“VUI MỪNG VÀ HY VỌNG, ĐAU BUỒN VÀ LO ÂU...”

 

Quý độc giả Ephata và Chứng Nhân Đức Kitô thân mến,

 

Một lần ghé Manila, tôi được nghe câu chuyện nửa vui, nửa nghiêm, xảy ra trong một cộng đoàn Nữ Tu đa quốc tịch. Có hai Nữ Tu trẻ càm ràm tranh luận với nhau về nếp sống khó nghèo của người tận hiến. Một chị là người Brasil, chị kia là người Việt Nam. Chị Brasil phê bình chị Việt Nam chưa sống khó nghèo, vì chưa biết xuống đường biểu tình, chưa biết phát truyền đơn, chưa biết viết kiến nghị, chưa học được những phương thức tranh đấu vì người nghèo như vẫn thường thấy ở Philippines. Nhưng ở Philippines cũng như ở Việt Nam có những khu dân nghèo, ở đấy có chuột, có gián, và chị Brasil xanh mặt sợ hãi, có khi ré lên, khi phải đụng độ với những tạo vật ấy của Chúa. Thế là đến lượt chị Việt Nam phê bình chị Brasil: nghèo gì mà lại không biết sống chung với chuột, với gián !

Chuyện càm ràm giữa hai chị hé cho tôi thấy nghèo cũng năm bảy đường nghèo. Một người từ bờ Đông, một người từ bờ Tây Thái Bình Dương, hai người gặp nhau ở đảo quốc này vì đã đi theo tiếng gọi của Chúa. Và trên đường mình đi, mỗi người tiếp cận cái nghèo theo cung cách riêng của mình.

Nhưng còn chúng ta ở Việt Nam thì đâu cần phải vượt biển đề gặp cái nghèo giữa trùng dương. Cái nghèo sờ sờ ra đấy, với nhiều bộ mặt khác nhau. Từ trong những làng quê bùn lầy nước đọng, đất chật người đông, những buôn làng dân tộc miền núi đến những khu ổ chuột hoặc những nhà trọ tập thể của di dân lao động. Những cảnh đời đói rách, bất lực, vất vưởng bên lề xã hội. Những thôn xóm nghèo lây lất qua ngày, những làn sóng dân nghèo đang ào ạt tìm cách vươn lên, tiến thân. Nghĩa là có kiếp nghèo sống chung với chuột, với gián, và có cái nghèo lao vào cuộc đấu tranh cầu tiến của xã hội và của thời đại.

Và men Tin Mừng, men Đức Tin phải pha vào cái nghèo muôn mặt. Hội Thánh Chúa có mặt ở những vùng quê xác xơ, và cũng có mặt trong các tầng lớp công nhân ngày một thêm đông, thêm lớn mạnh. Vấn đề là sự có mặt của Hội Thánh, của các đồ đệ Chúa Kitô giữa biển nghèo sẽ biến đổi được cái gì, biến đổi được ai. Ai, và cái gì sẽ trở nên hạt giống Nước Trời ? Ai, và cái gì sẽ đắm vào trong “nền văn hóa của sự chết” ? Cho nên tất cả không chỉ là câu hỏi, là thách thức đối với xã hội trong lãnh vực trần thế. Tất cả còn là câu hỏi, là thách thức đối với Hội Thánh trong sứ vụ làm Dân Chúa trên đất nước này, vào thời đại này. Sẽ có sự khó nghèo của Tám Mối Phúc và cũng sẽ có sự bần cùng sinh đạo tặc.

Tôi nghe trên Nhà Thờ ca đoàn đang hát mừng Bánh Thánh Thể:

“...ngàn đời tròn kiếp lênh đênh

Chúa đi cùng với dân mình đường xa...”

Đã đành trong mỗi cộng đoàn đều có những đại diện tương đối khá giả, có của ăn của để, trong những dịp lễ Tết có thể mặc đồ lớn, đọc diễn văn, chiêu đãi trong đạo ngoài đời. Những sự giao tế như thế cũng cần đấy. Nhưng điều quyết định là người nghèo có cảm thấy Nhà Chúa, Nhà Thờ, Nhà Xứ là nhà mình không. Ở đấy, họ có bị mặc cảm vì mình là kẻ thua kém ông to, bà lớn không. Khi đến đấy họ có cảm thấy hồn nhiên, vì mình được là mình, được gặp gỡ anh em chị em tình nghĩa, hay là ngại ngùng, thậm chí sợ hãi vì các đấng, các bậc, và quý ông, quý bà cao sang quá ?

