SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THANH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI

VỀ VIỆC CƯ HÀNH

NGÀY THẾ GIỚI HOÀ BÌNH

01.01.2006

 

CHỈ TRONG SỰ THẬT MỚI CÓ HOÀ BÌNH

 

1. Qua Sứ Điệp Ngày Thế Giới Hoà Bình theo thông lệ vào đầu Năm Mới này , tôi xin gửi lời chào thân ái và lời cầu chúc tốt đẹp đến hết mọi người nam nữ trên thế giới, đặc biệt những người đang chịu đau khổ vì bạo lực và do những cuộc xung đột vũ trang. Lời chào của tôi mang theo tất cả niềm hi vọng về một thế giới an ổn hơn, một thế giới mà trong đó càng ngày càng có nhiều người và nhiều cộng đồng dấn thân trên con đường phục vụ công lí và hoà bình.

2. Trước hết tôi muốn bày tỏ lòng chân thành biết ơn đối với những vị Tiền Nhiệm của tôi, các vị Giáo Hoàng vĩ đại Phaolô VI và Gioan Phaolô II, là những người chủ xướng rất mực khôn ngoan cho hoà bình. Được hướng dẫn bởi tinh thần các Mối Phúc, các ngài đã nhận ra, qua biết bao biến cố lịch sử ghi đậm dấu ấn trên triều đại Giáo Hoàng của các ngài, sự can thiệp quan phòng của Thiên Chúa, là Đấng không ngừng quan tâm đến tương lai của nhân loại. Như những người tiên phong không mệt mỏi cho Tin Mừng, các ngài hằng mời gọi mọi người phải bắt đầu từ Thiên Chúa để có thể nỗ lực hợp tác và xây dựng hoà bình trên toàn thế giới. Sứ Điệp Ngày Thế Giới Hoà Bình đầu tiên của tôi đây sẽ đi theo đường hướng những giáo huấn cao quý của các ngài; qua sứ điệp này tôi muốn tái khẳng định ý chí kiên quyết của Toà Thánh là tiếp tục phục vụ sự nghiệp hoà bình. Chính danh hiệu Bênêđictô mà tôi chọn ngày được đắc cử vào Tòa Phêrô cũng tỏ rõ cam kết của tôi là phục vụ hoà bình. Khi chọn danh hiệu này, tôi vừa muốn gợi nhớ đến vị Thánh Bổn Mạng của Châu Âu, Đấng cổ xuý một nền văn minh hoà bình trên toàn lục địa này, vừa nhớ đến Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XV, người đã lên án cuộc Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Nhất, coi đó là một cuộc “thảm sát vô ích” (1) và đã hành động để mọi người nhận thức rõ những đòi hỏi cao quý của hoà bình.

3. Chủ đề được chọn để suy tư năm nay – Chỉ trong sự thật mới có hoà bình – diễn tả một niềm xác tín rằng bất cứ ở đâu và bất cứ khi nào con người để cho mình được soi dẫn bởi ánh sáng huy hoàng của sự thật thì họ mặc nhiên bước trên con đường của hoà bình. Hiến Chế Mục Vụ, Gaudium et Spes, ban hành bốn mươi năm trước, vào lúc kết thúc Công Đồng Vatican II, tuyên bố rằng nhân loại không thể thành công “trong việc xây dựng một thế giới nhân bản hơn cho tất cả mọi người ở mọi nơi nếu họ không canh tân và hoán cải  tâm hồn để hướng về hoà bình đích thực” .(2) Thế nhưng, thật sự  những từ ngữ “hoà bình đích thực” có nghĩa là gì? Để trả lời một cách thích đáng cho câu hỏi này, chúng ta phải hiểu rằng  hoà bình không thể chỉ được giản lược vào sự vắng bóng xung đột vũ trang, nhưng cần được hiểu như là “kết qủa của một trật tự đã được chính Thiên Chúa, Đấng Tạo Lập, ghi khắc vào xã hội loài người”, một trật tự “phải nhờ những người luôn luôn khao khát một nền công bằng hoàn hảo”. (3) Là kết quả của một trật tự đã được trù hoạch do tình yêu Thiên Chúa, hoà bình có một sự thật tiềm ẩn, không thể suy vong trong chính nó, và phù hợp với “ lòng khao khát và niềm hi vọng bất khả kiềm hãm nằm sẵn trong chúng ta”. (4)

