|
THƯ MỤC VỤ 2006
DƯỚI ÁNH SÁNG TIN MỪNG LU-CA
Mong chờ…
Từ những ngày cuối tháng 8 năm 2006, cộng đồng dân Chúa Việt Nam ở
khắp nơi, trong cũng như ngoài nước và mọi thành phần, linh mục, tu
sĩ, giáo dân, đều đặt hết niềm mong đợi vào khoá họp thường niên
của Hội Đồng Giám Mục VN. Mọi người chung một niềm hy vọng rằng:
khoá họp này mang nhiều ý nghĩa và giáo hội VN hẳn sẽ có một bước
tiến đáng kể về mọi lãnh vực, để có thể hoạ lại phần nào bức tranh
tuyệt vời của Giáo Hội sơ khai mà tác giả sách công vụ đã mô tả
(x. Cv 2,42-47). Những tranh chấp, những tự ái, phe này nhóm kia,
cậy quyền cậy thế, phải được thay thế bằng sự đồng tâm nhất trí,
hiệp thông với nhau để cùng ca tụng Thiên Chúa. Có như thế, Giáo Hội
mới được “toàn dân thương mến” và mới chu toàn được sứ mạng
cứu độ mà Chúa Cứu Thế đã uỷ thác cho.
Và đã xảy ra là…
Sau những ngày họp (4-8/9), HĐGMVN đã ra một lá thư
chung với chủ đề : Sống đạo hôm nay. Nhưng gần một
tháng trôi qua, mọi sự vẫn còn đó. Có chăng là các giáo xứ cho đọc
lá thư này trước thánh lễ Chúa nhật, mà giáo dân thì người già đến
sớm ngồi lần chuỗi, còn người trẻ thì bắt đầu thánh lễ mới đến ; như
thế, được mấy người nghe và được mấy người hiểu. Còn các linh mục
thì coi đó là xong bổn phận, lá thư lại được xếp vào một chỗ theo số
phận của những lá thư trước. Nếu bây giờ hỏi một số linh mục về lá
thư mục vụ 2006, thì hoạ may các ngài cũng chỉ nhớ được cái tiêu đề
là “sống đạo hôm nay”,
còn nội dung gồm những điểm gì thì có lẽ
ít vị nào biết đến.Trong giới hạn của một giáo dân, tôi xin
chia sẻ với anh chị em bạn hữu gần xa một chút suy tư về lá thư mục
vụ này.
Một cách để nhớ.
Nếu chỉ đọc hoặc nghe qua một lần, thì không thể nào nắm bắt được
nội dung của lá thư và chẳng thấy gì đặc biệt lắm, cũng chỉ là
những lời khuyên chung chung. Nhưng vì lá thư mục vụ đã được viết “dưới
sự thúc đẩy và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần” (số 1), và Công
Đồng Va-ti-ca-nô II đã dạy: “người giáo dân hãy mau mắn chấp nhận
những điều các chủ chiên có nhiệm vụ thánh đại diện Chúa Ki-tô, đã
quyết định với tư cách những thầy dạy và những nhà lãnh đạo trong
Giáo hội” (GH 37). Vì thế tôi đã đọc đi đọc lại, để khám phá ra
những điều Chúa muốn dạy tôi qua những lời văn khô khan và giới hạn
của ngôn ngữ loài người.
Tôi chợt nghĩ ra một cách để giúp các bạn hữu nhớ được nội dung của
lá thư mục vụ này. Tôi có cảm tưởng hình như soạn giả muốn dùng
phương thức “3 trong 1”; vì nếu không kể số 1 và số 11 là hai câu mở
đầu và kết luận, lá thư còn lại 9 số chia đều ba phần chính, mỗi
phần gồm 3 số. Tôi liên tưởng đến thành ngữ “ba hồn chín vía”,
đó chỉ là một tiểu xảo để dễ nhớ (mnémotechnique) mà thôi. Nhờ vậy,
tôi có thể viết ra lược đồ một cách chính xác như sau:
Số 1. Lời mở đầu.
I. NỀN TẢNG ĐỜI SỐNG ĐẠO.
2.
Sống quy chiếu vào Thiên Chúa Ba Ngôi.
3.
Sống ơn gọi nên thánh.
4.
Sống sứ mạng chứng nhân.
