|
Thánh Lễ cuối cùng
Một ngày vào năm 533 trước Công nguyên, trên bước đường dong duổi
tìm chân lý, Đức Phật đã bất chợt bắt gặp một người già, một người
ốm và một xác chết. Con đường giác ngộ của Đức Phật khởi đi từ nhận
thức: sinh lão bệnh tử và cuộc đời là biển khổ, đó là vòng trầm luân
khổ ải không ai tránh khỏi dù họ có là bậc vĩ nhân kiệt xuất trong
thiên hạ đi nữa.
Mang kiếp nhân sinh như mọi người, Dân Thiên Chúa cũng phải kinh qua
mọi thăng trầm như thế nhưng cuộc đời họ lại có một chiều kích khác
nhờ có Chúa Giê-su và cuộc khổ nạn-phục sinh của Người.
Sau khi sinh ra làm con người với tên ghi trong giấy khai sinh, con
cái của các gia đình Công Giáo còn được trở thành con của Thiên Chúa
qua việc đón nhận bí tích Thánh Tẩy, từ đó các em còn có những tên
Thánh ghi trong sổ bộ của Giáo hội.
Lớn dần lên, khi mới tập tễnh biết đi, biết chạy, còn hay vấp té,
mới nói bi bô, còn cho mình là trung tâm của vũ trụ, em theo bố theo
mẹ đi Nhà Thờ, trung tâm thờ phượng của Dân Thiên Chúa. Em thích thú
lắm trước khoảng không rộng rãi thoáng mát với nhiều khuôn mặt bạn
bè mới lạ. Em quan niệm Nhà Thờ là một sân chơi thú vị, bố mẹ vất vả
lắm mới giữ em đứng yên một chỗ để em không quấy động bầu khí trang
nghiêm. Từ đó em dần nhận thức được, ngoài gia đình yêu dấu bé nhỏ,
em còn thuộc về cộng đồng Dân Thiên Chúa bao la vĩ đại và trường tồn
đến tận cùng thời gian.
Trước hết em biết về Chúa Giê-su như một người bạn nhỏ, đồng trang
đồng lứa với em. Trẻ Giê-su cũng đang được bố mẹ là Thánh Giu-se và
Mẹ Ma-ri-a bồng ẵm trên tay. Tại Nhà Thờ này còn có tượng một ông
tây, trông rất kỳ lạ. Chỏm đầu ông không có tóc, ông mặc một cái áo
dài giống như áo của cha xứ nhưng lại mầu nâu, giữa bụng có cột một
sợi dây. Đặc biệt nhất, ông cũng bồng trên tay Trẻ Giê-su. Mẹ hay
nhắc em cúi đầu chào ông. Mẹ bảo đó là Thánh Antôn, quan thầy của
giáo xứ.
Em quen dần với các Thánh Lễ. Có vẻ như
đó là những nghi thức tôn giáo sáo mòn, những câu đọc, câu thưa nhàm
chán ngày nào cũng giống nhau. Em học giáo lý để hiểu về Thánh Lễ,
đó là hiến tế của Chúa Giê-su trên thập gía để cứu chuộc nhân loại,
bởi đó Thịt và Máu của Người trở thành của ăn và của uống, Lời của
Người trở thành ánh sáng soi đường em đi.
Khi có đủ trí khôn em rước lễ lần đầu thật trang trọng. Bà con họ
hàng đến chung vui với em vì từ nay cuộc đời em sẽ gắn chặt với
Thánh Thể. Em còn được lãnh nhận bí tích Thêm Sức để với ơn của Chúa
Thánh Thần nâng đỡ, em sẽ thành một người trưởng thành trong đức tin
có thể kiên vững giữa phong ba bão táp thế gian. Đó cũng là một ngày
không thể nào quên đối với em.
Rồi một ngày đẹp trời, giữa tiếng nhạc rộn ràng, lòng người hân
hoan, em được cùng người yêu sánh vai bước vào Nhà Thờ có trang trí
nhiều hoa thơm rực rỡ. Tình yêu không còn là chuyện riêng của hai
người nhưng trở thành bí tích hôn nhân, gia đình em trở thành một
Giáo hội tại gia và từ nay Chúa Giê-su hằng được hiến tế trong những
thăng trầm của đời hôn nhân Công giáo của hai em. Em hiểu rằng mình
phải yêu thương và hy sinh đến cùng cho bạn em, cho con cái, như
Chúa Giê-su đã yêu thương và hy sinh cho Giáo Hội cho đến giọt máu
cuối cùng của Người. Trong bước đường nhọc nhằn mưu sinh, em luôn
lấy công bằng bác ái làm trọng. Bước theo Chúa Giê-su tức là cùng đi
với Người trên con đường thập gía.
