|
Chính Trị &
Đức Tin
Phỏng
dịch theo bài “ Politics and faith: Being catholic in the
public square “ của Cha Richard Benson, trưởng khoa và giáo
su thần học ở đại chủng viện ST John, Camarillo. Bài này
đươc đăng trong Tiding của Giáo phận Los Angeles ngày 13
tháng 10 năm 2006 .
Việt
Nhân.
Đăng
lại từ Sứ mệnh 33
I .- Vào
đề
Chính trị và đức tin
: Các chính trị gia công giáo trong xã hội
.
Mỗi khi có cuộc bầu cử
lại một lần gây ra và dấy lên sự đối thoại giữa hàng Giáo
phẩm và các nhà hoạt động chính trị .
Những ứng cử viên công
giáo nhiều khi gặp khó khăn giữa lập trường chính trị của
mình và những giáo huấn của Giào hội . Những vấn đề chính
trị và đức tin đôi khi đưa tới sự chia rẽ trong giáo hội .
Khi ra tranh cử các ứng
cử viên công giáo phải nói rõ lập trường chính trị về các
vần đề xã hội cho cử tri rõ . Nếu gặp các cử tri đa số thuộc
thành phần tự do phong túng ( liberal ) mà khuynh hướng của
họ có khi rất nghịch với lập trường của giáo hội , thì các
ứng cử viên sẽ gặp nhiều khó khăn .
Nếu cứ theo đúng giáo
huấn của giáo hội thì chắc chắn sẽ không được bầu , do đó
không thể thực hiện được vai trò trần thế của mình, mà
nương theo chiều tâm lý quần chúng ngược lại với tinh thấn
của giáo hội thì trái với lương tâm và đôi khi lại bị kết án
lạc đạo.
Vì thế các ứng cử viên
phải nắm vững lập trường của giáo hội mới mong đối ứng được
với trường hợp khó khăn trên.
Những chỉ dẫn dưới đây
không những đề cập tới những người công giáo hoạt động
chính trị chuyên nghiệp và cũng soi tỏ cho mọi người công
giáo làm chính trị công dân.
Trước hết ta sẻ gặp loại
thắc mắc rằng : Giáo hội có quyền hay phận sự tham gia vào
cuộc tranh luận như thế khống ?
II.- Những
lời giáo huấn của Giáo hội .
Năm 1891 đức Giáo hoàng
Leo XIII đã ban hành Tông Thư : Rerum Novarum, trong đó Ngài
tuyên bố rằng: Giáo hội có nhiệm vụ phải rao truyền
tiếng nói luân lý vào trong xã hội ( public square ) hay
trần thế . Ngài bảo vệ cho những ai là nạn nhân của cuộc
cách mạng kỹ nghệ và quyết không để cho giai cấp tư bản tự
do đối xử vói con người như những đồ vật và sẽ ném họ ra
ngay một bên khi không còn cần thiết .
Giáo Hoàng Leo đã bắt đầu
một truyền thống trong hơn 100 năm, lời giáo huấn và 12 tài
liệu về quyền lợi và bổn phận của Giáo hội là tiếng nói
quyền lực của Giáo hội và viễn kiến công giáo vào chính
trị, để đòi hỏi công lý cho tất cả mọi người , nhất là
những người nghèo và những người cùng khốn trong xã hội .
Trong thư mục vụ năm 1987
về : “Công bằng kinh tế cho tất cả mọi người “ (
Economic justice for All ) , Giáo hội Hoa kỳ đã thách đố
cộng đồng công giáo làm sáng tỏ đức tin của mình trong xã
hội : “Đức tin của chúng ta không chỉ là một bó
buộc cuối tuần, một bí tích được cử hành quanh bàn thờ ngày
chuá nhật, mà là một thực tại phong phú cần được thực hành
hàng ngày nơì gia đình, công sở, hãng xưởng, trường học và
nơi thương mại khắp nước cuả chúng ta . Chúng ta không thể
phân chia điều chúng ta tin với cách hành động thế nào trong
môi trường của cộng đồng lớn rộng hơn . tr.. 25 “
Trong cùng một thư mục vụ
, các Giám mục đã đặt nặng sự bó buộc phải khuyến khích tất
cả người công giáo tham gia vào đấu trường ( arena ) chính
trị : “ Thư này là một sự mời gọi cá nhân cho những người
công giáo dùng sáng kiến đức tin của chúng ta, sức mạnh của
nền kinh tế của chúng ta, và những cơ hội của nền dân chủ
chúng ta để hình thành một xã hội hầu bảo vệ tốt hơn phẩm
giá và những quyền căn bản của anh chị em chúng ta trong
nước cũng như khắp nơi trên thế giới . tr. 1 “
Giáo huấn công giáo
cống hiến cho chúng ta những nhắc nhở về sự quan trọng của
chính trị và những ràng buộc về luân lý để tham gia vào
công cuộc xây dựng một xã hội công bằng. Giáo huấn công
giáo về công bằng xã hội nhắc nhở chúng ta rằng những lựa
chọn về xã hội và chính trị không phải là cho “ một mình
Tôi “ mà cho “ tất cả Chúng ta “
Không có sự phân biệt
nào giữa sự ràng buộc làm một công dân tốt và khát vọng trở
nên một người công giáo tốt .
