|
SAU BA THẬP NIÊN
HƯƠNG VĨNH
I.- THÀNH PHỐ SAIGON
Vào trung tuần tháng bảy năm 2004 vừa qua, tôi đã thực hiện một chuyến viếng thăm Việt-Nam – hay nói đúng hơn là một cuộc HÀNH HƯƠNG TRỞ VỀ ĐẤT MẸ – sau gần ba thập niên sinh sống trong một đất nước tạm dung. Tôi mong “tìm lại hình ảnh những con chim Việt, xác tín về căn tính nguồn gốc của mình để có hùng khí theo Mẹ Tiên chim Au bay về núi” (linh mục Trần Cao Tường).
Trứng Rồng lại nở ra rồng, Liu điu lại nở ra dòng liu điu. Trứng Rồng lại nở ra rồng, Chim Tiên lại đẻ ra dòng chim tiên.
Khi máy bay bắt đầu đi vào không phận Việt-Nam, nhìn qua khung cửa sổ, miền Nam nước Việt thân yêu bắt đầu xuất hiện một cách lờ mờ, tôi liên tưởng tới đoạn văn sau đây trong sách “Tiếng Thì Thầm Và Lời Đáp Trả - TTTVLDT” của Eileen Cady (trang 349):
“Người ta cho tôi thấy Trái Đất giống như một bàn cờ, có những ô vuông to lớn vẽ màu đen và trắng. Bởi vì trời mưa nên thuốc vẽ màu đen chảy qua màu trắng, và tất cả trở thành một màu xám dơ bẩn. Rồi một cơn mưa to hơn nữa đổ xuống, và tất cả lại biến thành một màu trắng tinh truyền.
Tôi nghe có tiếng nói: Con hãy có niềm tin! Hãy đứng vững và biết rằng Trái Đât và tất cả những gì nó mang trên mình đang qua một quá trình tẩy rửa. Mọi sự đều rất, rất tốt, bởi tất cả đều thông qua theo kế hoạch của Cha. Con hãy an toàn sống trong bình an.”
Phải chăng đó là tiến trình thanh tẩy mà quê hương Việt-Nam chúng ta đã và đang trải qua.
PHI TRƯỜNG TÂN SƠN NHẤT
Trong những chuyến phi hành từ trước tới nay của tôi thì đây là chuyến bay lâu nhất, nếu tính luôn thời gian chuyển đổi máy bay mấy tiếng đồng hồ ở Manila, cũng mất khoảng hai mươi giờ.
Khi máy bay bắt đầu đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, điều ngạc nhiên trước tiên đối với tôi là không thấy cảnh tượng máy bay nối đuôi nhau lên xuống như những phi trường quốc tế khác. Cảnh vắng lặng của phi trường Tân Sơn Nhất tương ứng với quang cảnh êm ả hiền hòa của những đồng ruộng bao quanh vùng đó.
THÀNH PHỐ SAIGON
Từ phi trường về trung tâm thành phố Saigon, những con đường quen thuộc mà ba mươi năm trước đây tôi đã qua lại nhiều lần, nay hoàn toàn đổi mới: mặt đường được nới rộng ra, nhà cửa xây cất thêm lên hay tân trang một cách thiếu trật tự, không theo một mô hình nào. Thêm vào đó hầu hết các con đường đều được đổi tên nên rất khó nhận diện.
Ngoài ra cảnh tượng trăm ngàn xe gắn máy chen chúc nhau chạy ngược chạy xuôi như mắc cửi – theo lối nói của giới taxi ở đây là “mạnh ai nấy chạy”, chỉ khi nào đụng nhau, công an mới lại làm biên bản mà thôi!
Saigon cũng như vài thành phố lớn mà tôi có dịp thăm viếng về sau, như Sa-Đéc, Vũng Tàu, Nha-Trang…trông có vẻ sầm uất, nhưng những vùng ngoại ô bao quanh các thành phố đó thì vẫn nghèo nàn, cuộc sống người dân quá lam lũ.
Ngay ở Saigon, ngoài những con đường chính mà xe cộ qua lại tấp nập, người buôn kẻ bán nhọn nhịp thì trong những đường hẻm bày ra cảnh tượng buôn thúng bán bưng của những người dân quê kéo lên thành thị kiếm sống. Họ là những người thật lam lũ, rất đáng thương.
XÃ HỘI ĐẦY MÂU THUẪN
Nói chung, xã hội Việt-Nam hiện nay là một xã hội đầy MÂU THUẪN về mọi phương diện. Đành rằng xã hội nào cũng chất chứa nhiều mâu thuẫn, nhưng xã hội Việt-Nam mang nhiều nét đậm đà hơn.
Ngoài một thiểu số giàu có do thời cuộc hoặc buôn bán kinh doanh phát đạt…hiện đang nảy sinh một giai cấp tiểu tư sản mới mà ước vọng của họ là làm sao con em được học những trường nổi tiếng, theo những lớp dạy tư, để trau dồi kiến thức và sinh ngữ, nhất là Anh văn… mong rằng rồi đây dành dụm được số tiền khá lớn, cho con cái xuất ngoại du học.
Bên cạnh những giai cấp trên thì đại đa số dân chúng suốt ngày đầu tắt mặt tối để kiếm sống mà không đủ sống. Đứng trước tương lai mù mịt, sự tiết kiẹm chẳng mang lại hứa hẹn nào nên chút “tiền còm” sót lại sau một ngày chạy ngược chạy xuôi tần tảo đều được nướng hết vào những quán nhậu, những quán cà-phê…mọc lên như nấm suốt hai bên lề đường.
Những người túi tiền đầy ắp thì ăn uống tại những quán xá sang trọng đắt tiền. Nói chung, mọi người đều đua nhau hưởng thụ tùy theo túi tiền của mình. Xem ra một xã hội mà đại đa số dân chúng không để ý tới ngày mai, chỉ lo hưởng thụ cho giây phút hiện tại, thay vì tiết kiệm để đầu tư hay kinh doanh.
