Hai người bạn, hai cuộc đời.

 

1. Trường hợp Anh V.

 

Năm 1970 tôi xin về trường Lương văn Can ở Quận 8 Sài gòn mục đích là rời khỏi Nha Khảo Thí để không phải làm công việc hành chánh ngày hai buổi, công việc kiểm soát bằng tiểu học do các cơ quan khác gởi về. Tuổi trẻ là tuổi mộng mơ, nhiều ước vọng. Ngày hai buổi ngồi giữa bốn bức tường ở Nha Khảo Thí đường Nguyễn Bỉnh Khiêm không hợp tâm trạng tôi lúc bấy giờ.

 

Mục đích về trường Lương văn Can để có thì giờ hoạt động các công việc khác nữa như học thêm, hoạt động chính trị, lúc này tôi rất mê ứng cử.Chương trình làm việc là cố gắng tranh cử vào Hội Ðồng Ðô Thành để từ đó bắt thang lên ứng cử vào chức vụ Dân Biểu, Nghị sĩ.

 

Tôi đã nhờ Ông Giám Ðốc Nha Tư Thục lúc đó là Ông Phạm Ðăng Cảnh giúp đỡ, can thiệp với Bộ Giáo Dục và nói với Ông Giám Ðốc Nha Khảo Thí lúc bấy giờ là Ông Nguyễn Kim Linh. Mặt khác tôi ghé trường Trung Học Cộng Ðồng Quận 8 sau này đổi tên là Trường Lương văn Can nhờ Ông Hiệu Trưởng Uông Ðại Bằng làm văn thơ rút tôi về trường này để làm Tổng giám Thị vì trường này đang thiếu chức vụ này.

 

Ðầu năm 1970 tôi được đổi về Trường Trung Học Cộng Ðồng Quận 8  để phụ trách vai trò Tổng Giám Thị, nhưng tôi không quen công việc này nên tôi đã làm không tốt vai trò đó vì tôi không áp dụng biện pháp mạnh được, lúc đó tôi có quan niệm sai lầm là phải có biện pháp cứng rắn mới làm được Tổng Giám Thị.

 

Tôi muốn rằng giữ vai trò khác để đỡ bị đụng chạm, đi dạy học chẳng hạn, để ít bị thù ghét, không ưa, hầu dễ dàng có cảm tình để có thể ứng cử chức vụ Nghị Viên sau này.

 

Khi trường mở rộng thêm lớp học, nhà trường cần có một phát ngân viên tại trường  để lo lương bổng cho Giáo Sư. Anh Nguyễn Quang V. đã giữ vai trò đó.

 

Lúc này tôi đã xin ra dạy học, dạy môn Công Dân, Kinh tế học lớp 11. Trương văn Hứa thế tôi ở chức vụ Tổng Giám Thị.

 

Tôi quen thân anh V. hồi nào không hay, có lẽ khi anh làm phát ngân viên thì chúng tôi thường đi ăn uống chung, anh sẽ trả tiền trước, ghi sổ, cuối tháng lảnh lương chúng tôi trả lại cho anh. Chúng tôi thường ăn trưa hay ăn tối với nhau ở “quán ba cô ‘’ đường Phạm Thế Hiển, gần lộ 23. Ðôi khi đến quán bán rùa rang trước chợ Phạm Thế Hiển. Lúc này anh chưa có vợ nên anh buồn khi về  nhà một mình và thường hay rủ tôi đi theo anh, vừa ăn uống, vừa trò chuyện, tâm sự luôn. Lúc này anh thường qua Phạm thế Hiển mặc dầu nhà anh ở quận 10 là vì anh đang dự định cưới vợ là cô giáo nhà ở đường số 02 gần lộ 23.

                                               

Tôi, anh Hười, anh V.  thường tổ chức ăn chung với nhau. Có lúc thêm các thầy khác như anh Duật, anh Hưng, Huỳnh Hữu Lý, anh Truyền…khi ăn chung sẽ chia đều ra trả tiền, nhưng anh V. trả trước sau đó trừ tiền lại khi lảnh lương nên anh em rất thích. Tháng nào chúng tôi cũng tổ chức ăn uống vài ba lần với nhau như thế.

 

Có một lần ngày ba mươi Tết là ngày cúng rước Ông Bà thì chiều hôm đó khoảng 4, 5 giờ đa số các quán đều đóng cửa lo ăn Tết, lo cúng Ông Bà thì anh lù lù chạy xe Honda đến, nhất định yêu cầu tôi đi theo và chở tôi đến ‘‘ quán ba cô ‘’ của anh Hai bà con vì là chỗ quen biết nên họ mới bán, chứ có ai chịu bán vào buổi chiều ba mươi Tết vì còn chuẩn bị lo đón giao thừa nữa chứ.