Rồi Đức Giê-su gọi đám đông cùng với
các môn đệ lại. Người nói
với họ rằng: “Ai muốn theo
tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo (Mc
8,34)”.
Con cái của em chào đời. Chúng là món qùa sự sống vĩ đại từ Thiên
Chúa chứ không phải là kết qủa của những kế hoạch của em. Em phải
luôn nâng niu và bảo vệ sự sống. Nhà Thờ lại đón nhận con của em làm
con của Thiên Chúa và Giáo hội. Giống như em, con cái của em sẽ tìm
ra ý nghĩa cuộc đời nơi Chúa Giê-su, Đấng hằng được hiến tế trong
các Thánh Lễ nơi Nhà Thờ.
Những Thánh Lễ vẫn tiếp nối mãi trong đời em. Mặt trời hết mọc rồi
lặn, đông qua xuân về. Lá xanh hôm qua, hôm nay úa vàng và ngày mai
sẽ rụng về cội. Vẫn chỉ có một Thánh Lễ duy nhất của Chúa Giê-su,
Người là lễ vật duy nhất dâng trong mọi Thánh Lễ. Mọi Nhà Thờ đều
phải có Thánh Gía trên đỉnh và trên Cung Thánh vì đó chính là ý
nghĩa của Nhà Thờ. Không có hiến tế thập gía thì sẽ không có Thánh
Thể và Tin Mừng, khi đó chẳng có lý do gì mà xây lên Nhà Thờ nữa.
Chúa Giê-su có hiến mình chịu chết trên thập gía thì thịt Người mới
trở thành của ăn và máu Người mới trở thành của uống cho ta.
Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn,
bẻ ra, trao cho các ông và nói: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh
em. Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy.” Và tới tuần
rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói: “Chén này là giao
ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc
22,19-20).
Chúa Giê-su qua tử nạn và phục sinh mới trao cho Giáo Hội sứ mạng đi
loan báo Tin Mừng.
Sau cùng, Người tỏ mình ra cho chính
Nhóm Mười Một đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông
không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã
được thấy Người sau khi Người trỗi dậy. Người nói với các ông: “Anh
em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài
thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin,
thì sẽ bị kết án” (Mc 16,14-16).
Ngày xưa, ông bà tổ tiên của em chẳng thà chịu chết chứ không bao
giờ dẫm đạp lên dù chỉ là một hình vẽ Thánh Gía trên mặt đất vì như
thế là phủ nhận tất cả ý nghĩa cuộc đời mình. Ngày nay ngoài một số
xem đây là vật trang sức vẫn còn rất nhiều người luôn đeo hình Thánh
Gía như một xác quyết rằng đó là trung tâm cuộc sống của họ.
Càng lớn tuổi em sẽ càng hiểu không thể có một Thánh Lễ trọn vẹn nếu
em không nên một với Chúa Giê-su trong hiến tế thập gía của Người.
Đó là đặc ân cuối cùng và vĩ đại nhất Người có thể ban cho em. Em sẽ
ngơ ngác như I-xa-ác thấy Áp-ra-ham cha mình, đã có củi có lửa nhưng
chẳng có gì làm lễ toàn thiêu (x. St 22,8) mà đâu ngờ rằng trong ý
định của cha, thể theo lời yêu cầu của Thiên Chúa, chính I-xa-ác sẽ
là của lễ toàn thiêu. Vào phút chót, Thiên Thần đã ngăn Áp-ra-ham
lại vì Thiên Chúa đã chấp nhận tấm lòng của Áp-ra-ham. Ngài cho ông
bắt một con cừu đực bị mắc sừng trong bụi gai làm của lễ toàn thiêu.
Nhưng Thiên Chúa vẫn để cho Chúa Giê-su, Con Một Yêu Dấu của Ngài,
chết thảm trên thập gía để thành hiến tế duy nhất cứu chuộc nhân
loại. Em cũng được cùng chết với Người trên thập gía. Đó là ý nghĩa
cùng tận của cuộc đời em. Chính vì đó mà em được sinh ra trên thế
gian theo ý muốn của Thiên Chúa.
Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng
sống với Người (2 Tm 2,11).
Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót
chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ
sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng
hợp để anh em thờ phượng Người (Rm 12,1).
