầu). Người
anh lấy cô họ Lu rồi lạnh nhạt với em
trai. Người em trai buồn, chết thành cây
cau. Anh trai đi tìm em không thấy, chết
thành phiến đá ôm lấy gốc cây. Người vợ
đi tìm chồng chết thành một cây leo cuốn
lấy phiến đá và gốc cây. Ta nên để ý đến
chi-tiết: cây leo, tức cây trầu, tức
người vợ, cuốn lấy phiến đá và cuốn cả
thân cây. Người chị dâu đã hiểu tại sao
người em chồng bỏ nhà ra đi. Người vợ
biết không thể vì mình mà anh em họ phải
xa nhau. Cách ứng-xử của cô dâu trong
nhà chồng không đơn-giản. Người vợ đã
biến thành một cây leo để uốn mình như
nước theo nhu-cầu của gia-đình nhà
chồng. Nếu cô nàng biết trước qui-luật
ấy thì làm sao gia-đình cô có thể tan-vỡ
mau chóng như vậy!
Truyện ba ông đầu rau: Một người đàn bà
lấy chồng, vì lí-do không hợp bỏ đi lấy
chồng khác làm nghề nông. Một hôm ông
chồng cũ đến xin ăn tại nhà vợ, đột
nhiên ông chồng mới về nhà lấy tro bón
ruộng. Bà vợ cuống-quít đưa anh chồng cũ
vào trốn tạm trong đống rơm ai ngờ anh
chồng mới vào bếp tìm tro không có vội
ra đống rơm đốt lửa để lấy tro. Thấy ông
chồng cũ chết oan, cô vợ nhảy vào đống
rơm cùng chết. Ông chồng mới không hiểu
gì cả vội chạy vào đống rơm chết nốt.
Trời thấy ba người ăn ở quá tình-nghĩa
bèn phong cho cả 3 làm vua bếp.
Dân-chúng cũng thương xót 3 ông bà, hay
nói đúng hơn là 2 ông 1 bà nên đã thờ cả
3 người là Thổ-công, Thổ-kì, Thổ-địa,
vai vế của ba ông đầu rau chỉ thua có
ông bà ông vải. Ý-nghĩa của câu truyện
rất sâu-xa. Người vợ đi lấy chồng phải
đối-xử với bạn cũ như thế nào? Người
chồng mới đối với bạn của vợ phải như
thế nào? Truyện trả lời: phải cư-xử làm
sao cho có tình-nghĩa mà lòng
trung-thành giữa đôi vợ chồng vẫn không
sứt mẻ
Truyện Lưu Bình Dương Lễ: Hai người bạn
thân-thiết, đồng song đồng môn. Nhưng
khi đi thi, chỉ có Dương Lễ trúng tuyển.
Lưu Bình buồn-bã trở về, đến dinh Dương
Lễ chơi thì bị người nhà Dương Lễ làm
nhục. Lưu Bình thất-vọng tột cùng may
được gặp nàng Châu Long an-ủi và giúp-đỡ
chàng ăn học, sau đó đi thi và đỗ cao.
Lưu Bình về báo tin cho người bạn gái đã
giúp mình ăn học thành tài nhưng không
thấy nàng đâu. Chàng đến nhà Dương Lễ,
người bạn xưa gọi vợ ra mừng bạn. Thấy
Châu Long đi ra, Lưu Bình mới hiểu lòng
tốt của bạn đã cho vợ hi-sinh thì-giờ và
vàng bạc giúp mình ăn học thành công.
Chàng sụp xuống “tạ ơn tấm lòng cao cả
của anh, của chị”. Câu truyện này có rất
nhiều ý-nghĩa nhưng ý-nghĩa sâu-xa nhất
là Dương Lễ dám đi ngược lại dư-luận,
dám hi-sinh tình vợ chồng để thực-hiện
một tình bạn lí-tưởng. Châu Long phải
yêu chồng lắm mới dám làm một chuyện mà
nàng biết dư-luận sẽ nghiêm-khắc kết án,
người bạn của chồng có thể hiểu lầm mà
phản-bội sự hi-sinh cao-quí của nàng.
Người viết truyện đã đặt ra một tam-giác
tình-yêu giống như trong Truyện trầu
cau, truyện Ba ông đầu rau. Phải
công-nhận rằng vai-trò của người vợ
trong những truyện này rất khó
đối-xử.Chỉ có tình-yêu đích-thực mới
vượt khỏi những khó-khăn của môt
tình-huống quá éo-le phức-tạp. Văn-hoá
nước với tính uyển-chuyển linh-hoạt của
nó đủ sức mạnh để giải-quyết những
trường-hợp khó-khăn điển-hình này.
TÌNH MẸ BAO-LA NHƯ BIỂN THÁI-BÌNH.
Tiếng hát của nhạc-sĩ Y Vân từ bao nhiêu
năm nay vẫn làm cho chúng ta xúc-động.
Tình mẹ bao-la như biển Thái-Bình, nói
như vậy có khác gì người xưa đã nói:
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Hình-ảnh nước đúng là hình-ảnh của một
người mẹ, dịu-dàng, trong sáng mà những
màu-sắc tươi vui mát-mẻ vẫn thấm sâu vào
kí-ức người con từ thuở mới lọt lòng cho
đến khi nhắm mắt.
Ngay từ thế-kỉ XV, trong chương-trình
tái-thiết đất nước sau khi chiến-thắng
quân Minh, Nguyễn Trãi đã kêu gọi mọi
người trở về nguồn. Trung-thành với nền
văn-hoá chuộng âm, thờ nữ-thần và cổ-võ
sự sống, Nguyễn Trãi đặt lại vấn-đề hiếu
và giành cho người mẹ một địa-vị
xứng-đáng hơn trong gia-đình. Chủ-trương
này xuất-phát từ kinh-nghiệm bản-thân
ông. Mẹ của ông, bà Trần-thị-Thái, con
thái-phó Trần Nguyên Đán, đã vi-phạm
luật gia-đình đi yêu và lấy gia-sư của
bà, một sinh-viên xuất-thân bần-tiện.