4. Nhìn theo hướng ấy, hoà bình xuất hiện như một quà tặng và một hồng ân của Thiên Chúa đòi thực hiện trách nhiệm cao nhất ở mọi mức độ: đó là khuôn nắn lịch sử con người – trong sự thật, trong công bình, trong tự do và trong tình yêu- theo trật tự của Thiên Chúa. Khi không gắn kết với trật tự siêu việt, không tôn trọng “ngữ pháp” của cuộc đối thoại, là luật luân lí đã được ghi khắc trong tâm khảm con người (5), khi mà sự phát triển toàn diện con người và sự bảo vệ những quyền con người bị cản ngăn hay bị chối bỏ, khi mà biết bao người bị buộc phải cam chịu những bất công và bất bình đẳng qúa sức chịu đựng, thì làm sao chúng ta có thể hi vọng vào việc thực hiện sự thiện hảo của hoà bình? Những yếu tố nền tảng của sự thiện hảo ấy bị thiếu vắng. Thánh Augustinô diễn tả hoà bình như là tranquilitas ordinis, (6) sự an định của trật tự. Qua đó, ngài muốn nói đến một tình trạng mà tựu chung là dẫn đến sự thật về con người để tôn trọng và hiểu biết một cách trọn vẹn.

5. Như vậy, ai và điều gì có thể cản trở việc thực hiện hoà bình? Cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh, Sáng Thế, vạch rõ sự dối trá được buông ra ngay vào lúc khởi đầu lịch sử bởi một con vật có miệng lưỡi xỏ xiên, mà Thánh Sử Gioan gọi là “cha sự gian dối” (Gio 8, 44). Gian dối cũng là một trong các tội được nói đến vào chương cuối của cuốn sách cuối cùng của Kinh Thánh, Khải Huyền, trình bày sự xua đuổi những kẻ dối trá khỏi Thành Giêrusalem thiên quốc: “Hãy xéo ra…hỡi tất cả những kẻ yêu thích điều gian dối” (22, 15). Gian dối liên đới với thảm kịch tội lỗi và những hậu quả tồi bại của nó đã và đang gây ra những tác động tàn phá trên đời sống các cá nhân và các quốc gia. Chúng ta chỉ cần nhìn lại những biến cố trong thế kỉ vừa qua, khi những hệ thống chính trị và ý thức hệ sai lạc cố tình bóp méo sự thật gây ra cảnh bóc lột và giết chóc một con số khủng khiếp những người nam nữ, xoá sạch cả đến các gia đình và các cộng đồng. Sau những kinh nghiệm như thế, làm sao chúng ta lại không nghiêm chỉnh quan tâm đến những sự gian dối trong thời đại chúng ta, nó là cả một hệ thống đang gây ra bao cảnh chết chóc tại nhiều nơi trên thế giới. Bất cứ một sự kiếm tìm hoà bình đích thật nào cũng phải bắt đầu bằng sự nhận thức rằng vấn đề sự thật và sự gian dối là mối quan tâm của hết mọi người nam nữ; nó có tính cách quyết định cho tương lai hoà bình trên hành tinh của chúng ta.