II. ĐỊNH HƯỚNG ĐỜI SỐNG ĐẠO.
5. Canh tân bản thân.
6. Dấn thân phục vụ.
7. Xây dựng một xã hội công bằng.
III. TRÁCH NHIỆM ĐỜI SỐNG ĐẠO.
8.
Vai trò của linh mục, tu sĩ.
9.
Vai trò của giáo xứ.
10.
Vai trò của gia đình.
Số 11. Kết luận.
Như vậy có thể nói, thư MV muốn lấy năm 2006 như là một khởi điểm
cho một hành trình mới, mà trước tiên là phải đặt lại nền tảng cho
đời sống đạo , để rồi từ nền tảng vững chắc là mầu nhiệm Thiên Chúa
Ba Ngôi ( I,2 ), mọi tín hữu mới có thể định hướng cho hành trình
của lòng tin với từng bước một, khởi đi từ việc canh tân bản thân (
II,5 ), bởi vì có giác ngộ rồi mới có thể giác tha, hay theo Khổng
Tử thì trước hết phải tu thân đã rồi mới có thể thu phục thiên hạ.
Sau hết, thư Mục vụ mời gọi mọi thành phần dân Chúa phải ý thức
trách nhiệm của mình trong đời sống đạo, để tuỳ theo vai trò của
mình mà phát huy những giá trị Ki-tô giáo trong đời thường giữa lòng
xã hội hôm nay (III,8).
Thư Mục vụ 2006 với Tin Mừng Lu-ca.
Ngày 30-9-2006, Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin cho tôi được tham dự buổi họp
thảo luận những vấn đề liên quan đến Kinh Thánh, thật là một cơ hội
may mắn để tôi học được bao điều hay nơi những bậc thầy về Kinh
Thánh và Mục vụ. Chính trong buổi họp này, cha Nguyễn Cao Siêu, dòng
Tên, đã có sáng kiến kết nối việc học tập thư Mục vụ với Tin Mừng
Lu-ca, là Tin Mừng của Phụng vụ năm C (2007). Vấn đề không phải là
xem Tin Mừng như phương tiện để học hỏi thư Mục vụ, như ý kiến của
một vị, vì như thế là làm giảm giá trị của Tin Mừng. Riêng đối với
tôi, sáng kiến của cha Siêu đã gợi ý rất nhiều cho tôi, tôi thầm cám
ơn ngài.
Khi đọc đi đọc lại nhiều lần, tôi nghĩ rằng lá thư Mục vụ và Tin
Mừng Lu-ca, cả hai đều phát xuất từ Chúa Thánh Thần, dù rằng giá trị
và tầm quan trọng khác nhau… Thật vậy, ngay cả cái chủ đề
“Sống đạo hôm nay” cũng
đã phảng phất một tương quan nào đó với Tin Mừng Lu-ca.
Quả thế, Tin Mừng Lu-ca là một Tin Mừng mang tính hiện tại; nó không
phải là chuyện trong quá khứ, cũng không phải là những lời hứa hẹn
của tương lai xa vời, nhưng đó là “cái
hôm nay của ơn cứu độ” mà Chúa Giê-su đã đem đến
cho nhân loại (x. Lc 2,11; 3,22; 4,21; 19,9; 23,43 ).
Thư Mục vụ với chủ đề “sống đạo hôm nay”, cũng là muốn đời sống đạo
của mọi tín hữu phải đi vào cuộc sống hôm nay, để dấn thân phục vụ,
để cùng nhau xây dựng, chứ không thể ngồi đó để luyến tiếc quá khứ,
hay để trông chờ một tương lai hão huyền.
Tin Mừng Lu-ca, một tin mừng đòi sự
lột xác.
Thư Mục vụ “đề nghị một lộ trình
sống đạo khởi đi từ việc đổi mới bản thân” (
số 5 ). Đây là điểm hết sức căn bản, nhưng nếu chỉ nói suông mà
không làm thì ích lợi gì, ngay trong lời mở thư Mục vụ đã nhắc lại
lời thánh Gia-cô-bê : đó chỉ là một đức tin chết. Hơn nữa, từ “đổi
mới” phải được hiểu dưới ánh sáng của Tin Mừng. Vì trong thực
tế, có nhiều sự đổi mới chẳng đi đến đâu, mà có khi còn gây xáo
trộn. Đổi mới không có nghĩa là bỏ cái cũ đi để đưa cái mới vào.
