|
THE DA
VINCI CODE
(Mật Mã Da Vinci )
KITÔ GIÁO
VÀ THÁNH KINH
Nguyễn Tiến
Cảnh, M.D.
Nguyễn Thị Vân,
Pharm.D.
Dư luận báo chí Hoa kỳ và Việt Nam,
công giáo cũng như không công giáo, đã nói rất nhiều về cuốn
tiểu thuyết The Da Vinci Code của Dan Brown. Sách, có thể
nói, đã làm náo loạn thế giới, thuộc loại bán chạy nhất /
best seller. Cho đến nay sách đã bán được hơn 40 triệu cuốn,
được dịch ra trên 40 ngôn ngữ khác nhau, đã được làm thành
phim và bắt đầu trình chiếu trên khắp thế giới và tại Hoa Kỳ
ngày hôm nay 19-5-2006. Sách là loại tiểu thuyết hư cấu, giả
tưởng lồng trong khung cảnh một số dữ kiện có thực. Nhưng
thử hỏi giá trị thực của những sự kiện lịch sử và những điều
thêu dêt ngụy tạo lớn lao đến mức độ nào? Và, sách quan
trọng đến đâu khiến chúng ta phải tìm hiểu.
LOẠI TIỂU THUYẾT GIẢ
TƯỞNG, TRINH THÁM, GIẬT GÂN
The Da Vinci Code là tiểu thuyết loại
hư cấu giả tưởng, trinh thám giật gân, được dàn dựng như là
truyện “có thật” để chống lại những dữ kiện thật lịch sử.
Nhưng cái gọi là “sự thật” đó có thật không và thật đến mức
độ nào?
Tiêu chuẩn toàn hảo, vượt cả không gian
lẫn thời gian của lịch sử và sự thật thì chỉ có thể là Kinh
Thánh. Kinh Thánh chứa đựng những sự kiện lịch sử có thật,
nói về Chúa Kito một cách chính xác cả trong quá kứ lẫn hiện
tại và tương lai.
Dan Brown, trong The Da Vinci Code, đã
sửa đổi cả kinh thánh, cố gắng dàn dựng lại câu truyện về
Chúa Kito, sáng chế ra một loại Kito giáo khác. Một trong
những câu mà Dan Brown đã nói ở trang 235 sách của ông như
sau:
“…Hầu hết những điều mà cha ông chúng
ta dạy chúng ta về Chúa Kitô là sai lầm” (…Almost
everything our fathers taught us about Christ is false”)
Chúng ta phải tin cái gì đây? The Da
Vinci Code hay Kinh Thánh?
TẠI SAO THE DA
VINCI CODE ĐÃ LÀM RÚNG ĐỘNG QUẦN CHÚNG?
The Da Vinci code hấp dẫn, bán chạy
nhất thế giới, bán được hơn 40 triệu cuốn, được dịch ra trên
40 thứ tiếng. The Da Vinci code đã trở thành một biểu tượng
văn hóa đại chúng, nhiều người thuộc mọi tầng lớp muốn biết
và bàn luận đến nỗi đã có cả một kỹ nghệ xuất bản: sách, web
sites, internet ca tụng cũng có mà phản bác lại cũng nhiều.
Tại sao sách lại phổ quát như vậy? Bởi
vì Dan Brown là tiểu thuyết gia nổi danh. Ông có tài lôi
cuốn, biết cách hấp dẫn thị hiếu tất cả mọi loại người: từ
trí thức đến bình dân; từ người thích truyện trinh thám giết
người, tiểu thuyết tình yêu lãng mạng, lịch sử, hoài nghi
tôn giáo, âm mưu, chủ nghĩa nữ quyền cho đến mật vụ tình báo
lồng khung trong nghệ thuật tôn giáo khiến người đọc phân
vân thắc mắc không biết họa sĩ Leonardo Da Vinci thật sự có
để mật hiệu gì trong những bức danh họa của ông không?