 

Tính tình của anh V. có hơi đặc biệt một chút. Anh rất thích nhà độc tài Hitler, Napoleon, mẫu người hùng, anh có tham vọng lớn. Dự phóng sẽ dịch sách tiểu thuyết nổi tiếng  từ Pháp văn ra để xuất bản. Anh đang làm việc này và đã có dịch được một số trang . Anh đã khoe với tôi như vậy. Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 anh mới cưới vợ. Lúc anh cưới vợ thì tôi  đang nằm trong trại cải tạo trong vùng rừng núi miền Bắc Việt Nam ở  Lào Cai, Vĩnh Phú, ban đêm  chúng tôi chỉ nghe tiếng chim kêu“ bắt cô trói cột ‘’ nghe mà nảo lòng.

 

Sau khi tôi từ trại Cải Tạo về gặp lại anh thì thì anh đã có hai con, một trai một gái và hai vợ chồng vẫn tiếp tục dạy học.

 

Sau khi đi vượt biên một lần, bi bắt cả gia đình, anh không đi nữa, nhưng cũng bỏ dạy học luôn và chuyên tâm vào việc dạy cho hai đứa con của anh.Hằng ngày anh đưa đón con của anh. Mục đích chính theo lời anh nói là cố gắng huấn luyện cho chúng nó trở thành học trò xuất sắc vì anh nguyên là Giáo sư dạy toán nên anh sẽ đem sở học của anh mà truyền dạy lại cho con.

 

Anh sống nhờ vào vợ đi dạy học với đồng lương ít ỏi và nhờ hai người anh em ruột làm bác sĩ sống ở Pháp và ở Úc hổ trợ tiền cho anh sinh hoạt. Hàng ngày bên nhà vợ nấu cơm đem qua cho anh. Vợ anh còn môt người cha già phải phụng dưỡng. Hàng ngày vợ anh hoặc con anh đem cơm cho anh, từ nhà vợ anh đến nhà anh nếu đi xe đạp mất khoảng ba phút.

 

Quả nhiên con anh học rất giỏi đứa nào cũng đứng hạng nhứt, hạng nhì trong lớp. Nhưng tình trạng sống của anh là tình trạng mình tự cô lập mình, anh không giao dịch với bất cứ người nào sống trong khu phố anh ở. Lúc tôi còn ở Viêt Nam trước tháng 11 năm 1993 anh V. chỉ thường  tiếp xúc với tôi hoặc anh Tạ văn Hười. Anh không thích giao dịch với người khác vì anh nghĩ anh là con một Trưởng ty ở Long Xuyện, mà anh đã là giáo sư nữa nên anh không thích hợp với bà con lối xóm anh đang ở? Hay tâm trạng chán chường thói đời “dậu đỗ bìm leo’’ khi sa cơ thất thế không còn ai hỏi han, thăm viếng, nhờ vả?  không  còn ai là bạn bè nữa chăng?  Do đó anh là “ người hùng cô đơn ‘’ tôi tự nghĩ như thế không biết có đúng không?

 

Tôi hay đến anh V. để hút thuốc lào và nói chuyện đủ thứ trên trời dưới đất. Vậy mà thình lình khoảng tháng tư năm 1997 tôi được tin anh mất vì tự tử bằng cách buộc dây vào cổ mà quyên sinh, tôi chưng hửng không thể tin có sự kiện như thế. Tôi vẫn tin anh có nghị lực mạnh vì anh say mê những nhân vật như Hitler, như Napoleon có tư tưởng mạnh bạo, thì tôi nghĩ  mọi khó khăn nào anh cũng có thể vượt qua được chứ. Mà hoàn cảnh của anh so với người chung quanh có lẽ anh chưa khó khăn,  khổ sở bằng họ.

 

Năm 2000 tôi có về thăm Viêt Nam và được biết (do cựu học sinh trường Lương văn Can kể lại) hôm anh tự tử, anh có gọi vợ anh đến và nói rằng anh cần gặp để nói chuyện và anh có dọa rằng nếu vợ anh không đến thì sẽ không bao giờ được gặp mặt anh nữa. Chiều hôm đó, đứa con trai anh đã mang cơm cho anh nhưng đã ăn nói vô lễ? với anh, đưa cơm có tính cách dằn vặt anh? Thì tối hôm đó anh quyên sinh.

 

Lúc anh mất khoảng 63 tuổi.