Trong khi đại đa số dân chúng da dẻ sạm nắng vì cuộc sống lam lũ thì một thiểu số “anh thư khuê các” không bao giờ ra đường trong ngày để giữ nước da được trắng trẻo nõn nà. Khi cần xê dịch vì nhu cầu bơi lội, tập thể thao, hoặc những dịch vụ khác… họ được đưa đón bởi những xe hơi đắt tiền từ nhà đến điểm hẹn hay ngược lại.
Muốn chiêm ngưỡng dung nhan những anh thư khuê các đó, phải đợi về đêm khi họ hẹn hò nhau trong các tiệm ăn sang trọng, hay trong những phòng trà ca nhạc như “M và tôi”, “Queen Bee” “Trung Tâm Lan Anh” v.v.…Lúc đó những nàng tiên giáng trần thời đại sẽ múa những vũ khúc “Nghê Thường” của thời đại rất ngoạn mục.
Một đặc điểm chung rất ấn tượng là hầu hết người dân trong nước không còn sử dụng những từ “cám ơn” hay “xin lỗi” rất thông dụng trước 1975. Khi nhận quà tặng bằng hiẹn kim hay hiện vật của bà con hay bạn bè thân quen từ ngoại quốc về cho, họ chỉ biết nhận mà không hề nói lên hai tiếng “cám ơn”, mặc dù họ là những người trí thức đi nữa. Đi đường, nếu có ai vấp phải mình, họ chỉ biết nhìn mà không hề mở miệng nói hai tiếng “xin lỗi”. Những người sống ở ngoại quốc lâu năm cảm thấy rất bỡ ngỡ về thái độ nầy.
THỰC TRẠNG XÃ HỘI VIỆT-NAM
Đó là bức tranh xã hội Việt-Nam hiện nay mà tôi đã chứng kiến. Bài thơ “Vì Bên Con Còn…” của Myrtle Householder ghi chép trong sách “Lời Kinh Đẹp Nhất Thiên Niên Kỷ” (LKĐNTNK, trang 25) đã gói ghém trọn vẹn tâm tình của tôi trong thời gian thăm viếng đó:
“Lạy Chúa, Con được no nê mà vẫn thiếu ăn, Vì bên con còn người đói lả.
Con uống nước mát mà họng vẫn khô ran, Vì bên con còn có người đang khát.
Con vui cười mà nước mắt tuôn rơi, Vì bên con còn có người phiền muộn.
Con sáng mắt mà vẫn ở trong bóng đêm, Vì bên con còn có người mù tối.
Con mặc áo đẹp mà vẫn rách tả tơi, Vì bên con còn có người trần trụi.
Con nằm trong nệm êm mà vẫn thao thức, Vì bên con còn bao người thiếu thốn.
II.- TIỀN LÀ TIÊN LÀ PHẬT
CƯỚP GIỰT TRÊN HÈ PHỐ
Đối với giới trẻ – nam cũng như nữ – khi màn đêm buông xuống là lúc các cô cậu đua nhau xe gắn máy trên những đường phố rồi hẹn hò nhau tại những quán kem hay quán cà-phê nằm trên vỉa hè các đường phố dọc theo bờ sông Saigon.
Vào một đêm trời nóng nực, tôi tản bộ dọc theo Bến Chương Dương, rồi ghé một quán nước bên lề đường thưởng thức một ly kem lạnh. Trong khi đang nhìn dòng xe gắn máy chạy ngược chạy xuôi như thác lũ, bỗng trên vỉa hè bốn năm tiểu thư – có lẽ là Việt kiều – vì chưa quen với sinh hoạt ở đây, cô nào cô nấy vẫn thản nhiên mang bóp trên vai. Nhanh như chớp một chiếc honda từ ngoài đường lao vào để giựt bóp của một cô, nhưng chẳng may đụng phải một cậu bé đang đứng đón khách ăn kem. Cậu té xuống mặt đường, gãy tay, nằm sóng soải, còn chiếc honda kia vụt chạy mất, nhanh như tên bắn.
MỘT KỶ NIỆM BÊN BẾN SÔNG SAIGON
Nhìn cảnh tượng đó tôi bỗng nhớ lại một vụ cướp giựt to lớn khác, đã được mô tả lại trong một bài báo năm xưa, liên quan đến bến sông Saigon. Vào khoảng năm 1965, Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch Uy Ban Hành Pháp Trung Ương. Trong chiến dịch diệt trừ gian thương, tướng Kỳ đã kết án tử hình tỉ phú Tạ Vinh vì tội đầu cơ tích trữ sắt thép.
Trước ngày ra pháp trường ở chợ Bến Thành, một phóng viên báo chí được vào trong tù phỏng vấn và tử tội Tạ Vinh đã thổ lộ tâm tình như sau: “Từ trước tới nay, tôi cứ tưởng đồng tiền là trên hết. Đêm ngày tôi chỉ lo buôn bán để kiếm thật nhiều tiền. Bây giờ tôi mới biết đồng tiền là vô nghĩa.”
Đáp câu hỏi về ước mơ gì trong lúc nầy, Tạ Vinh trả lời: “Ước mơ gì đây? Tôi chỉ có một mơ ước nho nhỏ là được mặc một bộ đồ bà ba trắng, tản bộ dọc bờ sông, rồi cùng với bạn bè vào trong một quán nhậu bên sông Saigon, ngồi đấu láo, nói những chuyện trên trời dưới biển. Mong trong túi có vài chục bạc, mua một ít thịt pha lấu về nhà ăn với vợ con…” Đó là ước mơ của một tỉ phú Việt-Nam vào thời điểm 1965, khi phải đối diện với tử thần.
Chính khi Tạ Vinh mất tất cả thì ông lại được tất cả vì ông đã được linh mục Phùng Văn Mạnh – cha sở giáo xứ Gia-Định – dạy giáo lý và ban bí tích Thánh Tẩy. Khi ra pháp trường để phải ngã gục trước họng súng, Tạ Vịnh tâm sự với linh mục Phùng Văn Mạnh là ông đã bị kết án oan uổng. Linh mục Mạnh cho biết là trước đây hai mươi thế kỷ đã có một người cũng bị kết án tử hình một cách oan uổng, đó là Chúa Giêsu Kitô. Do đó Tạ Vịnh đã bằng lòng chấp nhận số phận.