Tôi chợt thèm gặp lại cảnh dân lao động nghèo của một xứ đạo nọ cùng nhau góp sức xây Nhà Thờ và hội trường. Họ chia nhau từng tốp khuôn vác vật liệu, đổ xi-măng, các bà nấu cơm pha trà cho thợ, các ông chia nhau canh đêm tại công trường không kể lúc tốt trời hay mưa gió lạnh giá. Họ làm thế vì biết rằng Nhà Thờ và hội trường là nhà của họ. Sáng chiều họ đến Nhà Thờ mà nghe như Chúa phán bảo với cuộc sống gay gắt hôm nay như đã phán với vua Ai Cập xưa: “Hãy để dân ta đi” Họ đi tìm sự tự do tâm linh, sự giải thoát, sự hiệp thông trong tôn thờ và cầu nguyện. Hội trường cũng sẽ là của họ, nơi họ và con cái sẽ ngồi nghe Giáo Lý, sẽ học hỏi đạo làm con của Cha trên Trời, sẽ gặp nhau trong những lễ giỗ, lễ cưới, những lúc xuân về, Tết đến... Vì những nơi như thế họ sẽ không tiếc công...

Nhưng Nhà Thờ ấy và hội trường ấy không phải là cảnh vực duy nhất. Cuộc sống khó khăn thì người ta sẽ xoay xở. Trên đây, những người ủng hộ WTO đã giải thích rằng những khó khăn sẽ nhiều, nhưng cơ hội và việc làm cũng nhiều. Chưa vào WTO mà đã có phong trào di dân lớn. Nó nói lên sự thèm muốn thăng tiến của người nghèo. Và nó cũng là một “điềm thời đại” đối với Dân Chúa.

Cha Vĩnh Sang, người hay viết những bài bình luận cho Ephata, hôm vừa rồi tỏ ý tiếc rẻ: Hôm Đức Hồng Y Sepe tới đây, tại sao ta không mời ngài một sáng sớm tinh mơ nào đó, lên xe hơi ra xa lộ Đại Hàn chỗ nhà ga Sóng Thần, để vị Bộ Trưởng Truyền Giáo của Tòa Thánh tận mắt chứng kiến cảnh di dân tầng tầng lớp lớp đi lao động kiếm sống trong các xí nghiệp ? Mời ngài dâng lễ cho di dân đông đảo trong một Nhà Thờ đẹp đẽ có phần tiền yểm trợ của bộ Truyền Giáo xây lên, thì ấn tượng thật, nhưng những khu chế xuất, khu công nghiệp như Sóng Thần, và những nhà trọ cho công nhân nheo nhóc, xô bồ ở chung quanh mới là nơi đang diễn ra những thách thức quyết liệt. Ở đó công nhân nghèo của xã hội mới đang được nhào nặn. Ở đó văn minh của sự sống và văn minh của sự chết đang quần thảo với nhau. Tới đó mà quan sát những mẫu người của tương lai đang mọc, đang lớn lên.

Lại nhớ hôm tôi gặp mấy trăm anh chị em công nhân ở một Xứ Đạo nhỏ gần bên ga Sóng Thần. Họ từ Quảng Bình, Hà Tĩnh, từ Hà Nam, Hà Tây vào đây tìm đất sống. Tối tối vẫn tìm tới sân Nhà Thờ, tới bên đài Đức Mẹ làm điểm tựa tinh thần. Hôm ấy vừa diễn ra một loạt các cuộc đình công. Tôi hỏi ai tổ chức đình công ? Công đoàn có hướng dẫn, bênh vực hay lãnh đạo những người đình công không ? Các bạn trả lời: Không biết ai tổ chức, nhưng chắc chắn không phải là công đoàn. Công đoàn là cái... hữu danh vô thực.

Lại hỏi: không ai tổ chức, không ai lãnh đạo thì làm sao cho ra một phong trào đình công ? Các bạn trả lời: tự nhiên cứ có mảnh giấy trắng chuyền tay nhau, thế là đến ngày giờ đã hẹn mọi người nhất loạt đình công. Đợt đình công ấy nghe nói đạt được một số kết quả, cuộc sống cũng có được cải thiện tí chút. Vị Linh Mục coi xứ có mặt ở đây đưa ý kiến rằng nếu có lý do chính đáng thì ta có thể đình công, chỉ xin anh chị em đừng đập phá nhà xưởng, đừng bạo động.

Mỗi năm cứ gần Tết, anh chị em lại họp nhau liên hoan chung một buổi, bánh chưng, bánh Tét, mứt kẹo,... rồi chia tay, một số lên đường về quê, lỉnh kỉnh một vài món quà, áo quần giầy dép cho cha, cho mẹ, cho em, cho cháu. Số còn lại thế nào cũng ngậm ngùi nước mắt, hoàn cảnh chưa cho phép về quê, đành như chàng lãng tử của Nguyễn Bính:

                        “Tết này em chắc không về được,

                        Em gửi về quê một tấm lòng”.

