|
Câu Chuyện Thầy
Lang:
Bệnh Cột Sống
Xương sống
trẻ sơ sinh có có 33 đốt: 7 đốt cổ, 12 đốt ngực, 5 đốt thắt
lưng, 5 đốt hông và 4 đốt cụt.
Tới khi
trưởng thành, các đốt hông và cụt dính lại với nhau, chỉ còn
lại hai xương cùng và xương cụt. Vì thế người trưởng thành chỉ
có 26 đốt xương sống.
Xương sống
nâng đỡ sức nặng các phần ở bên trên của cơ thể là đầu, mình,
hai tay.
Cột sống
chạy từ đáy hộp sọ xuống tới cuối lưng, bao bọc và bảo vệ dây
cột sống (spinal cord). Dây cột sống gồm có các tế bào thần
kinh, các bó sợi thần kinh kết nối tất cả các bộ phận của cơ
thể với não bộ. Từ cột sống, phát xuất 32 đôi dây thần kinh
tủy sống.
Xương sống
khớp với hộp xương sọ, xương sườn, đai hông và là nơi bám của
các cơ lưng.
Cột sống
không đứng ngay thẳng mà có nhiều đoạn hơi cong để chịu sức
nặng cơ thể hữu hiệu hơn trong các thế đứng khác
nhau.
Các
đốt xương sống được dây chằng và hơn 400 cơ bắp nho nhỏ neo
giằng hỗ trợ.
Dây chằng
(ligament) là một băng mô liên kết xơ cứng, mầu trắng, nối hai
xương với nhau ở vùng khớp. Các dây này không đàn hồi nhưng có
thể uốn cong, giữ cho khớp mạnh hơn và giới hạn sự chuyển động
của khớp về một phía nào đó.
Nằm giữa
các đốt xương là một cấu trúc dẹp (đĩa liên sống) cấu tạo bằng
chất collagen rất bền chắc dùng làm chất đệm cho đốt xương,
chống đỡ với sức mạnh va chạm. Khi mới sanh, nước chiếm 80%
thành phần cấu tạo đĩa và đĩa mềm sốp.Tới tuổi gia tăng, nước
trong đĩa khô dần. Vì đĩa không có mạch máu nuôi dưỡng, cho
nên khi bị tổn thương thì không tự lành được.
Khi đĩa bị
chấn thương, dây thần kinh bị đè kẹp và gây ra đau đớn vô cùng
cho chân. Đốt ở phía cuối cột sống là nơi gây ra nhiều đau hơn
cả.
Khi các
thành phần cấu tạo xương sống bị tổn thương, siêu vẹo, co kéo
thì đau lưng xảy ra.
Mấy bệnh
thông thường của cột sống:
Thoái hóa
đĩa đệm (Degenerative Disc
Disease)
Ðĩa đệm là
một cấu trúc sụn-xơ nằm giữa hai đốt sống.
Toàn bộ
đĩa đệm chiếm ¼ chiều dài cột sống và hoạt động như một bộ
phận giàm sốc để bảo vệ não và dây thần kinh não tủy khi cơ
thể vận động mạnh, như chạy nhẩy, uốn mình.
Một số tác
giả coi thoái hóa đĩa đệm như một diễn biến của sự hóa già.
Ðĩa giảm đàn hồi, dẻo dai và giảm sốc. Lớp dây chằng bao bọc
đĩa trở nên giòn, dễ gẫy. Ðồng thời phần chất mềm ở giữa đĩa
bắt đầu khô và teo lại, mấu xương (spur) mọc nhô ra ở cạnh đốt
xương sống vá mặt khớp đốt xương.
Ðĩa đệm
sẹp và mấu xương nhô ra sẽ làm thu hẹp khoảng trống dành cho
dây cột sống, do đó rễ dây thần kinh bị đè
ép.
Không phải
ai bị thoái hóa đĩa đệm cũng bị đau lưng.
Cơn đau
thường xảy ra khi bệnh nhân ngồi vì lúc này phần dưới cột sống
chịu sức nặng gấp ba lần khi đứng. Cơn đau tăng khi bệnh nhân
cúi xuống, nâng vật nặng hoặc vặn mình. Ði lại hoặc chạy chậm
đôi khi làm cơn đau giảm đi. Khi nằm, áp lực lên đĩa đệm giảm
và làm bớt đau.