6. Hoà bình là một niềm khao khát không thể kìm tỏa nằm sẵn trong tâm can mỗi con người, bất kể đặc tính văn hoá riêng của họ. Do đó mọi người phải cảm thấy mình được uỷ thác để phục vụ sự thiện hảo trọng đại này, và phải nỗ lực ngăn ngừa bất cứ hình thức gian dối nào phá hoại các mối tương quan. Mọi người đều là thành viên của cùng một gia đình duy nhất. Một sự đề cao quá đáng những dị biệt sẽ tạo ra những tương phản đối với sự thật nền tảng này. Chúng ta cần phải khôi phục cái ý thức rằng chúng ta cùng tham dự vào một vận mệnh chung mà nền tảng là siêu việt, để rồi có thể thu tóm tất cả những dị biệt về văn hoá và về lịch sử, không phải để đối lập nhưng để hợp tác với những người thuộc về những nền văn hoá khác. Những sự thật giản đơn này là điều có thể làm cho hoà bình khả hữu; chúng thật dễ hiểu bất cứ khi nào chúng ta lắng nghe tâm hồn chúng ta với ý hướng trong sáng. Như thế hoà bình sẽ xuất hiện trong một nguồn ánh sáng mới: không phải chỉ vắng bóng chiến tranh, nhưng như một sự cộng tồn hài hoà giữa các cá nhân công dân trong một xã hội được cai quản bởi sự công bằng, một xã hội mà thiện ích cũng được thực hiện cho mỗi người hết mức có thể. Sự thật của hoà bình mời gọi mọi người vun trồng những tương quan chân thành và phong phú; nó khuyến giục họ tìm ra và bước theo những con đường của sự tha thứ và hoà giải, nên trong sáng trong cách đối xử với người khác, thân tín trong lời ăn tiếng nói của mình. Một cách đặc biệt, những người bước theo Chúa Kitô, khi nhận thấy sự hiện hình nguy hại của sự ác, và cần phải được giải thoát khỏi sự ác do Thầy Chí Thánh mang đến, sẽ nhìn lên Người với lòng tin cậy, trong niềm xác tín rằng “Người không hề phạm tội; chẳng ai thấy miệng Người nói lời gian dối” (1 P 2, 22; x. Is 53, 9). Chúa Giêsu đã khẳng định mình như là Sự Thật nguyên vị, và khi nói với người thấy thị kiến trong sách Khải Huyền, Người bày tỏ sự ghê tởm tột cùng đối với “kẻ yêu thích sự dối trá” (Kh 22, 15). Chính Người là Đấng mặc khải sự thật trọn vẹn về con người và về lịch sử nhân loại. Quyền năng của Người giúp cho việc sống “trong” và sống “nhờ” sự thật được khả hữu, bởi duy có Người là hoàn toàn chính thật và trung tín. Chúa Giêsu là sự thật ban cho chúng ta hoà bình.

7. Sự thật của hoà bình phải có giá trị tự tại và phải chiếu dọi ánh sáng thiện hảo của nó cả khi con người lâm vào hoàn cảnh bi thảm của chiến tranh. Các Nghị Phụ Công Đồng Đại Kết Vatican II trong Hiến Chế Mục Vụ đã chỉ ra rằng “Không phải vì chiến tranh đã chẳng may khai diễn mà các đối phương được phép làm gì thì làm”. (7) Như một phương thế để hạn chế hết sức có thể những hệ qủa tàn phá của chiến tranh, nhất là về nhân sự, cộng đồng quốc tế đã lập ra luật quốc tế mang tính nhân văn . Trong những tình thế đa dạng và những bối cảnh khác nhau, Toà Thánh đã bày tỏ sự hỗ trợ những luật ước như thế, đồng thời cũng yêu cầu luật ấy phải được tôn trọng và mau chóng thực thi vì xác tín rằng sự thật của hoà bình vẫn tồn tại cả giữa lúc xảy ra chiến tranh. Những điều luật quốc tế nhân văn  này phải được xem như là một trong những cách thế bày tỏ hiệu quả nhất, tha thiết nhất về những đòi hỏi thâm sâu về sự thật của hoà bình. Chính vì lí do đó mà việc tôn trọng luật ước phải được xem như có tính cách ràng buộc đối với mọi dân tộc. Giá trị của nó phải được xác định và phải bảo đảm sự áp dụng đúng mức; giá trị đó cũng còn phải được đổi mới qua những quy chế hợp thời và khả thi đối với những cục diện luôn biến đổi của những cuộc xung đột vũ trang ngày nay, nhất là đối với việc sử dụng những vũ khí ngày càng hiện đại và tối tân hơn.