Dan Brown đã khôn khéo biết dùng cái
gọi là “Mật Mã” của Da Vinci để lèo lái trào lưu dư luận văn
hóa hiện tại làm như là đã khám phá ra được những chuyện tai
tiếng tày trời, bí ẩn kỳ quái trong Giáo Hội công giáo. Ông
thổi phồng tính hiếu kỳ, tò mò của những người muốn biết về
các bản văn ngụy tạo bí mật của nhóm duy trí cho rằng cuộc
đời của Chúa Giêsu như họ miêu tả mới đúng, nhồi vào óc
người đọc quan niệm “Tinh thần thì tốt mà tôn giáo
thì bậy”, nữ giới hóa xã hôi Tây phưong, điên cuồng
mơ về một thời đại mới. Nhưng chính lúc phê phán các tôn
giáo là sai lầm, thất chính trị thì The Da Vinci Code lại
làm cho Kitô giáo nổi bật thêm nhiều màu sắc hơn, gây cho
nhiều Kitô hữu trở lại quan tâm tìm hiểu về tôn giáo của
mình.
Ngoài ra, dĩ nhiên sách báo mà có pha
đượm chuyện tình dục (sex) thì sẽ bán chạy hơn. Do đó chúng
ta nên để ý đến khía cạnh dục tính của The Da Vinci Code,
đặt vấn đề tại sao Dan Brown lại đưa ra hình ảnh Chúa Giêsu
có liên hệ tình ái với đàn bà và kêu gọi khôi phục nữ quyền,
vinh danh tôn thờ thần nữ.
NHỮNG TÌNH TIẾT CỦA
CÂU TRUYỆN
Những khúc mắc tình tiết của câu truyện
The Da Vince Code xẩy ra rất nhanh, chỉ trong vòng hơn 24
tiếng đồng hồ, nhiều nhất là ở Ba Lê, Luân Đôn và Tô Cách
Lan (Scotland). Có rất nhiều mấu chốt bất ngờ phải theo dõi,
tin tức bí mật phải giải thích, nhân vật phải được nhận
diện.
Trong phim, Robert Langdon là giáo sư
đại học Havard, chuyên viên về biểu tượng, đựoc diễn xuất
bởi tài từ ngừơi Mỹ Tom Hanks, đi cặp với Sophie Neveu, thám
tử chuyên viên phân tích mật mã và những tin tức bí mật,
diễn xuất bởi tài tử Pháp tên Audrey Tautou, để giúp giải
quyết những bí ẩn kỳ lạ như vụ giết viên quản thủ viện bảo
tàng Louvre ở Paris là Jacques Saunière. Tất cả có 5 vụ giết
người trong câu truyện.
Họ đã khám phá ra được Saunière bị giết
vì ông là đầu não của hội kín Sion. Hội này được thành lập
có mục đích bảo vệ “sự thật” là Chúa Giêsu đã lấy Mary
Magdalene, chuẩn bị cho bà đứng đầu Hội Thánh sau khi Chúa
chết.. Theo tiết lộ này thì Mary Magdalene đã có thai với
chúa Giêsu khi Chúa bị đóng đanh trên thập giá và hiện nay
giòng giống chúa Giêsu vẫn còn tồn tại và sinh sống tại
Pháp. Nói về chiếc chén thánh mà Chúa Giêsu dùng trong bữa
tiệc ly, lúc lập phép thánh thể trước khi chúa chịu nạn,
theo nghĩa đen thì được gọi là “cup” hay “chalice”, nhưng
theo truyền thuyết thì gọi là “Holy Grail” lại chính là Mary
Magdalene, lòng Mary là “cái bình” mang bào thai, hạt máu
con của Chúa Giêsu.
Họ cho rằng hội kín Sion đã dấu hài cốt
của Mary Magdalene cùng với nhiều tài liệu bí mật khác có
thể một ngày nào đó thuận tiện sẽ được “mật mí” “chứng minh”
cho toàn thể thế giới biết.
Trong truyện thì các hội viên hội Việc
Nhà Chúa (Opus Dei / Work of God), một tu hội các linh mục
công giáo có dự phần trong âm mưu ngăn chặn “sự thật”, kể cả
ám sát để “sự thật” không được phơi bày trước công chúng.
Bởi vì nếu sự thật được phơi bày thì không những chỉ là đại
họa cho Giáo Hội La Mã là giáo hội đã “chèn ép” nữ giới mà
còn làm tiêu tan cả nền tảng của Kito giáo nữa.
Vậy thì làm sao họ có thể chứng minh
được rằng Chúa Kito, người thày vĩ đại lại chỉ đơn thuần là
một con người phàm tục, yếu đuối, dễ chết như mọi người
khác, rằng Chúa không thể sinh ra do phép lạ từ người nữ
đồng trinh, không có cuộc sống toàn hảo và không sống lại
sau khi chết?