Trong cuốn “Những lá thư của Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô I”
(vị Giáo Hoàng với nụ cười bất hủ, chỉ ở ngôi vị GH có 33 ngày),
trong lá thư viết gửi Giám Mục Félix Dupanloup (tưởng tượng thôi, vì
vị này sống ở đầu tk XIX) ngài dùng câu chuyện cổ Ấn Độ A-la-đin và
cây đèn thần để minh hoạ cho lời cảnh báo đừng vội chạy theo cái
mới, chuyện thế này: người vợ của A-la-đin chỉ vì nhẹ dạ, cả tin vào
lời rao “đổi đèn mới lấy đèn cũ” của tên phù thuỷ gian manh, ra vẻ
làm một việc rất tốt, nhưng thực ra đó là một trò gian lận. Trong
lúc chồng đi vắng, bà đã đem cây đèn cũ,mà bà không biết cái giá trị
của nó, trao cho tên phù thuỷ để lấy những cây đèn mới. Chỉ đến khi
đem sử dụng, bà ta mới biết mình bị lừa, những cây đèn mới toanh,
óng ánh, nhưng thực ra vô giá trị (bản in ronéo trang 96).Câu chuyện
cây đèn thần không chỉ có trong truyện cổ tích, mà cả trong thực tế
vẫn thường xảy ra .Gần đây nhất, người ta bàn luận nhiều về tác phẩm
Mật mã Da Vinci, như thể những kẻ muốn phá Giáo Hội đã dùng nó như
một vũ khí để lung lạc đức tin, bằng những quảng cáo đầy quyến rũ,
lý luận hấp dẫn, khiến nhiều người bị hoang mang, tưởng đây là một
khám phá mới . Đó chẳng phải là vì đời sống đạo thiếu nền tảng,
không hiểu gì về Tin Mừng, hoặc chỉ biết lơ mơ, bằng lòng với mớ
kiến thức kinh bổn thời ấu thơ hay sao? Nếu ham thích Lời Chúa,
chuyên cần học hỏi Kinh Thánh, ít là bốn sách Tin Mừng, thì có nhìn
thấy cuốn Da Vinci cũng chẳng thèm cầm lấy chứ đừng nói chi là mất
thời giờ để đọc. Và còn biết bao chuyện trước mắt khiến chúng ta bị
hoang mang chao đảo giữa cũ và mới.
Tin Mừng Lu-ca cho chúng ta một gương mẫu “đổi mới bản thân”, đó là
câu chuyện ông Da-kêu ở chương 19. Cuộc gặp gỡ Đức Giê-su khiến ông
đổi mới bản thân cách triệt để, một sự lột xác hoàn toàn. Khởi điểm
chỉ là một sự tò mò (c.3 ). Nhưng chúng ta đừng nghĩ đơn giản, để
thoả mãn óc tò mò, ông đã phải can đảm tạm quên đi cái địa vị xã
hội, thân phận giàu sang của mình, để làm một trò cười cho công
chúng, là leo lên cây sung chỉ để nhìn thấy Đức Giê-su (c.4), và khi
Đ.Giê-su nhìn lên, gọi ông xuống và ngỏ ý muốn tạm trú tại nhà ông,
thì “được lời như cởi tấm lòng”, ông mừng quýnh tíu tít như đứa trẻ
thấy mẹ đi chợ về. Thái độ đó làm cho những kẻ đứng đắn, đạo
mạo,nghiêm túc không sao chịu nổi, họ bắt đầu phê phán ông (c.7),
nhưng mặc kệ, ông chẳng bận tâm, có Chúa là có tất cả. Ông quyết
định đổi đời bằng những việc làm cụ thể: cho đi cách quảng đại, đền
trả những bất công (c.8 ). Chính vì thế ông đã tức khắc nhận được ơn
cứu độ hay nói cách khác, ơn cứu độ đã đến với ông trong cái “hôm
nay” của lộ trình sống đạo, của sự đổi mới tận căn: “hôm
nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này”
(c.19 ). Hành động của ông Da-kêu khiến chúng ta phải suy nghĩ và
học nơi ông nhiều bài học. Thư MV mời gọi chúng ta đổi mới bản thân,
thì như ông Da-kêu, không thể đổi mới nếu không gặp gỡ Chúa Giê-su.