8. Đến đây tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với những tổ chức quốc tế và mọi người mà qua những nỗ lực liên lỉ dấn thân cho việc áp dụng luật ước quốc tế nhân văn. Tôi cũng không quên nhắc đến rất nhiều người lính đã dấn thân trong công việc tế nhị là giải quyết các cuộc xung đột và khôi phục những điều kiện thiết yếu cho hoà bình. Tôi muốn nhắc lại cho họ những lời nhắn nhủ của Công Đồng Vatican II: “Đối với những ai hi sinh phục vụ tổ quốc trong quân ngũ, họ cũng phải coi mình như những người đem lại an ninh và tự do cho các đồng bào mình, và nếu họ chu toàn bổn phận này, họ thực sự đóng góp vào việc củng cố hoà bình”. (8) Chính trong lĩnh vực tinh tế này, các vị thường quyền của Giáo Hội Công Giáo trong quân đội thi hành chính công việc mục vụ của mình: Tôi khích lệ các vị thường quyền trong quân đội và các vị tuyên uý quân đội, trong mỗi tình thế và hoàn cảnh hãy là những người tiên phong cho sự thật của hoà bình.

9. Hiện nay, sự thật của hoà bình tiếp tục bị thao túng một cách thảm hại và bị chối bỏ bởi nạn khủng bố, gây ra những đe doạ và những cuộc tấn công man rợ, đặt thế giới vào trong tình trạng lo âu và bất an. Các vị tiền nhiệm của tôi là Đức Phaolô VI và Gioan Phaolô II đã vạch rõ trách nhiệm khủng khiếp mà các kẻ khủng bố phải gánh chịu, đồng thời lên án những chiến thuật vô luân và gây tổn hại của chúng. Những chiến thuật này thường là hậu qủa của một chủ thuyết hư vô bi thảm và bạo loạn mà Đức Gioan Phaolô II đã lột tả bằng những lời lẽ: “Những kẻ giết chóc bằng hành động khủng bố đang gây ra cho nhân loại, cho đời sống, và cho tương lai nỗi tuyệt vọng. Theo cách nhìn của chúng, mọi sự đều đáng ghét và phải bị tiêu diệt”. (9) Không chỉ có chủ thuyết hư vô mà chủ thuyết cuồng tín tôn giáo, hiện nay được gán nhãn hiệu là thuyết bảo thủ cũng khơi nguồn và khích động kẻ khủng bố toan tính và hành động. Ngay từ đầu, Đức Gioan Phaolô II đã ý thức về mối hiểm hoạ đang bùng nổ mà điển hình là thuyết bảo thủ cuồng tín, và ngài đã lên án nó một cách dứt khoát khi tố giác những nỗ lực nhằm áp đặt những xác tín của chính nó về sự thật chứ không phải trình bày để cho người khác tự do tiếp nhận. Ngài viết tiếp: “Chủ động áp đặt lên người khác những điều mà chúng ta coi là sự thật bằng những phương thế bạo lực, là một sự xúc phạm đến phẩm giá con người, và cuối cùng xúc phạm đến chính Thiên Chúa mà theo hình ảnh Người, con người được tạo dựng”. (10)

10. Xét kĩ thì chủ thuyết hư vô và chủ thuyết bảo thủ mà chúng ta đang đề cập đến đều có một mối liên hệ chung sai lầm về sự thật: kẻ chủ trương hư vô phủ nhận chính hiện hữu về chân lí, trong khi kẻ chủ trương bảo thủ đòi áp đặt sự thật bằng sức mạnh. Dù phát xuất từ những nguồn gốc và bối cảnh văn hoá khác nhau, cả hai đều tỏ ra khinh bỉ con người và đời sống con người, chung cuộc là khinh mạn chính Thiên Chúa. Thật vậy, hậu quả bi thảm gộp chung này bắt nguồn từ một sự bóp méo sự thật toàn vẹn về Thiên Chúa: chủ thuyết hư vô phủ nhận Thiên Chúa hiện hữu và sự hiện diện quan phòng của Người trong lịch sử, trong khi chủ thuyết bảo thủ cuồng tín lại làm biến dạng dung mạo nhân từ và yêu thương của Người, thay thế Người bằng những ngẫu tượng được tạo nên theo hình ảnh của chính nó. Khi phân tích những nguyên do của hiện tượng đương thời về nạn khủng bố, cần phải chú tâm không chỉ đến những nguyên do xã hội và chính trị mà còn cả những động lực  ý thức hệ, tôn giáo và văn hóa sâu xa hơn.