CÓ THỂ TÁCH BIỆT SỰ
KIỆN THỰC RA KHỎI GIẢ TƯỞNG HƯ CẤU KHÔNG?
Đa phần câu truyện The Da Vinci code
chỉ chú trọng đến “lịch sử” được diễn nghĩa bởi 3 nhân vật
chính là Robert, Sophie và Leigh Teabing, một người suốt đời
mê mẩn nghiên cứu để tìm cho ra được chén thánh Holy Grail.
Nhưng cái gọi là “lịch sử” thực ra đã
được dàn dựng theo trí tưởng tượng sai lạc của tác giả Dan
Brown và những cộng tác viên của ông. Một trong những nguồn
tài liệu chính cho tiểu thuyết The Da Vinci Code là cuốn
Holy Blood, Holy Grail của Michael Baigent, Richard Leigh và
Henry Lincoln được tung ra thị trường từ năm 1982. Mấy người
này vì không thành công nên đã kiện Dan Brown là dùng tư
liệu của họ để viết thành truyện The Da Vinci code.
Là Kito hữu, chúng ta đã chứng minh và
tin sự chân xác của Kinh Thánh, chúng ta phải xét đoán tiểu
thuyết The Da Vinci code dựa trên Kinh Thánh, không thể xét
đoán Kinh Thánh dựa trên tiểu thuyết The Da Vinci Code. Mặc
dù có những bản dịch đôi khi có chỗ khiến ta hiểu lầm, nhưng
bản Cựu ước tiếng Hebrew và Tân ước tiếng Hy Lạp thì tuyệt
đối xác thực và đáng tin cậy. Chúa Giêsu cầu nguyện cùng Đức
Chúa Cha đã nói: “Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ.
Lời cha là sự thật”(Ga 17: 17).
Chúng ta không nên chấp nhận với đức
tin mù quáng. Nếu chúng ta thành khẩn muốn biết sự thật,
chúng ta có thể tìm hiểu, học hỏi rất nhiều bằng cớ chứng
minh Chúa hiện hữu và có thật, và tất cả các kinh thánh đều
được viết ra do sự hướng dẫn linh hứng từ Thiên Chúa. “
Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh
hứng và có ích trong việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo
dục để trở nên công chính”. (2Tm:16). Hãy nghiên cứu
Kinh Thánh, sách vở tài liệu do Giáo Hội cung cấp, chứng
minh và tìm hiểu đâu là sự thật.
Cái gọi là lịch sử kinh thánh và lịch
sử dân gian thế tục được trình bày trong The Da Vinci Code
đều biểu lộ rất nhiều sai lầm hiển nhiên. Chúng ta có thể
tìm thấy khá nhiều như được trình bày trong các sách:
Cracking Da Vinci’s Code của James Garlow và Peter Jones,
Breaking the Da Vinci Code của Darrell Bock và The Da Vinci
Code: A Quest for Answers by Josh McDowell. Ngoài ra bạn có
thể tìm thấy khá nhiều tài liệu hữu ích trên các Websites /
internet.
Thực ra đề mục của bài viết này đưa ra
không chỉ nhằm so sánh KINH THÁNH đối ngược với THE DA VINCI
CODE. Cách nhìn về Kinh Thánh của các Giáo Hội Kito Giáo
hiện nay thì khác với cách nhìn của những Kitô hữu nguyên
thủy vì cách sống của họ khi xưa khác với cách sống của
chúng ta bây giờ.
PHA TRỘN GIỮA SỰ
THẬT VÀ SAI LẦM LÀ SAI LẦM
( Thật + Giả = Giả
)
Lầm lẫn là đa số chúng ta, thay vì
siêng năng đọc và suy ngẫm kinh thánh một cách cẩn thận thì
lại coi những lời giáo huấn và sống đạo của người Kito hữu
là phản ảnh khuôn mẫu trong kinh thánh. Do đó họ thường có
cảm nghĩ sai lầm về những điều nói trong kinh thánh. Có
người còn bi quan cho rằng tác giả kinh thánh không có thực
nên không muốn đọc kinh thánh. Xin hãy nhìn vào sự thật. Hãy
đọc Kinh Thánh thì sẽ biết.