Nhưng để gặp được Chúa thì cái khởi điểm thật là quan trọng, chúng
ta có quá nhiều lý lẽ để không dám thực hiện những ước vọng tốt đẹp,
chúng ta sợ người khác phê phán, sợ mất uy tín, vì chúng ta có địa
vị, có chút tiếng tăm, chúng ta không dám ra khỏi chính mình để nhìn
nhận những thiếu sót, những sai lầm trong lối suy nghĩ cũng như hành
động. Ông Da-kêu biết rõ cái giới hạn của mình, ông can đảm vượt qua
cái giới hạn ấy, đó là khởi điểm, phần còn lại Chúa làm: Chúa
nhìn ông , cái nhìn yêu thương mời gọi và ông thực sự gặp gỡ
Chúa đồng thời việc đổi mới bản thân được thể hiện tức khắc.
Tin mừng Lu-ca là tin mừng của hành
động yêu thương.
Khi thầy thông luật hỏi Đức Giê-su: “tôi phải làm
gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp” (Lc10,25). Đức Giê-su
đã không đưa ra một chương trình to tát cho ông ấy, Người chỉ đưa ra
dụ ngôn về một người Sa-ma-ri đã dám vượt lên trên những
xung khắc, những rào cản về tôn giáo, chính trị để thể hiện lòng yêu
thương đến mức tối đa, không tính toán (c. 35). Người Sa-ma-ri đã
làm một việc mà thầy tư tế và bác lê-vi đã “khôn ngoan” né tránh, vì
không muốn “ách giữa đàng lại quàng vào cổ”, vả lại các bố còn nhiều
công việc quan trọng có tên có tuổi, lẽ nào lại để mất thời giờ vào
cái việc vô danh này sao. Đoạn Tin Mừng này xoay quanh từ “làm”
,và hai lần Chúa Giê-su nói: “cứ làm như vậy”. Đời sống đạo
phải được thề hiện qua những việc làm mà thư Mục vụ gọi là “dấn thân
phục vụ”. Đây là trọng điểm của thư Mục vụ, và đối tượng phục vụ là
ai thì thư đã nói rõ, đó là những người nghèo khổ: nghèo kiến thức,
nghèo vật chất, nghèo tình thương, nghèo niềm hy vọng, nghèo hạnh
phúc…(số 6 ). Nói thì dễ, nhưng thực hành rất khó, vì trong thực tế,
chúng ta thường chỉ đến với những người nghèo nào có đủ tiêu chuẩn
do chúng ta tự đặt ra, điều này thật sai lầm, vì lúc ấy người nghèo
trở thành phương tiện để chúng ta “thực hành nhân đức”. Người
Sa-ma-ri đã không làm vậy. Trong cuốn “ Đường hay pháo đài” giáo sư
Nguyễn Ngọc Lan đã dựa trên dụ ngôn này để xây dựng một lý tưởng
sống đạo: “Đạo là đạo làm, anh làm được gì cho tôi, tôi làm được
gì cho anh. Cho ăn, cho uống, cho mặc, tiếp đón, thăm viếng, gặp gỡ,
hay làm tất cả những gì không thể định trước được, để đáp ứng những
nhu cầu bất ngờ nhất trên đường, giữa cuộc sống…”(sđd trang 214).
Chắc hẳn thầy tư tế và bác lê-vi cũng luôn giảng dạy cho dân về đức
bác ái, các ông thuộc bài hơn ai hết, nhưng với thân phận cao quý
của mình, các ông đã “tránh qua bên kia mà đi” (c.31.32).Để
sống đạo theo Tin Mừng, bắt buộc ta phải ra khỏi cái tôi của chính
mình, ra khỏi cái tháp ngà, khỏi mọi thứ pháo đài, thì mới có cơ hội
gặp gỡ tha nhân mà hiện thực được, đức bác ái không cho phép dừng
lại ở mức độ nào cả.
Nếu đời sống đạo là một mớ những luật lệ, những quy định cứng ngắc,
thì tôi chẳng động gì đến ai, chẳng làm hại ai. Nhưng Tin Mừng Lu-ca
còn cho thấy thái độ dửng dưng cũng bị lên án. Câu chuyện người phú
hộ và La-da-rô. Ông nhà giàu không có một hành động nào làm hại
La-da-rô, ông xài toàn hàng hiệu, tiệc tùng liên tục, đó là quyền
của ông, vì ông kiếm ra tiền bằng tài năng của ông. Nhưng cái tội
của ông là dửng dưng trước cảnh đói khổ của đồng loại. Câu chuyện
kết thúc thật có hậu (x. Lc 16,19-31 ).
