|
Câu
Chuyện Thầy Lang
Bác
sĩ Nguyễn Ý Ðức
Hiểu
Biết Căn Bản về Ung Thư
Cách đây vài thập niên,
khi được xác định bị ung thư thì nhiều bệnh nhân rụng rời
chân tay, lo sợ. Vì mắc phải ung thư là coi như đời sống sẽ
vô cùng ngắn lại. Ngoài ra sự sợ hãi cũng tăng là vì khi đó
sự hiểu biết về bệnh cũng còn giới hạn.
Sau nhiều năm nghiên cứu,
khoa học đã có những khám phá tương đối rõ ràng hơn về
nguyên nhân cũng như điều trị và cách thức phòng ngừa bệnh.
Nhờ đó một số lớn ung thư có thể được chữa khỏi nếu phát
hiện sớm.
Ung thư không phải là một
bệnh mà gồm vài chục loại khác nhau. Chúng có thể xuất phát
từ bất cứ nơi nào trong cơ thể với các hung tính riêng.
Ai cũng có thể bị ung thư.
Nhưng mắc bệnh hay không tùy thuộc vào một số yếu tố như nơi
ở, nghề nghiệp, quá khứ sức khỏe của mỗi cá nhân và gia đình,
gen di truyền, nếp sống hàng ngày. Theo thống kê, ung thư
xẩy ra nhiều hơn ở lớp tuổi trên 60; người kém lợi tức nhiều
hơn giới trung lưu; tín đồ vài tôn giáo như Mormon và
Seventh-Day Adventists ít bị hơn. Có lẽ vì họ chừng mực
trong đời sống và dinh dưỡng, không rượu, thuốc lá.
Ung thư
đã được biết tới từ thuở xa xưa.
Danh từ Cancer, được
Hippocrates dùng đầu tiên, bắt nguồn từ chữ karcinos có
nghĩa là con Cua, ngụ ý diễn tả những u bướu có nhánh tỏa ra
chung quanh.
Y giới cổ Hi Lạp cho ung
thư là do mất thăng bằng bốn chất lỏng trong cơ thể, nhất là
khi mật từ gan tiết ra quá nhiều.
Gallen thì lại cho ung
thư là do có quá nhiều máu sau khi cơ thể bị viêm nóng.
Ðến thế kỷ 15, có khoa
học gia lại coi hệ bạch huyết có liên hệ tới ung thư.
Khi tế bào được khám phá
qua kính hiển vi và được coi như đơn vị căn bản của cơ thể
thì hiểu biết về ung thư rõ ràng hơn.
Ngày nay y khoa học đã
chứng minh ung thư là do một số tế bào đột nhiên tăng sinh
sản một cách bất bình thường và không kiểm soát được.
Diễn
tiến ung thư
Nhắc lại là cơ thể được
cấu tạo bởi cả nghìn nghìn tỷ đơn vị gọi là tế bào. Tế bào
giúp ta thực hiện các chức năng chính của cơ thể như tuần
hoàn, hô hấp, tiêu hóa, cử động, suy nghĩ.
Mô bào tăng trưởng và
sinh sản tùy theo nhu cầu của cơ thể và trong một trật tự đã
được quy định. Một tế bào thành hai, hai thành bốn và liên
tục tiếp diễn.
Trong những năm đầu của
cuộc đời, tế bào sinh sôi nẩy nở rất nhanh cho tới khi ta
trưởng thành. Sau đó tế bào của hầu hết các bộ phận chỉ sinh
ra để thay thế tế bàogià yếu hoặc bị tiêu hủy, thương tích.
Khi tế bào tăng sinh một
cách vô trật tự, không đáp ứng nhu cầu, không kiểm soát được
và mất khả năng tự hủy thì chúng sẽ tạo ra một nhóm gọi là u
bướu. U này có thể lành hoặc dữ.
Lành thì thu gọn, ít gây
hiểm nghèo cho sức khỏe, không lan tới các nơi khác và có
thể mổ cắt bỏ.
Trái lại u ung thư thì
nguy hiểm hơn vì chúng lan sang các bộ phận xa gần. Ðó là sự
di căn. Khi di căn như vậy, nơi mà ung thư khởi sự vẫn được
coi là ung thư chính. Thí dụ tế bào ung thư nhiếp tuyến chạy
vào xương thì vẫn giữ các đặc tính của ung thư nhiếp tuyến.