Nói vậy, nhưng về quê là về chơi, về thăm, chứ đâu phải về thật. Vẫn như Nguyễn Bính nói:

                        “Hôm qua em đi tỉnh về

                        Hương đồng cỏ nội bay đi ít nhiều”.

Quê là dành cho tình cảm. Nhưng người ta đã bắt đầu quen với nếp sống của các khu chế xuất, rồi sẽ trở lại đó thôi, chứ về quê làm gì. Những thanh niên nam nữ ấy đã có cái gì khác cái thời còn mộc mạc bên ruộng đồng, bên bụi tre, bụi chuối khi trước, và cứ mỗi năm họ lại mỗi khác thêm.

Những người ăn Tết xa quê ở miền Nam thì cũng làm một cái gì đó để đón năm mới cho đỡ bâng khuâng. Kéo nhau đi chợ Tết, đi chợ hoa Sài-gòn, có khi nhân kỳ nghỉ rủ nhau đi Nha Trang, đi Vũng Tàu, cát vàng, biển xanh, thay cho hoa đào mâm cỗ, thay cho mưa bụi lất phất lạnh trời mà ấm lòng ở quê nhà.

Và thế là một lớp người mới, một thế hệ mới đang thành hình, với bộ mặt riêng của nó, bộ mặt tổng hợp những đổi thay cùng bao nhiêu nhân tố cũ mới không thể nào cân, đo, đong, đếm nổi. Liệu sẽ là một thế giới nhân ái chăng ? Con cái Chúa gieo vào thổ ngơi này sẽ hoa trái thế nào ? Mọi sự còn tùy đấy.

Hơn hai chục năm trước, nhà Dòng Chúa Cứu Thế họp Tổng Công Hội ở Itaici ( Brasil ). Hồi ấy nhà Dòng cầu nguyện, xét mình, quan sát, suy nghĩ rồi đề ra một khẩu hiệu bằng tiếng La-tinh: “Evangelizare pauperibus et a pauperibus evangelizari” ( Loan báo Tin Mừng cho người nghèo và được người nghèo loan báo Tin Mừng cho mình ).

“Loan báo Tin Mừng cho người nghèo” ( Evangelizare pauperibus ) là một lời vẫn có trong Thánh Kinh. Hình như mỗi giai đoạn lịch sử lại có những dạng nghèo khác nhau. Và tôi còn chưa nói đến những quái trạng vật chất và tinh thần đang nẩy ra do những o ép vật chất và tinh thần nơi những nhà trọ chật chội oi nồng của di dân chẳng hạn...

Vế thứ hai của khẩu hiệu: “Được người nghèo loan báo Tin Mừng cho mình” ( a pauperibus evangelizari ) nhiều người nghe có vẻ lạ tai. Nhưng nó là gương mặt còn ẩn khuất của vế thứ nhất và nó chất chứa biết bao nhiêu hy vọng và phấn khởi. Nó có nghĩa là bất chấp những khó khăn, những cám dỗ, những sa đọa, ơn Chúa vẫn tiềm tàng, vẫn nẩy nở nơi dân nghèo.

Trên đường phục vụ Chúa, ai dấn thân với người nghèo, gặp gỡ được chiều sâu của người nghèo, sẽ ngạc nhiên, và hạnh phúc được nhận ra những kỳ diệu của ơn Chúa trong lòng người nghèo. Nói đúng hơn, Chúa vẫn hiện diện giữa lòng dân nghèo, chờ đợi hễ có sự dấn thân, hễ có sự gặp gỡ cảm thông thì Chúa sẽ nở ra thành những mùa bội thu hoa thơm trái lạ. Đấy không phải là lý thuyết mà là kinh nghiệm của nhiều thế hệ Ki-tô.

Gần đây, vị Bề Trên Cả của Dòng Chúa Cứu Thế, cha Joseph Tobin, suy niệm về bước đường đến với người nghèo của thánh tổ phụ sáng lập Dòng, đã cô đọng bước đường đó bằng ngôn ngữ của thời nay. Cha Bề Trên Cả nói Thánh Tổ Phụ đã “không đưa người nghèo trở về với Giáo Hội, mà đưa Giáo Hội đến giữa người nghèo”. Người nghèo với Giáo Hội, nếu có một sự “trở về”, thì đó là một sự cùng trở về, trở về song phương, trở về với một mầu nhiệm kỳ diệu vẫn có đó giữa lòng cuộc sống nghèo.

Như Công Đồng Vatican II đã nói: “Vui mừng và hy vọng, đau buồn và lo âu của người thời đại...”

VŨ, Sài-gòn 13.11.2006