ĐỨC KHÓ NGHÈO CỦA LINH MỤC
Vào Chúa nhật tuần lễ đầu tiên ở Saigon, tôi đã tham dự Thánh lễ lúc 9 giờ sáng tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở đường Kỳ Đồng. Đó là Thánh lê Tạ Ơn của một tân linh mục dòng Chúa Cứu Thế nhưng sinh hoạt mục vụ tại quê nhà là giáo phận Vinh. Vị linh mục thuyết giảng hôm đó đã phác họa những khó khăn mà các linh mục phải đương đầu: Đó là “khi theo Chúa Giêsu thì các linh mục đã đoan hứa sẽ bỏ tât cả, nhưng trong đời sống linh mục thì lại được tất cả và còn được nhiều hơn.”
Cha cho biết mỗi kỳ cấm phòng chung tại Dòng Chúa Cứu Thế, đã có những linh mục đấm ngực, khóc lóc và sám hối với tất cả cộng đoàn anh em vì đã lỗi đức khó nghèo.
Để kết thúc bài giảng, linh mục đó đã dùng bài thơ “Xin dùng con theo ý Chúa” của linh mục Nguyễn Công Đoan, dòng Tên, như là những nét chấm phá cho đời sống mục tử:
“Lạy Chúa, xin cứ dùng con theo ý Chúa, Làm chân tay cho người què cụt, Làm đôi mắt cho ai đui mù, Làm lỗ tai cho người bị điếc, Làm miệng lưỡi cho người không nói được, Làm tiếng kêu cho người chịu bất công.
Lạy Chúa, xin cứ gởi con ra đồng lúa, Để đem cơm cho người đói đang chờ, Và đem nước cho người họng đang khô, Đem thuốc thang cho người đang đau ốm, Đem áo quần cho người đang trần trụi, Đem mền đắp cho người rét đang run.
Lạy Chúa, xin cứ gởi con ra đường vắng, Thắp đèn soi cho ai bước trong đêm, Đốt lửa ấm cho những ai giá lạnh, Truyền cảm thông cho lữ khách đơn côi, Nâng phẩm giá cho kẻ đời chà đạp, Đem tự do cho những kiếp đọa đày.
Lạy Chúa, xin cứ gởi con vào thôn xóm, Đem an hòa cho những ai bât thuận, Đem thanh bình cho kẻ sống âu lo, Đem ủi an cho người đang sầu khổ, Đem niềm vui cho những ai bất hạnh, Đem vận may cho người gặp rủi ro.
Lạy Chúa, xin cứ dùng con làm tất cả, Cho mọi người được hạnh phúc an vui, Còn phần con, xin gởi hết nơi Ngài, Là Thiên Chúa, là tình yêu, là lẽ sống, Ngài cho con tất cả niềm hy vọng, Để tin yêu mà vui sống trọn đời.
Như vậy vì đồng tiền mà Tạ Vinh đã trở thành tử tội. Cũng vì đồng tiền mà đã xảy ra những cảnh cướp giựt nhan nhản mỗi ngày mỗi đêm trên các đường phố. Và cũng vì đồng tiền mà nhiều linh mục đã vấp ngã, lỗi lời Khấn Khó Nghèo…trở nên những Giu-Đa tân thời bán Chúa, làm hoen ố bộ mặt thật của Đức Kitô.
III.- SINH HOẠT TÔN GIÁO
NHỮNG NƠI TÔN NGHIÊM LỘNG LẪY
Một điểm nổi bật là ở khắp nơi trong nước, nhiều nhà thờ và ngôi chùa đồ sộ được xây cất lên hay sơn phết lại màu hồng. Màu nầy chắc chắn phải mang một ý nghĩa nào đó mà trí óc hạn hẹp của tôi không cho phép tôi hiểu biết một cách thấu đáo.
Ngay cả tòa Tỏng Giám Mục Saigon cũng sơn phết màu hồng, với những dãy nhà đồ sộ, nếu những người thân quen không lưu ý thì tôi không thể nào nhận diện được. Trước 1975, tòa Tổng Giám Mục Saigon chỉ là một ngôi nhà cổ kính, bé nhỏ, nằm khiêm tốn bên vệ đường, ít ai để ý tới.
Nhìn những ngôi chùa và những thánh đường tân trang đồ sộ, cùng những người đi lễ bái hay tham dự Thánh lễ chật ních vào mỗi dịp lễ, cứ bề ngoài mà suy xét thì ở Việt-Nam hiện nay đang có tự do tôn giáo. Nhưng nội tình các tôn giáo như thế nào thì điều đó vượt quá sự hiểu biết thô thiển của tôi vì tôi không phải là người trong cuộc, do đó rất khó đưa ra một sự phê phán khách quan vì thiếu những dữ kiện chính xác.
Đứng trước cảnh tượng các nơi tôn nghiêm được tân trang lộng lây, các tôn giáo có vẻ đang hồi sinh ở Việt-Nam, tôi dâng lên lời nguyện “Ngôi Thánh Đường Đời Con”, (“La Cathédrale de ma vie” của Charles Singer, trong sách LKĐNTNK, trang 10-12), mong sao mỗi tín hữu lo xây đắp ngôi thánh đường đời mình thật khang trang, đầm ấm:
“Lạy Chúa, Cuộc đời con là một ngôi Thánh Đường, Từ tro bụi bao năm trường xây đắp, Con tự hào với tât cả niềm tin, Băng đôi tay, bằng mối tình nghệ sĩ, Để vươn lên thạt cao quý tôn nghiêm.
Con cố găng, con miệt mài tìm kiếm, Từ khắp nơi, tận góc biển chân trời, Trên quê hương những loại đá tuyệt vời, Con làm việc không một lời than vãn: Xẻ, đục, cưa và chạm trổ say mê, Tay xây xát, con không hề bỏ cuộc, Búa đẻo hư, con một mực kiên trì. Con mải mê làm cho đến khi ẩn hiện, Những phù điêu cảnh thánh điện, thiên thần, Đang tấu nhạc thật hòa vang tôn kính, Nét vui tươi và thanh tĩnh cuộc đời.