Hành-động của người mẹ đã làm người con
chú-ý tới thân-phận của phụ-nữ trong
gia-đình và xã-hội. Cũng vì yêu mẹ mà
ông triệt-để lo-lắng cho các bà mẹ khác,
bà Ngô thị Ngọc Dao, mẹ của Tư-thành,
tức vua Lê Thánh-tôn về sau này, và
chính vì việc bênh-vực cho mẹ con
Tư-thành mà Nguyễn Trãi đã bị nạn tru di
tam tộc thảm khốc. Trước khi chết, ông
đã hoàn-thành được cuốn Cả blả ơn áng
ná cực nặng, đề-cao người mẹ và sự
đau-khổ của bà khi lâm-bồn cũng như khi
nuôi-nấng giáo-dục con cái như là
gương-mẫu cho mọi người mẹ: Quan-niệm
của Nguyễn Trãi rất lớn. Cụ Sáu, tức
linh-mục Trần Lục, đã căn-cứ vào
tư-tưởng của Nguyễn Trãi để viết
Hiếu-tự ca. Tuy định-nghĩa hiếu là
hiếu với cha với mẹ nhưng cụ Sáu nhấn
mạnh đối với mẹ. Bản Hiếu-tự ca
đã được xuất-bản nhiều lần; giáo-dân
Phát Diệm không ai là không thuộc những
câu như:
Nặng nề chín tháng cưu
mang,
Mặt thì tái mét võ-vàng xanh-xao.
Nằm trong như cắt như bào,
Bởi chưng khí-huyết đúc vào thân ta…
Phải chăng mẹ đói mà
thôi,
Âu là để chịu lần hồi cũng xong.
Khốn thay con đói trong
lòng,
Rộn-ràng giẫy đạp bên hông rộn-ràng.
(Hiếu-tự ca,
cc.13-16-34)
Bài ca kéo dài đến câu 1.088 kể những
khó-khăn mà bà mẹ đã phải đương-đầu
trong quá-trình nuôi nấng giáo-dục con
cái. Về hôn-nhân, cụ Sáu chủ-trương cho
người con gái được tự-do lựa chọn, sau
đó về báo cho cố-vấn tinh-thần mình
biết, cuối cùng mới trình-bày sự-kiện
cho cha mẹ. Cụ Sáu xử sự không khác gì
Chúa Ba trong Truyện Chúa Thao
(thế-kỉ XVII), xa hơn nữa, giống như cô
Liên trong Truyện trầu cau, để ý
và chọn được chồng rồi mới về báo cho
cha mẹ hay.
Giáo-dục con cái, đó là ưu-tư hàng đầu
của bà mẹ. Không nói gì xa-xôi, chỉ mới
đây thôi, vào khoảng năm 1984, khi vừa
chân ướt chân ráo từ Việt Nam qua
Ca-na-đa, tôi được nghe các bà la hoảng
là mất con. Ta thử nghe nữ-sĩ Trương Anh
Thuỵ, tác-giả Trường-ca lời mẹ ru:
“Con cháu chúng ta phải đứng trước hai
nền văn-hoá, một nền văn-hoá của nước
tạm-dung, rất cận kề, rất mạnh, bao vây
các em Việt Nam ở hải-ngoại hàng ngày,
hàng giờ, và một nền văn-hoá
truyền-thống mà hình-ảnh đối với các em
rất mờ nhạt, chỉ qua những gì các em
nghe được của ông bà cha mẹ”. Rồi bà kêu
gọi: “Một tiếng kêu trầm-thống đã nổi
lên, nhiều tiếng vang vọng đang dội lại
= Chúng ta đang mất con. Chúng ta ra đi,
chấp-nhận mất gần hết: mồ mả cha ông,
người thân, nhà cửa ruộng vườn, của cải
chức-vụ, cốt để GIỮ LẤY CON và
đánh đổi lấy hai chữ TỰ-DO. Ngoài ra,
chúng ta cũng hiểu hơn ai hết là: mất
con, mất đi tiếng nói, mất đi
văn-hoá Việt là cũng không còn đường về
cố-quốc nữa” (Trương Anh Thuỵ, Sđd, Lời
tác-giả).
Cả hải-ngoại xôn-xao về vai-trò của
người mẹ trong gia-đình? Ai là người dạy
con nói tiếng Việt? – Bà mẹ. Ai đi làm
lo cho con đi học – Người mẹ. Ai đưa con
đến nhà thương, đến chùa, đến nhà thờ? –
Người mẹ. Các sinh-hoạt cộng-đồng ở
Montréal, Toronto, Ottawa, Orange
county, Los Angelès, Houston, Oklahoma
city, các Đại-học Hè ở Orsonnens, ở
Nancy, ở Tennessee, ở Kentucky, các hội
nhà giáo, hội văn-hoá, báo-chí,
truyền-thông họp nhau kêu gọi mọi người
về nguồn, đề-cao vai-trò quyết-định của
người mẹ trong việc giáo-dục con cái.
Riêng ở Ottawa và Montréal, tôi
chú-trọng đến những tổ-chức của các
bác-sĩ Đặng Phú Ân, Từ Uyên, Lâm Thu
Vân, Lại Thế Hưng, các bác-sĩ trong
nguyệt-san I-sĩ, tiến-sĩ kĩ-sư Thái Công
Tụng, luật-sư Ngô Văn Hoa, giáo-sư Khiếu
Đức Long trong Trung-tâm Việt Nam học
và niên-san Vietnamologica, người
thì tổ-chức Hội Khuyến-học, lo
trợ-cấp cho các học-sinh sinh-viên có
nhu-cầu, người thì mở các lớp giảng-dạy
về Quê-hương mến-yêu, tất cả đều
đóng vai bà mẹ để giữ con, không cho
phép những thành-công ở hải-ngoại bắt
con cái mình phải quên nền văn-hoá
cội-nguồn. Ở Ottawa, người ta còn
hoạt-động mạnh hơn. Cùng với những
vận-động hăng-hái của các tiến-sĩ Lê Duy
Cấn, Tăng Quyền Vinh, đại-tá Võ Đức An,
điêu-khắc-gia Phạm Văn Trung, bức tượng
một người mẹ Việt Nam ôm con vượt biên
đã được dựng lên trong thành-phố. Nhà
điêu-khắc đã cụ-thể-hoá thành-công sự
quyết-tâm của các bà mẹ ôm chặt lấy con
trong tình mẫu-tử bao-la của mình, không
để cho một sức-mạnh nào cướp giật được
của các bà. Để củng-cố ý-chí quyết-liệt
này, nữ-sĩ Lệ Vân đã viết rất nhiều để
biểu-lộ tinh-thần nhập-cuộc của bà. Cuốn
Hát ru ba miền, ấn-hành năm 1996,
cùng những cát-xét và đĩa đặc đi kèm,
với sự góp-phần của bà Trần Ngọc Sương
về kĩ-thuật các bài hát ru bắc trung
nam, giúp rất nhiều cho các bà mẹ trẻ
biết hát những bài ru con theo cung-điệu
cổ-truyền, mục-đích giáo-dục con cái từ
lúc nằm nôi ý-thức được trong cõi
vô-thức của chúng những bổn-phận của
chúng sau này, khi khôn lớn. Tôi còn
được chứng-kiến nhiều hoạt-động văn-hoá
tích-cực nữa nhưng không thể nói hết ở
đây được. Tôi tin rằng khi nào các bà mẹ
Việt Nam còn biết noi gương bà, bà mẹ
thánh Gióng, bà mẹ vua Lê Thánh-tông, bà
mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm thì nguồn văn-hoá
gốc nước của chúng ta không bao giờ khô
cạn được.