Con người thường hay nhẹ dạ, dễ bị đưa
vào mê hồn trận nghe theo những lời bịa đặt sai lạc. Đa số
bị lừa gạt khi nghe những điều sai lầm có pha trộn ít nhiều
sự thật khiến người ta nghĩ rằng nó có thể tin được. Đồ giả
nhìn bề ngoài cứ tưởng là đồ thiệt. Câu truyên trong sách
Sáng Thế Ký nói về Eva ăn trái cấm. Con rắn tỏ ra thân
thiện, cám giỗ bà Eva với lời dụ dỗ nửa thật. “Cây biết
lành biết dữ” (Genesis 2:17) làm cho bà Eva bối
rối bán tin bán nghi.
Bị lừa gạt cũng tùy thuộc ở chỗ người
bị lừa cho là nó vô hại. Thánh Phaolo tông đồ cảnh cáo, báo
động về “….Những tông đồ giả, thợ gian xảo, đội lốt tông
đồ của đức Kitô” (2Cr. 11:13).
Tin hay không tin đây? Niềm tin của
chúng ta thường lẫn lộn giữa giáo huấn trong Kinh Thánh và
truyền thống của dân ngoại. The Da Vinci Code chứa đựng khá
nhiều ngụy tạo giả tưởng về lịch sử Kitô giáo; có đoạn làm
ta bị đụng chạm nặng / shocked nhưng là sự thật. Chẳng hạn ở
trang 232 và 233 nói về Kito giáo đã bị nhiễm bởi truyền
thống của dân ngoại mà nay ta cứ tưởng là của ta nguyên thủy
do Kinh Thánh: “ Năm 325 AD Hoàng đế Constantine quyết
định thống nhất Roma chỉ có một tôn giáo….Các sử gia vẫn ca
ngợi sự thông minh sáng suốt của Hoàng đế khi ông cải biến
đạo thờ mặt trời thành Kitô giáo. Khi kết hợp những biểu
tượng, ngày tháng và nghi thức tôn giáo của người ngoại
thành như những truyền thống sống động của Kitô giáo, ông
đã tạo được một loại tôn giáo hỗn hợp mà mọi phía đều đồng
ý chấp nhận.
Những vết tích của ngoại giáo (tôn
giáo ngoài Kito giáo) còn hiện diện rõ ràng trong những biễu
tượng của Kito giáo. Chẳng hạn cái đĩa Mặt Trời của ngừoi Ai
cập đã trở thành vòng hào quang trên đầu các thánh (trong
nghệ thuật tôn giáo)….Trước thời Chúa sinh ra,…người ta ăn
mừng sinh nhật thần Mặt Trời Mithras vào ngày 25 tháng
12…Ngay cả những ngày nghỉ trong tuần của người Kitô giáo
cũng vậy. Nguyên thủy, ngày nghỉ bắt buộc của người Kitô
giáo là ngày thứ bảy, ngày Sabbath (Saturday) theo Do Thái
giáo. Sau này Hoàng Đế Constantine đổi ra ngày Chúa nhật là
ngày nghỉ của ngừoi theo đạo thờ mặt trời (SUNday). Cho đến
nay tất cả chúng ta, người Kitô giáo đi lể buộc ngày Chúa
nhật mà không hề có ý nghĩ rằng ta đã làm theo đạo thờ mặt
trời”.
Đụng chạm nặng. Nhưng đó là sự thật.
Sau này Kitô giáo được cải cách lại, đã loại bỏ nhiều
tập tục cũ nhưng không phải là tất cả.
Chắc chắn The Da Vinci Code đã pha trộn
rất ít sự thật với quá nhiều giả tưởng sai lầm. Trong trang
đầu dẫn nhập sách, Dan Brown đã bạo gan quả quyết: “Tất
cả những miêu tả về nghệ thuật, kiến trúc, tài liệu và nghi
thức bí mật tôn giáo trong cuốn tiểu thuyết này đều chính
xác”. Nhưng thực tế phần lớn chẳng có gì là xác thực cả.
Bởi lẽ những dữ kiện lịch sử thật hiển nhiên mà ông nêu ra
còn đầy dẫy sai lầm thì làm sao người ta có thể tin được ông
miêu tả, cắt nghĩa những vấn đề phức tạp cao siêu về thần
học.
Tuy nhiên, một vài chỗ trong số rất
nhiều đoạn nói về giáo huấn Kitô giáo bắt nguồn từ ngoại
giáo thì đúng. Nhưng, nên nhớ là không một bản kinh thánh
nào lại bắt nguồn từ ngoại giáo, và những giáo huấn của Kitô
giáo sơ khai cũng không do từ ngoại giáo mà có. Trái lại
những quan niệm và tập tục của ngoại giáo đã bắt đầu xâm
nhập vào Giáo Hội ngay từ những ngày đầu Giáo Hội được thành
lập.