Có
nhiều giải thích về sự thay đổi của tế bào ung thư.
Theo bác sĩ L. Hebert
Maurer, đại học Y khoa Darmouth sự hình thành ung thư diễn
tiến qua hai giai đoạn:
Tác nhân gây ung thư xâm
nhập một tế bào và gây rối loạn cho DNA. DNA là chất có
trong mọi tế bào và điều khiển mọi sinh hoạt của tế bào. Ở
tế bào bình thường, khi bị tổn thương thì DNA có thể sửa
chữa được trong khi đó DNA tế bào ung khi bị hư hao thì bất
khả tu sửa. Gen DNA này biến đổi và tế bào có khả năng trở
thành ác tính.
Tiếp theo là một vài hóa
chất trong tế bào lại hỗ trợ sự tăng sinh của tế bào nổi
loạn và tạo ra u bướu.
Thời gian từ khi tiếp xúc
với tác nhân nguy hại tới khi khám phá ra bệnh kéo dài có
khi cả mươi mười lăm năm. Ðấy là thời gian mà nếu khám phá
ra sớm thì có thể chặn sự thành hình hoặc giới hạn sự lan
rộng của tế bào ung thư.
Siêu vi
khuẩn và một số hóa chất đã được coi như những rủi ro gây ra
ung thư.
Theo bác sĩ Isadore
Rosenfeld, giáo sư Trung Tâm Y Khoa Cornel, 35% ung thư có
liên hệ tới thực phẩm ăn uống, 30% gây ra do hút thuốc lá,
4% do nghề nghiệp, 3% do tiêu thụ nhiều rượu, 2% do ô nhiễm.
Ấy là chưa kể phóng xạ, kích thích tố và các rủi ro chưa
được xác định.
Ung thư có thể gây bệnh ở
mọi cơ quan, nhưng nhũ hoa, ruột già, nhiếp tuyến, bao tử,
tụy tạng, bàng quang, phổi, da, tử cung là những nơi thường
thấy.
Những
dấu hiệu của nguy cơ bị ung thư.
Tùy theo loại, ung thư có
những dấu hiệu cảnh báo như sau:
a- Thay đổi thói quen đại
tiểu tiện;
b- Một vết thương lâu
lành;
c- Xuất huyết hoặc tiết
dịch bất thường ở một cơ quan;
d- U cục ở nhũ hoa hoặc
các phần mềm;
e- Không tiêu và khó khăn
khi nuốt thức ăn;
g- Có những mụt cóc hoạc
nốt ruồi mole trên da
h- Ho khan hoặc khản
tiếng.
Nếu có một trong những
dấu hiệu trên, xin đi khám bác sĩ ngay để được khám nghiệm
thêm. Nếu chẳng may bị bệnh thì bệnh sẽ mau khỏi nếu được
điều trị sớm.
Khám
nghiệm phát hiện ung thư
Cho tới nay, 80% các
trường hợp ung thư đều được xác định ở giai đoạn 2 hoặc 3
nên việc điều trị bị giới hạn. Do đó Viện Ung Thư Hoa Kỳ đưa
ra các hướng dẫn sau đây để sàng lọc screening một số ung
thư trước khi có dấu hiệu bệnh.
Phụ nữ
a- Tuổi từ 18-39
Ung thư nhũ hoa: Khám nhũ
hoa mỗi ba năm do bác sĩ; tự khám mỗi tháng; chụp X-quang
nhũ hoa trong tuổi 35-39.
Ung thư cổ tử cung: khám
tử cung và làm pap test mỗi năm.
b- Tuổi 40 trở lên
Ung thư nhũ hoa và cổ tử
cung: như trên.
Ðàn ông
a- Tuổi 15 trở lên
Thiếu niên cần tự khám
ngọc hành mỗi tháng vì tuổi 15- 34 là nhiều nguy cơ ung thư.
b- Ðàn ông trên 40 tuổi
Hàng năm khám hậu môn để
coi tình trạng to nhỏ nhiếp tuyến rồi thử prostate specific
antigen.