Tin Mừng Lu-ca và đời sống cầu
nguyện.
Tin Mừng Lu-ca khởi đi từ khung cảnh trang nghiêm của nơi Cực Thánh
trong đền thờ (x. Lc 1,8tt ), và kết thúc với tâm tình hoan hỷ chúc
tụng Thiên Chúa của các Tông Đồ cũng trong Đền Thờ (x.Lc 24,52-53 ).
Vì thế có thể nói Tin Mừng Lu-ca được bao trùm bằng tinh thần cầu
nguyện. Cuộc đời rao giảng của Chúa Giê-su được chìm ngập trong bầu
khí cầu nguyện. Ngay từ khởi đầu sứ vụ, trong lúc Người cầu nguyện
sau khi chịu phép rửa, trời mở ra và Chúa Thánh Thần đã ngự xuống
trên Người, đồng thời Chúa Cha tuyên phán về Người (x. Lc 3,21-23 ).
Trước những quyết định quan trọng Chúa Giê-su luôn cầu nguyện, như
trước khi chọn mười hai Tông Đồ,
Người đã thức suốt đêm để cầu nguyện cùng Thiên Chúa
(Lc 6,12 ). Chúa Giê-su đã khơi dậy ý thức cầu nguyện nơi các môn đệ
khi làm gương cho họ để rồi chính các ông ngỏ lời xin Chúa dạy cách
cầu nguyện (x. 11,1-4 ).
Nếu tiếp tục đọc, tác giả Lu-ca sẽ cho chúng ta chiêm ngưỡng đời
sống cầu nguyện của Chúa Giê-su trong suốt sách Tin Mừng, trong biến
cố hiển dung chỉ có Lu-ca nói Chúa biến hình đang lúc Người cầu
nguyện (Lc 9,29. ss Mt 17,2; Mc 9,2 ), cũng chỉ Lu-ca nói tới lời
Chúa hứa sẽ cầu nguyện cho Th. Phê-rô để ông khỏi mất lòng tin (x.
Lc 22,32 ) và trong vườn cây dầu, lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trở
nên khẩn thiết đến độ mồ hôi như những giọt máu rơi xuống đất (c.44
). Lời cầu nguyện cuối cùng trên thập giá chỉ có Lu-ca ghi lại:
“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” .
Qua Tin Mừng Lu-ca, Chúa Giê-su vừa nêu gương cầu nguyện,vừa dạy
chúng ta phải cầu nguyện.Vì thế, đời sống đạo không thể thiếu cầu
nguyện, nếu thiếu cầu nguyện, đời sống Ki-tô hữu một lúc nào đó sẽ
mất căn tính, vì cầu nguyện được ví như cá cần nước, con người cần
oxy để thở (Giờ cầu nguyện…, tài liệu Khánh nhật truyền giáo
2006/tr.27 ).
Thư Mục vụ nhắc lại trong phần III: Đời sống cầu nguyện không miễn
trừ một ai, dù là giám mục, linh mục, tu sĩ hay giáo dân, phải đảm
nhận như là một trách nhiệm. Đức Hồng y P.X. Nguyễn văn Thuận còn
nói rõ hơn trong cuốn “Niềm vui sống đạo thế kỷ 21”:
nguy hiểm lớn nhất là chúng ta quên cầu nguyện, đôi khi vì quá ham
hoạt động, hoặc vì quá lo vận động, mưu mô quyền thế…Cầu nguyện là
thể hiện cuộc sống Thiên Chúa Ba Ngôi ban cho chúng ta trong bí tích
Rửa tội; cầu nguyện là nuôi dưỡng lòng yêu thương người bên cạnh
mình. Và ngài nhắc lại một câu trong cuốn ĐHV : “Hoạt
động không cầu nguyện là vô ích trước mặt Chúa”(sđd tr.148)
Không cầu nguyện tất cả những việc làm chỉ mang tính phô trương, đây
là một căn bệnh phổ biến nhất mà ĐHY gọi là bệnh phô trương chiến
thắng, một trong thập đại bệnh khiến Giáo Hội không phát huy được
nét tích cực của mình, ngài minh hoạ bằng một hiện tượng rất hay
gặp, đặc biệt nơi những giáo xứ toàn tòng: “Thỉnh thoảng đây đó
đọc trên những bản tin sinh hoạt cộng đoàn thật nức lòng: Đại lễ tổ
chức vô cùng thành công, cuộc rước kéo dài cả nửa cây số, hàng chục
cha đồng tế, bữa tiệc kết thúc thật linh đình, bà con vô cùng hoan
hỷ, chưa bao giờ có ai tổ chức được lớn như thế…Nhưng hết tiệc rồi
ra về là hết. Đại lễ hôm qua, hôm nay thành quá khứ xa lơ. Cảm xúc
hôm qua, hôm nay gọi mãi chẳng thấy về…Ta bảo làm sáng danh Chúa,
nhưng xét cho kỹ Chúa mấy phần trăm, ta mấy phần trăm?(sđd tr.69) .
