Félicienne, con có yêu Ta hơn những người này không?

 

Một tờ báo tại Paris vào thế kỷ 19 có đăng quảng cáo tuyển người đi truyền giáo hải ngoại như sau: Chúng tôi sẽ cống hiến cho các bạn không lương bổng, không bảo hiểm, không người chỉ dẫn, không chế độ hưu trí mà phải làm rất nhiều công việc nặng nhọc, chỗ ở tồi tàn, rất ít an ủi, rất nhiều thất vọng, đau ốm thường xuyên, một cái chết đau đớn trong cô đơn, và một nấm mồ vô danh. (Juan de Padilla (1492-1542), Saint of the Day, January 23, 2005, www.americancatholic.org )

Không biết có bao nhiêu người “điên” vì nó đã đăng ký lên đường truyền giáo. Câu truyện sau đây viết về một người có thể đọc tờ báo đó tại Pháp vào lúc đó và đã đi đến có một kết cục giống hệt như mẩu quảng cáo này tại Việt Nam.

Đời người, nụ hoa và mùa xuân rất giống nhau ở chỗ tuy đẹp nhưng lại phù du. Nụ hoa sớm nở tối tàn. Xuân bất tái lai. Đời người chỉ là một thoáng mây bay. Thi sỹ Vũ Đình Liên trong bài thơ bất hủ Ông Đồ trong chỉ mấy dòng thơ đã rất tài tình nói lên cái phù vân của kiếp hoa, kiếp xuân và kiếp người:

Năm nay đào lại nở,

Không thấy ông đồ xưa.

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Sáng Chúa Nhật, 6-2-2005, từ 10 giờ đến 11 giờ, Tạp Chí Văn Nghệ trên HTV7 chiếu tập cuối bộ phim truyện Hàn Mặc Tử do Trần Mỹ Hà đạo diễn. Hàn Mặc Tử (1912-1940) cũng là một trong Những người muôn năm cũ. Có ai trả lời được thắc mắc muôn thưở của nhân loại mà Vũ Đình Liên đã tài tình nói thay không? Hồn ở đâu bây giờ?

Gỉa sử, chương trình Chung Sức của anh Tạ Minh Tâm trên truyền hình đưa ra câu hỏi: “Tại Việt Nam từ trước đến giờ, ai là người phong (cùi) nổi tiếng nhất?”Tôi dám chắc rằng trong số 100 người được thăm dò phải có đến 90 người cho rằng đó là Hàn Mặc Tử. Có lẽ chỉ vài ba người Công giáo còn biết được Đức Gíam Mục Jean Cassaigne là ai.

Lựa chọn này rất hợp lý vì tài năng của Hàn thi sỹ qúa xuất chúng, cuộc đời anh tuy đau khổ mà lại hấp dẫn. Trong bộ phim chiếu trên HTV7, các Nữ Tu Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ, những người chăm sóc anh trong giai đoạn cuối đời bằng một tình yêu thần linh, được ca tụng hết lời bằng chính ngôn ngữ của anh: Các Thiên Thần của Chúa. Trong tháng 1-2005 người ta còn đọc được mười mấy bài khảo cứu công phu về anh trên báo Thanh Niên. Nói về anh, tưởng không gì cô đọng mà chính xác bằng lời của một thi sỹ Việt Nam rất nổi tiếng, cũng là một người bạn của Hàn Mặc Tử, ông thường đến thăm anh: Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xẹt qua bầu trời VN với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình (Chế Lan Viên - trích trong lời tựa cho Tuyển tập Hàn Mặc Tử, NXB Văn học, 1987) Những vinh dự đó, ngoài anh ra, không một thi sỹ nào khác có được.

Đối với người Công Giáo, Hàn Mặc Tử còn là tác gỉa bài thơ bất hủ Ave Maria được Nhạc sỹ - Nhạc trưởng tài năng Hải Linh (1920-1988) phổ nhạc. Về phương diện lời thơ ý nhạc, có lẽ không có bài Thánh ca Việt Nam nào có thể qua mặt. Bài ca này được dùng trong Đại Lễ mừng 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại Trung tâm Thánh Mẫu Việt Nam La Vang ngày 15-8-1998, gần 60 năm sau khi anh qua đời. Diễm phúc này, bản thân Hàn Mặc Tử lúc sinh thời không thể nào tưởng tượng được. Thật là “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.” (Lc 1,52). Một người phong trong đau đớn và cô đơn cùng cực đã có những lời thơ tuyệt vời bay bổng lên các vì sao để ca tụng Mẹ Marria. Tâm tình đó của anh được nhắc đến trong một dịp trọng đại này qủa là một hồng ân Mẹ Maria đã ban cho anh.

Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước,

Cho tình tôi nguyên vẹn tợ trăng rằm,

Thơ trong trắng như một khối băng tâm

Luôn luôn reo trong hồn, trong mạch máu;

Cho vỡ lở cả muôn ngàn tinh đẩu,

Cho đê mê âm nhạc và thanh hương…

Nhưng nếu tôi nói còn có một người phong (cùi) khác cũng đã từng nổi tiếng không thua gì Hàn Mặc Tử, cũng lại là một người Công Giáo, nhưng lại là một phụ nữ, sau 35 năm hết mình yêu thương phục vụ người nghèo, người bệnh tại Việt Nam, đã qua đời vì bệnh phong. Lúc sinh thời chị được quần chúng Việt Nam ngưỡng mộ không thua gì người Ấn Độ đối với Mẹ Têrêsa Calcutta (1910-1997, Đấng đã được phong Chân Phước vào ngày 19-10-2003 bởi Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II.

Chị không làm đuợc một bài thơ nào, không để lại cho đời dù chỉ một lời nói. Ngày nay chúng ta còn không biết đến tên tuổi đầy đủ, tên cha tên mẹ, quê hương bản quán, dòng tu của chị. Lễ an táng của chị đã trở thành một biến cố trọng đại, hầu như một quốc táng. Số người, kể cả người nước ngoài, tham dự rất đông, ai cũng chân thành khóc thương cho chị, các tỉnh thành đều cử đại biểu, có quân đội hộ tống xe tang, có một quan chức Nhà Nước cao cấp đã chuẩn bị sẵn sàng một bài điếu văn hùng hồn ca tụng công đức của chị. Gương phục vụ của chị còn được đưa vào bộ sách giáo khoa quốc gia cho đến tận hôm nay vẫn chưa có bộ sách nào dám tự hào là hay hơn, do các học giả uyên thâm và danh tiếng soạn để dùng cho toàn thể các học sinh tiểu học toàn quốc trong hàng mấy chục năm. Chị là người đương thời duy nhất được chọn để nêu gương cho các em học sinh. Không hề có bất cứ một danh nhân cùng thời nào khác, không một nguyên thủ quốc gia, minh tinh màn bạc, tỉ phú, bác học nào, trên khắp thế giới sống trong giai đoạn lịch sử đó, được nhắc đến trong sách. Đức Khổng Tử, Mạnh Tử, Hai Bà Trưng, Vua Lê Lợi, Cố Alexandre de Rhodes người có công đầu trong việc hình thành chữ Quốc Ngữ, Bác Học Louis Pasteur, một ân nhân vĩ đại của nhân loại… chỉ được nói đến trong 1 bài học. Nhưng họ đều là những danh nhân qua đời từ lâu và chỉ được đề cập về giai đoạn đang sống. Chỉ có chị là người đương thời duy nhất, hơn nữa còn được chọn làm chủ đề cho đến 2 bài học, không những vào lúc sống mà cả về lễ an táng của chị.

Nếu tôi nói như thế thì các bạn sẽ cho rằng “xạo qúa đi!” Bản thân tôi cũng ngỡ ngàng như vậy. Nhưng đây không phải là điều tôi bịa ra mà đã được nói đến một cách rất trịnh trọng trong bộ Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Tôi không đủ thẩm quyền để nói lên gía trị vô song của QVGKT. Chính Lời Tựa của Nhà Xuất Bản Trẻ Sàigòn khi tái bản QVGKT năm 2001 có nói:

“QVGKT là bộ sách tiếng Việt do các học gỉa Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận biên soạn, được chính thức sử dụng ở các trường Tiểu Học Việt Nam trong suốt những thập niên thuộc nửa đầu thế kỷ thứ 20.

Rất nhiều thế hệ học trò, thưở ấy còn để tóc trái đào nay đã thành bậc phụ lão, tóc ngả sương mà vẫn có thể đọc thuộc lòng những bài học khai tâm của QVGKT.

Bộ sách tuy nhỏ, bài học tuy ngắn nhưng giá trị sư phạm, giá trị văn học và hiệu qủa giáo dục tâm hồn trẻ thơ thì trước tới nay, điểm lại trong rừng sách giáo khoa Quốc Ngữ chưa dễ có công trình nào sánh kịp.”

Cũng như nhiều người Việt Nam có tuổi, tôi đã say mê đọc QVGKT từ khi còn bé xíu. Tôi tiếc cho các em học sinh ngày nay không được học và nghe thầy cô giảng những câu văn như: Người ta ở đời phải ăn ở cho trung hậu thành thực, dẫu được giầu sang mà làm điều trái đạo, thì thế nào cũng không làm, mà làm điều ngay lành, thì dẫu có cực khổ, cũng cố làm cho được.” (tr 86, NXB Trẻ Sàigòn, QVGKT tái bản năm 2001). Hay những câu thơ như:

Thấy người hoạn nạn thì thương,

Thấy người tàn tật lại càng trông nom.

Thấy người gìa yếu ốm mòn,

Thuốc thang cứu giúp, cháo cơm đỡ đần.

