19.11.2006

TAI  ƯƠNG HAY TƯƠNG LAI

(Mc 13:24:32)

Hiện nay, Ðức Mẹ Fatima đang thánh du Houston.  Ðây là Thánh Tượng đã từng thánh du Việt nam cách đây hơn bốn chục năm, lúc chiến tranh đang diễn ra ác liệt nhất.  Nhìn lại Mẹ, tôi không sao cầm được nước mắt và bồi hồi nhớ về quê hương đau khổ bên kia bờ đại dương.  Cơn xúc động lên tới tột cùng khi thấy ánh mắt Mẹ vẫn đầy trìu mến nhìn đến đoàn con đang đau khổ dưới trần gian. 

Quỳ trước nhan Mẹ, tôi nghe rất rõ lời Mẹ nhắn nhủ.  Những bí mật Fatima một lần nữa lại vang lên.  Nhưng càng mở ra, những bí mật đó càng làm cho tôi băn khoăn và suy nghĩ.  Những lời đe loi khủng khiếp.  Mẹ kêu gọi mọi người ăn năn hối cải để tránh những tai ương sắp giáng xuống toàn thể nhân loại. Nói tóm, Mẹ muốn người ta suy nghĩ về cảnh tượng cánh chung để biết đường chuẩn bị.  Cái chết trở thành một phương tiện răn đe khá hữu hiệu đối với nhiều người.

Nhưng tôi tự hỏi những răn đe đó có phù hợp với Tin Mừng không ?  Trong khi Chúa nói “đừng sợ !” chẳng lẽ Mẹ lại đưa các hình phạt đó ra để hù con ?  Phải chăng Chúa dạy một đàng, Mẹ nói một nẻo ?  Phải chăng Mẹ đang cổ võ một nền văn hóa sợ hãi, ngược với Chúa Giêsu Con Mẹ ?  Giữa Mẹ và Con, chúng ta biết theo ai ?   Thực tế, Mẹ không bao giờ dạy chúng ta đừng theo Chúa.  Ngược lại, Mẹ luôn nói : “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo !”[1]   Nếu chỉ chú tâm đến những gì xảy ra trong vũ trụ mà thôi, chúng ta có đủ lý do để run sợ.  Phải chăng Ðức Mẹ muốn chúng ta cắm mắt vào những biến cố tận cùng của vũ trụ mà quên đi Biến Cố lớn nhất là chính Con Thiên Chúa làm người ?  

Sống trong sự sợ hãi, con người có thể bình an và vững bước theo Chúa không ?  Ðã có lần Nietzche chua chát mỉa mai : “Các linh mục ấy làm tôi thương hại ...  Người mà họ gọi là Ðấng Cứu Thế đã cho họ vào cùm : cái cùm của những giá trị giả tạo và những lời nói hão huyền ...  Họ không biết yêu mến Thiên Chúa cách nào khác hơn là bằng cách đóng đinh con người ...  Có lẽ họ phải hát những bài hát hay hơn để tôi có thể bắt đầu tin vào Ðấng Cứu Thế của họ : có lẽ các môn đồ của Ðấng Cứu Thế ấy nên có một vẻ được giải thoát hơn.”[2]  Ðúng thế, Ðức Kitô mang đến sự giải thoát hoàn toàn, chứ không phải những bức bách hay kềm kẹp.

Hơn nữa, cái chết và phán xét dễ làm con người trở thành tiêu cực.  Cùng lắm chỉ làm chúng ta ăn năn không trọn.  Trong khi đó, Chúa Giêsu muốn chúng ta trọn lành như Cha trên trời.[3]  Nghĩ đến cái chết, con người có thể sống khôn ngoan hơn.  Nhưng cái chết không bao giờ có thể trở thành động lực thúc đẩy con người sống như Ðức Kitô Phục sinh.  Nghĩ đến cái chết của mình có thể làm cho con người lo sợ, chán nản và buông xuôi tất cả.  Tất cả trở thành tai ương.  Trái lại, muốn thoát khỏi tai ương và tiến tới một tương lai phục sinh toàn thể nhân loại, chúng ta cần phải tập trung vào cái chết của một Người Khác đến từ Thiên Chúa, chứ không phải cái chết của mình.  Chỉ có cái chết của Ðức Giêsu mới làm cho chúng ta sống và hưởng ơn cứu độ dồi dào .  Hiện nay, nhân loại đang sống trong thời đại Ðức Kitô phục sinh.  Ðức Kitô không còn chết nữa.  Tại sao lại tìm cái chết giữa thế giới đã chan hòa ánh sáng phục sinh ?