Ngoài ra, đa số những lý thuyết sai lầm
đang được lưu truyền hiện nay cũng chẳng có gì là mới lạ cả.
The Da Vinci Code chỉ làm sống lại và lan truyền rộng thêm
hơn trong dân chúng những lạc thuyết phá đạo và rối đạo.
Lịch sử tôn giáo thì có rất nhiều huyền thoại, mà huyền
thoại này lại dựa vào huyền thoại kia cứ thế mà chồng chất
lên nhau và nảy sinh ra huyền thoại khác….
NHỮNG SAI LẦM CHÍNH,
QUAN TRỌNG TRONG THE DA VINCI CODE
Trong những ngày đầu sứ vụ của Chúa
Giêsu, qua những ẩn dụ và huấn từ, Ngài luôn luôn nâng cao
nữ quyền và linh đạo tu đức của nữ giới lên ngang hàng với
nam giới hơn bất cứ ai trong lịch sử. Phúc âm luôn luôn nói
về nữ giới trong số những người tận tụy hết lòng theo Người.
Ai cũng biết, vào thời xa xưa của lịch
sử thì chuyện ức hiếp đè nén nữ giới rất phổ biến ở khắp mọi
nơi. Nhưng Dan Brown trong The Da Vinci Code lại đưa ra một
quan niệm cực đoan trái ngược: Đàn bà là trên hết bởi vì sự
sống có từ trong lòng / bụng người đàn bà và được nuôi dưỡng
nhờ vú của họ. Như vậy ông đã đi ngược trở lại thời mẫu hệ
ngoại giáo cùng với những nghi thức sắc dục của nó. Ông đã
ủng hộ cổ võ tôn thờ thần nữ, đặc biệt Mary Magdalene. Ông
muốn dẫn đến vấn đề là Chúa Giêsu lấy bà Mary Magdalene làm
vợ.
Trong kinh thánh, ngay cả loại “phúc
âm” của phái duy trí cũng không mảy may nói là Chúa Giêsu
lấy bà Mary Magdalene làm vợ. Càng đọc càng tìm hiểu kinh
thánh thì càng thấy tư tưởng kỳ quái này vô lý. Nếu Chúa lấy
vợ thì chắc chắn phải có ghi lại ít nhất là một trong bốn
phúc âm hoặc phải nhắc đến đâu đó trong tân ước những đoạn
nói vể phép hôn phối. Nhưng tuyệt nhiên không thấy có chỗ
nào đả động đến chuyện này, ngay cả nói bóng gió ẩn dụ. Chúa
hoàn toàn chỉ nói về sứ mệnh của Chúa, hy sinh tính mạng để
cứu chuộc nhân loại. Thật rất khó hiểu nếu Chúa cưới vợ để
rồi sau đó ít lâu để lại vợ góa con côi. Lập gia đình sẽ tạo
phân vân thắc mắc cho tương lai và hiện tại của người góa
phụ. Bà ta sẽ được tôn vinh hay phụng thờ?
Thật là khôi hài khi phê phán Chúa
Giêsu và các môn đệ của ngài chỉ dựa vào bức tranh của một
họa sĩ mà ông này cũng chẳng bao giờ nhìn thấy họ. Chẳng hạn
kinh thánh cho biết Chúa Giêsu không để tóc dài. “…Chính
thiên nhiên lại không dạy anh em rằng người nam mà để tóc
dài là điều ô nhục hay sao?” (1Cr 11:14). Bức
tranh họa Bữa Tiệc Ly của Leonardo Da Vinci có hình một
người môn đệ trông giống đàn bà thì chẳng có gì là bằng cớ.
Tại sao lại phải là Mary Magdalene mà không phải là một
người đàn bà khác.
Chỉ một ghi nhận duy nhất là Mary
Magdalene đã được nhắc đến 14 lần trong 4 phúc âm thư. Chúa
Giêsu đuổi 7 tên quỉ ra khỏi bà rồi sau đó gọi bà làm một
trong những môn đệ theo Chúa. Bà rất đỗi cám ơn Chúa và trở
nên gương mẫu nhân đức tuyệt vời. Đặc biệt nữa bà là người
đầu tiên được Chúa hiện ra sau khi Chúa sống lại. (Mc 16:9).