Nam Nữ
a- Tuổi 40-50
Khám hậu môn mỗi năm để
phát hiện ung thư trực tràng.
b- Tuổi trên 50
Hàng năm khám hậu môn và
thử phân coi có máu.
Mỗi năm năm làm nội soi
trực tràng.
Giảm
thiểu nguy cơ bị ung thư
a- Hút thuốc là là nguyên
nhân chính của ung thư phổi; vậy thì không nên hút thuốc.
Thuốc lá là nguyên nhân gây tử vong cho 30% trường hợp ung
thư phổi.
b- Tránh tiếp cận với ánh
nắng gay gắt để giảm thiểu nguy cơ bị ung thư da;
c- Giảm cân; ăn nhiều rau
trái cây; giảm muối dể giảm ung thư ruột.
d- Nếu uống rượu thì uống
vừa phải;
e- Theo Hội Ung Thư Hoa
Kỳ, “ăn uống đúng đắn, tăng hoạt động cơ thể và đừng để mập
phì là những phương thức tốt để giảm rủi ro ung thư”.
Ðiều
trị ung thư
Hiện nay có ít nhất bốn
phương pháp để điều trị ung thư: giải phẫu, xạ trị, hóa trị
và miễn dịch trị liệu immunotherapy. Mục đích các phương
pháp này là tiêu diệt tế bào ung thư mà không gây tổn thương
cho tế bào bình thường. Phương pháp có thể dùng riêng rẽ
hoặc phối hợp với nhau. Tiến bộ về kỹ thuật đã tăng hiệu quả
và an toàn của các phương pháp và nhiều bệnh nhân đã được
cứu sống.
1- Giải phẫu.
Giải phẫu là phương pháp
điều trị cổ điển nhất nhưng cũng rất công hiệu đặc biệt là
với ung thư thu gọn ở một phần nào đó của cơ thể. Khi giải
phãu, tế bào ung thư được lấy đi càng nhiều càng tốt. Ðôi
khi tế bào lành cũng được cắt bỏ để chắc chắn là tế bào ung
thư lẫn vào đã được loại hết.
Hiệu quả tùy thuộc vào
một số yếu tố:
a- U thu gọn ở một chỗ và
chưa di căn;
b- Tế bào ung thư tăng
sinh chậm;
c- Vị trí của u bướu;
d- Khả năng chuyên môn
của phẫu thuật gia;
e- Công hiệu của các dịch
phụ hỗ trợ như thuốc mê, kiểm soát ngừa nhiễm trùng, tiếp
máu, dụng cụ giải phẫu và chăm sóc sau khi mổ,
2- Xạ trị
Ðây là phương tiện thường
dùng. Quá nửa các loại ung thư được chữa bằng xạ trị đặc
biệt là ung thư đầu, cổ, phổi, bọng đái. Thường thường
radiation được dùng cho ung thư không chữa được bằng giải
phẫu hoặc khi đã giải phẫu mà có e ngại ung thư tái phát
Sự thành công tùy thuộc
vị trí của ung thư, ung thư có mẫn cảm sensitive với phóng
xạ; u thu gọn và không di căn.
Mục đích xạ trị là để
tiêu diệt tế bào nổi loạn và làm teo u khối bằng các làn
sóng hoặc phân tử như proton, electron, x-ray, gamma -ray
Có hai cách xạ trị:
a) Ðưa hẳn vào u ung thư.
Chẳng hạn sau khi mổ thì radiation chứa trong vật đựng được
đặt ngay ở nơi mổ;
b) Dùng máy để hướng
radiation vào u bướu và tế bào ở xung quanh;
Xạ tác tiêu diệt hữu hiệu
trên tế bào ung thư tăng trưởng nhanh hơn là tế bào thường
tăng sinh chậm.
Xạ được đưa vào cơ thể
với phân lượng rất nhỏ trong vòng ba hoặc bốn tuần lễ để có
tác dụng mạnh lên tế bào ung thư và giới hạn ảnh hưởng lên
tế bào lành. Nếu chẳng may bị tổn thương thì tế bào bình
thường cũng mau lành.
Công hiệu của xạ trị liệu
tùy thuộc phương pháp áp dụng. Tác dụng phụ thông thường là
mệt mỏi, thay đổi trên da, ăn mất ngon.
Có điều là chi phí điều
trị khá tốn kém, tùy theo điều trị nhiều hay ít.