Trời nào phụ kẻ có nhân,

Người nào có đức, muôn phần vinh hoa.

(Nguyễn Trãi – Gia Huấn Ca – QVGKT tr 23)

QVGKT đã góp một phần không nhỏ trong việc hình thành nhân cách con người Việt Nam trong nhiều thế hệ. Một số nhà nghiên cứu còn gọi luân lý VN là Luân Lý Giáo Khoa Thư. Sơn Nam, nhà nghiên cứu hàng đầu về miền Tây Nam Bộ có viết một truyện ngắn có tên Tình nghĩa giáo khoa thư, kể về thầy Hai, phái viên nhà báo Chim Trời và anh Tư Có, hai người trung niên hoàn toàn xa lạ với nhau, gặp nhau ở vùng sông nước Cà Bây Ngọp, qua dăm ba câu truyện kể về những kỷ niệm thời thơ ấu học QVGKT, thế mà có thể thức trắng đêm hàn huyên tâm đầu ý hợp, thành tri kỷ của nhau (x. Hương Rừng Cà Mau, Sơn Nam, Nhà xuất bản Trẻ Sàigòn – 1993). Tuyệt vời đến mức như thế thì không biết trên thế giới này có được bộ sách thứ 2 giống vậy không? Chúng ta cứ tưởng tượng năm mươi năm nữa các ông già bà gìa gặp nhau sẽ kể cho nhau nghe chuyện gì hấp dẫn của thời niên thiếu? Kể về những ngày đi học thêm qúa vất vả chăng?

Mới đây khi đọc lại QVGKT tôi chợt nhận ra lại một cách thán phục hơn một chân dung phục vụ mà hồi bé tôi rất ngưỡng mộ nơi hai bài học số 81 và 82, tựa đề Một Tấm Lòng Từ Thiện, trang 168-171, xin ghi lại nguyên văn:

(Bài 81)

Bà Phước Félicienne sang Việt Nam năm 1888, coi ở nhà thương Sóc Trăng, đến năm 1923 thì mất.

Trong ba mươi năm trời, bà đem tấm lòng từ thiện mà yên ủi biết bao người yếu đau khổ sở. Bao giờ bà cũng tận tâm kiệt lực làm việc bổn phận, không nghĩ gì đến công lao khó nhọc. Kẻ gìa người yếu, trẻ mồ côi, người tàn tật, ai đã được bà chăm lom cho, đều hàm ơn bà cả.

Sau, vì bà trông nom nuôi nấng những người có bệnh phong (cùi), cho nên bà mắc phải bệnh ấy mà chết. Bà đem bao nhiêu tâm trí vào việc làm phúc, quên cả tính mạng mà cứu giúp kẻ khốn cùng.

(Bài 82)

Lễ cất đám bà Félicienne làm tại Sóc Trăng ngày hai mươi ba tháng tám năm 1923. Các thân hào Pháp Việt trong bản hạt, các đại biểu những tỉnh Nam Kỳ và cả những người đã chịu ơn bà trong bấy nhiêu năm, đều đi đưa đám rất đông.

Có một đội lính tập đi hộ tang. Đáng lẽ có một ông quan to thay mặt nhà nước đọc bài điếu tang để kể công đức bà đã vì hết lòng giúp người mà chết. Song khi lâm chung bà có trối lại rằng lễ tống tang làm cho giản dị đơn sơ, nên lúc hạ huyệt không có bài điếu tang.

Tuy vậy, mà lễ cất đám bà rất long trọng, vì người đi đưa thật đông mà ai cũng lấy làm cảm động và thương tiếc bà lắm.

(Hết trích)

Các soạn gỉa uyên bác ngoài Công Giáo, thông thạo Đông Tây kim cổ của QVGKT không dễ gì đưa ra những lời nhận xét rất trân trọng như thế với một vị Thừa sai ngoại quốc tại một quốc gia chỉ có 5% dân số theo Công giáo cho một bộ sách được dùng cho học sinh toàn quốc, nếu họ không chân thành cảm phục và thấy được sự ngưỡng mộ sâu sa của quần chúng dành cho Félicienne.