III
THUYẾT BẤT-VÔ
Tư-tưởng là phần cốt lõi của văn-hoá.
Văn-minh là thời-kì tư-tưởng ấy được
thực-hiện rồi dừng lại trong những
tác-phẩm kiến-trúc, điêu-khắc, hội-hoạ,
trong những công-trình khoa-học,
kĩ-thuât, văn-chương v.v… Văn-hoá Việt
Nam sở dĩ trường-tồn và càng ngày càng
phong-phú là nhờ ở nguồn tư-tưởng vô-tận
mà nó chứa đựng trong lòng, đó là nguồn
nước mà ta đã phân-tích ở trên. Vấn-đề
là làm thế nào để vân-dụng nguồn nước
ấy, nguồn tư-tưởng sinh-động ấy để
bảo-đảm sự sinh-hoá của con người Việt
Nam? Đó là nhờ thuyết bất-vô mà
thiền-sư Đạo Huệ đã công-bố vào năm
1172. Khi tiết-lộ cho môn-đệ hiểu rõ
yếu-chỉ của đời ông, Đạo Huệ không hẳn
chỉ đơn-thuần áp-dụng một phương-pháp
giáo-dục cá-nhân. Trước ông là hành bao
nhiêu thế-kỉ đã suy-nghĩ như ông trước
những vấn-đề mà đời sống đặt ra và phải
giải-quyết. Trước ông đã có những
nhân-vật kiệt-xuất như LẠC LONG QUÂN đã
uy-dũng đánh thắng con ngư-tinh để giúp
cho dân-chúng ổn-định đời sống. Con
ngư-tinh ấy không phải chỉ là một con
vật huyền-thoại. Nó là thuồng-luồng, là
những con sấu hung-dữ phá-hoại mùa-màng,
vườn-tược, nói chung là hệ sinh-thái của
quần-chúng. Lạc Long Quân đã có công
thuần-hoá những con quái-vật đó, bắt
chúng phải sống hiền-lành hơn, có ích
hơn cho loài người, nhờ đó mà lịch-sử
thuần-hoá thiên-nhiên để phục-vụ cho
quyền sống của con người được diễn ra
rộng khắp, đáp-ứng với mọi vấn-đề trong
đó có tư-tưởng. Thuyết bất-vô đã được
hình-thành như thế nào? Nó có những
liên-hệ gì với tư-tưởng sắc sắc không
không của Phật-giáo, thuyết vô-vi của
Lão-giáo, thuyết vô khả vô bất khả của
Khổng-giáo?
Khái-quát về thuyết bất-vô trước Đạo
Huệ.
Đạo Huệ sinh vào đời Lý ( ?-1172). Trước
thiền-sư, cuộc tranh-luận về vô
và hữu vẫn còn sôi-nổi giữa các
thiền-sư Ấn-độ, Trung-hoa, kéo theo
vấn-đề bất vô bất hữu cũng
tranh-luận sôi-nổi không kém. Trong
khuôn-khổ nhỏ hẹp của bài nói chuyện
này, Tôi chỉ nhắc sơ qua đến hai
quan-niệm đối-lập nhau, một bên chủ
hữu là thuyết của Tăng Triệu, một
bên chủ bất-vô của Huệ Năng.
Tăng Triệu (384-414) và thuyết bất chân
không.
Tăng Triệu có hai chủ-trương chính gọi
là thuyết chủ hữu, khẳng-định rằng những
hiện-tượng ngoại-giới là có thực (Tăng
Triệu, Bảo tạng luận). Thuyết thứ 2
trình-bày trong tác-phẩm Bất
chân-không luận, cho rằng thế-giới
hiện-tượng, chính vì nó là hiện-tượng,
cho nên cũng có thể cho nó là giả, cho
nó là “vô”, nhưng đã cho rằng có
hiện-tượng thì cũng không thể không gọi
chúng là “hữu” (Cao Xuân Huy,
Tư-tưởng phương Đông, 1995,
tr.600). Thuyết này được gọi là thuyết
“bất chân-không”, coi hiện-tượng
chẳng phải là chân vô, chẳng phải là
thực hữu.
Huệ Năng (638-713) và thuyết bất -nhị.
Huệ Năng không tán-thành thuyết chủ-hữu.
Thiền-sư là học-trò của Hoàng Nhẫn
đệ-ngũ tổ và đã được thầy trao y-bát sau
khi trình-bày bài kệ chủ vô. Hai
chủ-thuyết của Huệ Năng được thế-nhân
truyền-tụng là thuyết vô-niệm và
thuyết bất-nhị. Thuyết vô-niệm
thường bị hiểu sai lầm là trạng-thái
hoàn-toàn không có ý-niệm, trạng-thái
tinh-thần của một người đầu ốc rỗng
tuếch.
Suzuki hiểu như vậy là dịch vô-niệm là
no-mind (tiếng pháp là le non-mental).