… Lạy Chúa, Ngôi Thánh Đường của đời con, Không thể xong trong một sớm một chiều, Nhưng vun đắp trải qua nhiều năm tháng, Cùng với nhiều biến dạng của thời gian.
Có thể, Con sẽ vui mừng hay than van khóc lóc, Thậm chí, Đổ máu đào khi học biết thương đau.
Thế nhưng, Con mãi vững tin vào sức mạnh, Chẳng phải từ nơi con để vượt thắng giòng đời, Mà tâm nguyện: chỉ nơi Ngài, Lạy Chúa, Ngôi Thánh Đường con sẽ tựa trung kiên, Để trụ vững giữa đảo điên nhân thế, Để hiên ngang đứng giữa bể dâu đời.
Lạy Chúa, con chỉ là người thợ cả, Chính Ngài, con không quá lời đâu: Là Thiên Chúa, là Khởi Đầu, là Chung Cuộc, Chính Ngài, Nhà Kiến Trúc của đời con.”
NẾP SỐNG ĐẠO CỦA GIÁO DÂN
Nói chung, cách hành đạo của đại đa số giáo dân vẫn theo khuôn khổ trước 1975. Mỗi sáng sớm tôi đi xem lễ lúc năm giờ sáng ở Dòng Đa-Minh, đường Lê Văn Sỹ mà trước kia thường gọi là nhà thờ Ba Chuông. Điều tôi rất thích ở đây là trước khi Thánh lễ được cử hành, giáo dân cùng đọc kinh Nhật Tụng ban sáng với các linh mục tu sĩ. Điều đó mang lại nhiều đổi mới, giúp giáo dân có nhiều chất liệu suy tư mỗi ngày cho đời sống nội tâm.
Tại những nhà thờ khác, giáo dân thường đọc ê a những kinh nguyện quen thuộc, khiến đâm ra nhàm chán, lo ra, không còn để ý đến ý nghĩa các lời kinh, như tiên tri Esai đã quở trách: “Dân nầy thờ Ta bằng môi miếng, nhưng lòng trí chúng nó rất xa cách Ta.”
BÍ TÍCH HÒA GIẢI HAY CÁO GIẢI
Vào một chiều thứ bảy, tôi đi xem lễ tại nhà thờ thuộc một cộng đoàn tu trì khá lớn ở gần trung tâm thành phố Saigon. Trước Thánh lễ nửa giờ, hai hàng giáo dân đứng nối đuôi nhau một cách rất nghiêm trang tại nhà thay áo lễ của các cha để chờ đợi xưng tội. Hai linh mục đã trọng tuổi ngồi trong hai tòa giải tội. Lúc đó một linh mục trọng tuổi khác đang đứng chờ để thay phiên giải tội.
Nhưng linh mục ngồi tòa giải tội kia, mặc dù chưa có vị linh mục khác thay thế, đã đứng lên về phòng nghỉ ngơi, vì hết giờ rồi! Trong khi đó, vị linh mục trẻ tuổi hơn phải thay thế thì lại ngồi nói chuyện cười đùa với mấy bà mấy cô ở một phòng làm việc gần đó. Hơn hai mươi phút sau, ngài mới đứng dậy lững thững đi ra. Khi đi ngang qua một phòng ốc khác, ngài còn ngoái đầu vào nói vài câu bông đùa nữa với nhân viên ở đó rồi mới chấp hai tay sau lưng, mắt nhìn lên trời, từ từ đi vào ngồi tòa cáo giải.
Tôi rất cảm phục các giáo hữu – gồm các cụ già chống gậy và những thanh thiếu niên, nam cũng như nữ – vẫn xếp hàng đứng yên lặng, gần nửa giờ đồng hồ, khoanh tay chờ đợi tới phiên mình được xưng tội, chẳng khác nào những tội nhân chờ đợi ra trước quan tòa để lãnh án. Ý nghĩa của bí tích Hòa Giải mà Công Đồng Vaticanô II đề xướng không thấy thể hiện ở đây! Sự kiên nhẫn của giáo dân Việt-Nam đã đạt tới một kỷ lục khá cao, khó tìm thấy ở bất cứ nơi nào.
THUYẾT GIẢNG HAY ĐỌC BÀI GIẢNG
Trong Thánh lễ tiếp theo, một linh mục cũng khá trọng tuổi thuyết giảng về Thánh An-Phong, vì nhằm ngày lễ Thánh Quan Thầy. Xen kẻ vào bài giảng, ngài còn trình bày dông dài về Thánh Mẫu Học. Bài giảng chỉ chấm dứt sau nửa giờ đồng hồ. Suốt bài giảng tôi nhìn quanh, trông chừng chẳng ai hiểu gì, cứ ngồi khoanh tay, lim dim gật gù, trong khi vị linh mục vẫn thao thao bất tuyệt đọc bài giảng của mình. Một gương kiên nhẫn khác của giáo dân Việt Nam!
DÂNG CÚNG NHÀ THỜ
Ở ba bốn nhà thờ mà tôi đã xem lễ các ngày Chúa nhật, một đặc điểm chung là lúc dâng cúng ít người bỏ tiền vào giỏ – không chỉ những người ở trong nước mà cả những Việt kiều nữa. Theo tôi, đó là một sự thiếu sót trong bổn phận của giáo dân đối với nhà thờ. Vì vậy các họ đạo ở Việt-Nam hay tổ chức những cuộc quyên tiền tại gia cho những công việc trùng tu nhà thờ, hay những chương trình trọng đại khác.