Ngoài đau
lưng, bệnh nhân còn cảm thấy đau nhói nhói, tê tê ở dưới chân
và bàn chân vì dây thần kinh có thể bị kẹp hoặc đè
ép.
Chụp
X-quang MRI hoặc CT scan là hai phương tiện rất hữu hiệu để
xác định bệnh. MRI cho biết mức độ thoái hóa và thoái vị của
đĩa đệm.
Có nhiều
biện pháp trị liệu khác nhau:
a- Không
giải phẫu
- Trước
hết, bệnh nhân cần kiểm soát cơn đau: chườm lạnh để làm giảm
đau, chườm nóng để cơ bắp thư giãn,
- Dùng
thuốc chống đau như acetaminophen, thuốc chống đau không có
steroids (NSAIDS), thuốc có chất á phiện, thuốc thư giãn bắp
thịt.
- Ðôi khi,
bác sĩ cũng có thể chích cortisone vào màng tủy xương.
Ngoài ra,
châm cứu, thủ thuật chỉnh xương, thoa nắn, siêu âm... cũng có
nhiều công hiệu.
Ðôi khi
người bệnh phải phối hợp nhiều phương thức khác nhau, chứ
không có một phương thức chung cho mọi người
bệnh.
b- Tập
luyện, vật lý trị liệu
Khi cơn
đau đã giảm, bệnh nhân cần tích cực tập luyện các thành thần
cấu tạo cột sống.Tập luyện mang lại một số lợi ích như
sau:
-Giúp các
thành phần cấu tạo xương sống duy trì sự bền bỉ và sức mạnh,
giảm áp lực xuống đĩa đệm. Nhờ đó, cơn đau giảm
bớt.
-Vận động
mang chất dinh dưỡng tới cho đĩa đang bị thoái hóa, tổn
thương. Tập vươn giãn theo thể điệu để tăng cường sức mạnh của
bắp thịt dọc theo xương sống, nhờ đó cơn đau cũng
giảm.
c- Thay đổi
lối sống, thói quen
Bệnh nhân
cũng nên tránh các động tác gây ảnh hưởng cho đĩa đệm, như là
nâng vật quá nặng, vặn lưng quá cong và nên sử dụng ghế đệm đỡ
lưng.
Nếu hút
thuốc là thì nên ngưng, vì thuốc lá làm giảm máu tới nuôi
dưỡng đĩa. Nếu quá mập phì cũng cần giảm
cân.
d- Sau sáu
tháng phối hợp điều trị như trên mà cơn đau không những không
giảm, mà còn gia tăng, gây trở ngại cho cuộc sống, cho công
việc hàng ngày thì có thể nghĩ tới giải phẫu.
Có hai
phương thức giải phẫu thường được dùng:
- Nối tiếp
đốt sống (Fusion lumbar spine):
Ðĩa thoái
hóa được lấy ra và thay thế bằng xương của người bệnh hoặc
xương tổng hợp. Xương sẽ mọc ra trên xương ghép và hai đốt
xương sẽ dính với nhau. Bệnh nhân sẽ không còn cảm thấy đau vì
đĩa thoái hóa không còn nữa.
Phương
thức này có vài khuyết điểm: vết mổ đau, mất thời gian lâu để
đốt sống dính với nhau, sự dính đưa tới thay đổi chuyển động
của các đốt sống lân cận
- Thay thế
bằng đĩa nhân tạo
Ðĩa nhân
tạo được thay thế vào vị trí của đĩa thoái hóa. Thay thế này
mới được cho phép dùng ở Hoa Kỳ vào năm 2004, cho nên còn cần
nhiều nghiên cứu bổ túc để hoàn thiện.
Giải phẫu
chữa thoái hóa đĩa đệm là một phẫu thuật phức tạp, cần
một thời gian lâu sau giải phẫu để phục hồi và có thể gây ra
một số khó khăn. Do đó, bệnh nhân cần cân nhắc suy nghĩ kỹ
càng và cần thảo luận lợi hại với bác sĩ điều trị trước khi
quyết định.