Tên của chị có lẽ chỉ là tên trong Dòng. Khi chọn tên này chị có ngụ ý gì có lẽ không bao giờ chúng ta biết được. Chị là người cùng thời với Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu (1873-1897), người duy nhất cho đến nay được phong Tiến Sỹ Giáo Hội (1997) trong triều đại Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II (1978-2005?). Tên Félicienne cho biết chị cũng là người Pháp. Chị sang Việt Nam vào năm 1888, lúc đó Thánh Têrêsa được 15 tuổi và được nhận vào Đan Viện Cát Minh tại Lisieux sau khi đã đến gặp Đức Thánh Cha Léo XIII (1810-1903). Cũng năm đó, Linh Mục Gioan Bosco (1815-1888), người sáng lập Tu Hội Salêsian chuyên lo giáo dục thanh thiếu niên nghèo bị bỏ rơi và được nhiều người ái mộ với danh xưng Don Bosco, đã qua đời sau một đời phục vụ Chúa và tìm kiếm các linh hồn. Ít nhất lúc đó Félicienne cũng đã khấn dòng, đã qua giai đoạn đào luyện và tỏ ra có nhiều nhiệt huyết và năng lực nên mới tình nguyện và được cử sang Việt Nam phục vụ. Chúng ta phỏng đoán rằng năm đó chị 25 tuổi. Chị đã làm được điều mà Thánh Nữ Têrêsa ao ước nhưng không toại nguyện là đến Việt Nam truyền giáo. Chị qua đời vì bệnh phong vào năm 1923, sau 35 phục vụ, khi đó hẳn đã ngoài 60. Căn cứ theo tấm hình minh họa rất sơ sài trong QVGKT vẽ hình các Soeur đang săn sóc bệnh nhân trong nhà thương, trên đầu các chị có đội lúp "cánh chuồn" (có hai cánh xòe ra và uốn cong lên), cũng như theo lịch sử của dòng Chúa Quan Phòng Portieux tại Việt Nam, có lẽ chị là một trong các Nữ Tu tiên khởi của dòng đến đất nước ta phục vụ.

Tôi không biết gì khác về chị ngoài những gì QVGKT cho biết. Quê hương ta vốn tự hào về 4000 năm văn hiến. Trước khi các vị Thừa sai nước ngoài bắt đầu đến rao giảng Tin Mừng vào thế kỷ thứ 16 thì nền văn hóa Việt Nam đã chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của Tam Giáo: Phật, Lão, Khổng nên không dễ gì Tin Mừng chen chân vào được. Không dễ gì mà cha ông ta lại dám bỏ đạo thờ ông bà đi thờ Chúa Giêsu được. Phải có vô vàn vô số các vị thừa sai nhiệt thành đã đến rao giảng bằng lời, bằng cuộc sống và cả mạng sống để hạt giống Tin Mừng được bén rễ sâu trong lòng dân tộc. Félicienne chỉ là một trong hàng trăm hàng ngàn vị. Mỗi người đều có cái độc đáo riêng của từng người mà chỉ có Chúa biết nhưng tất cả các vị đó đều phải có một điểm chung là lòng yêu mến Chúa Giêsu.

Yêu mến Chúa Giêsu là tên một cuốn sách do Thánh Anphongsô (1696-1787), Tiến Sỹ Giáo Hội, viết và được rất nhiều người trân trọng. Yêu mến Chúa Giêsu, một việc tưởng là dễ vì Người là Thiên Chúa làm người. Có ai xứng đáng để ta yêu hơn Người đâu. Chỉ có Người mới ban cho ta thực phẩm mang đến sự sống đời đời (Ga 6,27). Ai yêu Người thì được Chúa Cha yêu mến, Người và Chúa Cha sẽ đến và cư ngụ nơi người ấy (Ga 14,23), sẽ được sống lại vào ngày sau hết (Ga 6:40), sẽ không bao giờ phải chết (Ga 11,26). Nhưng trong thực tế, yêu mến Chúa Giêsu không dễ tí nào. Trước hết, đó là một hồng ân đặc biệt không phải ai cũng có, không ai đến được với Người nếu không được Chúa Cha ban phép (Ga 6,65). Kế tiếp, cần phải yêu Chúa Giêsu như Người muốn ta yêu Người chứ không phải ta muốn yêu Người như thế nào thì tùy ý thích của ta. "Không phải bất cứ ai thưa 'Lạy Chúa, lạy Chúa!' là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên Trời" (Mt 7,21). Phêrô cứ việc sống với vợ con, còn có cả một bà mẹ vợ đau yếu phải lo, có thể chối Người đến ba lần, bỏ chạy khi Người chịu khổ nạn, nhưng Phêrô vẫn yêu Người và Người chỉ cần có thế thôi. Tình yêu đó, Người muốn Phêrô tuyên xưng ra, đó chính là làm chứng cho Người. Người hỏi ông không phải một lần mà đến ba lần làm cho ông rất buồn (Ga 21,15-17) và Người hỏi một cách dễ gây “shock”, rất trái khoáy, không ai có thể trả lời được: Con có yêu Ta hơn những người này không?” (Ga 21,15) Làm sao Phêrô có thể đi guốc vào bụng anh em mình để biết rằng ông yêu Người hơn họ? Nhưng Người vẫn hỏi oái oăm như thế. Yêu Người hơn những người khác được thể hiện không phải bằng lời nói nhưng bằng chính cuộc đời. Phải đi đến những nơi mình không muốn đến, phải dang tay ra cho người khác thắt lưng, phải mặc vào những cái mình không muốn mặc, và phải chết như thế nào để tôn vinh Thiên Chúa: "Lúc còn trẻ, con tự mình thắt lưng lấy và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về gìa, con sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn con đến nơi con chẳng muốn" (Ga 21,18). Chúa Giêsu chấp nhận như vậy chính là Phêrô yêu Người hơn những người khác yêu.