Tất cà người công giáo
là công dân của đất nước này nên tham gia vào tiến trình
chính trị đến mức độ có thể vươn tới được .
Nếu họ không dự phần
vào tiến trình trên, tất họ đương nhiên có góp phần vào vấn
đề trong xã hội .
Không có một sự bào
chữa nào về sự từ bỏ cơ hội để bầu phiếu trong các cuộc
tuyển cử trên mọi cấp bậc.
III .-
Gương Chúa Giê su
Trong Phúc âm thánh Luca,
chính chúa Giê su đã rao giảng sứ mạng của Chúa là “ Mang
Tin Mừng cho người nghèo khổ “ . Ngài minh xác rằng “ Tin
mừng “ không chỉ giới hạn vào sứ mạng ngôn sứ mà thôi .
Ẩn dụ về người Samaritain
tốt nói với chúng ta rằng, chúng ta là “ Lân nhân “ cho
hết cà anh chị em chúng ta .
Ẩn dụ về phán xét cuối
cùng nhắc nhở chúng ta về sự thật rằng “ Chúa hiện diện khắp
nơi “ và rằng : “ khi nào con chểnh mảng bỏ quên người
khốn cùng của Anh chị em của Con, tức là con đã bỏ quên Ta “
Lời phán của Chúa : “
Trả lại cho Cesar những gì thuộc vể Cesar , và cho Chúa
những gì thuộc về Chúa “ sẽ được diễn giải sai , nếu những
người công giáo chỉ quan tâm hoạt động của mình trong lãnh
vực tôn giáo , mà đứng ngoài lãnh vực chính trị .
IV .- Mục
tiêu của chính trị và đời sống luân lý .
Mục tiêu của đời sống
chính trị và luân lý là đồng thời và chống chéo lên nhau (
overlap ) :
Những chính trị gia trở
nên thiện hảo nhất là lúc họ dồn hết sức lục vào vào hai
điều sau : luật pháp hoá “ công lý bình đẳng cho mọi người
“ ( equal justice under the law for every one ) và bảo đảm
phúc lợi chung cho toàn dân.
Nền luân lý công giáo có
hai nền tảng chính : một là sự hiểu biết thấu đáo về
“ mỗi người được dựng nên theo hình ảnh của Chúa “ và
hai là “ sự dấn thân tận tuỵ cho phúc lợi chung.”
Thánh Thomas Aquinas dạy
rằng : “ Sự công bình là trung tâm của nhân đức luân
lý. Ngài lưu tâm chúng ta rằng “ sự công chính là điều
chính yếu đầu tiên về mối tương liên giữa những người công
dân “ .
Vì vậy cho nên, nếu luật
pháp cung ứng biện pháp khách quan cho một xã hội thực sự
công bằng , khi đó người công giáo không thể không tham gia
tích cực vào đời sống chính trị trong xã hội .
Một lần nữa , các Giám
mục Hoa kỳ đã móc nối sáu nguyên tắc luân lý giứp những nhà
chính trị phán đoán về những quyết định chính trị của mình
:
1 .- Mỗi một quyết
định phải được soi xét dưới ánh sáng “ hoặc là thăng tiến
hay làm giáng cấp phẫm cách của con người. “
2 .- Nhân phẩm chỉ có
thể thực hiện và bảo vệ trong cộng đồng mà thôi .
3 .-Tất cả mọi người
đều có quyền tham gia vào đời sống trong xã hội .