3- Hóa trị
Ðược dùng khi ung thư đã
lan ra ngoài vị trí ban đầu hoặc khi có di căn ở nhiều địa
điểm. Phương pháp sẽ hữu hiệu hơn nếu ung thư mẫn cảm với
hóa chất; bướu còn nhỏ; khi bệnh nhân khỏe mạnh, có sức chịu
đựng với tác dụng ngoại ý của thuốc.
Có nhiều loại hóa chất
khác nhau. Mỗi hóa chất có tác dụng riêng biệt với từng ung
thư bằng cách làm ngưng sự phân chia và sinh sản của tế bào
phản loạn. Khi không có sự phân bào thì tế bào tan vỡ, u
bướu teo lại.
Hóa trị đã cứu sống rất
nhiều bệnh nhân và cũng giúp nhiều người khác giảm bệnh.
Không như xạ trị hoặc
giải phẫu đòi hỏi ung thư thu gọn, hóa trị có thể phân tán
khắp cơ thể để tiêu diệt tế bào ung thư ở các nơi mà bác sĩ
không tìm ra.
Thuốc có thể uống nhưng
đa số là truyền qua tĩnh mạch.
Tác dụng phụ thường thấy
là ói mửa, rụng tóc, mệt mỏi, dễ nhiễm trùng, thiếu hồng
huyết cầu.
4- Miễn dịch trị liệu
Nói đến điều trị ung thư
ta thường nghĩ ngay tới tiêu diệt tế bào bệnh hoạn bằng hóa
chất, phóng xạ hoặc dao kéo giải phẫu. Các phương pháp này
rất công hiệu nhưng cũng gây tổn thương cho tế bào lành.
Miễn dịch trị liệu không
ảnh hưởng tới tế bào lành nhưng rất hữu hiệu trong việc tiêu
diệt tế bào nổi loạn. Mục đích của trị liệu này là tăng
cường khả năng chống trả với bệnh tật của cơ thể đồng thời
ngăn ngừa sự phát triển tế bào ung thư.
Phương pháp này hiện nay
đang được nghiên cứu kỹ càng và có nhiều triển vọng sáng sủa
cho người bệnh.
Trị
liệu
mới
cho Bốn
Ung Thư
Hiểm
nghèo
Với các bệnh ung thư nguy
hiểm, y khoa học đã cống hiến nhiều phương pháp trị liệu khá
công hiệu. Nhưng những phương tiện này cũng tạo ra một số
tác dụng xấu mà người bệnh phải cam nhận.
Sau một giải phẫu, một
trị liệu bằng hóa chất, phóng xạ, nhiều bệnh nhân rơi vào
tình trạng mất khẩu vị ăn uống, ói mửa, mệt mỏi, suy nhược,
tóc rụng, da khô. Đó là do ảnh hưởng của các trị liệu được
tung vào người bệnh với hy vọng là sẽ tiêu diệt được nhiều
tế bào ung thư hơn là tế bào lành.
Gần đây, đã có nhiều phát
minh mới để trị ung thư một cách chính xác hơn, tập trung
vào những tế bào nổi loạn. Các phương pháp này dựa trên sự
hiểu biết cặn kẽ về đặc tính của tế bào ung thư, yếu điểm
của chúng và hướng sự trị liệu vào chúng mà tiêu diệt, thay
vì làm hại oan tới tế bào tốt.
Hiện nay đã có một số
phương tiện trị liệu mới nhắm vào bốn loại ung thư hiểm
nghèo là ung thư phổi, ung thư vú, ung thư tuyến nhiếp và
ung thư ruột già.
1- Ung
thư Phổi.
Đây là loại ung thư gây
ra tử vong rất cao, bằng tổng số tử vong của các ung thư
ruột già, nhiếp tuyên và vú.
Tế bào ung thư phổi rất
đa dạng gây ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, nên không một
phương thức trị liệu đơn độc nào có thể hoàn toàn khống chế
được chúng. Các khoa học gia đang thử nghiệm một số trị liệu
mới như sau:
a- Phóng xạ trực tiếp
(Directed radiation)- Dưới sự hướng dẫn của X quang cắt lớp
( CAT scan) và máy vi tính, tia phóng xạ sẽ được đưa trực
tiếp tới vị trí của các tế bào ung thư mà tiêu diệt. Phương
pháp này, gọi là IMRT (intesity modulated radiation
therapy), có thể đưa một số phóng xạ nhiều gấp bốn hoặc tám
lần tới các tế bào ung thư mà không gây hại gì cho tế bào
bình thường ở chung quanh.