Sa đĩa liên
sống (Herniated Disc)
Còn gọi là
thoát vị đĩa đệm, trợt đĩa (slipped disc), vỡ (ruptured) hoặc
rách (torn) đĩa.
Trường hợp này xẩy ra khi nhân của đĩa nhô ra qua
màng xơ bao chung quanh đĩa và ép lên các rễ thần kinh, dây
chằng kế cận.
Ða
số các trường hợp thoát vị đĩa đệm đều thường thấy ở tuổi
30-40, khi mà nhân đĩa còn dẻo như gelatin. Thoát vị xẩy ra
bất chợt khi vặn hoặc cong cột sống quá mức. Phần đĩa đệm lòi
ra sẽ đè lên dây thần kinh cột sống.
Sa đĩa đệm
có thể thấy ở bất cứ phần nào của cột sống, nhưng 98% trường
hợp ở giữa hai cột sống lưng số 4- số 5 và cột sống lưng số 5
- xương cùng.
Bệnh nhân
có những cơn đau sắc bén, mạnh như xé thịt ở lưng, chạy xuống
vùng chân mà dây thần kinh tủy có ảnh hưởng. Dáng đi tập tễnh,
co chân đau để tránh mang sức nặng của cơ thể.
Ðiều trị
với nghỉ ngơi, chườm nóng lạnh, dùng thuốc chống đau, vật lý
trị liệu, giải phẫu nếu cần.
Vẹo cột
sống (Scoliosis)
Vẹo cột
sống là một hình dạng bất bình thường về độ cong của xương
sống.
Ở một
người bình thường và khi nhìn từ phía sau, cột sống là một
đường thằng đứng từ phần chót của gáy xuống tới xương cụt.
Nếu nhìn
nghiêng, xương sống có hình chữ S, cong ra phía trước ở phần
lưng trên và cong về phía sau ở phần lưng
dưới.
Khi bị
vẹo, nhìn từ phía sau sẽ thấy cột sống có một vài độ cong
không bình thường.
Các dấu
hiệu thường thấy của vẹo cột sống gồm có:
- Hai vai cao thấp không đều nhau
- Một xương bả vai nhô cao hơn phía bên đối
diện
- Eo bên cao bên thấp
- Một bên hông cao hơn bên kia
- Khi đứng hoặc đi lại, người nghiêng về một
phía.
Khi cột
sống vẹo nhiều, xương sườn và lòng ngực nhô về phía trước, gây
khó khăn cho sự thở và cũng gây ra đau lưng.
Nguyên
nhân gây ra vẹo cột sống chưa được biết rõ. Có nhiều trường
hợp do bẩm sinh, do chân dài chân ngắn.Vẹo cột sống thường
thấy ở nhiều người trong một gia đình.
Vẹo cột
sống không phải là hậu quả của dáng điệu không ngay ngắn, vận
động cơ thể quá mạnh hoặc đeo vật nặng trên
lưng.
Cứ
1000 trẻ em thì có từ 3-5 em bị vẹo cột sống và trẻ gái vẹo
nhiều hơn trai.
Vẹo trầm
trọng hơn khi xảy ra ở tuổi trẻ, khi cột nghiêng nhiều nhất là
nghiêng ở phần trên cột sống.
Bất thường
này ít khi xảy ra ở tuổi trưởng thành, đôi khi vì cột đã bị
vẹo từ nhỏ mà không chữa hoạc vẹo do thoái hóa cột sống.
Bình
thường, vẹo cột sống không gây ảnh hưởng xấu cho sức khỏe. Tuy
nhiên, khi cột vẹo nhiều sẽ gây tổn thương cho tim, phổi, đau
lưng. Lồng ngực sẽ đè vào tim phổi gây khó khăn cho sự hô hấp
và sự bơm máu từ tim.
Vẹo cột
sống gây ra đau lưng kinh niên, đôi khi viêm xương khớp cột
sống.
Thường
thường, bác sĩ gia đình cũng như trường học đều khám để coi
trẻ em có bị vẹo cột sống không.