Bởi vậy, hôm nay Chúa Giêsu vẽ ra trước mắt chúng ta cảnh tượng cánh chung, không nhằm hù dọa, nhưng để mọi người thấy rõ ơn cứu độ lớn lao tới mức nào.  Quả thế, trong lúc cả vũ trụ kinh hoàng, Con Người sẽ xuất hiện như một cứu cánh và niềm hy vọng cuối cùng.[4]  Giữa lúc mọi người kinh hãi và tản mác, vẫn có niềm vui lớn từ cảnh quy tụ “những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời.”[5]  Ðúng là một ngày Hội Lớn của những con người được cứu thoát.

Như thế, sự hủy diệt và sầu thảm chỉ xảy ra cho những lực lượng thù nghịch với Thiên Chúa và con người.  Còn những người tin tưởng vào Chúa Cứu Thế sẽ vui sướng và bình an.  Thực thế, “Kinh thánh gọi sự canh tân huyền nhiệm này, sự biến cải nhân loại và thế giới, là ‘trời mới và đất mới.’ (2 Pr 3:13)  Cuộc canh tân đó sẽ dứt khoát thực hiện kế hoạch Thiên Chúa đem “mọi sự trong [Ðức Kitô] ‘trên trời và dưới đất’ (Ep 1:10) dưới quyền một thủ lãnh duy nhất.”[6]  Ngay trên trần gian, người tín hữu đã sống trong niềm vui vì là chi thể của Chúa.  Vui vì thấy niềm hy vọng đang lớn lên tới mức độ viên mãn là Ðức Kitô.  Mặc dù sống trong sự căng thẳng giữa ân sủng và vinh quang, giữa những điều “đã có” và “chưa tới,” các tín hữu vẫn vững tin vào chiến thắng cuối cùng của “Ðấng đang hiện hữu để nắm trong tay vận mạng thế gian mau qua ; Ðấng nắm chìa khóa tử thần và âm phủ (x. Kh 1:18);  Ðấng là Nguyên Thủy và Cứu Cánh lịch sử nhân loại (x. Kh 22:13) ... Và Ðấng là Tình yêu (x. 1 Ga 4:8, 16) – Tình yêu trở thành con người, Tình yêu bị đóng đinh và phục sinh, Tình yêu không ngừng hiện diện giữa loài người.”[7]  Như vậy, vấn đề là làm sao nhận ra tình yêu tuyệt vời đó đang hoạt động bằng quyền lực Thiên Chúa để biến đổi ước vọng phù phiếm nhân loại thuần túy sang chân lý và thực tại Thiên Chúa.[8]

Ý thức về cánh chung không chỉ cần cho những người sắp lìa đời.  Chính người đang sống và tham gia vào công cuộc làm chứng càng cần ý thức về cánh chung hơn.   Từ cái nhìn cánh chung, mới có thể ý thức về tính cách bất tất của lịch sử.  Từ đó, có thể kiến tạo thế giới hiện tại và tương lai với một ý thức mới về trách nhiệm liên đới.[9]  Chính ý thức lịch sử đó đã khiến ÐGH Gioan Phaolô II tạo được một hành động lịch sử xin thế giới tha thứ vào năm Thánh 2000, nhất là năm 2001 ở Giêrusalem và Athen.

Sở dĩ có thể tạo được hành động lịch sử đó, vì ÐGH Gioan Phaolô II đã ý thức Chúa Giêsu, chứ không phải Giáo hội, là trung tâm lịch sử.  Chỉ có Mầu Nhiệm Vượt Qua của Ðức Kitô mới tạo thành trung tâm lịch sử cứu độ mà thôi.  Chính Giáo hội cũng nằm trong hoàn cảnh lịch sử.  Không xoay quanh trung tâm cứu độ đó, Giáo hội tự biến mình thành trung tâm chi phối tất cả công cuộc cứu độ.  Ðó là sai lầm đã nhiều lần diễn ra trong lịch sử.  Bao lâu Giáo hội nhận thức Chúa Kitô là cùng đích, nền tảng và trung tâm lịch sử, Giáo hội mới thoát khỏi vòng xoáy hay cơn lốc lịch sử.  Chỉ có niềm tin cánh chung mới cho thấy Ðức Kitô chính là Biến cố Cánh Chung hay Thời Ðại Cuối Cùng.  Chỉ có Người mới trình bày cả thời gian lời hứa và vinh quang thành tựu, vì Người đã hiệp nhất hai bản tính Thiên Chúa và nhân loại nơi chính mình. 