Chắc hẳn Félicienne cũng đã nghe Chúa hỏi: “Con có yêu Ta hơn những người này yêu Ta không?” Để trả lời câu hỏi hóc búa đó, chị đã từ bỏ gia đình bè bạn để đi tu. Nhưng Người không chỉ hỏi một lần, Người còn hỏi chị thêm. Để trả lời, chị đã tình nguyện sang Việt Nam, đến một nơi mà chị không muốn đến, xa xôi vạn dặm, ngôn ngữ và văn hóa hoàn toàn khác biệt, có mức sống rất thấp so với nước Pháp, một đi không hề trở lại, chết mất xác nơi xứ lạ quê người trong một nấm mồ vô danh, thậm chí không bao giờ quay lại, vì quay lại là không xứng đáng với Nước Trời (Lc 9,62). Vào thời đó chỉ có đường thủy đi từ Âu Châu đến VN, phải mất cả mấy tháng trời lênh đênh trên biển mới đến nơi được. Nhà thám hiểm lừng danh Fedinand Magellan (1480-1521) đã mất đến 2 năm (1519-1521) mới từ Âu Châu đến được Philippines.  Nhưng Chúa vẫn cứ hỏi hoài nên chị đã đến với những người nghèo khổ nhất tại Sóc Trăng, đã cúi xuống rửa chân cho họ như Người đã rửa chân cho các Tông Đồ, không phải một lần nhưng từng giờ từng phút từng ngày trong 35 năm, không phải một cách miễn cưỡng nhưng hết lòng yêu thương họ vì chị thấy được Chúa Giêsu, Đấng chị yêu thương, đang ở trong họ.

Nhưng Người cứ tiếp tục hỏi hoài nên chị đã dang tay ra và mặc vào cho mình căn bệnh gớm ghiếc nhất của mọi thời đại là bệnh phong cùi, để nên đồng hình đồng dạng với các bệnh nhân cùi chị đang phục vụ, để cùng chết trên Thánh Giá với Người. Cả dân tộc Việt Nam đã thấy được tấm lòng của chị, đã thấy rằng “Không ai yêu hơn người thí mạng sống vì bạn mình” (Ga 15:13), đã cung kính ngưỡng mộ Félicienne, một con người vì yêu thương đồng loại khốn cùng mà phải chết như họ. Những dòng chữ vắn vỏi trong QVGKT đã phải lập đi lập lại đến 4 lần rằng chị đã chết vì yêu thương tha nhân. Chị đã đoán trước nên ngăn được một ông quan to thay mặt Nhà Nước đến đọc điếu văn. Dù hoạt động giữa dòng đời bát nháo chị vẫn muốn sống lặng lẽ âm thầm, điều này chứng tỏ chị luôn là một con người cầu nguyện sâu sa. Nhưng chị không ngờ được các học gỉa ngoài Công Giáo ái mộ chị qúa lại mang chị vào sách giáo khoa dạy cho học sinh cả nước trong hàng mấy chục năm.

Rồi thời gian phôi pha, những người cùng thời với Félicienne đều đã chết hết. Dòng Tu của chị, Giáo Hội Việt Nam, Giáo Hội Pháp, cũng đã quên chị đi đúng như ý muốn của chị và ý muốn của Người. Tất cả các nữ tu Phaolô Thành Chartres (SPC) đều chấp nhận một khi chết đi là chấm dứt hoàn toàn với thế gian, không bao giờ và vĩnh viễn cho đến tận thế được phong Thánh cả vì đó là tôn chỉ của Dòng. Làm Thánh hay không chỉ cần mình Chúa biết. Ngay chính Đấng lập Dòng, Linh mục Louis Chauvet (1663-1710), Cha Xứ Levesville, Giáo phận Chartres, Pháp cũng phải chấp nhận không bao giờ được phong Thánh. Nhà Dòng chỉ có một ưu tiên duy nhất là phục vụ người nghèo. Mọi việc khác đều là xa xỉ. “Những người Kitô hữu ưu tú và quan trọng nhất không hẳn là những người khôn ngoan, tài ba, trí thức, nhậy bén về chính trị hay có ảnh hưởng với xã hội. Do vậy, những gì họ nói ra không gây nên những tiếng vang, những gì họ làm không được quần chúng chú ý. Cuộc sống của họ không được thế gian biết đến, và nếu họ có được một chút ngưỡng mộ nào đó, nó thường đến muộn màng, mang tính ngoại lệ, và luôn bị bóp méo.” (Theo Henri de Lubac, Dòng Tên,  The Splendor of the Church, tr. 187).