Tuổi tác em sẽ chồng chất. Mọi cái xem ra không như em mong ước. Có
khi người bạn đường sẽ phụ bạc em, có thể con em không ngoan, việc
làm ăn khó khăn, sức khoẻ em sa sút. Thế gian cho đó là số phận xui
xẻo nhưng em tin rằng đó là con đường thập gía theo chân Chúa
Giê-su. Em phải lê bước đến Nhà Thờ. Mỗi bước đi đều nhọc nhằn mệt
mỏi. Có thể em ho nhiều, ngồi nghiêng ngồi ngửa, khiến mọi người
chung quanh bực mình. Em nghe ai đó lầu bầu khó chịu. Một ngày kia
em ốm liệt giường và dù có muốn, em không còn tự mình lê gót đến
dâng Thánh Lễ được. Con cháu đứa nào cũng bận rộn và chẳng muốn giúp
em làm một việc có khi chúng cho là vô ích. Em vẫn nghe được tiếng
chuông báo giờ lễ sáng chiều, tuy nhiên chân em đã liệt, mắt em đã
lòa. Nhưng đời em vẫn là một Thánh Lễ. Cùng với Chúa Giê-su khổ nạn
và phục sinh em hiến tế chính em lên cho Thiên Chúa. Người tin vào
Chúa Giê-su chỉ có một mục đích này thôi cho đời mình.
Sẽ đến ngày tiếng chuông Nhà Thờ đổ dồn báo Thánh Lễ an táng của em.
Đó là Thánh Lễ cuối cùng của đời em vì em đã được nên một với Chúa
Giê-su. Người đã chết một lần là đủ. Hiến tế thập gía của Người có
giá trị vĩnh viễn đem lại sự sống trường sinh cho những ai cùng chết
với Người. Thế gian luôn có thể nhìn thấy Chúa Giê-su chết rũ rượi
trên các Thánh Gía nơi Nhà Thờ. Họ sẽ
nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu (Ga 19,37). Nhưng chỉ có
người tin mới thấy được Người hằng sống. Dù người tin có phải chết
đi như mọi người, họ luôn được sống với Người.
Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không
còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống
và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở
trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em
(Ga 14,19-20).
Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức
Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của
chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Ki-tô đã sống
lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng
còn quyền chi đối với Người. Người đã chết, là chết đối với tội lỗi,
và một lần là đủ. Nay Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Anh em
cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại
sống cho Thiên Chúa, trong Đức Ki-tô Giê-su (Rm 6,8-11).
Sáng sớm tinh suơng ngày 6-2-2006 cộng đoàn Dân Chúa giáo xứ Thánh
Antôn Padua Tân Châu, 98/1 Trường Chinh, Phường 12, Tân Bình (Linh
mục chính xứ: Giuse Trần Anh Thụ - điện thoại 08-8112453 -
0908168124, e-mail
josanhthu@yahoo.ca) đã cùng quây quần lại trong Thánh Lễ cuối
cùng mà cụ bà Anna Phạm thị Lĩnh, 87 tuổi, một lần sau chót, dứt
khoát và trọn vẹn, cùng với Chúa Giê-su dâng lên cho Thiên Chúa
chính con người của cụ, cả hồn và cả xác. Cụ Anna đã hoàn toàn nên
một với Chúa Giê-su trong cái chết và phục sinh của Người. Cụ đã gắn
bó với giáo xứ này được 45 năm. Cụ vốn là người ngoài Công giáo được
ơn trở lại, một trong những hội viên tiên khởi của Huynh đoàn Đaminh
trong giáo xứ, rất siêng năng đi Nhà Thờ. Từ 6 năm nay sức khoẻ suy
giảm, cụ phải nằm một chỗ. Trong ba năm cuối đời cụ chỉ còn thoi
thóp với đời sống thực vật. Ngày hôm nay, không còn gì, kể cả thần
chết, có thể ngăn cản cụ đi vào một Thánh Lễ vĩnh viễn. Mọi Thánh Lễ
an táng bao giờ cũng dấy lên một sự thương cảm vô biên cho những
người thân yêu. Luôn có những vòng hoa tím vô cùng thương tiếc,
những giọt nước mắt, những tiếng khóc uất nghẹn, tiếng kèn ai oán.