IV.- SỐNG ĐỜI KHÓ NGHÈO
ĐÁP LẠI TIẾNG GỌI CỦA TIN MỪNG
Trong lúc đại đa số giới trẻ ở đây đang tận dụng mọi phương cách để kiếm thật nhiều tiền ngõ hầu đáp ứng nhu cầu vật chất, trong bối cảnh một xã hội đang đổi mới thì một thiểu số rất nhỏ những thanh thiếu niên nam nữ đã đáp lại tiếng gọi của Tin Mừng để sống đời phục vụ tha nhân.
Điều làm tôi cảm động là mỗi sáng sớm, một nhóm các em dự tu – có lẽ thuộc Nữ Tử Bác Ai hay một tu hội nào khác – nghiêm trang đi xem lễ ở nhà thờ Dòng Đa-Minh – và có lẽ ở những nhà thờ khác nữa. Các em ăn mặc đơn sơ: áo trắng quần xanh, nghiêm trang trong mỗi bước đi, đắm hồn trong sự suy tư chiêm niệm.
NẾP SỐNG KHÓ NGHÈO THẬT SỰ
Lần đầu tiên tới thăm linh mục Augustinô Nguyễn Viết Chung tại Tu Hội Truyền Giáo Thánh Vinh Sơn ở đường Nguyễn Kiệm, tôi được cha dẫn đi xem một số phòng ốc, nhờ đó tôi mới hiểu được phần nào nếp sống khó nghèo của các tu sĩ trong khung cảnh hiện tại.
Phòng cha Chung chỉ vỏn vẹn một chiếc giường gỗ với một chiếc chiếu trải lên đó. Bên cạnh tủ sách là một chiếc ghế và một cái bàn nhỏ. Có cái quạt máy treo tường nhưng không thấy mở! Với khí hậu oi bức mùa hè ở Saigon, tôi không hiểu làm sao cha có thể chịu đựng được “cái nóng ghê người, nóng nóng ghê!”
Cha dẫn tôi đi xem phòng ngũ các thầy. Năm sáu thầy nằm ngũ trong một phòng nhỏ: chỉ có hai giường gỗ, ngoài ra là mấy chiếc chiếu xếp lại, để trên sàn nhà. Thầy nào cảm thấy nằm trên sàn nhà không được thì mới nằm trên giường.
Khi quan sát cảnh tượng đó, tôi tự nhủ: đành rằng có một số linh mục tu sĩ sống trong nhung lụa, ngủ trong nệm ấm chăn êm với máy điều hòa không khí… không thiếu những linh mục tu sĩ có nếp sống thanh bần theo gương Thầy Chí Thánh: “Con chim có tổ, con chồn có hang, Con Người không nơi gối đầu!”
Tôi nhớ lại “Lời Nguyện Không Thể Thiếu” của đông đảo linh mục cũng như nam nữ tu sĩ đang sống đời chứng nhân một cách hùng hồn (sách LKĐNTNK, trang 7-9), để cầu xin Chúa cho những tôi trung của Ngài luôn trung thành với những gì đã đoan hứa:
“… Lay Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới trao tặng niềm tin, Nhưng con lại có thể làm nên Chứng tá sống động cho Chúa hôm nay.
Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới gởi đến niềm hy vọng, Nhưng con lại có thể giúp anh em con Tìm lại nguồn cậy trông.
Lạy Chúa chỉ mình Chúa, Ngài mới đốt lên ngọn Lửa Mến, Nhưng con lại có thể giúp anh em con Học biết yêu thương.
Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới tác tạo hòa bình, Nhưng con lại có thể ra đi gieo cấy Tình đoàn kết hợp nhât anh em.
Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới là Đấng ban sức mạnh Thánh Linh, Nhưng con lại có thể nâng đỡ Một tâm hồn anh em đang thất vọng.
Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới thật sự là đường, Nhưng con lại có thể chỉ đường Cho anh em con bước đi.
Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới là ánh sáng, Nhưng con lại có thể Làm cho ánh mắt anh em con Thêm ngời sáng long lanh.
Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới là sự sống vĩnh cửu, Nhưng con lại có thể đem đến Cho anh em con niềm vui sống.
Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới thực hiện được những điều nan giải, Nhưng con lại có thể làm được Cái khả dĩ làm được trong tầm tay.
Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Tự Ngài đã thực sự viên mãn, Nhưng Ngài lại ưa thích cho con Được cộng tác trong công việc của Ngài, Và Ngài lại ưa thích nương nhờ nơi con Để cứu độ mọi người.”
NHÀ DƯỠNG LÃO TÌNH THƯƠNG
Vào một trưa Chúa nhật, tôi đã tham dự Thánh lễ do cha Chung dâng tiến cho các cụ bà ở Nhà Dưỡng Lão Tình Thương Bình Lợi. Nhà Dưỡng Lão nầy nằm khuất trong một thôn xóm hẻo lánh, bên cạnh dòng sông Sài Gòn với những hàng dừa nước hoang dại. Trước NhàDưỡng Lão là một dãy mộ bia của những nữ tu đã ra đi từ lâu, sau một thời gian dài tận hiến cuộc đời phục vụ người nghèo. Nhà Dưỡng Lão gồm mấy dãy nhà nghèo nàn xơ xác, tương xứng với những cụ bà cũng rất nghèo hèn, xem chừng bị bỏ rơi, không được người nhà quan tâm.
Nhà này nuôi dưỡng 37 bà cụ. Bà cụ già nhất được 94 tuổi. Đa số các cụ bà trên 70 tuổi. Có 14 cụ bà bị bệnh nặng, đại tiểu tiện tại chỗ, cần chăm sóc tích cực. Nhà có 4 phòng: hai phòng dành cho các cụ bệnh nặng và hai phòng dành cho các cụ đi lại được. Các nữ tu phải mướn thêm hai người giúp việc, lưong tháng khoảng năm hay sáu trăm ngàn đồng Việt-Nam, chưa tới ba bốn chục Mỹ Kim. Chính các em dự tu và các chị khấn tạm đã tích cực giúp đỡ các cụ bà.
Khi tôi vừa tới nơi là lúc cha Chung đang chia sẻ bài Phúc Am Chúa nhật. Những lời nói chân thành đơn sơ của cha phản ảnh một tâm hồn say mê Lời Chúa và sống Lời Chúa.