Kitô hữu xác tín rằng vạn vật đang hướng tới và bắt nguồn từ biến cố trung tâm là Ðức Kitô.[10]  Ðức Giêsu chính là cứu cánh lịch sử.  Giáo hội là lữ khách cần cải tổ và canh tân không ngừng.  Không bao giờ được đồng hóa hay lẫn lộn Giáo hội với Nước Thiên Chúa trên trần gian.[11] Thế mới hay tính cách tương đối của Giáo hội.  Trên đường hướng về Ðấng Tuyệt Ðối, Giáo hội không thể quên tính cách nhân loại mỏng dòn và mau qua của mình.  Chính lúc nhận ra sự yếu đuối đó, Giáo hội lại được Chúa Thánh Linh soi sáng thấy con đường dẫn dắt lịch sử nhân loại tới cứu cánh viên mãn.  Chính Thánh Linh sẽ làm biến đổi thực tại trong ta và đem lại một sự sống bất hoại thể hiện nơi Ðức Giêsu lần đầu tiên khi làm cho Người trỗi dậy (Rm 8:11).  Sự sống đó thực sự đã được Giáo hội nếm hưởng ngay trên trần gian này.  Bởi đó, các tác giả Kitô giáo thường nói đến chiều kích “cánh chung” của các bí tích Giáo Hội và của đời sống đức tin.[12]

Nếu những điều tiên đoán trong các bí mật Fatima xảy ra thật, thì điểm nhấn không phải là những nét kinh hoàng của các biến cố đó.  Biến cố chính là Ðức Kitô Phục Sinh đang hiện diện trong tâm hồn và cuộc đời tín hữu.  Trước những biến cố thiên nhiên, họ luôn nghe Chúa phán : “Ðừng sợ !”  Ðây là lời nhắn nhủ vắn tắt và rất thực tế đối với những ai có lòng tin.  Thực vậy, “Trong Chúa Giêsu và Thánh Linh, Thiên Chúa hiện diện như một huyền nhiệm sự sống vượt lên trên mọi hiểm nguy hay đổ nát, một chân lý tối thượng, một tình yêu vô điều kiện và bền vững.”[13]  Ðúng như Kinh Thánh quả quyết : “Chúa là nơi con vào trú ẩn, lũy sắt thành đồng chống lại địch quân.”[14]

Nhưng hình như tiếng nói của bản năng sợ hãi vẫn trấn át chúng ta.   Sau khi Phục sinh, Chúa đã trấn an các môn đệ : “Ðừng sợ !”[15]    Chính ÐGH Gioan Phaolô II đã nhắc lại rất nhiều lần.  Nhưng chúng ta vẫn sống như thể Chúa chưa Phục sinh.  Bởi thế, vẫn không thể thắng nổi sự sợ hãi tầm thường.  Nếu đã từng sống ơn hiện sủng đầy tính ‘cánh chung,’ như đã mạc khải trong Tân Ước về Ðức Kitô, ta sẽ có một xác tín rõ ràng về tương lai cánh chung.  Thực vậy, “Kitô hữu nhận biết về tương lai mình vì họ hiểu về chính mình và ơn cứu rỗi của mình trong Ðức Kitô qua mạc khải của Thiên Chúa.”[16] 

Thực tế, có lẽ vì quá ít hiểu biết và sống Lời Chúa, nên chúng ta mới thấy tương lai đầy tai ương.  Thần Khí và sự sống thiếu vắng trong ta, nên mới dễ bị ám ảnh và kinh hoàng trước những viễn tượng đen tối.  Ðức Kitô là mạc khải cuối cùng và trọn vẹn nhất của Thiên Chúa.  Người là biến cố áp đảo mọi biến cố và đã dứt khoát bẻ lái lịch sử nhân loại sang một hướng khác hẳn.  Không thể coi thường niềm hy vọng Kitô, một niềm hy vọng có nội dung cụ thể là vị “Cánh Chung” tối cao.  Người là “những sự sau cùng” vào lúc lịch sử nhân loại hay cuộc đời mỗi người kết thúc.[17]

“Ngày Con Người được mạc khải,”[18] Chúa dạy chúng ta “hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc.”[19]  Ðó không phải là thái độ của những người sợ hãi.  Trái lại, chỉ những người can trường và tự tin mới có thể đứng trong tư thế hiên ngang như vậy.  Ðúng hơn, chỉ những người tràn đầy niềm hy vọng Kitô, mới có thể nắm vững tương lai tuyệt đối là chính Thiên Chúa.[20]  Thế nên, biến cố lớn nhất không phải là vũ trụ tan biến, nhưng là Thiên Chúa mạc khải trọn vẹn tình yêu tuyệt đối vượt trên mọi sự chúng ta có thể tưởng tượng.