Không ai nhớ hết được từ ngày thành lập họ Đức Hiền vào năm 1959,
Giáo họ An-tôn vào năm 1967, Giáo xứ Tân Châu vào năm 1973, tại ngôi
Thánh Đường này đã có bao trẻ thơ đến rửa tội, rước lễ lần đầu, chịu
phép Thêm Sức, đã có bao nhiêu Thánh Lễ hôn phối, Thánh Lễ an
táng...Ít nhất phải có đến 4 ngàn Thánh Lễ Chúa Nhật, 24 ngàn Thánh
Lễ ngày thường qua 4 đời linh mục chính xứ mà 3 vị tiền nhiệm đều đã
về cùng Chúa. Trong tất cả các Thánh Lễ đó, vẫn chỉ là một Chúa
Giê-su hiến mình làm của lễ toàn thiêu để toàn nhân loại được ơn cứu
rỗi.
Không những đây là Thánh Lễ cuối cùng
trong đời cụ bà Anna mà còn là Thánh Lễ sau hết trong đời ngôi Thánh
Đường này theo ý nghĩa một công trình xây dựng. Mấy ngày trước,
người ta đã chuyển đi tất cả bàn thờ, ảnh tượng, hàng ghế dài...chỉ
còn một Nhà Thờ trống trơn. Ở bên ngoài, một xe xúc đất và một toán
công nhân xây dựng đang chờ sẵn, lễ xong là họ sẽ tiến hành ngay
việc dỡ bỏ ngôi Nhà Thờ đã từng tồn tại trong gần 40 năm qua.
Mọi khi vào giờ này, vài con chim sẻ bé nhỏ, vốn chọn chốn này làm
tổ ấm, đã bay qua lượn lại, gọi nhau chiêm chiếp, nhưng hôm nay
không thấy bóng dáng chúng đâu cả, có vẻ như chúng đã linh cảm rằng
mái nhà này sắp sửa bị phá hủy nên đã đi tìm chỗ khác mà dung thân.
Loài chim sẻ thật là nhỏ bé và xấu xí, chẳng ai thèm chú ý đến nhưng
Chúa Giê-su cho biết Thiên Chúa hằng quan tâm chăm sóc chúng.
Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải
không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh
em (Mt 10,29). Đã có lần một bầy chim trời quây quần lại
chung quanh Thánh Phanxicô Átxidi để nghe ngài giảng Lời Chúa.
Người ta cũng mang đi hết những chậu hoa kiểng chung quanh và bên
trong Nhà Thờ. Thân phận một bông hoa trong chậu thì nhỏ bé mong
manh lắm, lúc nào cũng có thể rụng xuống và người ta muốn mang đi
đâu tùy ý. Hôm nay họ còn nâng niu cắm vào một nơi trang trọng, ngày
mai đã bị vất vào thùng rác. Chẳng ai còn quan tâm đến số phận những
bông hoa đó. Thế mà chúng cũng ở trong tấm lòng yêu thương của Thiên
Chúa. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay
còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì
huống hồ là anh em (Mt 6,30).
Vẫn biết rằng với đà gia tăng dân số cùng với số dân xa quê đến mưu
sinh, Nhà Thờ đã trở nên qúa chật hẹp. Mỗi ngày Chúa Nhật, 400 em
thiếu nhi không có chỗ thích hợp để học giáo lý, phải ngồi ngoài sân
chịu mưa chịu nắng hay phải ngồi bệt dưới đất, bò lê bò càng và dùng
hàng ghế dài trong Nhà Thờ làm bàn viết. Vẫn biết rằng do đã được
xây dựng qúa lâu từ 40 năm trước, vào giai đoạn mà mọi phương tiện
đều sơ sài, nhiều chỗ tường nứt đà nghiêng, có thể gây nguy hiểm cho
giáo dân, mỗi khi mưa to là bị dột, nước dâng lên qua mắt cá chân.
Vào những ngày Chúa Nhật và lễ trọng số người đứng bên ngoài còn
nhiều hơn ở bên trong. Chúa Giê-su luôn nói về Nước Thiên Chúa như
một bàn tiệc. Đi dự tiệc mà phải đứng ngoài đường thì có còn là dự
tiệc không? Nước Trời cũng giống như
chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình (Mt 22,2).
Vẫn biết là như thế nhưng đối với nhiều người đã gắn bó với Nhà Thờ
này gần như suốt đời thì việc dỡ bỏ đi nơi thờ phượng cũ vẫn dấy lên
nhiều xót xa. Bác Thơm đang nấu cơm cho cha xứ, không thể nào quên
được ngày bác nhận bí tích hôn phối tại đây vào năm 1968. Bác đã bật
khóc khi chững kiến cảnh xe máy xúc ủi xập đi những bức tường đầy ắp
kỉ niệm. Có lẽ bao nhiêu người khác đã góp vào đây từng viên gạch
nhỏ, từng ngày công, một số lớn đã dọn đi chỗ khác sinh sống hay đã
qua đời, cũng sẽ khóc như thế nếu chứng kiến cảnh này. Không biết
còn mấy ai trong số những giáo dân đầu tiên cùng với cha cố Đaminh
Vũ Đức Triêm đến định cư tại nơi này vào ngày 22-1-1955 vẫn còn đang
sống nơi đây?