Trẻ bị vẹo
cột sống được điều chỉnh bằng:
- Ðeo nẹp
lưng (brace) để vẹo không trầm trọng hơn. Khi cởi bỏ nẹp, cột
sống vẹo trở lại.
- Giải phẫu
nối đốt sống ở chỗ vẹo với nhau, nhờ đó cột sống thẳng trở
lại.Phẫu thuật này rất phức tạp, cần được bác sĩ và bệnh nhân
cân nhắc lợi hại trước khi thực hiện.
Thoái hóa đốt sống (spondylosis, osteoarthritis of the
spine)
Trong
thoái hóa đốt sống, lớp sụn lót giữa hai mặt đốt xương và đĩa
liên hợp bị tổn thương gây ra thay đổi cấu trúc và suy giảm
chức năng của cột sống. Tuổi cao là rủi ro chính của sự thoái
hóa nhưng mức độ thoái hóa nhanh chậm tùy theo từng người.
Thoái hóa có thể xảy ra ở cột sống cổ, ngực,
lưng.
1- Thoái
hóa đĩa đệm: Với tuổi cao, vành bao bọc đĩa đệm bị rách mòn,
phần keo trong đĩa khô nước, giảm khả năng chống sốc và giảm
chiều cao của cơ thể. Chất keo có thề lòi ra khỏi vành, đè lên
rễ dây thần kinh não tủy.
2- Viêm
khớp đốt sống
Mỗi đốt
sống có 4 mặt khớp có nhiệm vụ như cái bản lề để cột sống có
thể cử động nghiêng ngả về phía trước sau và hai bên. Một lớp
sụn bao phủ mặt khớp để sự chuyển động khớp được chơn tru. Khi
bị thoái hóa, sụn hao mòn, gai xương (osteophyte=bone spurs)
mọc ra.
Thoái hóa
đốt sống cổ gây ra đau ở cổ, vai và cánh tay. Gai xương có thể
đè lên rễ dây thần kinh, làm cho các bắp thịt ở tay
yếu.
Viêm khớp
đốt sống ngực gây ra đau khi cúi xuống hoặc ngửa người ra phía
sau.
Ðốt sống
lưng chịu đựng hầu hết sức nặng của cơ thể. Khi thoái hóa,
thường có đau lưng nhất là khi ngồi lâu hoặc nâng nhấc vật
nặng.
Chụp hình
cột sống (X-quang,MRI, CT Scan) đều thấy rõ các thay đổi của
cột sống.
Ðiều
trị
Nhiều
người cứ cho rằng khi bị thoái hóa cột sống là sẽ bị đau lưng
suốt đời hoặc phải ngồi xe lăn. Thực ra, bệnh không đưa tới
tình trạng bi quan như vậy, vì với các phương tiện trị liệu
hiện có, 75% bệnh nhân có thể phục hồi.
Trị liệu
căn bản gồm có:
- Nằm nghỉ
không quá 3 ngày, để tránh máu cục ở tĩnh mạch nằm sâu dưới
da
- Dùng dược
phẩm chống viêm đau, thuốc thư giãn cơ bắp trong thời gian
ngắn
- Vùng
xương bị viêm được giữ cố định để tạm thời giới hạn cử động
khớp và giảm đau
- Chườm
nóng, kích thích điện
- Tập các
cử động tăng sức mạnh bắp thịt ở bụng, dọc theo cột sống để
giúp cột sống mạnh hơn
- Thay đổi
nếp sống, việc làm, bỏ thuốc lá, giảm cân nếu mập
phì...
Giải phẫu
ít khi cần đến trong trường hợp thoái hóa đốt
sống.
Ðau dây thần
kinh tọa.
Dây thần
kinh tọa (sciatic nerve) là dây thần kinh chính ở
chân.
Ðây
là dây thần kinh lớn nhất, chạy dài từ phần dưới cột sống
xuống phía sau đùi. Tới khớp gối, dây chia ra làm hai nhánh
phân bố cho các cơ và da của chân.
Ðau dây
thần kinh tọa thường xảy ra ở lớp tuổi từ 30- 50 và thường là
do một đĩa đệm ở phần dưới lưng lòi ra, đè lên rễ của dây thần
kinh.