IMRT hiện đang được sử
dụng ở nhiều trung tâm trị liệu, và cũng được dùng để trị
ung thư nhiếp tuyến, ung thư đầu và cổ, ung thư dạ dầy, bao
tử.
Tác dụng không tốt gồm có
tiêu chẩy, tiểu tiện gắt, kích thích khó chịu ở ruột già và
bọng đái.
b- Dược phẩm trị ung thư
để hít vào phổi (Inhaled cancer drugs).- Giống như thuốc
hít chữa bệnh suyễn, thuốc trị ung thư này được hít trực
tiếp vào phổi để truy lùng tiêu diệt tế bào ung thư. Một trở
ngại là thuốc sẽ chỉ tập trung ở hai lá phổi chứ không phân
tán đi khắp cơ thể.
Thuốc đang ở trong giai
đoạn thử nghiệm và hy vọng sẽ sớm được áp dụng..
c- Những trái bom tinh
nhanh (Smart Bombs)- Hai loại thuốc mới đang chờ đợi cơ quan
Thực Phẩm & Dược Phẩm Hoa Kỳ chấp thuận để trị ung thư phổi,
ung thư ruột già, vú, nhiếp tuyến, tụy tạng. Đó là thuốc
Iressa và Tarceva. Dược phẩm này chuyên đi tìm các tế bào
ung thư và chặn sự tăng sinh của chúng, làm u bướu ung thư
nhỏ đi. Thuốc tác dụng trực tiếp trên tế bào ung thư nên gây
rất ít thiệt hại cho tế bào lành.
2- Ung
thư Vú.-
Theo Hội Ung Thư Hoa Kỳ,
hàng năm có khoảng trên 200.000 trường hợp ung thư vú được
phát hiện và số tử vong lên tới trên 40.000 người. Các
phương thức trị liệu mới gốm có:
a- Dược phẩm làm ngưng sự
tăng trưởng tế bào ung thư như Tarceva và Herceptin.
Phối hợp với hóa trị liệu,
Herceptin được coi như có nhiều hy vọng tránh tử vong cho
người bệnh. Thuốc này đã được công nhận, còn Tarceva thì
khoảng vài năm nữa là được sản xuất.
b- Thuốc kiềm chế kích
thích tố estrogen. Vì có nhiều liên can tới ung thư vú, nên
kiềm chế tác dụng của estrogen là muc tiêu của vài dược phẩm
mới như Arimidex và Femara. Các thuốc này hiện giờ đang được
sử dụng.
c- Làm đông lạnh u ung
thư . Dùng tia laser hoặc sóng vi ba với cường độ cao, đưa
thẳng vào u ung thư để tiêu hủy nó. Phương pháp này có thể
làm tan biến u ung thư nhỏ dưới 3/8 inc và thực hiện mau lẹ,
bệnh nhân về nhà ngay ngày hôm sau.
Phương pháp đã được dùng
để trị ung thư gan; trong dăm ba năm sẽ được áp dụng cho ung
thư vú, phổi và có thể cho cả ung thư nhiếp tuyến.
3- Ung
thư Nhiếp tuyến.
Đây là loại ung thư xẩy
ra nhiều nhất ở đàn ông. Hàng năm bên Mỹ có khoảng gần
200.000 trường hợp ung thư mới phát hiện và số tử vong cũng
khá cao: khoảng 30.000 mỗi năm.
Cho tới nay, hóa trị đã
được áp dụng nhưng không công hiệu lắm mà phẫu thuật lại hay
gây ra loạn cương dương và sự không kiềm chế tiểu tiện
(incontinence), gây bất tiện cho bệnh nhân.
Các phương thức trị liệu
mới đang được thử nghiệm và tương lai có vẻ sáng sủa hơn:
ạ (Radiation seeds). Dưới
sự hướng dẫn của màn ảnh siêu âm (ultra sound scan), một đầu
kim chích chứa một lượng phóng xạ được đưa vào u ung thư và
làm teo u này.