Nhà Phật-học Lucien Houlné, tác-giả cuốn
Discours et sermons, nghiên-cứu và
phiên-dịch Pháp bảo-đàn kinh,
tác-phẩm của Huệ Năng, đã kịch-liệt
phê-bình quan-điểm của thiền-sư Suzuki
và dịch vô-niệm là le non-attachement,
nghĩa là không nắm bắt được. Ông Lucien
Houlné dịch như vậy là đúng với
chữ-nghĩa Kinh Kim Cương, đúng với chữ
vô sở trụ trong câu ưng vô sở
trụ nhi sinh kì tâm, chữ
trụ này được từ-điển Phật-giáo dịch
ra tiếng anh là: to maintain, firmly
hold to, nghĩa là giữ chặt, nắm chặt (X.
A dictionary of chinese buddhist terms
của W.E. Soothil, tr. 224) Tôi căn-cứ
vào cách hiểu từ vô-niệm của Lucien
Houlné để tán-thành quan-điểm của
Hoà-thượng Thích Mãn Giác khi thiền-sư
rảo khắp cả nội-dung của Pháp bảo-đàn
kinh để chứng-thực Huệ Năng là một
người Việt Nam, bởi vì nếu vô-niệm có
ý-nghĩa là không nắm bắt được thì chính
chữ niệm phải được đọc bằng âm nôm là
NẮM
念(vào
thời cổ chắc phải phát-âm là NÁM,
như cách đọc của đồng-bào Quảng-ngãi
ngày nay). Nếu Huệ Năng là người Việt
Nam thì học-thuyết phụ của ngài là
thuyết bất-nhị phải có họ-hàng với
thuyết bất-vô của Đạo Huệ. Hai
thuyết bổ-sung cho nhau để nói lên một
sự thật sâu-xa trong tâm-thức người Việt
Nam là: “Ở trong tướng mà vẫn xa lìa
tướng; tuy ở trong không mà vẫn không
chấp-trước không”. (Pháp bảo-đàn kinh,
bản dịch của Thích Mãn Giác, đoạn 46,
tr. 86). Lục-tổ giảng rõ hơn: “Bóng tối
tự nó không phải là bóng tối, vì có ánh
sáng cho nên có bóng tối, bóng tối không
tự nó là bóng tối bởi vì ánh sáng biến
thành bóng tối, và bóng tối làm
hiển-hiện ánh sáng. Ánh-sáng và bóng tối
là sinh-nhân của nhau”(Nt). Ta có thể
biết thêm 36 đối-pháp mà Huệ Năng
liệt-kê đầy-đủ để nêu rõ những cặp
mâu-thuẫn như trời / đất, mặt trời / mặt
trăng, bóng tối / ánh sáng, âm / dương
v.v… nhưng bằng nấy cũng tạm đủ để ta có
thể đi vào học-thuyết bất-vô của
Đạo Huệ
ĐẠO HUỆ ( ?- 1172) VÀ THUYẾT BẤT-VÔ.
Trở lại 36 cặp đối-pháp mà Huệ Năng
cẩn-thận liệt-kê trong Pháp bảo-đàn
kinh, ta thấy có 5 cặp thuộc ngoại-cảnh
vô-tình (5 extérieures inanimés), đó là:
Trời
Đất
Mặt
trời Mặt trăng
Bóng
tối Ánh sáng
Âm Dương
Lửa Nước
12 cặp thuộc về ngôn-ngữ và pháp-tướng:
Hữu-vi Vô vi
Hữu-sắc Vô-sắc
Hữu-tướng
Vô-tướng
Hữu
lậu Vô lậu
Sắc Không
Động Tĩnh
Trong Đục
Phàm Thánh
Tăng Tục
Già Trẻ
Lớn Nhỏ
Dài Ngắn
19 cặp trong dụng-khởi từ tự-tính:
Tà Chánh
Si Huệ
Ngu Trí
Loạn Định
Giới Sai
Thẳng Cong
Thực Hư
Dốc Bằng
Phiền-não Bồ-đề
Từ Hại
Vui Giận
Xả Tiếc
Tiến Thoái
Sinh Diệt
Thường Vô thường
Pháp-thân Sắc-thân
Hoá-thân Báo-thân
Thể Dụng
Tính Tướng
Hữu
tình Vô tình
Tổ-tiên của Đạo Huệ, những người mà
lịch-sử quen gọi là Lạc Việt, (mà ta
hiểu là những người sống trên nước và
dùng vớt để đánh cá) chắc sống với nước
nên đã không lạ gì những vận-động có
tính qui-luật của nước: chảy ngược chảy
xuôi, chảy lên chảy xuống, chảy ngang
chảy dọc v.v… Qui-luật phát-hiện ra là
sự-vật nào cũng có bản-chất (nước) và
hiện-tượng (sóng), cũng có những cặp
đối-lập như nước rặc (xuống) nước ròng
(lên), nắng / mưa, nóng / lạnh, nước /
lửa. Long-quân nói với Âu-cơ: “Ta là nòi
rồng, đứng đầu thuỷ-tộc, nàng là giống
tiên, sống ở trên đất, tuy khí
âm-dương hợp lại mà sinh ra con,
nhưng nước lửa khắc nhau,
dòng giống bất-đồng, khó ở với nhau
được” (Trần Thế Pháp, Lĩnh-nam chích
quái, Truyện Hồng-bàng), đó là tổ-tiên
chúng ta đã phát-hiện được một cặp
đối-lập mà dần-dần qua kinh-nghiệm của
đời sống, ông và con cháu sẽ khái-quát
hoá thành triết-lí âm-dương. Hai từ
âm-dương này, gốc của nó hiển-nhiên
xuất-phát từ miền Nam theo lời
khẳng-định của nhóm triết-học Kim Định,
nhưng ngay cả cái âm-ngữ, của từ này
nhất-định cũng là gốc-gác thổ-âm miền
Nam, đó là những âm IM và DANG. Im
là trạng-thái không có biểu-hiện của
hoạt-động, không có sự di-động, sự đổi
chỗ (TĐTV, tr.301); dang là mở
rộng ra cả hai phía, như nói dang tay
(TĐTV, tr.260). Người Việt đã quan-sát
thấy hiện-tượng này từ khi bắt đầu biết
trồng lúa nước, vào khoảng 6.000 năm
trước TCGS, sau Ấn-độ 3.000 năm, nhưng
trước Trung-quốc khoảng 3.000 năm
(Tôn-thất Trình, ngành trồng lúa ở Việt
Nam, Vietnamologica số 4, Montréal,
1999). Lạc Long quân trong Lĩnh-nam