Cánh chung Kitô giáo là một sứ điệp cứu độ được thực hiện trọn vẹn trong Ðức Giêsu.  Những tiêu cực không thể tạo thành sứ điệp nòng cốt của Kitô giáo.  Cánh chung Kitô giáo là một phần công bố ơn cứu độ.  Ðó là “tin mừng” theo nghĩa trong sáng nhất.[21] Nếu tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, chúng ta cũng phải nhìn nhận Chúa Giêsu Phục Sinh có quyền trấn át tất cả sự sợ hãi, vì Người là Chúa Tể muôn loài.  Người đã chiến thắng cả tội lỗi và sự chết để bước vào vinh quang.

Muốn tham dự vào vinh quang đó với Người, chúng ta phải chia sẻ đau khổ và cái chết của Người.  Người đã phục sinh để bảo đảm ngày Người tái lâm chúng ta sẽ chiếm trọn vẹn hồng ân cứu độ.  Nếu không đại thắng , chắc chắn Chúa Giêsu không thể có toàn quyền giựt lại ơn cứu độ cho chúng ta.  Bởi đó, Phục sinh tương đương với việc kiện toàn trong mọi chiều kích của chúng ta  về phương diện cá nhân, vũ trụ và xã hội.[22] 

Rõ ràng cánh chung Kitô giáo mở ra một hướng sống vô cùng tốt đẹp.  Muốn được thế, dứt khoát chúng ta phải tập trung chú ý vào một biến cố vĩ đại hơn cả biến cố vũ trụ, đó là Ðức Giêsu Kitô.  Nhờ Thánh Thần, Chúa Giêsu đã trở thành niềm hy vọng duy nhất và sau cùng cho chúng ta khi phải chạm trán với những sự sau cùng của cuộc đời hay vũ trụ. Tất cả đều phải tan biến để mở một tầm nhìn mới về Thiên Chúa.  Trong sự hiệp thông trọn vẹn với Ba Ngôi, chúng ta sẽ trọn vẹn trở thành con Thiên Chúa.[23] 

Lạy Chúa, năm cùng tháng tận đã đến, xin mở ra cho chúng con thấy tình yêu mãnh liệt của Chúa nơi cái chết và sự Phục sinh của Con Chúa.  Xin cho chúng con biết núp bóng Con Chúa để có thể đứng vững trước những biến cố lớn lao của cuộc đời.  Trong khi hướng về ngày cánh chung, xin cho chúng con không quên Ðức Kitô chính là biến cố sau cùng mạc khải trọn vẹn hồng ân cứu độ của Chúa.  Amen.

đỗ lực

dzuize@gmail.com


[1] Ga 2:5.

[2] Trích lại từ  Rey-Mermet, C.Ss.R, Tin : Nhãn Quan Mới Về Luân Lý, Phạm Minh Thiện, cssr dịch, California: Tủ sách Tin, 1992, tr. 278

[3] x. Mt 5:48.

[4] Lc 21:28.

[5] Mc 13:27.

[6] Giáo Lý Công Giáo, số 1043.

[7] Gioan Phaolô II, Crossing the Threshold of Hope, New York : Alfred Knopf, 1994

[8] Shaw, R., Our Sunday Visitor’s Encyclopedia of Catholic Doctrine, Indiana : Our Sunday visitor, Inc., 1997, tr. 203.

[9] New Catholic Encyclopedia, 2nd ed., Eschatology in Theology, Lane, D. A., Farmington Hills : The Gale Group, 2003, tr. 347.

[10] Cullmann, O., Christ and Time, Philadelphia : Wesminster Press, 1947.

[11]  New Catholic Encyclopedia, 2nd Ed., Eschatology in Theology, Lane, D. A., Farmington Hills : The Gale Group, 2003, tr. 347.

[12] x. Commentary on the Catechism of the Catholic Church, ed. by Walsh, M.J. Eschotology, Brian E. Daley SJ, Minnesota : The Liturgical Press : 1994, tr. 205.

[13] ibid.

[14] Tv 61:4.

[15] Mt 14:27; Mc 6:50; Ga 6:20.

[16]K. Rahner, ‘The hermeneutics of eschatological assertions' in Theological Investigations, vol. 4 (London, 1966), tr 332, 335.

[17] Dictionary of Fundamental Theology, ed. by Latourelle, R. & Fisichella, R. Eschatology, Ladaria, L. F., New York : Crossroad, 1995, tr. 273.

[18] Lc 17:30.

[19] Lc 21:28.

[20] Dictionary of Fundamental Theology, ed. by Latourelle, R. & Fisichella, R. Eschatology, Ladaria, L. F., New York : Crossroad, 1995, tr. 273.

[21] ibid.

[22] ibid.

[23] ibid.

 

TRANG CHỦ

  PHÚC ÂM NHẬT KÝ