Chúa Giêsu cũng luôn hỏi mỗi người chúng ta chỉ một câu. Làm sao tôi dám nhận tôi yêu Người hơn anh chị em tôi yêu. Họ là giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân đức cao tài trọng? Nhưng Người vẫn hỏi chính tôi như thế và Người lại muốn tôi đi một con đường không giống ai. Người không muốn Têrêsa Hài Đồng Giêsu sang Việt Nam và đi tứ phương thiên hạ truyền giáo như ý chị muốn. Người muốn rằng chị chỉ sống âm thầm lặng lẽ và chết trong “xó” một đan viện và chấp nhận rằng như thế là chị đã yêu Người hơn những người khác. Têrêsa đã viết “Điều duy nhất cần làm ở thế gian này là yêu Chúa Giêsu và chinh phục các linh hồn cho Người để Người cũng được họ yêu.” (Thư thứ 6 gởi Céline). “Bây giờ tôi chỉ biết một điều là yêu Chúa Giêsu” (Một Tâm Hồn, Chương XI). Thiên Chúa nhân lành không cần đến những năm tháng dài để hoàn thành công việc tình yêu của Người nơi một tâm hồn. Chỉ cần một ánh sáng từ trái tim Người cũng đủ làm cho người đó ngay tức khắc được trổ hoa đời đời (Thư thứ 6 gởi Céline). Tôi chỉ biết một phương thế duy nhất để đạt đến sự hoàn thiện, đó là TÌNH YÊU. Nhưng chỉ có một Đấng duy nhất có khả năng đón nhận tình yêu là Chúa Giêsu. Chỉ có mình Người có thể trả lại vô cùng nhiều hơn những gì chúng ta dâng lên cho Người (Thư gởi chị họ Marie Guerin).

Chúa không ban cho mọi người tài năng, sức khỏe, của cải, bậc sống giống nhau. Có thể Người lại cho tôi một bề trên khó chịu, công việc chẳng ra ngô ra khoai gì cả. Hay Người lại ban cho tôi một người vợ người chồng chẳng ra làm sao, những đứa con khó bảo, bệnh tật, công ăn việc làm thất bại. Nhưng Người vẫn muốn tôi đi đến cùng trong cuộc đời “chẳng ra làm sao đó” của tôi. Như thế tức là tôi dang tay ra cho người khác thắt lưng, mặc vào những cái tôi không muốn mặc, đi đến những nơi tôi không muốn đến và Người chấp nhận rằng như vậy là tôi đã yêu Người hơn những người khác.

Thế gian thường nhìn thấy nơi các Thánh Đường nguy nga, những công việc từ thiện nổi đình nổi đám của Giáo Hội như có một ý đồ nào đó. Thế gian nhờ Người mà có nhưng thế gian không nhận ra Người (Ga 1,10). Nhưng Người đã luôn yêu thương thế gian đó cho đến cùng, đã đổ máu ra để cứu chuộc mọi người và sai người tin đi rao giảng hầu cho ai tin vào Danh của Người thì được trở thành con cái Thiên Chúa (Ga 1,12), nhưng cũng chính vì Danh đó mà họ bị mọi người ghét bỏ (Lc 21,17). Thế gian khó mà hiểu được rằng tình yêu Chúa Giêsu chính là trọng tâm mọi hoạt động của Giáo Hội. Không có tình yêu thì mọi việc chuyển núi dời non, kiến thức cao siêu, bố thí cả cơ nghiệp, hiến thân chịu thiêu đốt cũng chỉ là thanh la phèng phèng mà  thôi (1 Cor 13,1-3).

Félicienne là một trong muôn vàn Ma Soeur, qua cuộc sống yêu thương và âm thầm phục vụ người nghèo khổ trên đất nước này, đã Việt hoá và làm giầu cho ngôn ngữ Việt thêm một danh từ mang đậm tình người mà tôi cho là tuyệt vời nhất: Ma Soeur. Mọi người đều nói đến hai chữ Ma Soeur một cách trân trọng. Không ai nói Ma Soeur một cách bất nhã được cả. Ma Soeur chỉ là Chị Tôi nhưng chị tôi chỉ yêu thương tôi vì tình máu mủ còn Ma Soeur lại yêu mọi người vì Chúa. Tình yêu của Ma Soeur đằm thắm, thanh thoát, siêu thoát làm tôi bay bổng. Hàn Mặc Tử đã gọi các Nữ Tu Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ bằng một cái tên thành kính nhất mà một thi sĩ đại tài có thể nghĩ ra: Các Thiên Thần của Chúa. Một thi sĩ khác còn mong muốn người yêu có phẩm chất của một Ma Soeur để mang đến cho anh cái anh thiếu nhất và vì thế cứ đau khổ hoài: thiếu vắng niềm tin.

Ta nhờ em ru ta

Hãy ru tên vô đạo

Hãy ru tên khờ khạo

Ma Soeur này Ma Soeur.