chích quái có dùng từ âm-dương. Có thể
từ nay chỉ là một từ hán mà các nhà nho
đều biết và yên trí đó là những chữ hán
gốc; tác-phẩm Lĩnh-nam chích quái lại
chỉ được viết vào thế-kỉ XIV, XV thì lại
càng biết chắc rằng chính tác-giả đã
dùng từ âm-dương đó thay cho nhân-vật
của ông. Nhưng vào thời Lạc Long quân,
giả-định là khoảng thế-kỉ thứ 3, TTCGS,
tôi khẳng-định là từ âm-dương đã
xuất-hiện, nếu không dưới dạng yin /
yang kiểu Trung-hoa thì cũng là im /
dang kiểu Lạc Việt mà Trần Thế Pháp
không có cách nào khác hơn là mượn hai
chữ hán để biểu-âm, theo phương-pháp
giả-tá. Cũng có thể chữ yin / yang của
Trung-hoa là do từ việt-cổ ná / áng
mà ra vì ná / áng hay áng / ná
có nghĩa là cha mẹ, đúng như đầu-đề cuốn
Cả blả ơn áng ná cực nặng
giả-thiết là tác-phẩm của Nguyễn Trãi,
dịch từ nguyên-bản hán-văn Đại báo
phụ-mẫu ân trọng kinh, trong đó từ
phụ-mẫu được dịch nôm là áng ná
(Génibrel, tr.4) Tuy nhiên, khái-niệm
âm-dương được hình-thành từ sự đối-lập
giữa hai thao-tác mâu-thuẫn im / dang có
thể là hợp-lí nhất.
Sau khi đã chiêm-nghiệm các cặp đối-lập
về mặt cơ-cấu, tổ-tiên ta quan-sát những
cặp ấy về mặt liên-hệ. Vì sống ở những
vùng sông nước, các cụ ta được hưởng một
đặc ân của trời đất là rất bén-nhậy, rất
thính, thính về mắt, về mũi, và nhất là
về tai. Về phương-diện này có thể nói
mỗi một người Việt Nam là một nhạc-sĩ.
Khi chú-ý đến các cặp đối-lập, người xưa
đã không quên lắng nghe những âm-thanh
và những nhịp-điệu phát ra, cứ hai thanh
ngắn đi trước thì một thanh sau kéo dài,
cứ hai nhịp nhẹ đi trước thì một nhịp
nặng đến sau, tỉ-dụ:

Hiện nay ta vẫn còn được nghe nhịp-điệu
này trong những đám múa lân. Múa lân gốc
là một trò chơi của trẻ em Việt Nam,
nguyên là múa long, sau chuyển sang tay
người Trung-hoa trở thành múa lân. Mỗi
lần nghe các em múa lân gõ trống, ta
phải để ý tới nhịp 2 dồn-dập thoát ra từ
chiếc trống cái và các trống con. Cụ Sáu
đã giữ được nhịp-điệu này trong ban
trống của nhà xứ Phát Diệm. Đây là nhịp
trống mà ai gốc Phát Diệm cũng đã được
nghe từ hồi còn nhỏ, trong những ngày lễ
lớn:

Nhịp-điệu cổ-sơ này dần dần được
khái-hoá thành - - — hai vạch ngắn là
hai vạch con tượng-trưng cho 2 tiếng
nhẹ, ngắn, nhỏ, nét dài tượng-trưng cho
1 tiếng nặng, mạnh kéo dài. Khi
khái-niệm âm-dương thành hình thì 2 vạch
ngắn bắt-buộc là phải được dùng để chỉ
âm, vạch dài chỉ dương.
Tại sao hai vạch nhỏ lại đi trước vạch
lớn lại đi sau? Đó là vì sự tất-yếu của
nhịp-điệu, phù-điệu dài bao giờ cũng
chấm dứt nhạc-phẩm, trong khi nhịp ngắn
dùng để bắt đầu, điều này rất dễ hiểu
nếu ta quan-sát một bản nhạc dù là nhạc
phổ-thông. Phù-điệu đi trước đứng về mặt
trái, phù-điệu đến sau đứng về mặt phải,
do đó phía trái bao giờ cũng
quan-trọng hơn phía bên phải. Chúa Kitô
lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha, tức
là Đức Chúa Cha ngồi bên trái,
quan-trọng hơn Đức Chúa Con.
TUYÊN NGÔN CỦA ĐẠO HUỆ NĂM 1172.
Năm 1172, trước khi mãn-phần, thiền-sư Đại
Huệ, giáo chủ phái thiền-học bất-vô, đọc cho
môn-đệ nghe bài thơ kết thúc tư-tưởng của
ngài.
鑪若不色
中人合身
花要不與
一真分妙
枝別離体
Sắc-thân dữ diệu-thể
Bất hợp bất phân-li
Nhược nhân yếu chân biệt
Lô trung hoa nhất chi.
Tạm dịch:
Sắc-thân và diệu-thể
Chẳng hợp chẳng phân-li.
Người nếu ưng phân-biệt
Trong lò nhìn hoa kia.
Để hiểu rõ bài thơ này, xin đọc báo
VIETNAMOLOGICA số 4 (1999). Cũng xin đọc
thêm cuốn The Literature of the Personalists
of early Buddhism của tì-kheo Thích Thiện
Châu do Vietnam buddhist research institute
xuất bản, Paris, 1978. Trong khuôn-khổ của
bài nói chuyện này, tôi chỉ nhấn mạnh vào
câu 2 - Bất hợp bất phân li mà tôi
cho đó là khẩu-hiệu mà Đạo Huệ đưa ra để làm
tiêu-chuẩn cho văn-hoá Việt Nam. Khẩu-hiệu
đó là nguyên-lí bất vô. Nguyên-lí này
có những đặc-điểm như sau:
*
Đặc tính giao-thoa: đầu tiên là
giao-thoa giữa cái tiền-nghiệm và cái
hậu-nghiệm. Các triết-gia Ấn-độ và
Trung-quốc đã mỏi miệng tranh cãi về những
vấn-đề nguồn gốc của tri-thức, của luật
nhân-quả. Tăng Triệu chẳng hạn đã quả-quyết,
như Huma, là không có luật nhân-quả. Ông nói
ngược đời như vậy mà từ trước đến giờ có ai
bắt-bẻ được ông đâu!