Khi Thánh lễ chấm dứt, cha Chung đưa tôi đi thăm Nhà Dưỡng Lão. Hầu hết những cụ bà đều đau yếu, phân nhiều ngồi xe lăn, hay xê dịch phải có người giúp đỡ. Một ít cụ nằm suốt ngày trên giường. Các cụ nằm trên những chiếc giường sắt nghèo nàn, nhưng sạch sẽ vì được các chị nữ tu và các em dự tu chăm sóc chu đáo về mặt vệ sinh. Nhưng có cụ vì nằm lâu ngày trên giường nên lưng bị thâm đen.
Lúc đó một cụ già yếu vì nhu cầu phải nằm xuống giường, nhưng không thể tự lực được. Một nhóm năm sáu em dự tu vội vàng xúm lại, vui vẻ bồng đỡ: em thì choàng lưng, em khác đỡ vai còn em khác nữa thì quàng chân…chẳng khác nào những cháu chắt trong nhà đỡ đần các bà ngoại, bà nội vậy. Có lẽ vì thế mà các cụ hay nở nụ cười trên môi, tuy phải đau đớn về thể xác và đau khổ trong tâm hồn.
Chứng kiến cảnh tượng đó, tôi tự hỏi có gì hấp dẫn nơi các cụ già, nghèo hèn xơ xác, da thịt nhăn nheo, đen điu xấu xí… nếu không phải vì tiếng gọi của Tình Yêu Thiên Chúa. Trong lúc các tầng lớp thiếu nữ thuộc lứa tuổi các em đều ra sức tìm kiếm những nếp sống mang lại phúc lợi cho chính bản thân họ, còn các em đã tự nguyện quên mình cho những người bị bỏ rơi. Các em đã dâng hiến đời mình cho Chúa để theo đuổi lý tưởng quên mình vì tha nhân:
“Chỉ mong Ngài lấy đi Mong chẳng còn gì thuộc về con, Mong chẳng còn gì là của con, Để con được trắng tay, Con chỉ còn Ngài để giữ lấy, Con được chọn Chúa mãi là của con.
Chỉ mong Ngài xóa đi, Mong chẳng còn gì để chiếm hữu, Mong chẳng còn gì ràng buộc con, Để con được ngước lên, Con tìm được Ngài là chân lý, Con được cùng Chúa đồng hành luôn.
Chỉ mong Ngài cất đi, Mong chẳng còn gì để nắm giữ, Mong chẳng còn gì mà tự tôn, Để con chỉ biết yêu, Yêu một mình Ngài trọn đời con, Con nhìn nhận Chúa chính Nguồn Tình Yêu.”
(“Mong Chẳng Còn Gì” của Tagore, trong sách Lời Kinh Đẹp Nhất Thiên Niên Kỷ, do Lê Quang dịch, trang 20)
V.- LINH MỤC NGUYỄN VIẾT CHUNG
MỘT BÁC SĨ PHẬT GIÁO TRỞ THÀNH LINH MỤC
Linh mục Augustinô Nguyễn Viết Chung nguyên là một bác sĩ Phật giáo, chuyên môn về Da Liễu. Khi lên 18 tuổi, nhân đọc một bài báo nói về cái chết của Đức Cha Jean Cassaigne tại trại phong Di-Linh, cậu Chung cảm thấy cuộc sống đó quá tốt đẹp và vô tình Đức Cha Jean Cassaigne đã trở thành thần tượng của cậu. Khi nhắc lại đoạn đời đó, cha Chung cho biết là ngài được rao giảng Tin Mừng bằng đời sống, chứ không phải bằng lời nói. Từ đó cậu Chung có ý nguyện học làm bác sĩ để phục vụ bệnh nhân phong như Đức Cha Jean Cassaigne.
Khi bắt đầu học năm thứ nhất y khoa, nhân dịp tham dự Thánh lễ khai khóa của linh mục giáo sư bác sĩ Lischenberg, cậu Chung nhận thấy con người khoa học uyên bác của giáo sư Lischenberg đã biến thành một linh mục khả kính, trang nghiêm siêu thoát, chìm đắm trong cõi phúc lạc thần thiêng… Ơn gọi làm linh mục của cha Chung đã chớm nở từ đó.
Khi bác sĩ Chung phục vụ tại trại phong Bến Sắn, Dì Hai Loan thuộc Tu Hội Nữ Tử Bác Ai là Phó Giám Đốc. Dì là người đã phục vụ ở đây gần 17 năm, bất ngờ ngã bệnh ung thư và mất đi sau mấy tháng. Khi Dì hấp hối, bác sĩ Chung đang sửa soạn để đi với bác sĩ Quang, bác sĩ Bích Vân lên trại phong Di-Linh khám mắt cho bệnh nhân. Vì xe chưa tới, bác sĩ Chung tiếc nuối những giây phút cuối cùng còn lại với Dì Hai Loan nên đã trở lại giường bệnh của Dì. Lúc đó Dì Hai Loan mở mắt ra, nhìn bác sĩ và đôi môi mấp máy như muốn nói điều gì. Dì Mười hiểu được, liền nói: “Chung, Dì Hai Loan nói, tại sao chưa đi?”
Khi kể lại kỷ niệm nầy cho tôi, cha Chung đã dùng những ngón tay phải chỉ vào cánh tay trái và cho biết lúc đó cha cảm thấy bị rởn da gà lên. Sau đó, bác sĩ Chung đã về dự tang lễ của Dì Hai Loan và đã quyết định theo đạo. Một năm sau nữa bác sĩ Chung đã vào tu ở Tu Hội Truyền Giáo Thánh Vinh Sơn và đã nhận lãnh Thánh chức linh mục hơn một năm nay.
Ba vị đã tác động mạnh mẽ trên Ơn Gọi của cha Chung là giám mục Jean Cassaigne, linh mục Lischenberg và Dì Hai Loan. Cả ba cùng có một mẫu số chung – như lời cha Chung – đó là họ đã rao giảng Tin Mừng cho cha bằng cuộc sống chứ không phải bằng lời nói!