Xã hội nghiêng về phụ hệ thời đó vẫn còn ảnh hửơng đến các
môn đệ của Chúa lại là một bằng cớ nữa cho thấy Chúa chấp
nhận đúng vị trí vai trò người phụ nữ.
Còn việc phụng thờ nữ giới ư? Ở trang
cuối cùng của The Da Vinci Code, ông giáo sư giả tưởng cho
rằng ông đã tìm thấy mộ của Mary Magdalene, “ông liền quì
gối tỏ lòng kính trọng”. Và với lý tưởng đó “Việc
tìm kiếm Holy Grail cũng có nghĩa là tìm kiếm sự quì gối
phủ phục trước hài cốt của Mary Magdalene. Cuộc hành hương
nguyện cầu dưới chân một người cô đơn bị lãng quên”.
Một trong 10 điều răn Chúa dạy là không
được tôn thờ bất cứ ai ngoài Thiên Chúa.
Ngoài ra The Da Vinci Code còn phạm
rất nhiều sai lầm quá đáng. Chẳng hạn:
-Nhân loại đã phạm một lỗi lầm vĩ đại
là chối bỏ giá trị của nữ giới để tôn thờ Chúa là nam giới..
-Kitô giáo nguyên thủy không tin Chúa
Giêsu là Thiên Chúa. Họ cho Chúa chỉ là một nhà truyền giáo
vĩ đại, là tiên tri mà thôi.
-Sau khi Hoàng đế Constantine (a) trở
lại Kitô giáo thì ông đã nghĩ ra ý tưởng Thiên Chúa và gán
cho chúa Giêsu để hoàn thành tính ưu việt của nam giới và
đè ép nữ giới.
-Công đồng Nicaea do Constantine
triệu tập năm 325 AD đã quyết định kinh thánh nào là tân
ước.
-Công đồng này đã hủy bỏ cỡ 80 phúc
âm thư của phái duy trí nói về Chúa Giêsu để dẹp bỏ tư tưởng
Chúa Giêsu là ngừơi chuộng nữ giới, cũng chết và cũng có vợ.
Xin nhớ rằng Kinh Thánh dạy chúng ta
chỉ có một Thiên Chúa nhưng 3 ngôi (BA ngôi nhưng cũng chỉ
là MỘT Thiên Chúa), ám tàng Thiên Chúa thuộc nam giới. Không
bao giờ thấy nói tới Nữ Chúa. Vậy đừng suy đoán theo phái
duy trí là có Chúa Cha thì phải có Chúa Mẹ. Sai lầm. Thánh
Phaolo diễn nghĩa: “Chỉ có một Thiên Chúa và một đấng
trung gian giữa Thiên Chúa và loài người là Chúa Giêsu Kitô
là con người” (1Tm. 2:5). Cả Mary Mẹ Chúa Giêsu lẫn Mary
Magdalene cũng không phải là Thiên Chúa.
CHỈ LÀ ÂM MƯU VÀ
ÂM MƯU
Nếu chúng ta quyết định đọc The Da
Vinci Code hay đi coi phim thì tốt hơn hết là nên tìm hiểu
cặn kẽ, đào sâu, bám chặt lấy Kinh Thánh hơn là nghe theo
những lời diễn giải về kinh thánh và tư tưởng dàn dựng trong
phim hoặc tiểu thuyết của Dan Brown.
Con người thường dễ bị đưa vào mê hồn
trận vì những âm mưu thầm kín để rồi tự mình tưởng tượng,
thêu dệt thêm và làm quan trọng hóa vấn đề đến độ mù quáng
trước những mưu mô che đạy quỉ quyệt gian trá vĩ đại như câu
truyện quỉ Satan bịp thế gian trong sách khải huyền. “Con
rồng lớn bị tống ra, đó là con rắn xưa mà người ta gọi là
quỉ Satan, tên chuyên môn mê hoặc thiên hạ. Nó bị tống cổ
xuống đất và cả các thiên thần của nó cũng bị tống
xuống với nó luôn” (Kh 12:9). Chúa Giêsu gọi nó là “thủ
lãnh thế gian”. Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế
gian này. Giờ đây “thủ lãnh thế gian” này sắp bị tống ra
ngoài” (Ga 12: 31; 14:30; 16: 11). Thánh Phaolo viết cho
tín hữu Corinto: “...đối với những kẻ không tin. Họ không
tin vì tên ác thần Satan, thủ lãnh thế gian đã làm cho tâm
trí họ ra mù quáng, khiến họ không thấy bừng sáng lên Tin
Mừng nói về vinh quang của Đức Kitô là hình ảnh của
thiên chúa” (2Cr.4:4). Thư thánh Gioan cũng nói: “
Chúng ta biết rằng, chúng ta thuộc về Thiên Chúa và tất cả
thế gian đều nằm dưới ách thống trị của ác thần” (1Ga.
