|
Mây trời để ngỏ
Có một lần, quá hăng say nói chuyện thơ và người, có bạn tỏ ý vẫn
ngần ngại, chẳng dám lạm bàn về thơ. Bạn những tưởng: tiếp xúc nhiều
với thơ, có ngày không điên cũng ra man dại, như thi sĩ họ Bùi. Đó
là chuyện đời, chuyện người và Thơ.
Về việc Đạo, có người nghĩ: liên hệ nhiều với dân Công giáo “đập
ngực”, e rằng nếu không khùng thì suốt ngày cũng chỉ làm dấu, với
Amen. Thật ra, chẳng biết bạn có làm-dấu-với-Amen hay yêu Thơ đến độ
khùng điên hay không, nhưng ai ai cũng có tự do chọn lựa lập trường,
cho riêng mình. Không tiếp xúc hòa mình với người và thơ, thì làm
sao hòa mình cảm thông được với Đạo. Chí ít, là Đạo Chúa. Đạo của
những tiếp xúc và hiệp thông, như lời trần thánh hôm nay:
Tôi vẫn biết và nhớ rõ một điều cần làm: là tiếp xúc và cảm thông.
Tất cả phải như thế. Đúng là hôm ấy, một buổi đẹp trời, chúng tôi bỏ
ra nguyên ngày, để hành hương đi bộ về Giêrusalem, và tiếp xúc nói
chuyện với người cùng đi. Những người tình nguyện cùng bước bên
nhau, theo chân Thầy chí thánh. Bỗng chốc, đám đông dừng lại, đành
bỏ cuộc. Cụ thể, là tôi nghe như Thầy Chí Thánh đang nói về những
khó khăn chất đầy hành trình dấn bước theo Ngài.
Phần đông mọi người chỉ muốn tới đó để chứng kiến điềm thiêng, dấu
lạ. Chứ, ai nào màng chuyện Thơ văn, với lại đồng hành. Ngay đến bạn
bè thiết thân như chúng tôi, đôi lúc vẫn rối bời với điều Thầy nhắn
nhủ. Nghĩ mãi, tôi vẫn không hiểu lý do sao Thầy lại đến đó, nơi
thành thánh đầy những rối bời, và tranh chấp. Mọi người đều đã rõ:
vị Thượng Tế vốn rất khó chịu, rồi đến đám ký lục và các Pha-ri-sêu
đang chuẩn bị mọi thứ, để đối đầu.
Mặc dù thế, Thầy cứ làm ngơ, vẫn đầu cao mắt sáng tiến thẳng về chốn
cung thành rất thánh, luôn bước đều. Khi ấy, chúng tôi có hơi ngần
ngại, sợ rằng chuyện xấu sẽ xảy ra chăng. Nhưng, ai nào làm được gì
hơn. Ngài đã còn nghe lời đề nghị của Phêrô nữa, huống hồ.
Bình thường, chúng tôi đều ngả người, nghỉ qua đêm, sau chuyến đi
đường dài. Nhưng, Ngài thì khác, vẫn mải cầu nguyện một mình, suốt
canh thâu. Đêm nay, sao Ngài đề nghị chỉ 3 anh em chúng tôi dấn bước
lên đồi, theo dấu chân mềm. Dường như, ba anh em tôi đều ngỡ ngàng,
tỏ dấu rối bời đến trông thấy, về đề nghị của Ngài. Thế nhưng,
chẳng một giải thích, Ngài cứ dẫn anh em rời bỏ tình huống xấu xa
với ngại ngùng, để rồi tiến bước lên đồi cao, nơi chốn tiếp xúc và
hiệp thông, những nguyện cầu.
Màn đêm vẫn bao trùm, dầy đặc. Không gian vẫn êm ắng, chẳng một
tiếng động; ngọai trừ tiếng lá khô xào xạc cùng sỏi đá, nằm ép mình
dưới bước chân mềm, đồ đệ. Anh em nhớ mãi, tưởng chừng như ở đâu đó,
toàn thể nhân loại đang đứng tim ngừng thở, để đón chào giây phút
linh thiêng, đã khởi đầu. Không gian nay chùng xuống. Trăng sao cứ
lấp lánh, vẫn đưa dẫn bước chân đồ đệ đi mãi
lên cao, chốn xa xôi thượng đỉnh.
Còn lúng túng hơn, chúng tôi tăng nhanh nhịp bước. Tưởng chừng, như
có lúc anh em cũng đến nổi khùng: dám cho rằng Ngài khờ khạo, đã cả
gan vội bỏ cuộc sống tươi đẹp, hầu cất bước ra đi về nơi cung
thành,đầy tranh chấp ấy? Việc Ngài làm, phải chăng đều ra vô nghĩa?