Nguyện ước của cha Chung là được phục vụ bệnh nhân phong và bịnh nhân Aids rồi cuối cùng ngã bệnh giữa những bẹnh nhân mà cha yêu thương phục vụ, đúng như lời Chúa Kitô đã phán dạy: “Không có Tình Yêu nào cao trọng cho bằng hy sinh mạng sống mình vì kẻ mình yêu!”
Địa chỉ của linh mục Augustinô Nguyễn Viết Chung: 479/15 Nguyễn Kiệm, phường 9, quận Phú-Nhuận, Thành phố Hồ-Chí-Minh. Điện thoại: (08) 990-4980 Địạ chỉ email: vinhson@hcmc.netnam.vn
NHỮNG TRỞ NGẠI VỀ PHÍA GIA ĐÌNH
Đáp câu hỏi của tôi là trên con đường theo Chúa, có những trở ngại lớn lao nào về phía gia đình không? Cha cho biết gia đình của cha là một gia đình nghèo. Đời sống gia đình thường xảy ra cảnh “cơm không lành, canh không ngọt”. Điều đó đã ảnh hưởng cha từ thuở thiếu thời nên cha đã có ý định đi tu vì nhận thấy đời sống gia đình không mang lại hạnh phúc.
Khi làm bác sĩ, trong hai năm đầu cha đã hành nghề để có thể trả nợ cho gia đình. Trong những năm kế tiếp, cha đã giúp đỡ những người em ăn học và hiện có một em trai là bác sĩ chuyên môn về phổi. Người em nầy đã thay thế cha phụng dưỡng hai cụ thân sinh.
Khi còn là tu sĩ, chưa được thụ phong linh mục, một ngày kia được tin cụ thân sinh bệnh, cha đi xe đạp về thăm. Vừa vào nhà, cụ thân sinh liền quở trách cha là một người “không biết nhục”. Theo lời cụ, các bạn bè của cha đều đi xe hơi, xây nhà lầu hai ba tầng cho bố mẹ ở. Còn cha, cha lại đạp chiếc xe đạp cọc cạch về thăm nhà!
Trước đây khi cha ngõ ý với cụ bà là muốn đi tu thì cụ bà rất vui, vì tưởng cha tu theo Phật giáo. Nhưng khi biết cha sẽ tu theo Công giáo thì cụ bà giữ im lặng.
Sau khi được thụ phong linh mục vài ba hôm, cha về thăm gia đình. Mới bước vào nhà, cụ bà cất tiếng nói: “Mẹ có điều nầy muốn nói với con.” Cha vội kéo ghế mời cụ bà ngồi rồi nói: “Thưa Mẹ, xin Mẹ cứ nói, con xin nghe.” Bấy giờ cụ bà đáp: “Mẹ muốn nói với con điều nầy là đạo Mẹ, Mẹ giữ, đạo con, con giữ.” Cha liền thưa: “Xin Mẹ cứ giữ đạo của Mẹ. Con không bao giờ dám có ý nghĩ là sẽ khuyên bảo Mẹ theo đạo của con.”
NHỮNG THỬ THÁCH TRÊN HÀNH TRÌNH TU TRÌ
Đáp câu hỏi của tôi là trong thời gian đi tu cũng như làm linh mục, có lúc nào cha cảm thấy những thử thách quá lớn và nảy sinh ý định muốn bỏ cuộc? Cha đăm chiêu nhìn tôi một phút rồi chậm rãi trả lời: “Thật ra ở giai đoạn nào trong đời sống tu trì cũng đều có những cám dỗ riêng: từ nhà tập đến khấn tạm rồi khấn trọn đời và làm linh mục. Nhưng nếu tu sĩ biết tuân giữ ba lời khấn là vâng lời, khiết tịnh và khó nghèo, đọc kinh Nhật Tụng, suy gẫm Phúc Am…thì sẽ vượt qua những cơn cám dỗ.”
Cha Chung còn chia sẻ với tôi đôi điều có tính cách riêng tư nhưng có phần nào ray rứt tâm can. Trong giờ phút cảm động đó, tôi đã đưa tâm hồn lên với Chúa, cầu nguyện cho cha Chung và cho tất cả các linh mục cũng như nam nữ tu sĩ, đã trải qua những giây phút cô đơn trong cuộc đời tu trì, bằng lời kinh “Phút Cô Đơn”, của Ludovic Giraud, (sách LKĐNTNK, trang 49-50):
“Lạy Chúa, Con dâng lên Chúa những giờ phút cô đơn Đôi lần đến với con trong cuộc đời.
Con dâng lên Chúa Lúc con phải làm việc một mình: Trong sự tẻ nhạt của bổn phận nặng nề Mà không có lấy một sự khích lệ đỡ nâng Trong cộng đoàn.
Con dâng lên Chúa Những lúc cô đơn, Mò mẫm đi tìm trong hoài nghi, Khi không còn biết con đường Mình đang theo đuổi sẽ dẫn đến đâu Và trên đó bóng đêm bao trùm.
Con dâng lên Chúa Những giờ phút con phải Đau khổ âm thầm một mình, Dù đang ở giữa những kẻ mà con phải Bày tỏ Chúa cho họ và bị vô ơn hất hủi, Do thờ ơ và thiếu cảm thông.
Con dâng lên Chúa Những giây phút con phải yêu một mình Giây phút thật nặng nề Khi trái tim con khắc khoải, Đi tìm sự tương giao Mà không gặp thấy trong lòng người khác. Và trong lòng những người con ưa thích Tìm thấy một sự no thỏa mà không nếm cảm được.
Con dâng lên Chúa Những giờ phút con phải đau khổ một mình, Những giây phút Giếtsêmani của bản thân con. Và chính trong những lúc ấy, Lạy Chúa, con ước ao được nên giống Chúa.
Cũng như Chúa, Con ước muốn và cầu xin Cho chén khổ nầy ra khỏi con, Nhưng xin Chúa cho con sức mạnh Để chế ngự mình Mà vâng theo Thánh ý Cha, Đấng Chúa yêu ngàn đời, Cả khi Ngài chấp nhận thấy con đau khổ.