 

2.Trường hợp chị Quyền.

 

Tôi quen chị Quyền trong Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Ðình. Chị là người thường xuyên đọc Thánh Kinh và say mê Thánh Kinh. Chị gần 70 tuổi mang trong người đủ thứ bịnh, tiểu đường, cao máu, mất ngủ. Có nhiều đêm chị thức trắng đêm không ngủ được vì bị bịnh. Chị đã nằm nhà thương hơn tuần lễ vì cao máu rất nặng, ăn uống không được vì còn bị đau bao tử nữa. Tôi đến thăm chị tại nhà riêng. Tôi đến để an ủi chị. Tôi gặp anh Trí , chồng chị, đang săn sóc cho chị, lo cho chị từ miếng ăn, từ thức uống và anh lúc nào cũng ở bên cạnh chị.

 

Kỳ này có khoá mới của Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Ðình (đầu năm 2003) anh ở trong ban Ðiều Hành mà cũng không đến được đầy đủ, chỉ đến trong ngày họp mặt đầu khóa, rồi không thấy anh chị đến nữa vì chị bịnh nhiều, cứ đau bụng hoài, ăn uống không được, ngủ không được do các chứng bịnh tim, tiểu đường, cao máu mà ra.

 

Tôi đến để an ủi chị thì ngược lại chị đã an ủi tôi. Chị hỏi rằng tôi có đọc quyển sách tên là “ Quyền năng của một tâm hồn biết ca ngợi” của Merlin R.Carothers do Linh Mục Nguyễn Ðức Mầu dịch rồi chị mô tả cuốn sách này rất hay cần đọc để thấy tâm hồn mình được bình an, thanh thản. Trong lúc nói chuyện như thế là lúc chị đang đau, đang mệt trong người nhưng chị rất vui khi tôi đến thăm chị. Chị nói rằng sẽ sao lại các băng giảng của Cha Nguyễn Khảm ở Viêt Nam cho tôi nghe. Chị sẽ sao lại các bài giảng khác mà chị thấy hay để biếu tôi.

 

Tôi bất ngờ quá chưa biết lời nào để an ủi chị  và chỉ biết nghe chị nói mà thôi. Nhưng sự thăm viếng của tôi làm cho anh chị rất vui. Tôi cũng học được một bài học là luôn luôn thấy mình có ích nếu mình biết xử dụng tất cả thì giờ mà Thiên Chúa đã trao ban cho mình và trong tâm hồn mình lúc nào cũng cần có niềm vui dầu có phải chịu đau đớn về thể xác, bịnh hoạn.

 

Ðem hiểu biết, niềm tin của mình để truyền lại cho người khác để họ có niềm tin yêu trong cuộc sống, lúc nào cũng tìm thấy niềm tin, niềm vui bình an, hạnh phúc là điều quí giá vô cùng.

 

Chị Quyền có đức tin mãnh liệt, chị thường tham dự các khóa học về Thánh Kinh do nhà thờ Dòng Chúa Cứu thế tổ chức .Chị hiểu biết và nhớ nhiều đoạn trong Thánh Kinh. Chị dễ dàng trích dẫn đoạn mấy, câu nào để  dẫn chứng điều mà chị cần trình bày để minh chứng lời dạy trong Thánh Kinh.

 

Lúc này chị thường đi thăm các người bịnh, đọc kinh và cầu nguyện cho họ.

 

Năm trước cứ ngở là chị sẽ ra đi vì chị bịnh quá nhiều. Nhưng đến nay tháng 10 năm 2004 chị vẫn còn có thể đi thăm bịnh được kể từ ngày anh Trí chồng chị mất. Trong khi đó, lúc chị bị bịnh anh lo lắng săn sóc cho chị và anh em chúng tôi trong Chương Trình Hôn Nhân Gia Ðình cứ nghĩ rằng chị sẽ ra đi trước anh.Nhưng đâu có ai ngờ được khi anh phát bịnh chỉ có trong vòng khoảng hai tháng thì anh ra đi vì bị bịnh ung thư phổi. Ngược lại đến giờ này mặc dầu không khỏe hẳn nhưng chị vẫn cố gắng đi với anh chị em giúp cho những người khác đang cần an ủi lúc đau yếu. 

 

Cám ơn chị Quyền cho tôi một vài suy nghĩ  để viết mấy dòng này và nhờ đó dễ cảm thấy hạnh phúc hơn, tìm thấy niềm vui hơn từ các việc làm tầm thường, nhỏ bé hàng ngày cho các anh chị em.

 

Ngày 04 tháng 10-2004

Phùng văn Phụng