Phương pháp được giới
thiệu là rất chính xác, không làm hại gì tới tế bào lành ở
chung quanh. Khi dùng chung với giải phẫu, phương pháp này
có khả năng trị tuyệt từ 60 tới 90% tế bào ung thư nhiếp
tuyến.
b- Giải phẫu mà không gây
liệt dương. Trong phương pháp này, sau khi cắt bỏ nhiếp
tuyến và giây thần kinh điều khiển sự cương dương, nguờì ta
lấy một đoạn giây thần kinh ở dưới cổ chân, cấy nơi bẹn để
thay thế cho giây thần kinh đã bị cắt bỏ. Phương pháp đang
ở trong vòng thử nghiệm ở Viện ung thư MD Anderson, Texas.
Hy vọng là trong vài năm sẽ được hoàn chỉnh và được mang ra
sử dụng để tránh cho người bệnh khỏi bị liệt dương vì giải
phẫu cứu sống.
4- Ung
Thư Ruột già.
Đây là loại ung thư đứng
hàng thứ tư ở cả nam lẫn nữ giới. Mỗi năm bên Mỹ có khoảng
150.000 ca mới. Số tử vong khoảng 55.000 người.
a- Phối hợp Xạ trị và
Giải phẫu. Trong phương pháp này, khi giải phẫu thì xạ liệu
cũng được dùng song hành để tiêu diệt tế bào ung thư. Xạ
liệu được đưa tới trực tiếp tế bào bệnh nên không ảnh hưởng
gì tới tế bào lành. Phương pháp rất tốt khi ung thư giới hạn
ở ruột chứ khi đã lan ra các cơ quan lân cận thì quá trễ.
Nhiều trung tâm ung thư đã áp dụng phương pháp này.
b- Bỏ đói ung thư
(Starving tumors). Tế bào ung thư chỉ tăng sinh khi được
nuôi dưỡng đầy đủ. Nếu ta ngăn chặn sự nuôi dưỡng này từ các
mạch máu thì tế bào sẽ chết đói, ung thư ngưng phát triển.
Đó là chủ đích của các dược phẩm Avastin, Endostatin, chặn
sự phát triển của các mạch máu trong u ung thư.
Kết
luận
Ngày nay, y khoa học đã
mang lại nhiều hy vọng cứu sống cho các nan bệnh ung thư.
Bệnh nhân cũng có thể tìm
tới các loại cây con mà loài người có kinh nghiệm về trị
bệnh từ lâu. Ðông y ta đã từng dùng lá đu đủ, nấm linh chi,
dây tóc tiên, cây rẻ quạt, bạch truật, nam sa sâm, ý dĩ vân
vân và đã có trường hợp ung thư thuyên giảm. Có bệnh thì vái
tứ phương mà.
Nhưng có lẽ chỉ nên tìm
tới các món này khi mà các phương tiện khoa học hiện có bó
tay hoặc dùng phụ thêm nếu không có chống chỉ định. Vì dù
sao thì các phương tiện thực nghiệm cũng đã được chứng minh
sự hữu hiệu, chẳng trăm phần trăm thì cũng dăm bẩy chục phần
trăm.
Ngoài ra, tình trạng tâm
trí cũng có ảnh hưởng tới việc điều trị ung thư và các nan
bệnh khác. Một hiểu biết cặn kẽ về bệnh tật, một thái độ
tích cực, một thư giãn tâm hồn làm tăng khả năng miễn dịch
của cơ thể để đối phó với khó khăn.
Như giải phẫu gia Berbard
S. Siegel, Ðại học Y khoa Yale nhận xét: “Thể chất đáp ứng
với các tín hiệu từ trí óc, một cách ý thức hoặc vô ý thức.
Các tín hiệu này có thề là “sinh” hoặc “tử”. Tôi nghĩ là con
người không những chỉ có bản năng sinh tồn mà còn bản năng
tự hủy. Bản năng tự hủy khiến cơ thể ngưng sự tự vệ, giảm
hoạt động các chức năng, đưa ta tới tử địa khi chúng ta nghĩ
là đời không còn đáng sống nữa”.
Bác sĩ
Nguyễn Ý Ðức
Texas-Hoa Kỳ
|