Lạy Chúa, Xin đừng theo ý con Nhưng cho ý Cha được thể hiện Amen.”
VI.- TRUNG TÂM MAI-HÒA
THÁP TÙNG CHA CHUNG
Cao điểm của những ngày về thăm Việt-Nam là việc tôi tháp tùng linh mục Augustinô Nguyễn Viết Chung đi thăm viếng Trung Tâm Mai-Hòa. Cha Chung hiện là một trong ba bác sĩ phục vụ tại Trung Tâm đó do các Nữ Tử Bác Ai Thánh Vinh Sơn đảm trách. Mỗi thứ hai hằng tuần, cha Chung đều lên Mai-Hòa suốt ngày để dâng Thánh lễ và khám bệnh. Hai bác sĩ thiện nguyện khác sẽ khám bịnh cho bịnh nhân vào ngày thứ tư và thứ bảy.
Hôm đó tôi rời Saigon đi xe honda “ôm” với cha Chung lúc 7 giờ 30 sáng để trực chỉ Củ Chi, với đoạn đường dài trên 45 cây số. Lần đầu tiên tôi đi honda với nón an toàn nặng trĩu trên đầu. Khi honda vừa chạy độ 5 phút, trời mưa lâm râm, cha Chung đưa tôi mặc bộ quần áo mưa, trông chẳng khác nào hai phi hành gia bất đắc dĩ. Nhưng xe chạy được mười lăm phút, trời tạnh mưa. Một ít lâu sau trời bắt đầu nắng, nhưng cha Chung không hề dừng lại để cởi áo mưa. Sau khi rời đường quốc lộ, xe còn chạy trên mười cây số nữa mới tới Trung Tâm Mai Hòa.
Hôm đó tôi mặc áo dài tay, quần tây dài, mang giày, để tỏ lòng kính trọng của tôi đối với những chi thể đau khổ của Đức Kitô. Thường ngày tôi chỉ mặc áo cụt tay, quần đùi, đi dép…để ứng phó với cái nóng bức của trời Saigon.
SƠ LƯỢC VỀ TRUNG TÂM MAI-HÒA
Đây là Trung Tâm săn sóc bệnh nhân Aids ở giai đoạn cuối, không nơi nương tựa. Đây là một cơ sở Công giáo đầu tiên được chính thức thành lập để chăm sóc bịnh nhân Aids tại Việt-Nam. Trung Tâm không nhận bệnh nhân đến trực tiếp mà chỉ nhận bệnh nhân chuyển đến từ khoa nhiễm E thuộc Trung Tâm Bệnh Nhiệt Đới, Trung Tâm Lao Phạm Ngọc Thạch và bệnh viện miễn phí An-Bình. Hiện Trung Tâm Mai-Hòa do nữ tu Nguyễn Kim Thoa (Dì Tuệ Linh) đảm trách.
Địa chỉ của Trung Tâm Mai-Hòa: Ap Lô 6, Xã An Nhơn Tây, Huyện Củ Chi, TPHCM. Điện thoại: (848) 8 926 135 Địa chỉ email: aidsmaihoa@hcmc.netnam.vn
NHỮNG EM BÉ MỒ CÔI MẮC BỆNH AIDS
Khi tới nơi, cha Chung và tôi cởi nón an toàn và bộ quần áo mưa ra. Mồ hôi tôi ướt đẫm như tắm. Nghe tiếng xe honda của cha Chung, mấy em bé năm sáu tuổi chạy ra mừng rỡ la lớn: “Cha ơi! Cha!” chẳng khác nào cảnh tượng mẹ đi chợ về. Ban đầu tôi cứ tưởng đó là những em còn khỏe mạnh mà cha mẹ đã qua đời vì bệnh liệt kháng, không được ai chăm nuôi. Sau đó cha Chung cho biết tất cả các em đều mắc bệnh, và mồ côi cha mẹ, ngoại trừ một em bé gái 4 tuổi còn mẹ.
Cách đây mấy tháng, mẹ của em nầy đã mang em lại để trước cổng chùa, với một miếng giấy ghi mấy chữ vắn tắt: “xin nhà chùa nuôi giúp”. Ngoài ra mẹ em có cho biết tên em và em được bốn tuổi. Vị sư trụ trì đã mang em vào chùa nuôi. Sau đó em bị Viêm Phổi, đi khám nghiệm mới biết em nhiễm HIV, đã trở thành bịnh Aids. Nhìn thân thê ôm yếu và nét mặt kém vui của em, tôi đoán biết em đang bị cơn bẹnh hoành hành và đang trên đà tiến tới giai đoạn hiểm nguy…
Cảm tưởng đầu tiên của tôi là Trung Tâm Mai-Hòa ngày nay đã được nhiều ân nhân giúp đỡ – nhất là một số tòa đại sứ ngoại quốc – nên nhà cửa khang trang hơn, chứ không còn gây ấn tượng rùng rợn như khi xem cuốn video một năm trước đây.
THAM DỰ THÁNH LỄ VỚI NƯỚC MẮT CHAN HÒA
Đây là Thánh lễ cảm động nhất mà tôi đã tham dự từ trước tới nay. Thánh Lễ được cử hành đơn giản trong một căn nhà thủy tạ hình bát giác, bên dưới là một giòng nước đục ngầu ứ đọng, không buồn chảy, chẳng khác gì giòng đời với chuỗi ngày dài lê thê của những bệnh nhân ở đây.
Nghe những tiếng thưa đáp của các bệnh nhân trong Thánh lễ – nhất là của các em bé – tôi không thể cầm được nước mắt. Suốt buổi lễ, nước mắt tôi chan hòa, khi thấy các em vẫn hồn nhiên đọc kinh, hát xướng như thường, không chút ý thức về số phận đen tối đang đè nặng trên các em. Những lưỡi hái của tử thần đang treo lủng lẳng trên đầu các em và sẵn sàng rơi xuống để gặt hái các em trong một ngày rất gần đây mà các em không chút hay biết. |