Đây có thể là Thánh Lễ cuối cùng trong đời cụ bà Anna hay của ngôi
thánh đường Tân Châu cũ nhưng không bao giờ có một Thánh Lễ cuối
cùng vì Chúa Giê-su luôn ở cùng và gìn giữ cho Giáo hội trường tồn
cho đến tận cùng thời gian bất chấp mọi nghịch cảnh giữa thế gian.
Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận
thế (Mt 28,20). Khi nào còn
giáo hội thì luôn có các Thánh Lễ vì nhiệm vụ chính của Giáo Hội là
luôn phải cử hành cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Giê-su theo
mệnh lệnh của Người. Rồi Người cầm lấy
bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói: "Đây là mình
Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến
Thầy" (Lc 22,19). Do đó Dân Thiên Chúa luôn coi trọng
việc dựng nên đền thờ, không phải để phô trương thanh thế với ai,
nhưng để có chỗ thích hợp để quây quần lại cử hành Thánh Lễ, nguồn
ơn cứu chuộc và là ý nghĩa cùng tận không những cho đời họ mà còn
cho toàn nhân loại.
Bản chất Thánh Lễ là hi tế chính Chúa Giê-su trên thập giá và sống
trong cuộc phục sinh của Người. Chúa Giê-su chính là Nhà Thờ và là
Thánh Lễ, nên dù không có Nhà Thờ vật chất đi nữa Thánh Lễ vẫn được
dâng lên một cách trọn vẹn, đặc biệt trong những hoàn cảnh bi đát
nhất. Các linh mục dâng lên các Thánh Lễ cho chính các ngài, thay
cho cộng đoàn Dân Chúa, thay cho muôn dân, làm của lễ xá tội cho
toàn nhân loại. Trong những năm sống trong quản thúc, Đức cố Hồng y
Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, nguyên Phó Tổng Giám Mục Sàigòn, đã
thường xuyên dâng lễ một cách cô đơn trong một xó nhà tăm tối, chỉ
cần một giọt rượu nhỏ lên lòng bàn tay cũng đã trở nên Thánh Lễ trọn
vẹn. Nhiều linh mục khác cũng đã từng dâng lễ trong hoàn cảnh tương
tự. Vì thế Giáo Hội luôn ưu ái mang Mình Thánh Chúa đến nhà cho
những người đau yếu trên giường bệnh, nhất là những ai sắp chết, vì
Giáo Hội hiểu rằng họ đang dâng lên những Thánh Lễ trọn vẹn nhất khi
kết hợp đau khổ của mình với Chúa Giê-su trên thập gía. Dân Thiên
Chúa hằng thâm tín rằng tất cả các thai nhi bị loại bỏ cũng được
thừa hưởng ơn cứu độ của Chúa Giê-su. Nói cách khác, máu của Người
cũng đổ ra trên thập gía cho các em và cái chết của các em cũng là
tham gia vào hi tế của Người trên thập gía. Bởi thế, việc thu lượm
các thai nhi đã chết, dâng các Thánh lễ cuối cùng cầu nguyện cho các
em, chôn cất các em một cách hẳn hoi tử tế không phải là một việc
theo tình cảm vô ích nhưng vô cùng cao qúy và xác đáng.
Nhưng trong những hoàn cảnh bình thường, Dân Thiên Chúa lữ hành giữa
thế gian vẫn luôn cần đến một đền thờ vật chất xứng đáng. Góp phần
xây dựng nên đền thờ này là một thể hiện tình yêu cho Chúa Giê-su và
cho tha nhân. Nhà Thờ sẽ quây quần mọi người cùng dâng lễ, sẽ giáo
dục đức tin cho bao thế hệ trẻ, sẽ nối kết vĩnh viễn những đôi vợ
chồng với nhau, và nhất là sẽ cho mọi người tin một lần cuối cử hành
Thánh Lễ sau hết của đời mình như một bảo đảm rằng họ sẽ được phục
sinh với Chúa Giê-su và được cùng với Người dâng một Thánh Lễ vĩnh
viễn trong nhà Cha của Người. Thánh Gioan-Maria Vianney, quan thầy
các cha sở, dù có một đời sống hết sức khó nghèo, chỉ ăn một củ
khoai vào mỗi bữa ăn, vẫn không hề tiếc tiền để tuyển lựa cho bằng
được những áo lễ, chén thánh...sang nhất, đẹp nhất và xây lên một
Thánh Đường mang tính nghệ thuật rất cao vào thời của ngài. Thánh
nhân thường nói “Tôi sống làm sao cũng
được nhưng Chúa phải có một nơi ở xứng đáng.” Ngài nói về
phép Thánh Thể và lòng khiêm nhường thâm sâu của Thiên Chúa:
“Khi tôi cầm Mình Thánh mà đưa về bên
phải thì Chúa ở bên phải, đưa về bên trái thì Chúa ở bên trái.”