11. Đứng trước những nguy cơ mà nhân loại đang phải đối mặt trong thời đại chúng ta, tất cả những người Công Giáo trên khắp thế giới đều có bổn phận phải loan truyền và thể hiện đầy đủ hơn bao giờ “Tin Mừng Hoà Bình”, và phải tỏ cho thấy rằng sự nhận biết sự thật trọn vẹn về Thiên Chúa là điều kiện tiên quyết và không thể thiếu để củng cố sự thật của hoà bình. Thiên Chúa là Tình Yêu cứu độ, là một Người Cha yêu thương muốn nhìn thấy con cái mình coi nhau như anh chị em, chu toàn bổn phận của mình, dùng những tài năng khác nhau của mình để phục vụ thiện ích chung của gia đình nhân loại. Thiên Chúa là nguồn hi vọng vững bền đem lại ý nghĩa cho đời sống cộng đồng cũng như mỗi cá nhân. Thiên Chúa và chỉ có Thiên Chúa mới đem lại sự thành tựu cho mọi công việc xây dựng thiện ích và hoà bình. Lịch sử đã hùng hồn minh chứng rằng tuyên chiến với Thiên Chúa để tách Người ra khỏi tâm hồn con người chỉ dẫn đưa nhân loại nghèo khó và đầy sợ hãi này đi đến những quyết định mà cuối cùng chỉ tạo ra thất bại. Thấu hiểu điều này phải thôi thúc những người tin vào Chúa Kitô hãy trở nên những chứng nhân xác tín về Thiên Chúa là sự thật và tình yêu không thể tách biệt, để rồi dấn thân phục vụ cho hoà bình bằng cách hợp tác một cách rộng rãi với các Kitô hữu khác, và những tín đồ của những tôn giáo khác cũng như mọi người nam nữ thiện chí.

12. Nhìn vào tình hình thế giới hiện nay, chúng ta có thể lạc quan ghi nhận một số những dấu chỉ của niềm hi vọng trong công trình xây dựng hoà bình. Chẳng hạn, tôi liên tưởng đến sự cắt giảm con số những cuộc xung đột vũ trang. Ở đây chúng ta đang nói đến một vài bước tiến, dù chỉ là đề xuất trên con đường thực hiện hoà bình, thì những bước đề nghị đó ngay bây giờ cũng đã có thể bảo đảm cho một tương lai an ổn vững vàng hơn, đặc biệt cho những nỗi đau khổ của người dân Palestine, nơi là miền đất quê hương của Chúa Giêsu, cũng như cho những người đang sống trong một số vùng Châu Phi và Châu Á, đang nhiều năm chờ mong một thoả ước tích cực về tiến trình tái lập hoà bình và hoà giải. Đó là những dấu hiệu tạo sự an tâm nhưng cũng cần được xác quyết và củng cố thêm bằng nỗ lực hợp tác và hành động kiên trì, trước hết là về phía cộng đồng quốc tế và những cơ quan liên hệ có nhiệm vụ ngăn chặn những xung đột và đề ra một giải pháp hoà bình tức thời cho những cuộc xung đột đang xảy ra.