(Em Hiền Như Ma Soeur - Nguyễn Tất Nhiên)

Sau trên 80 năm từ ngày chị qua đời, nhìn lại cuộc đời Félicienne chúng ta sẽ bình tâm hơn nhìn ra rằng việc cứu rỗi của mỗi người và của cả nhân loại chính là việc của Chúa. Thời đại của chị đã qua rồi. Những bức xúc xôn xao thời cuộc trong thời đại đó nay đã trở thành vô nghĩa. Thời đại của tôi cũng sẽ thành qúa khứ. Tôi có lẫy lừng cách mấy đi nữa ở hiện tại thì trong tương lai chẳng ai thèm nhớ đến tôi cả và mọi việc tôi làm cũng thành hư vô. Tôi có xây lên được các nhà thương tiện nghi, các nhà thờ nguy nga, các trường học bề thế, thì trong tương lai cũng sẽ bị đập bỏ, chẳng còn hòn đá nào trên hòn đá nào. Mọi người sẽ quên tôi đi như đã quên đi Félicienne. Tôi không thể cứu rỗi lấy chính tôi vì thế tôi chẳng thể cứu rỗi ai cả. Chúa Giêsu chỉ đòi hỏi tôi có yêu Người không và hơn nữa có yêu Người hơn những người khác không? Câu hỏi khó quá. Phêrô không thể trả lời được. Không ai trả lời được. Chính cuộc đời tôi sẽ là tiếng trả lời. Nếu tôi yêu Chúa Giêsu hơn người khác thì Người sẽ dẫn tôi đi trên những con đường của Người. Rồi tôi cũng sẽ phải cho người khác thắt lưng, phải dang tay ra, phải đi đến những nơi tôi không muốn đến. Như vậy Người sẽ chấp nhận câu trả lời của tôi. Mọi việc khác sẽ do Người làm theo ý Người muốn. Phần đóng góp của tôi không là gì cả. Dù ta có cố gắng cách mấy đa số nhân loại kia đã và sẽ vẫn còn dửng dưng với Tin Mừng. Những người nghèo khổ được Giáo Hội nâng đỡ chỉ là một thiểu số rất nhỏ nhoi so với nỗi thống khổ của toàn nhân loại. Bàn tay nhân ái của Félicienne cũng đã chỉ vươn tới một số rất ít người đau khổ trong thời đại của chị mà thôi. Tôi đã gặp một bà cụ bế một đứa cháu nội bại não trong nhà thương Nhi Đồng. Bà cho biết bố mẹ cháu đã bỏ nhau và bỏ mặc cháu cho bà coi sóc trong mười mấy năm nay. Mà đâu phải chỉ bại não thôi đâu, cháu hết bị xoang mũi, viêm phế quản lại đến viêm phổi. Bà cháu lê lết hết nhà thương nọ đến nhà thương kia. Bà nghèo qúa không có tiền trả, đi đâu cũng bị đuổi như đuổi tà. Tôi hỏi bà có bao giờ gặp được một người Công Giáo tốt nào đỡ đần cho một tí không. Bà nói chưa bao giờ.

Cùng vào năm 1888 Têrêsa Hài Đồng Giêsu gia nhập Đan viện Lisieux, Félicienne sang Việt Nam, Don Bosco về với Chúa. Động lực sống của cả ba vị đều là tình yêu với Chúa Giêsu, là câu trả lời cho câu hỏi: “Con có yêu Ta hơn những người này không? Lạ lùng thay cả ba đều gặp gỡ và trổ sinh hoa trái dồi dào ở Việt Nam. Chỉ cần tôi yêu Chúa Giêsu thôi, chỉ cần tôi gắn chặt vào Người như cành liền cây, tôi sẽ thấy Người ở trong tôi và tôi ở trong Người, nhờ Người tôi sẽ sinh nhiều hoa trái (Ga 15,5), Người còn luôn ở trong Chúa Cha, đối với Thiên Chúa thì không có gì là không làm được (Lc 1,37). Ở trong Người, Têrêsa luôn có thể làm mưa hoa hồng xuống cho thế gian và Félicienne có thể xoa dịu vết thương của rất nhiều người bệnh. Têrêsa đã sống cuộc đời hoàn toàn trong âm thầm lặng lẽ trong tu viện và không được ai bên ngoài biết đến nhưng Félicienne đã hoạt động sôi nổi giữa lòng đại chúng và được nhiều người cảm phục. Félicienne đã sống nhiều hơn, đi nhiều hơn, làm nhiều hơn. Tuy nhiên, sau khi chết đi Têrêsa càng ngày càng được mọi người ngưỡng mộ đến nỗi vào năm 1925, sau khi chị qua đời chỉ có 28 năm và Félicienne mất được 2 năm, Têrêsa đã được tôn vinh Hiển Thánh, nếu còn sống thì năm đó Têrêsa mới có 52 tuổi, trước cả 8 năm ngày phong cho Don Bosco (1933), Đấng đã đi một con đường thánh thiện mãnh liệt khác trước chị rất lâu, thậm chí thân phụ và thân mẫu của Têrêsa cũng đã được được mở dự án phong Á Thánh, nhưng càng ngày Félicienne càng chìm vào quên lãng. Nếu sách QVGKT không nói đến chị, tôi dám cam đoan là bây giờ không có ai có thể biết được Félicienne là ai. Có thể các Nữ Tu lớn tuổi nhất trong Nhà Dòng của chị tại Việt Nam cũng chẳng biết gì về chị. Sự thật là cả ba vị đều làm sáng danh Chúa theo con đường riêng của mình, con đường nào cũng đẹp tuyệt vời trước mặt Chúa, vì cả ba đã yêu Chúa Giêsu bằng tất cả sức lực của mình, đã trả lời trọn vẹn và tuyệt vời câu hỏi của Người.