Đạo Huệ trả lời một cách nhẹ-nhàng: làm gì
có một tri-thức nào hoàn-toàn tiền-nghiệm và
hoàn-toàn hậu-nghiệm; nó là kết-quả của một
cuộc giao-thoa giữa cái tiền-nghiệm và cái
hậu-nghiệm. Nói cách khác, trong cái
tiền-nghiệm có cái hậu-nghiệm và trong cái
hậu-nghiệm có cái tiền-nghiệm. Hoạt-động
tinh-thần của con người được điều-động bởi
nguyên-lý bất-vô: bất hợp bất phân-li.
-
Giao-thoa giữa cái cụ-thể và cái trừu-tượng:
Nho-giáo chẳng hạn vẫn tin rằng tri-giác con
người chỉ đạt đến những đối-tượng cụ-thể.
Lão-tử cười và cỡi lừa đi vào rừng. Thực ra
sự trực-giác thuần-tuý về cái cụ-thể cũng
phù-du không kém gì cái biểu-tượng hoàn-toàn
trừu-tượng. Làm sao mà tinh-thần có thể đứng
trụ mãi trong trừu-tượng được, nó phải dựa
vào một biểu-tượng giác-quan, tỉ-dụ, có màu
sắc để thấy, có hương-vị để ngửi, v.v… Một
từ-ngữ hoàn-toàn trừu-tượng, nghĩa là không
gợi ra được một thực-tại cụ-thể nào, là
hoàn-toàn vô-nghĩa. Cụ-thể và trừu-tượng
không tích-hợp mãi với nhau được, nhưng cũng
không phân-li. Cụ-thể và trừu-tượng đi đi
lại lại với nhau luôn luôn không khi nào
rời. Chính cái quá-trình đi từ sự-vật tới
khái-niệm, từ khái-niệm đến sự-vật ấy nó tạo
ra thuyết bất-vô.
-
Giao-thoa giữa đối-thể và chủ-thể, giữa
sự-vật và tinh-thần, nói một cách khác,
không có tính chủ-quan thuần-tuý, cũng không
có tính khách-quan tuyệt-đối, hay nói đúng
hơn, đối-thể thông-tin cho chủ-thể, ngược
lại, chủ-thể thông-tin cho đối-thể, một thể
mà là hai, hai thể mà là một. Tinh-thần đâu
có đúc được những cái khuôn có sẵn để chứa
đựng sự-vật, và chính sự-vật thì cũng không
có trước như chúng ta tri-giác thấy trước
khi hoạt-động đồng-hoá của tinh-thần diễn
ra. Qui-luật của thực-tại khách-quan không
độc-lập đối với cơ-cấu của tinh-thần, và
cơ-cấu của tinh-thần cũng không độc-lập đối
với cơ-chế của thực-tại. Nói cách khác,
không có sự-vật nào được gọi là đã thành-tựu
sẵn-sàng. Tất cả là đang đi tới, đang
diễn-biến, đúng như Lão-tử đã nhìn thấy. Như
vậy, không có cái gì là tuyệt-đối. Mọi
giá-trị đều tương-đối và khởi-sắc nhờ những
liên-hệ của nó đối với một vật khác.
Để kết luận, ta có thể đối-chiếu thuyết bất
vô với một vài qui-luật của luận-lí-học
tây-phương, tỉ-dụ, với luật đồng-nhất, luật
lí-do đầy-đủ, tức luật nhân-quả, phép
biện-chứng. Ta thấy sự đối-chiếu sẽ
khó-khăn, chẳng khác gì ta đem đối-chiếu cái
động với cái tĩnh riêng-biệt, trừ phi cái
động và cái tĩnh ấy có quan-hệ qua lại
mật-thiết với nhau. Đối với phép biện-chứng
tây-phương, trong khi phép biện-chứng của
các triết-gia Hi-lạp, của Hégel và Marx ngày
nay đã trở thành kinh-viện khô-khan, nếu
không nói là đã bị đào-thải trước phép
biện-chứng khoa-học thì thuyết bất-vô của
Đạo Huệ, trên nền tảng của tư-tưởng Việt
Nam, Trung-hoa và Ấn-độ, vẫn còn giá-trị để
làm chứng cho sự trường-tồn của văn-hoá Việt
Nam.
*
Đặc tính bổ-túc.
Ngoài tính giao-thoa, thuyết bất-vô của Đạo
Huệ còn có giá-trị nhờ ở đặc-tính bổ-túc. Ở
trên, ta đã biết âm và dương tự khẳng-định
một cách lần-lượt như thế nào nhưng ta cũng
thấy tuy chúng không phủ-nhận nhau mà lại
cũng không thể nào đạt đến được một tổng-hợp
hoà-hài và rõ ràng. Những khẳng-định ấy đều
được coi là bổ-túc mặc dầu người ta không có
thể nhìn thấy một cách hợp lí chúng bổ-túc
cho nhau như thế nào. Khái-niệm bổ-túc mới
được nhà bác-học Niels Bohr (1885-1962),
giải thưởng Nobel về vật-lí-học (1922), công
bố mới đây, nhưng nó có giá-trị củng-cố cho
thuyết bất-vô đứng trước phép biện-chứng
duy-linh của Hegel và phép biện-chứng
duy-vật của Marx. Nói chung, các nhà
biện-chứng người Đức đều chủ-trương có sự
đối-kháng đấu-tranh quyết-liệt và gay-gắt
giữa chính-đề và phản-đề. Đối với màu-sắc
chẳng hạn, từ đen đến trắng, xanh, vàng, đỏ,
ta chỉ thấy có một thang độ âm-dương
rõ-ràng, có đối-kháng gì đâu? Không có
mâu-thuẫn, không có đấu-tranh, chỉ có bổ-túc
hỗ tương, mặc dầu sự bổ-túc này không đưa
tới một tổng-hợp hoà-hài, lí-do chỉ là vì
vấn-đề mức-độ. Chỉ có xẩy ra những cái không
thích-đáng, không thích-hợp một khi những
biểu-tượng mà ta dùng trong mức-độ vĩ-mô lại
được đem dùng trong mức-độ vi-mô. Điều này
rất đúng đối với những cuộc thí-nghiệm
vật-lí-học, nhưng nó cũng rất phù-hợp với
đời sống tinh-thần của người Việt Nam.