Triệu
chứng chính của rối loạn này là cảm giác đau ở một phía cơ
thể, chạy dài từ dưới lưng xuống mặt sau của bắp đùi và bắp
chân, đôi khi tới bàn chân, ngón chân. Cảm giác đau có thể
là:
- Ðau ở
phía sau chân nhất là khi ngồi
- Cảm giác
nóng và nhoi nhói dưới da
- Yếu, tê
tê và không cử động được chân và bàn chân
- Ðau liên
tục khiến cho đứng lên khó khăn
- Thường
thường đau ở dưới chân nhiều hơn là ở lưng
Cảm giác
đau thường hết sau thời gian từ hai tuần lễ tới vài tháng. It
khi dây thần kinh tọa bị tổn thương vĩnh
viễn.
Nếu thấy
chân mỗi ngày mỗi yếu hoặc có rối loạn đại tiểu tiện, thì cần
gặp bác sĩ ngay để khám nghiệm, điều trị vì có thể là dây thần
kinh tọa bị tổn thương trầm trọng.
Ðiều trị
tập trung ở giải quyết nguyên nhân (kẹp dây thần kinh tọa)
giảm đau với thuốc chống viêm đau, vật lý trị liệu, tập luyện
tăng sức mạnh bắp thịt.
Giải phẫu
cũng được áp dụng khi bệnh không thuyên giảm với các trị liệu
kể trên. Mục đích của giải phẫu là để giải tỏa đè kẹp rễ dây
thần kinh tọa.
Viêm cứng khớp cột sống
(ankylosing spondylitis)
Như tên
gọi, viêm cứng cột sống là trường hợp viêm của đốt xương sống.
Trong trường hợp trầm trọng, các đốt xương có thể dính lại với
nhau và gây ra giới hạn cử động của bộ phận này. Viêm dây
chằng, gân kết nối các đốt sống với nhau cũng có thể xảy ra.
Các đốt
sống cùng-chậu là nơi thường hay bị viêm
Bệnh này
xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường thấy ờ tuồi từ 15 tới 30
và ở đàn ông nhiều hơn đàn bà.
Triệu
chứng gồm có:
- Ðau lưng
kinh niên, kéo dài từ nhiều tháng tới nhiều
năm
- Cơn đau
thường xẩy ra vào ban đêm
- Cảm giác
cứng nhắc ở lưng sau khi ngủ dậy và kéo dài suốt
ngày
- Ðau ở
vùng xương sườn, bả vai, hông, đùi, gót chân
- Viêm mống
mắt (iritis) với cảm giác cồm cộm như có cát trong
mắt.
- Trong một
vài trường hợp, viêm phần cuối của động mạch
chủ.
Nguyên
nhân gây ra viêm cứng khớp cột sống chưa được biết rõ, nhưng
bệnh mang tính cách di truyền cho nhiều người trong gia
đình.
Bệnh không
chữa hết được, nhưng có nhiều phương thức giúp bệnh nhân cảm
thấy thoải mái, bớt đau và duy trì sinh hoạt hàng
ngày.
Các loại
thuốc chống viêm đau không có steroid giúp bệnh nhân bớt đau
và cứng khớp. Thuốc có steroid đôi khi cũng được dùng.
Tập luyện,
vận động cơ thể có vai trò quan trọng trong bệnh viêm cứng
này. Tập luyện để giúp khớp xương chuyển động, giảm đau nhức,
giữ dáng điệu và lồng ngực bình thường và không gây trở ngại
hô hấp.
Kết luận
Cột xương
sống là một cấu trúc tuyệt hảo để:
- nâng đỡ
đầu và phần trên của cơ thể
- chứa đựng
và bảo vệ cột tủy sống, nơi dẫn truyền cả triệu tín hiệu sinh
tử giữa não bộ và các cơ quan, bộ phận của cơ
thể.
- giúp cơ
thể uyển chuyển thân hình, thích nghi với các hoạt động khác
nhau.
Do đó, cột
sống cần được sự lưu tâm chăm sóc và nuôi dưỡng đầy
đủ.
Bác sĩ Nguyễn Ý-Ðức
Texas-Hoa Kỳ
|