Khi Têrêsa chào đời năm 1873, Félicienne đã ít nhất 10 tuổi, Don Bosco đã 58 tuổi và đã thiết lập được 15 cộng đoàn Salésien trên khắp nước Ý, 3 tại Pháp, 1 tại Tây Ban Nha, đã cử các con cái đi truyền giáo tận Nam Mỹ. Cả 3 vị sống cùng thời này đều có ảnh hưởng sâu đậm và là những hồng ân lớn lao mà Thiên Chúa nhân lành đã ban cho Giáo Hội và đất nước Việt Nam. Thánh Têrêsa đã muốn đến sống tại Dòng Kín Hà Nội nhưng không được như ý. Dầu vậy chị lại trở thành Thánh Bổn Mạng Các Xứ Truyền Giáo trong đó có Việt Nam. Muốn biết ở đây người ta yêu mến chị đến mức nào, các bạn cứ đến các buổi lễ rửa tội. Một số rất lớn các bé gái mới chào đời hoặc các thiếu nữ tân tòng đều có Tên Thánh là Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Con cái Don Bosco đã đến Việt Nam vào đúng ngày lễ Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, 1-10-1953, hiện đã có 1 Giám Mục, hàng trăm Linh Mục và Tu Sỹ, đã góp phần giáo dục Đức Tin cho hàng chục ngàn thanh thiếu niên. Các Tu sỹ Don Bosco Việt Nam còn sang tận Mông Cổ để truyền giáo. Chắc chắc trong cuộc đời thánh hiến của mình, Félicienne đã góp phần đào luyện tình yêu Chúa Giêsu và tinh thần xả thân phục vụ người nghèo khổ cho các Ma Soeur bản xứ. Một Tấm Lòng Từ Thiện của chị trong QVGKT đã góp phần hun đúc lên bao tấm lòng nhân ái khác cho đời sau. Chị không lưu lại tên tuổi nhưng tinh thần của chị vẫn sống mãi. Mọi việc Chúa làm đều vĩ đại, vượt xa khỏi tầm hiểu biết hạn hẹp của con người.

Rồi đây cuộc đời tôi và mọi người cùng thời với tôi cũng sẽ qua đi. Ngày mai chúng ta đều sẽ thuộc về số Những người muôn năm cũ. Ta nâng niu từng con người, từng mạng sống một nhưng những cơn sóng thần ngày 26-12-2004 trong phút chốc lại cướp đi sinh mạng hàng trăm ngàn người. Ngày mai có thể một thiên thạch khổng lồ, giống như đã từng xẩy ra vào 65 triệu năm trước, đâm vào địa cầu, giết đi hàng trăm triệu người trong chớp mắt. Thế mà Chúa vẫn im lặng. Thời gian là của Chúa. Sinh mạng của mỗi người và lịch sử nhân loại đều nằm trong tay Chúa. Lịch sử vũ hoàn bắt đầu và cũng sẽ kết thúc nơi Thiên Chúa. Chúa Giêsu chỉ cần một điều và chỉ hỏi một câu nơi mỗi người chúng ta: Con có yêu Ta hơn những người này không?” Mỗi người phải tự mình tìm ra câu trả lời thoả đáng. Ở nơi Người, chúng ta gặp được Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Chị Thánh Têrêsa HĐ Giêsu, Don Bosco, Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta, Soeur Félicienne, Thi Sỹ Hàn Mặc Tử, những ông đồ của thời thơ ấu, ông bà cha mẹ bạn hữu đã qúa cố…dù họ đã chết mất xác nơi các nấm mồ vô danh và tìm được câu trả lời cho câu hỏi Hồn ở đâu bây giờ? của thi sỹ Vũ Đình Liên mà thế gian không bao giờ có lời đáp được.

Và chúng ta hoàn toàn vững tin cho tương lai vì luôn có chị Félicienne cầu nguyện cho chúng ta và luôn có Chúa Giêsu hằng ở cùng chúng ta.

THANH TÂM