Trong thực tế, có người tự đánh giá một công trình tập thể là của
mình 60 % .Có những linh mục chỉ lao vào việc trang trí, xây dựng
đến chóng mặt, như sợ rằng cuộc sống ngắn ngủi không kịp làm hết
những công trình để “sáng danh Chúa” , hoặc ngài muốn để lại
di sản và chứng tích ( xin được gọi tắt là di-chứng), hầu mọi
thế hệ sau phải ghi nhớ, rồi nay tổ chức tiệc mai tổ chức tiệc, một
trăm lý do để ăn mừng. Như thế thì còn đâu thời giờ để cầu nguyện.
Chỉ cần quan sát đời sống tương quan, cung cách cử hành phụng vụ
hoặc nghe những bài giảng, là có thể đánh giá đời sống cầu nguyện
của một linh mục.
Thư Mục vụ cũng nhắc nhở trách nhiệm của các gia đình về đời sống
cầu nguyện, người viết bài này cũng có một chút kinh nghiệm về những
vấp ngã trong đời sống thiêng liêng, những thất bại trong việc tông
đồ, những xáo trộn trong đời sống gia đình…chỉ vì sao nhãng cầu
nguyện. Hơn bao giờ hết, tôi xác tín giờ Kinh Sáng đem lại cho bản
thân mình thật nhiều ích lợi, nó là sức sống cho cả một ngày làm
việc. Còn giờ Kinh Tối giúp cho gia đình vượt qua những sóng gió,
hàn gắn mau chóng những bất hoà giữa các thành viên trong gia đình.
Đức Ma-ri-a và đời sống đạo
Để kết thúc bài viết này, tôi muốn chia sẻ một tâm
tình của tôi về lòng tôn kính Đức Mẹ.Trong bốn Tin Mừng, chỉ có Th.
Lu-ca cho ta biết nhiều về Đức Ma-ri-a, các tác giả khác nói rất ít
hoặc với dụng ý riêng, như Th. Gio-an chỉ ghi lại hai lần Đức
Ma-ri-a hiện diện, ở Cana và dưới chân thập giá (x.Ga 2,1-5 và
19,25-27). Để sống đạo hôm nay, chúng ta phải học với Đức Ma-ri-a
thái độ đón nhận
lời Chúa, sẵn sàng để Chúa hành động
(x.Lc 1,38) ; mau mắn đem Chúa đến cho anh em, nhiệt tình phục vụ
tha nhân (c.39. 56) . Tôi không có thói quen lần chuỗi thường
xuyên, đây là một thiếu xót mà tôi chưa tập được thói quen này. Tuy
nhiên không làm việc gì mà tôi không cầu xin với Đức Mẹ, những lớp
giáo lý mà tôi hướng dẫn tôi luôn phó thác cho Đức Mẹ, đặc biệt là
các anh chị em dự tòng. Tôi cảm nhận được sự che chở của Đức Mẹ
trong cuộc đời tôi .Tôi không dám coi thường những biến cố xảy ra ở
mọi nơi và mọi thời, nhất là những biến cố mà Giáo Hội đã ngưỡng mộ.
Nhưng dù sao, hình ảnh Đức Ma-ri-a trong tiệc cưới Ca-na và dáng
điệu vội vã trên đường đến nhà bà Ê-li-sa-bét , quá đủ cho tôi yêu
mến và học cách sống đạo nơi Mẹ Ma-ri-a.
Phê-rô Nguyễn Tuấn Hoan,
An Lạc ngày 10-10-2006
Theo Sứ mạng chuyên đề 07
|