13. Tuy nhiên, không được để điều đó đẩy chúng ta vào một tình trạng lạc quan ngây thơ. Và không được quên rằng những cuộc xung đột huynh đệ tương tàn khốc liệt và những cuộc chiến tranh tàn phá vẫn còn tiếp tục gieo thêm nước mắt và chết chóc tại nhiều miền rộng lớn trên thế giới. Trong những hoàn cảnh xảy ra xung đột, ngọn lửa âm ỉ nằm dưới lớp tro có thể bùng phát và gây ra cảnh huỷ diệt rộng lớn. Những giới chức thay vì thực hiện mọi nỗ lực để phát huy hoà bình, lại khích động dân chúng của mình hướng thù hận vào các quốc gia khác, sẽ phải mang một trách nhiệm nặng nề: đặc biệt trong những vùng đang có sẵn nguy cơ tiềm ẩn, họ tác hại đến thế quân bình mong manh đang cần đạt được bằng việc trả giá qua những cuộc thương thảo kiên trì, và như vậy họ tạo cho tương lai thế giới trở nên bất ổn và đen tối hơn. Phải nói gì về những chính thể cây vào vũ khí hạt nhân như một phương thế để bảo đảm an ninh cho quốc gia họ? Cùng với hết mọi người thiện chí, chúng ta quả quyết rằng quan điểm này không chỉ gây hiểm hoạ mà còn là hoàn toàn giả dối. Trong một cuộc chiến tranh hạt nhân, sẽ không có kẻ chiến thắng mà chỉ có nạn nhân. Sự thật của hoà bình đòi hỏi rằng mọi chính phủ- bất kể các chính quyền đang sở hữu vũ khí hạt nhân một cách công khai hay bí mật, hoặc chính quyền đang hoạch định để sở hữu những vũ khí ấy- phải thoả thuận để thay đổi tiến trình này bằng những nghị quyết vững chắc và minh thị, và phải cố gắng đạt được một sự đồng thuận tiến bộ để giải trừ vũ khí hạt nhân. Nguồn lực tiết kiệm đó sẽ được dùng vào những dự án phát triển đem lại phúc lợi cho mọi người dân của họ, nhất là cho những người nghèo khổ.

14. Về vấn đề này, người ta không thể không ghi nhận với tất cả niềm đau xót về sự thể có sự không ngừng gia tăng chi phí quân sự và những cuộc mua bán vũ khí rầm rộ mà tiến trình pháp lí và chính trị do cộng đồng quốc tế tạo lập để xúc tiến việc giải trừ quân bị đã bị bế tắc trong sự hững hờ chung của mọi người. Làm sao có thể có được một tương lai hoà bình khi mà người ta vẫn còn đầu tư để chế tạo các loại vũ khí và còn nghiên cứu triển khai các vũ khí mới? Chỉ có thể hi vọng rằng cộng đồng quốc tế sẽ tìm được sự khôn ngoan và can đảm để một lần nữa, với niềm xác tín mới và trong tinh thần liên kết, xúc tiến việc giải trừ quân bị, và như vậy bảo đảm một cách cụ thể cho quyền được hưởng hoà bình của mỗi cá nhân và mọi dân tộc. Khi dấn thân bảo vệ sự thiện hảo của hoà bình, những cơ quan đa ngành của cộng đồng quốc tế sẽ nhận lại được thực quyền cần có để năng lực của họ trở thành khả tín và hiệu quả.