4 .- Mỗi phần tử của
xã hội đều có bổn phận đặc biệt với người nghèo khó và những
người cùng khốn .
5 .- Nhân quyền là
điều kiện tối thiểu cho đời sống trong xã hội.
6 .- Xã hội xét như là
toàn thể phải hoạt động qua cơ quan công hay tư, có trách
nhiệm luân lý làm tăng giá trị nhân phẩm và bảo vệ nhân
quyền .
VI .-
Những chỉ dẫn khác
Trong tài liệu “ Công lý
trong thế giới (Justice in the world ), Giáo hoàng Paul VI
phát biểu : “ Hoạt động cho Công lý và sự dự phần vào
công cuộc biến cải thế giới đối với chúng ta là kích
thước nền tảng của sự rao giảng Tin Mừng, hay nói cách khác
là sự cứu rỗi và sự giải phóng của nhân loại ra khỏi mọi
tình trạng áp bức là sứ mạng của Giáo hội “.
Thật là tuyệt diệu cho
viễn kiến công giáo rằng chính trị và đức tin không phải là
chuyện ngẫu nhiên, lúc có lúc không, mà phải đồng hành với
nhau, để kiến tạo một xã hội thực sự công bằng .
Cuối cùng , một người
công giáo không là một thành phần của tiến trình chính trị,
thì họ sẽ thât bại trong việc làm những gì có thể bảo đảm
cho công lý và phúc lợi chung .
Người công giáo được
mời gọi mang đức tin vào chính trị, chứ không đem chính trị
vào đức tin .
Tại sao chúng ta lại có
hai tay và hai mắt ? Để mỗi buổi sáng chúng ta có thể cầm
nhật báo hàng ngày ở tay này và Thánh Kinh ở tay kia và
chúng ta có thể dùng lăng kính của đức tin để đọc tin mà đáp
ứng với Thời triệu .
Người công giáo không thể
giam hãm đời sống đức tin trong nhà thờ và không chỉ hạn chế
trong những vấn đề đang bàn cãi từ những thế kỷ đã qua .
Vấn đề của chúng ta là
đức tin sống động và chúng ta được mời gọi để mang môt đức
tin sinh động vào xã hội và chiếu giải sự thật của đức tin
vào những vấn nạn của xã hội đương thời .
Nhưng khốn thay dường như
có một số người , họ nhìn vào giáo hội và những lới giáo
huấn của giáo hội qua lăng kính “ quan điểm chính trị của họ
“ hơn là đường lối khác. Những người công giáo được gọi là
công giáo phòng trà ( cafeteria-catholics ) có thể tìm thấy
lập trường của mình ở cả hai phía “ chính trị tả và hữu
khuynh”, và dùng cùng một phương pháp : “ Nếu những giáo
huấn của giáo hội không phù hợp với với những luận điểm
chính trị của họ, thi họ nghĩ là giáo hội cần phải đổi thay
“ . Chính vì điểm này mà chúng ta nghe được những lời gào
thét – đem giáo hội ra khỏi phòng ngủ của tôi, và tại sao
các Giám mục lại không ngừng nói về về chuyện tử hình và di
dân?
Cuối cùng , Giáo hội
không còn là Giáo hội, trừ phi Giáo hội mang được tiếng nói
vào xã hội thay cho mỗi con dân của Chúa và tìm cách bảo vệ
tất cả dân Chúa từ khi dựng thai đến khi được chết cách tự
nhiên.
Người công giáo phải
tuân theo lương tâm của mình trong những lựa chọn chính trị
.
Giáo hội không ngừng làm
sáng tỏ những điều lương tâm cần phải tuân theo. Như thế
người công giáo phải lợi dụng mọi cơ hội để học lấy tất cả
những gì có thể được về vấn đề chính trị và giáo huấn của
Giáo hội, để trở thành một công dân và người công giáo được
thông tin đầy đủ (Well-informed)
Là người công giáo, chúng
ta mang sự dấn thân tuyệt đối của chúng ta cho nền luân lý
không thay đổi của cuộc đời, sự bảo vệ và thăng tiến hôn
nhân , và sự dân thân bảo vệ cho nhân quyền như là những
nền tảng cho sự lựa chọn có lương tâm .
Mỗi người công giáo cần
phải đắn đo lá phiếu của mình trái với sự dấn thân cho đời,
công lý và công ích.
|