Dù là một con người cầu nguyện cao độ, ngày nào cũng ngồi tòa
giải tội 16 tiếng, nhưng hầu như suốt đêm ngài không ngủ mà chỉ cầu
nguyện, ngài lại hết sức đề cao việc cầu nguyện chung trong Nhà Thờ:
“Cầu nguyện riêng chỉ là những cọng rơm
vật vờ trong gió, nếu bạn có đốt chúng lên, chúng chỉ là nhiều đốm
lửa tí xíu rời rạc. Nhưng khi ta bó nhiều cọng rơm thành một bó lớn
và đốt, nó sẽ cháy bùng rực sáng như một cột lửa khổng lồ giữa bầu
trời bao la. Cầu nguyện chung cũng giống như thế.”
Đứng trước nhiệt tâm nóng bỏng của Chúa Giê-su với đền thờ
Giêrusalem, các môn đệ đã phải nhớ đến câu Kinh thánh:
Lòng nhiệt thành lo cho nhà Chúa bùng cháy
trong tim tôi như một ngọn lửa (x. Tv 69,9; Ga 2,17). Con
cháu của cụ Anna Phạm thị Lĩnh cũng đã nhìn ra lòng nhiệt tâm của cụ
với Nhà Chúa nên họ đã mang trọn số tiền thân bằng quyến thuộc phúng
điếu dâng vào qũy xây dựng Nhà Thờ mới. Từ nay cụ không còn cần đến
ngôi thánh đường vật chất này nữa vì cụ đã hoàn toàn nên một với
Chúa Giê-su nhưng con cháu của cụ và của bao người khác trong các
thế hệ mai sau sẽ còn tiếp tục dâng lễ tại đây. Từ ngôi thánh đường
này bao nhiêu ơn gọi làm linh mục tu sĩ sẽ được ươm mầm, bao nhiêu
trẻ thơ sẽ được giáo dục trong đức tin để mai kia, thành người cha
người mẹ trong một gia đình nhỏ, các em sẽ biết bảo vệ sự sống và
truyền lại đức tin cho đời sau.
Trước đó một ngày, cũng tại đây đã có Thánh Lễ cuối cùng của anh
Vinh-Sơn. Đời anh đã có nhiều sai lầm cũng như mọi người đều lầm lỗi
cả thôi. Ước nguyện cuối cùng của anh là cái xe gắn máy của anh,
phương tiện gắn bó với anh suốt đời, vật xem ra đáng gía nhất cùng
với toàn bộ tiền phúng điếu cũng được dâng lên để xây lên Nhà Thờ
mới.
Cũng chính tại ngôi thánh đường đã bị dỡ bỏ này đã có Thánh Lễ cuối
cùng của ca sĩ - nhạc sĩ Đỗ Quang, con trai của cố nhạc sĩ chuyên
viết thánh nhạc Viết Chung. Anh đã ra ra đi nhưng cõi lòng nhân hậu
của Thiên Chúa và tình thương của cộng đồng Dân Chúa vẫn ở với anh.