15. Thành phần đầu tiên được hưởng lợi từ một quyết định dứt khoát cho việc giải trừ quân bị sẽ là những quốc gia nghèo, đang đòi hỏi một cách chính đáng, sau biết bao lời hứa, việc thực hiện cụ thể quyền được phát triển của họ. Quyền ấy đã được tái khẳng định một cách long trọng trong Hội Nghị Khoáng Đại vừa qua của Liên Hợp Quốc, mà năm nay đã cử hành lễ kỉ niệm lần thứ sáu mươi ngày thành lập tổ chức này. Giáo Hội Công Giáo, trong khi xác quyết lòng tin tưởng của mình vào tổ chức quốc tế này, vẫn kêu gọi một sự đổi mới cơ chế và hoạt động hầu có thể đáp ứng những nhu cầu hiện nay mà nổi bật là hiện tượng toàn cầu hoá đang lan rộng. Liên Hợp quốc phải trở thành một khí cụ hữu hiệu hơn để phát huy các giá trị công bằng, liên đới và hoà bình trên thế giới. Về phần mình, Giáo Hội, trong niềm trung thành với sứ mệnh nhận được từ nơi Đấng Sáng Lập của mình, sẽ dấn thân loan báo khắp mọi nơi “Tin Mừng Hoà Bình”. Trong khi xác tín vững vàng rằng Giáo Hội sẽ cống hiến một sự phục vụ không thể thiếu cho tất cả mọi người nỗ lực phát huy hoà bình, thì Giáo Hội cũng nhắc nhở mọi người rằng: để hoà bình trở thành hiện thực và trường cửu, nó phải được xây trên nền đá của sự thật về Thiên Chúa và sự thật về con người. Chỉ có sự thật này mới có thể tạo ra ý thức công bằng cũng như mở lối cho tình yêu và tình liên đới, khích lệ mọi người hành động vì một gia đình nhân loại thật sự tự do và hoà hợp. Nền tảng cho một nền hoà bình đích thực dựa trên sự thật về Thiên Chúa và con người.

16. Khi kết thúc Sứ Điệp này, tôi muốn ngỏ lời đặc biệt đến tất cả những người tin vào Chúa Kitô, tôi mời gọi họ một lần nữa hãy trở thành những môn đệ quảng đại và ân cần của Chúa. Anh chị em thân mến, mỗi khi lắng nghe Tin Mừng, chúng ta hãy học cách xây dựng hoà bình trên nền tảng sự thật trong đời sống hằng ngày được khơi gợi bởi huấn giới về tình yêu. Mỗi cộng đoàn cần phải thực hiện một tiến trình sâu rộng về giáo dục và làm chứng nhắm đến việc đào tạo mọi người ý thức hơn về sự cần thiết phải đề cao hơn nữa sự thật của hoà bình. Đồng thời tôi cũng mời gọi gia tăng việc cầu nguyện, bởi vì hoà bình trước hết là một hồng ân của Thiên Chúa, một hồng ân cần phải cầu xin liên lỉ. Nhờ ơn Chúa trợ giúp, việc loan báo và làm chứng của chúng ta cho sự thật của hoà bình sẽ càng trở nên thuyết phục và tỏa sáng hơn. Trong niềm tin tưởng và phó thác của tình con thảo chúng ta hãy hướng nhìn lên Mẹ Maria, là Nữ Vương Hoà Bình. Khởi đầu Năm Mới này, chúng ta cùng cầu xin Mẹ phù giúp toàn thể Dân Chúa, ở bất cứ đâu, cũng luôn là người xây dựng hoà bình nhờ được hướng dẫn bởi ánh sáng Sự Thật giải phóng con người (x. Gio 8, 32). Qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria, xin cho nhân loại càng biết quý chuộng sự thiện hảo nền tảng này và ra sức làm cho nó tỏ hiện hơn nữa trong thế giới của chúng ta, và như vậy, họ trao gửi một tương lai an ổn và bảo đảm hơn cho những thế hệ sắp tới.

Từ Vatican, 8 tháng Mười Hai 2005.

BENEDICTUS PP. XVI

(1) Lời kêu gọi các nhà lãnh đạo của các nước đang lâm chiến (1 Tháng Tám1917): AAS 9 (1917), 423.

(2) Số 77.

(3) Số 78.

(4) Gioan Phaolô II, Sứ Điệp Ngày Thế Giới Hoà Bình 2004, 9.

(5) x. Gioan Phaolô II, Diễn Văn đọc tại Đại Hội lần thứ năm của Liên Hợp Quốc (5 tháng Mười1995), No. 3.

(6) De Civitate Dei, XIX, 13.

(7) Số 79.

(8) Ibid.

(9) Sứ Điệp Ngày Thế Giới Hoà Bình 2002, 6.

(10) Ibid.

Linh mục Giuse Ngô Quang Trung

chuyển ngữ từ bản tiếng Anh, có đối chiếu bản tiếng Pháp)