-
Tỉ dụ về vấn-đề đời sống. Một bên là
sắc thân, được nói đến rất nhiều
trong Pháp bảo-đàn kinh của Huệ Năng, một
bên là diệu-thể, mà Huệ Năng hiểu là
Pháp-thân. Lí-tưởng là ta phải hiểu sắc thân
và diệu-thể trong một tổng-thể hoà-hài,
nhưng trong thực-tế, khi phải dùng ngôn-từ
để giải-thích hiện-tượng đó, ta bắt buộc
phải nắm bắt chúng một cách riêng biệt và
lần lượt. Điều đó không trái ngược với
quan-điểm bất vô của Đạo Huệ, bởi vì, sau
khi đã lần-lượt tìm hiểu hai sắc-thái đó một
cách phân-biệt, ta sẽ rõ cơ-cấu bất-nhị của
chúng: không hợp cũng không phân-li, không
phân-li mà hoà-hợp, bởi vì xét về quan-hệ
giữa chúng, chúng vẫn gắn bó mật-thiết với
nhau, vẫn hoạt-động và chuyển-hoá lẫn cho
nhau, vẫn bổ-túc cho nhau như những cặp đôi
khó tách rời, như non với nước, như tiên với
rồng, như cha với mẹ, như vợ với chồng, như
anh với em v.v…Tính cặp đôi này được diễn ra
trong mọi mặt của cuộc sống, tỉ-dụ luận về
chữ hiếu thì có cặp từ công cha / nghĩa
mẹ, nói về thiên-văn thì trời tròn /
đất vuông. Ngay cả những từ đã rõ nghĩa
vẫn còn phải chú-thích cho đủ cặp: núi
Thái-sơn, sông Hương-giang. Chữ Bố-cái
đại-vương nằm trong qui-luật này vì thực
ra đại-vương là chữ hán, được Phùng An dịch
ra chữ nôm là bua
[бua?]
cái,
bua
[бua?]
là vương (tức vua), cái là cả, là
lớn, dịch chữ đại như nói sông cái
(sông Hồng chính là tên hán-hoá của chữ
Cái, Hồng nghĩa là lớn, không phải là
màu đỏ), ngón tay cái, đường cái v.v…Đọc
bua
[бua?]
cái
thành bố-cái là đọc sai 1 lần,
đọc Bố Cái Đại-vương là sai một lần
thứ 2, nhưng tinh-thần dân-tộc như thế thì
làm thế nào? Cũng trong tinh-thần ấy, các từ
nước ngoài nhập vào Việt Nam đều bị khuôn
theo một qui-luật: ông Tơ (Trung-hoa)
thì lập tức có bà Nguyệt, Phật-ông /
Phật-bà, Chúa / Mẹ v.v…Các từ nước ngoài
như affaires trở thành phe
(áp-phe) chưa đủ, phải có phẩy là
phe-phẩy mới có tính việt-nam, chữ good-bye
hiền-lành thế mà khi nói gút bai là
người Việt thêm ngay yếu-tố mai gặp,
thành gút bai / mai gặp nhịp-nhàng và
rất Việt-nam.
-
Tỉ-dụ 2: về vấn-đề tự-do và định-mệnh
(hay quyết-định luận). Đời sống xã-hội cho
ta có kinh-nghiệm rằng không có định-mệnh
không thể có tự-do. Tôi chỉ có thể theo
mục-đích mà tôi đã nhắm là nhờ ở việc tôi có
biết những qui-luật điều-động sinh-hoạt bên
trong của tôi. Người Việt Nam sống trong nền
văn-hoá nông-nghiệp trọng tĩnh hiểu rõ hơn
ai hết là con người chỉ sống được với
thiên-nhiên bằng cách hoà-hợp với nó (Trông
cho chân cứng đá mềm, Trời yên biển lặng mới
êm tấm lòng). Ngược lại, không có tự-do,
chúng ta không có một ý-niệm gì về định-mệnh
cả, và do đó, ta dễ sống buông xuôi, ta sẽ
không có ý-thức về bất cứ một vấn-đề gì.
Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều (đúng
ra phải nói là Đoạn-trường tân thanh)
để giải vây cho con người trước sự thống-trị
của định-mệnh. Nhà thơ kiệt-xuất của chúng
ta chủ-trương ta chỉ thắng định-mệnh bằng
cách hoà-hợp với nó, nghĩa là bằng cách dùng
tự-do của ta trong vòng phối-hợp với
định-mệnh. Hình như đó cũng là quan-điểm của
nhà văn Doãn Quốc Sỹ trong tác-phẩm Dòng
sông định-mệnh thì phải?
*
Đặc-tính hữu-cơ của thuyết bất-vô.
Đây là hệ-luận của đặc-tính bổ-túc. Thật ra
tất cả mọi tri-thức khoa-học, khoa-học
tự-nhiên cũng như khoa-học xã-hội, đều có
khả-năng bổ-sung cho nhau. Tư-duy đâu chỉ là
một tấm thảm, một bức khảm hoạ hoành-tráng
không cần đến cái gì khác ngoài nó? Như
trong một cơ-thể, tung-hoành một tinh-thần
nhất-trí cao-độ, đến nỗi chỉ thay đổi một
bộ-phận là làm rung-rinh cả kiến-trúc
sinh-lí. Vì vậy mà xuất-hiện môn học
liên-ngành lần đầu tiên được tổ-chức tại
Đại-học Huế năm 1960 về hệ sinh-thái học,
cũng như về đời Lý năm 1060, 1065, đã được
thiết-lập môn Tam-giáo đồng-nguyên tại
Quốc-tử giám, trường Đại-học đầu tiên của
Việt Nam. Xin nói ngay rằng chính nhờ ở
tinh-thần hoà-đồng tôn-giáo mà nước Việt Nam
vào những thế-ki XII, XIII trở thành một
quốc-gia mạnh nhất Đông Nam Á vì đã đánh
thắng được giặc Mông-cổ hung-dữ nhất
thế-giới.