5:19).
Đúng vậy, quỉ Satan không cần biết ta
tin cái gì, miễn là cái đó không phải là sự thật là được. Nó
còn muốn chúng ta góp nhặt mọi sự sai trái lại rồi tưởng
tượng, tạo ra một hình ảnh cho riêng mình để suy tôn thờ
phượng. Satan luôn luôn muốn tiêu diệt Chúa Giêsu và sự thật
mà Người đã dạy chúng ta. Ma quỉ xúi dục vua Herode giết
Chúa khi Chúa còn là hài nhi. (Mt.2:1-18). Nó cám dỗ, xúi
dục Chúa phạm tội (Mt.4:1-11). Nhiều lần nó muốn giết Chúa
và sau cùng nó đã thành công: “Chúa đã bị đóng danh chết
trên thập giá bởi quân lính La Mã. Nhưng sau ba ngày ba đêm
Chúa đã sống lại và lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha vinh
hiển” (1Pr.3: 21-22). Satan không bao giờ ngừng che dấu
sự thật (Rm 1:18). Nó luôn luôn tung ra những tin đồn nhảm
nhí bậy bạ về Kinh Thánh và Kitô giáo để tuyên truyền cổ
động những tôn giáo sai lạc. Nhưng Chúa đã dạy: Chỉ có một
đường duy nhất dẫn ta đến đời sống vĩnh cửu qua Chúa Giêsu
mà thôi. “Chính Thày là Đường là Sự Thật và là “Sự Sống”.
Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thày” (Ga.
14:16; Cv 4:12).
KẾT LUẬN:
Là người công giáo / tín hữu Kitô giáo
–vì những tranh cãi chung quanh cuốn The Da Vinci Code của
Dan Brown- chúng ta nên cùng nhau liên kết làm việc vì công
ích, vì việc thiện cho tất cả mọi người yêu mến Chúa, những
người được Chúa chọn lựa theo ý định của Ngài (Rm 8:28).
Nhân có câu chuyện The Da Vinci Code này, chúng ta hãy
nghiên cứu, học hỏi Kinh Thánh và những giáo huấn của Giáo
Hội, đồng thời khuyến khích mọi người cùng học để tự giúp
mình và nâng đỡ những ai còn lấn cấn, phân vân hư-thực của
phim ảnh và những sách báo trinh thám, giả tưởng loại văn
chương bình dân, giật gân như tiểu thuyết The Da Vinci Code
của Dan Brown (1Pr. 3:15; 2Tm 2:15, 22-26).
Đọc The Da Vinci Code đã thấy câu
truyện chỉ là trinh thám, giả tưởng. Nhưng khi xem phim thì
thấy hiển nhiên đúng là một phim trinh thám; cũng hồi hộp
giật gân như bất cứ một phim trinh thám nào khác. Lòng Tin
của tôi chẳng những không bị lung lay mà còn cảm thấy vững
mạnh hơn. The Da Vinci Code không chinh phục được tôi.
Pace Islands, Florida Ngày 21 -5-2006
NTC.
Phụ chú: (a)
ẢNH HƯỞNG
CỦA HOÀNG ĐẾ CONSTANTINE TRÊN KITÔ GIÁO
Hoàng Đế La Mã Constantine ( 306-337
A.D.) đã thay đổi nhiều tập tục của Kitô giáo, nhưng không
phải như Dan Brown trình bày trong The Da Vinci Code. Việc
thay đổi này nằm trong kế hoạch ông muốn thống nhất đế quốc
La Mã bằng cách tạo ra một giáo hội công giáo “Catholic” (
nghĩa là Phổ quát = Universal ), trong đó gồm nhiều thành
phần, yếu tố của các tôn giáo khác kết nạp lại thành một đạo
giáo duy nhất.