Chắc chắn Nhà Thờ mới sẽ được hoàn thành khi nào còn có những con
người dù sắp chết vẫn nặng lòng với Nhà Chúa như cụ Anna hay anh
Vinh Sơn. Khi các bạn chứng kiến cảnh một ông cụ đạp xích lô dành
dụm tiền tiết kiệm để xây Nhà Thờ; các bà mẹ Công giáo, có chị là
giáo viên, có chị đã là bà nội bà ngoại, cũng có vai vế trong xã
hội, còng lưng kéo chiếc xe ba gác đi thu lượm de chai; các em thiếu
nhi bơm bong bóng để bán vào đêm giao thừa, nhiều em cho Nhà Thờ hết
số tiền được lì xì trong ba ngày Tết, một số em bán hoa vào ngày
Valentine để tìm những đồng bạc cắc; những ông cụ bà cụ gần đất xa
trời moi ra những đồng bạc cuối cùng. Bà cụ Ngoan, 87 tuổi, dâng cho
Nhà Thờ chính lô đất ngoài đất thánh tại thành phố mà cụ mua sẵn để
dành chôn cất cụ. Cụ chấp nhận sẽ được mang về quê chôn cất để có
thêm tiền cho Nhà Thờ. Vào cuối năm 2001 nghe tin giáo xứ có Cha xứ
mới cụ vui mừng lắm, cố sức đi ra Nhà Thờ một lần để xem mặt ngài
cho bằng được. Ông bà cố đã gìa yếu của cha xứ, suốt đời cũng chỉ là
những người lao động nghèo, sau khi đã dâng cho Giáo Hội hai con làm
linh mục, một làm nữ tu, một người con khác đang theo đuổi ơn gọi tu
sĩ, cũng đã dốc trọn hầu bao ra; những đồng bào Phật Tử phát tâm
cúng dường vào Nhà Thờ; còn biết bao người khác đã đóng góp
trong âm thầm vô danh mà chỉ có mình Chúa biết, Ngài là đấng duy
nhất nhìn ra và trân trọng những đồng xu cuối cùng của các bà góa.
Trước những tấm gương tuyệt vời này các bạn sẽ tin chắc rằng ngôi
Nhà Thờ mới sớm muộn sẽ có ngày hoàn thành. Đây không phải là công
trình của con người mà chính là của Thiên Chúa.
Đứng trước một công trường xây dựng hiện đại với xe máy xúc, xe cần
cẩu, máy ép cọc thủy lực...những ông cụ bà cụ ngày xưa đã mang sức
người nhọc nhằn làm nên ngôi Thánh Đường cũ phải trố mắt kinh ngạc.
Cụ Trùm Lân, cụ Cai, cụ Sược...đã tốn nhiều công sức cho Nhà Thờ cũ
đều không còn nữa nhưng các con các cháu của các cụ đã kế thừa lòng
nhiệt thành với Nhà Chúa của các cụ. Không biết còn bao nhiêu cụ sẽ
ra đi trước ngày ngôi thánh đường mới hoàn thành? Vào ngày đó sẽ lại
có những bầy chim sẻ mới quay về đây làm tổ, những chậu hoa mới sẽ
lại đua hương khoe sắc nơi đây. Tình thương của Thiên Chúa luôn tỏa
rộng ra cho muôn loài.
Nhưng mọi cái qúa đắt đỏ, sau 10 năm cả Giáo xứ nỗ lực tiết kiệm chỉ
mới tìm ra một phần ba số tiền cần thiết, sẽ còn muôn vàn khó khăn
trở ngại trước khi hoàn tất công trình. Xây lên một thánh đường mới
thường làm hao tâm tổn lực và giảm thọ cho các cha xứ. Việc đi xin
trợ giúp thường càng ít kết qủa mà càng lắm nhọc nhằn ê chề thì lại
càng nói lên rằng đây chính là công trình của Chúa.
Trong hiện tại, dù không còn Nhà Thờ, các Thánh Lễ, kể cả các Thánh
Lễ cuối cùng của nhiều người, vẫn tiếp tục được dâng lên trên khoảng
sân trống nằm giữa một công trình ngổn ngang xây dựng. Đến dự các
Thánh Lễ này ta mới hiểu được phần nào bầu khí của các Thánh Lễ lén
lút cử hành dưới hầm sâu vào thời sơ khai khi Giáo Hội bị bách hại
khủng khiếp, những Thánh Lễ tại vùng kinh tế mới giữa đồng không
mông quạnh hay rừng thiêng nước độc, cuộc sống có muôn ngàn khó
khăn.
Nước Thiên Chúa luôn là một niềm vui. Ta vui vì đã tìm ra được đâu
là điều quan trọng nhất của đời mình.
Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người
kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả
những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy (Mt 13,44). Do vậy,
giữa đống gạch đá mịt mù, bên trên trống thiên trống địa, dù trời có
chợt mưa hay chợt nắng, Dân Thiên Chúa vẫn vui mừng hoan hỉ kiên trì
đến dâng Thánh Lễ. Chắc chắn một ngày mai Nhà Thờ mới sẽ vươn mình
lên vì Chúa không bao giờ bỏ mặc Dân của Ngài phải vất vưởng trong
hoang địa. Ta sẽ cho dân Ta là Ít-ra-en
một chỗ ở, Ta sẽ định cư chúng, và chúng sẽ ở luôn tại đó, chúng sẽ
không còn run sợ, và quân gian ác cũng không còn tiếp tục áp bức
chúng như thuở ban đầu (2 Sam 7,10). Điều quan trọng hơn
cả là mỗi người phải hiểu rằng bản thân mình cũng là một đền thờ,
cuộc đời mình là một hi lễ cùng với Chúa Giê-su dâng lên cho Thiên
Chúa. Bởi đó, thói ăn nết ở của họ giữa thế gian luôn phải là tang
chứng cho Chúa Giê-su, sự thật tuyệt đối và vĩnh cửu.
Vào năm 1205 Thánh Phanxicô Khó Khăn đã bán đi con ngựa, tài sản có
gía nhất của ngài vào lúc đó, và đi ăn xin khắp nơi để xây lại đền
thánh Phêrô Đamianô tại Foligno đã đổ nát vì ngài nghe tiếng Chúa
phán khi đang cầu nguyện trước tượng thánh gía trong đền thờ này:
“Hãy đi xây lại nhà của Ta mà ngươi
đang thấy bị hoang phế.” Dần dà thánh nhân hiểu rằng điều
Chúa muốn hơn cả chính là xây dựng lại tâm hồn của mỗi người và góp
phần canh tân Giáo Hội.
Chính lòng khao khát được đổ máu chịu tử đạo để nên một với Chúa
Giê-su chịu đóng đinh đã thúc đẩy Thánh Antôn Pađua gia nhập dòng
Phanxicô và lên đường sang Marốc truyền giáo vào năm 1220. Tuy ngài
không được phúc tử đạo như lòng mong ước, nhưng mọi người phải công
nhận những gian nan vất vả dong duổi đường trường để rao giảng Lời
Chúa mà ở đâu cũng bị đám đông vây chặt chung quanh đã là một cuộc
tử đạo liên lỉ của ngài. Ngày nay, làm chứng cho Chúa Giê-su chính
là kiên trì lắng nghe Lời Chúa, yêu mến Chúa Giê-su Thánh Thể và
sống sống công bằng bác ái giữa thế gian.
Mọi người đều muốn các kỉ niệm đẹp kéo dài mãi. Chúa Giê-su đã rất
trân trọng buổi tiệc Vượt Qua có các Tông Đồ chung quanh mà Người
lập nên phép Thánh Thể, Người muốn buổi tiệc này sẽ còn tái diễn
mãi.
Khi giờ đã đến, Đức Giê-su vào bàn, và
các Tông Đồ cùng vào với Người. Người nói với các ông: "Thầy những
khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ
hình. Bởi vì, Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ
Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước
Thiên Chúa” Lc 22,14-16)
Nhưng điều quan trọng hơn cả là Người phải về cùng Cha của Người,
bởi đó Cha của Người sẽ trở thành Cha của mọi người tin, nhà của Cha
sẽ thành nhà muôn đời của họ. Trong nhà
Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì
Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy
lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó”
(Ga 14,2-3).
Sách Khải Huyền không nói Nước Thiên Chúa sẽ ở một chỗ xa xăm mà một
ngày nào đó Dân Thiên Chúa sẽ được các Thiên Thần rước bay lên đó.
Nước Thiên Chúa, theo mặc khải của sách Khải Huyền, là nhà của Thiên
Chúa lập nên giữa loài người. Và tôi
thấy Thành Thánh là Giê-ru-sa-lem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà
xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang. Rồi tôi
nghe từ phía ngai có tiếng hô to: "Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng
nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn
chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ” (Kh 21,2-3).
Khi cộng đồng dân Chúa giáo xứ Tân Châu nỗ lực dựng lên ngôi thánh
đường mới phù hợp với nhu cầu thời đại mới để tiếp tục cử hành Thánh
Lễ: hiến tế thập gía và cuộc phục sinh của Chúa Giê-su, họ đã góp
phần làm cho Nước Thiên Chúa hiển trị giữa thế gian.
Ngày 21-2-2006, lễ Thánh Phêrô Đamianô (1007-1072)
Thánh Phanxicô Át-xi-di đã nhận ra ơn gọi của ngài khi đang cầu
nguyện trước tượng chuộc tội trong đền thánh Phêrô Đamianô bị bỏ
hoang tại Foligno và nghe tiếng Chúa phán “Hãy đi xây lại nhà của Ta
mà ngươi đang thấy bị hoang phế.”
Nguyễn Quý
|