-
Tính hữu-cơ trong ngôn-ngữ văn-chương.
Cứ xét hình-thức và nội-dung của ngôn-ngữ
văn-chương, ta đủ thấy rõ tính hữu-cơ
(organique) của văn-hoá do thuyết bất-vô
qui-định. Ta thấy ngay ý-nghĩa không lúc nào
cũng đến với từ-ngữ một cách như tiền-định:
ý-nghĩa này tuỳ-thuộc vào cách sử-dụng của
người viết, nó thay-đổi dễ-dàng theo
văn-mạch và chỉ cần thay đổi một từ là những
từ-hạng còn lại của câu văn mang một
sắc-thái khác ngay. Ví-dụ lấy trong
Chinh-phụ-ngâm, bản dịch của Đoàn thị
Điểm: Dòng nước sâu ngựa nản chân bon
(Sđd, c.70). Bon nghĩa là gì? Một từ
vô-nghĩa, bởi muốn có nghĩa là chạy nhanh
và nhẹ-nhàng thì phải nói là bon-bon,
không thể cắt đôi một từ kép mà bắt nó phải
giữ nguyên-nghĩa. Do đó, và đối-chiếu với
nguyên-bản hán-văn có động-từ súc
nghĩa là co rúm lại, ta phải phiên-âm
chữ bon là blun, một từ cổ
thế-kỉ XVII-XVIII mà Alexandre de Rhodes còn
giữ được trong từ-điển của ông, với nghĩa là
co rúm. Từ blun sau chuyển
thành tlun (cuối thế-kỉ XVIII),
trun (thế-kỉ XIX), chun, xun, thun
(dây thun) thế-kỉ XX. Vì không biết từ
blun cổ này, các nhà phiên-âm, kể cả
học-giả lão-thành Hoàng Xuân Hãn, đã làm sai
lạc ý-nghĩa của câu thơ số 70. Cái sắc-thái
co rúm lại vì sợ khác với ý
“không dám bước mau” mà giáo-sư Hãn đã
giải-thích đã làm cho ý của câu thơ yếu đi
nếu không nói là khác hẳn. Cái sắc-thái bị
biến-đổi này không phải chỉ đơn-thuần là một
hệ-quả có thể tính-toán được trong
trừu-tượng: ta chỉ thấy nó một khi câu văn
được viết lại, tuồng như tổng-hợp là một cái
gì tương-đối độc-lập đối với những thành-tố
mà nó tụ-tập. Câu thơ được viết lại là: Dòng
nước sâu, ngựa nản, chân blun
(Chinh-phụ-ngâm, bản nôm của Đoàn thị Điểm
do Lê Hữu Mục phiên-âm, Vietnamologica, IV,
1999) So với câu chữ hán: “Thuỷ thâm-thâm,
khiếp đắc mã đề súc”, câu thơ dịch đúng từng
chữ: Thuỷ thâm-thâm = dòng nước sâu,
khiếp = nản (nghĩa là sợ, chứ
không có nghĩa là chán nản) chân
blun: (mã) đề súc. Trong phần chú-thích
bản hán-văn của Đặng Trần Côn, giáo-sư Hoàng
Xuân Hãn đã chữa lại câu phiên-âm của ông.
Ông viết: “chữ súc đây, nghĩa là
co, có lẽ hợp ý và cách đặt câu hơn… Với
thoại súc , phải đổi…ra là: vó ngựa
sợ phải co chùn” (Chinh-phụ ngâm bị
khảo, Paris, 1952, tr.239) Nếu đã là co
chùn thì không phiên-âm là bon
được; phải phiên-âm là blun, vì vào
tiền bán thế-kỉ XVIII, từ này còn thông-dụng
với phụ-âm đầu /bl/. Tính hữu-cơ của thuyết
bất-vô như vậy là rất rõ và rất cần-thiết để
kiểm-soát tính chính-xác của những bản
phiên-âm nôm.
*
Ngôn-ngữ Việt
Nam phong-phú là nhờ ở tính hữu-cơ.
-
Đầu tiên là nhờ một số rất nhiều từ láy.
Hình-thức láy đơn-giản nhất là loại từ điệp
nghĩa là tự nhắc lại nó như nao-nao,
thanh-thanh, vặc-vặc, sát-sát; thứ đến
loại điệp biến vế đầu, nhưng vẫn tôn-trọng
luật thuận-thanh, tỉ-dụ vặc vặc → vằng-vặc,
sát sát → san-sát; gọi là tôn-trọng luật
thuận-thanh là vì vần cuối /K/ đi với /NG/,
như vặc thì biến thành vằng,
nếu viết vằn là sai luật thuận-thanh,
vần cuối /T/ đi với /N/, cho nên sát-sát →
san-sát, nếu viết sang-sát là sai
luật thuận-thanh. Hệ-thống thuận-thanh rất
chặt-chẽ. Ta có bảng thuận-thanh được đặt
như sau cho dễ nhớ: Sắc không hỏi, Huyền
ngã nặng (Ông Sắc mà không hỏi cô Huyền
thì cô Huyền sẽ ốm nặng). Tỉ-dụ:
sắc không / không sắc: chứa-chan /
mang-máng.
không hỏi / hỏi không: thon-thả / hở-hang.
sắc hỏi / hỏi sắc: sắc-sảo / ngổ-ngáo.
huyền ngã / ngã huyền: còm-cõi / sỗ-sàng.
ngã nặng / nặng ngã: nhã-nhặn / vật-vã.
huyền nặng / nặng huyền: vừa-vặn / nặng-nề.
Ta còn thiết-lập nhiều bảng khác tương-tự.
Ta cũng có thể nghiên-cứu mọi hình-thức láy,
như láy toàn bộ, láy bộ-phận, láy âm đầu,
láy vần v.v… nhưng ở đây tôi chỉ cần nhấn
mạnh đến tính hữu-cơ của ngôn-ngữ,
|