Ông trở lại Kitô giáo vào năm 312,
nhưng ông chưa chịu phép rửa tội cho đến khi ông băng hà 25
năm sau. Trong thời gian đó, vợ ông và con trai cả bị ám
sát, bề ngoài ông vẫn tiếp tục theo đạo thờ Mặt Trời. Bằng
cớ là lâu sau khi trở lại Kitô giáo, ông cho đúc đồng tiền,
một mặt có hình ông và mặt kia có hình Mặt Trời.
Kitô Giáo “Christianity” mà Hoàng đế
Constantine gia nhập lúc bấy giờ thì khác xa với Kitô giáo
mà Chúa Giêsu và các thánh tông đồ thực hành. Vì không ưa Do
Thái nên ông thay đổi rất nhanh mọi tập tục không phải chỉ
của Kitô giáo mà của tất cả những đạo giáo mà ông cho là có
dính dáng đến Do Thái. Chẳng hạn Công Đồng Nicaea (A.D. 325)
đã đổi ngày lễ Vượt Qua (Passover) thành lễ Phục Sinh
(Easter), một ngày nghỉ phổ thông trong đạo cũ đề mừng lễ
được mùa. Phê chuẩn sự thay đổi đó, Constantine đã tuyên bố:
“Thật chẳng xứng đáng chút nào khi mừng ngày lễ cực thánh
Phục Sinh (Easter) này mà chúng ta lại phải làm theo tập tục
của dân Do Thái, cái dân mà bàn tay đã nhúng đầy máu tội
lỗi và do đó đầu óc chúng trở thành u tối....Chúng ta chẳng
có gì để mà chung đụng với cái đám đông Do Thái đáng ghét
này”. (Eusebius, Life of Constantine 3, 18-19; Nicene and
Post-Nicene Fathers, 1979, 2nd series, Vol.1 pp.
524-525).
Vì Hoàng Đế Constantine vẫn còn ưu ái
đặc biệt với đạo Thờ Mặt Trời nên ông đã công nhận ngày Chúa
Nhật (SUNday) là ngày thứ nhất trong tuần, là ngày để tôn
thờ mặt trời và là ngày nghỉ trong tuần của dân La Mã.
Chuyện này đã là một cực hình đối với người Do Thái và Kitô
hữu đích thực lúc bấy giờ đang giữ ngày thứ bảy, tức ngày
Sabbath làm ngày lễ nghỉ. Một thế kỷ sau, Công Đồng Laodicea
chính thức bỏ hẳn ngày Sabbath là ngày lễ buộc phải nghỉ.
Sử gia người Anh Paul Johnson đã tóm
lược việc Constantine can thiêp vào các tôn giáo bằng cách
pha trộn đã khiến Kitô giáo bị hủ bại, các đạo giáo khác trở
nên hỗt tạp, lẫn lộn với những dấu vết của Kitô giáo như
sau: “ Những ngừơi thờ thần Isis thì thờ tượng mẹ bồng
con cho bú; Ngày máu và chay tịnh là ngày lễ kính mừng thần
Attis và Cybele, tiếp theo là ngày lễ mừng thần Hilaria sống
lại……., những người thờ Mặt Trời mà phần đông là những sĩ
quan cao cấp trong quân đội, dùng bữa tiệc thánh….
“Nhiều người Kitô hữu đã không biết
phân biệt rõ ràng giữa đạo thờ Mặt Trời và đạo của mình.
Họ….giữ lễ buộc ngày Chúa Nhật, quì gối quay về hướng Đông
và mừng ngày Sinh nhật Chúa Giêsu vào ngày 25 tháng 12 là
ngày sinh nhật Mặt Trời vào đông chí…
“Làm sao mà Giáo Hội Kitô giáo lại
có thể vui vẻ chấp nhận những đổi thay như vậy của một tên
khùng đầu bự kỳ quái này (Constantine) được nhỉ? Phải chăng
có sự mà cả nào đó? Bên nào có lợi hơn trong cuộc liên kết
này? Nhà nước hay Giáo hội? Đế quốc nhân nhượng Kitô giáo
hay Kitô giáo nhân nhượng Đế quốc?” (A History of
Christianity, 1976, pp. 67-69).
Khi so sánh những khác biệt giữa Kitô
Giáo hiện tại và Kitô giáo nguyên thủy thời Chúa Giêsu và
các thánh tông đồ, người ta nhận thấy khá nhiều thay đổi mà
Hoàng đế Constantine đã đưa ra để thi hành.
NTC & NTV
|