Đặt chân lên đỉnh đồi, Ngài ngồi phịch xuống, đầu óc rã rượi như qua
chặng đường dài. Đồ đệ người anh em, nay lẳng lặng tìm hốc đá, ngả
lưng. Còn tôi, vẫn đứng đó, ngắm nhìn vạn vật, lặng lẽ trong hiệp
thông. Vẫn cứ nhìn Thầy. Này đây chính là Ngài, Đấng có khả năng kết
hợp muôn dân, thiên hạ. Này đây, chính vị Thầy luôn dạy dỗ, đỡ nâng
mọi người với trọn vẹn thẩm quyền, ở trên ban. Này đây, chính là
Ngài, Đấng có khả năng biến đổi thế giới, cả thời hiện tại lẫn tương
lai. Nhưng, việc Ngài làm, cứ âm thầm. Vẫn lặng lẽ lê bước chân đi,
lao thân vào cõi chết. Một cái chết rất tủi hổ, nhục hình. Phải
chăng Ngài có cặp mắt đầy Thơ, biết suy xét, thấu hiểu mọi việc,
theo đúng đường lối của Cha?
Lặng mình, tôi đứng đó; bỗng thấy bầu trời bừng sáng lên, đậm nét
rộn ràng kết hợp. Nhìn trăng sao vụt biến về cõi trời mây cao còn để
ngỏ, tôi quay sang ngước mắt nhìn Ngài. Dường như, có sự rã rời sâu
thẳm nào đó chợt lóe lên trên nét mặt. Đây cũng là lần đầu tiên, tôi
trông thấy. Không một cử chỉ. Chẳng một lời nói suông, tôi nén chút
thở dài, đang dâng trào lên cổ. Tôi muốn giúp Ngài cất đi chén đắng
thống khổ, chỉ một chút đỡ đần thôi. Nhưng kìa, Ngài vẫn ngồi đó.
Mắt nhắm nghiền. Bàn tay chắp đôi, xiết chặt. Tôi bắt đầu nhận ra
điều khác thường, khó diễn tả, nhưng vẫn thân thương.
Điều tôi thấy, là tấm lòng bao dung đại độ của Ngài, đôi lúc gây va
chạm. Điều tôi biết: chính Ngài đã chấp nhận cho mình, mọi đớn đau
của người khác, hơn là đau buồn của chính mình. Tôi đã thấy được
Ngài thương yêu Cha mình hơn tất cả. Và, Ngài cảm nhận lòng yêu
thương trìu mến, đỡ nâng mà cả cái chết cũng không còn uy lực nào
trên Ngài nữa.
Quả, đây là Ngài. Đấng xứng đáng đứng thẳng người, bên cạnh ngôn sứ
Mô-sê và Ê-li-a, rất thần thánh. Đây, cũng chính là Ngài, Người từng
lặng lẽ khóc thầm cho tình người bạc bẽo. Người từng ngồi bệt bên vệ
đường, lầy lội những cát bụi, với người dưng. Đây, con người quả cảm
sừng sững trên mặt hồ xứ Giu-đê-a, khi trước. Đây, chính là Ngài.
Còn người trong sáng, chứa chan tình thương yêu thần thánh gửi đến
khắp muôn người. Tâm trí tôi, nay đà bị cuốn hút trôi xa, dạt dào
niềm hãnh diện. Đầy ắp những buồn tủi, khổ đau và hy vọng. Niềm hy
vọng đem đến cho mai ngày.
Tôi cũng chẳng nhớ mình còn đứng đó, đến bao giờ. Cứ ngước mắt, ngắm
nhìn bước chân âm thầm Ngài ra đi. Ra đi, lặng lẽ cầu nguyện. Và
kìa, bất chợt Ngài vụt đứng. Chẳng nói nửa lời, Ngài vội vã xuống
vùng đồi, miệng câm nín. Tôi lặng câm, nhưng vẫn biết đồ đệ khác
cũng cảm nghiệm được chuyện vừa xảy ra ở đồi cao, trên núi ấy. Và
riêng tôi, vẫn nghĩ: hai vị kia cũng thấy Ngài đã có quyết định lạ.
Chừng như, đó là đường hướng phải làm, đầy quyết tâm.
Thế rồi, khi đặt chân xuống sườn đồi, mọi người đều muốn biết những
gì xảy đến, nơi cao xa chốn vắng ấy. Bỗng dưng, chẳng ai trong nhóm
đồ đệ cất tiếng hỏi han. Vì tất cả đều đã hiểu. Và, tất cả cũng như
tôi, cùng với đồ đệ sau chót, đã rời bước xuống đồi. Nhiều tuần trôi
qua, tôi vẫn giữ chuyện thầm kín ấy, ở trong lòng. Chẳng muốn sẻ
chia cho ai. Chỉ khi mà, mọi sự đã qua đi, nơi thành thánh
Giê-ru-sa-lem ấy, như mọi người đều đã rõ, tôi mới bắt đầu hiểu được
điều xảy ra trong đêm lặng lẽ ấy.
Và, điều thầm kín đó cũng là thầm kín của đời và Thơ. Không hiểu
được đời và hiểu Thơ, cũng sẽ chẳng hiểu người. Không tiếp xúc, hòa
mình với người và với Thơ, cũng chẳng cảm thông được với đời. Chí
ít, là với Đạo.
Vì, Đạo là của người và Thơ. Vì ở Thơ và người, mây trời vẫn để
ngỏ.
Lm Dã Sơn Minh Cát
Mai Tá diễn dịch.
|