THƯ MỤC VỤ 2006

DƯỚI ÁNH SÁNG TIN MỪNG LU-CA

 

Mong chờ…

Từ những ngày cuối tháng 8 năm 2006, cộng đồng dân Chúa Việt Nam ở khắp nơi, trong cũng như ngoài nước và mọi thành phần, linh mục, tu sĩ, giáo dân, đều đặt hết niềm mong đợi  vào khoá họp thường niên của Hội Đồng Giám Mục VN. Mọi người chung một niềm hy vọng rằng: khoá họp này mang nhiều ý nghĩa và giáo hội VN hẳn sẽ có một bước tiến đáng kể về mọi lãnh vực, để có thể hoạ lại phần nào bức tranh tuyệt vời của Giáo Hội sơ khai  mà tác giả  sách công vụ đã mô tả (x. Cv 2,42-47). Những tranh chấp, những tự ái, phe này nhóm kia, cậy quyền cậy thế, phải được thay thế bằng sự đồng tâm nhất trí, hiệp thông với nhau để cùng ca tụng Thiên Chúa. Có như thế, Giáo Hội mới được “toàn dân thương mến” và mới chu toàn được sứ mạng cứu độ mà Chúa Cứu Thế đã uỷ thác cho.

Và đã xảy ra là…

Sau những ngày họp (4-8/9), HĐGMVN đã ra một lá thư chung với chủ đề :  Sống đạo hôm nay. Nhưng gần một tháng trôi qua, mọi sự vẫn còn đó. Có chăng là các giáo xứ cho đọc lá thư này trước thánh lễ Chúa nhật, mà giáo dân  thì người già đến sớm ngồi lần chuỗi, còn người trẻ thì bắt đầu thánh lễ mới đến ; như thế, được mấy người nghe và được mấy người hiểu. Còn các linh mục thì coi đó là xong bổn phận, lá thư lại được xếp vào một chỗ theo số phận của những lá thư trước. Nếu bây giờ hỏi một số linh mục về lá thư mục vụ 2006, thì hoạ may các ngài cũng chỉ nhớ được cái tiêu đề là  sống đạo hôm nay, còn nội dung gồm những điểm gì thì có lẽ ít vị nào biết đến.Trong giới hạn của một giáo dân, tôi xin chia sẻ với anh chị em bạn hữu gần xa một chút suy tư về lá thư mục vụ này.

Một cách để nhớ.

Nếu chỉ đọc hoặc nghe qua một lần, thì không thể nào nắm bắt được nội dung của lá thư và chẳng thấy gì đặc biệt lắm, cũng chỉ là những  lời khuyên chung chung. Nhưng vì lá thư mục vụ đã được viết “dưới sự thúc đẩy và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần” (số 1), và Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã dạy: “người giáo dân hãy mau mắn chấp nhận những điều các chủ chiên có nhiệm vụ thánh đại diện Chúa Ki-tô, đã quyết định với tư cách những thầy dạy và những nhà lãnh đạo trong Giáo hội” (GH 37). Vì thế tôi đã đọc đi đọc lại, để khám phá ra những điều Chúa muốn dạy tôi qua những lời văn khô khan và giới hạn của ngôn ngữ loài người.

Tôi chợt nghĩ ra một cách để giúp các bạn hữu nhớ được nội dung  của lá thư mục vụ này. Tôi có cảm tưởng hình như soạn giả muốn dùng phương thức “3 trong 1”; vì nếu không kể số 1 và số 11 là hai câu mở đầu và kết luận, lá thư còn lại  9 số chia đều ba phần chính, mỗi phần gồm 3 số. Tôi liên tưởng đến thành ngữ “ba hồn chín vía”, đó chỉ là một tiểu xảo để dễ nhớ (mnémotechnique) mà thôi. Nhờ vậy, tôi có thể viết ra lược đồ một cách chính xác như sau:

 

Số 1. Lời mở đầu.

I. NỀN TẢNG ĐỜI SỐNG ĐẠO.

2.      Sống quy chiếu vào Thiên Chúa Ba Ngôi.

3.      Sống ơn gọi nên thánh.

4.      Sống sứ mạng chứng nhân.

II. ĐỊNH HƯỚNG ĐỜI SỐNG ĐẠO.

5.    Canh tân bản thân.

6.    Dấn thân phục vụ.

7.   Xây dựng một xã hội công bằng.

III. TRÁCH NHIỆM  ĐỜI SỐNG ĐẠO.

8.      Vai trò của linh mục, tu sĩ.

9.      Vai trò của giáo xứ.

10.  Vai trò của gia đình.

Số 11. Kết luận.

Như vậy có thể nói, thư MV muốn lấy năm 2006 như là một khởi điểm cho một hành trình mới, mà trước tiên là phải đặt lại nền tảng cho đời sống đạo , để rồi từ nền tảng vững chắc là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi ( I,2 ), mọi tín hữu mới có thể định hướng cho hành trình của lòng tin với từng bước một, khởi đi từ việc canh tân bản thân ( II,5 ), bởi vì có giác ngộ rồi mới có thể giác tha, hay theo Khổng Tử thì  trước hết phải tu thân đã rồi mới có thể thu phục thiên hạ. Sau hết, thư Mục vụ mời gọi mọi thành phần dân Chúa  phải ý thức trách nhiệm của mình trong đời sống đạo, để tuỳ theo vai trò của mình mà phát huy những giá trị Ki-tô giáo trong đời thường giữa lòng xã hội hôm nay (III,8).

Thư Mục vụ 2006 với Tin Mừng Lu-ca.

Ngày 30-9-2006, Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin cho tôi được tham dự buổi họp thảo luận những vấn đề liên quan đến Kinh Thánh,  thật là một cơ hội may mắn để tôi học được bao điều hay nơi những bậc thầy về Kinh Thánh và Mục vụ. Chính trong buổi họp này, cha Nguyễn Cao Siêu, dòng Tên, đã có sáng kiến kết nối việc học tập thư Mục vụ với Tin Mừng Lu-ca, là Tin Mừng của Phụng vụ năm C (2007). Vấn đề không phải là xem Tin Mừng như phương tiện để học hỏi thư Mục vụ, như ý kiến của một vị, vì như thế là làm giảm giá trị của Tin Mừng. Riêng đối với tôi, sáng kiến của cha Siêu đã gợi ý rất nhiều cho tôi, tôi thầm cám ơn ngài.

Khi đọc đi đọc lại nhiều lần, tôi nghĩ rằng lá thư Mục vụ và Tin Mừng Lu-ca, cả hai đều phát xuất từ Chúa Thánh Thần, dù rằng giá trị và tầm quan trọng khác nhau… Thật vậy,  ngay cả cái chủ đề Sống đạo hôm nay” cũng đã phảng phất một tương quan nào đó với Tin Mừng Lu-ca.

Quả thế, Tin Mừng Lu-ca là một Tin Mừng mang tính hiện tại; nó không phải là chuyện trong quá khứ, cũng không phải là những lời hứa hẹn của tương lai xa vời, nhưng đó là “cái hôm nay của ơn cứu độ” mà Chúa Giê-su đã đem đến cho nhân loại (x. Lc 2,11; 3,22; 4,21; 19,9; 23,43 ).

Thư Mục vụ với chủ đề “sống đạo hôm nay”, cũng là muốn đời sống đạo của mọi tín hữu phải đi vào cuộc sống hôm nay, để dấn thân phục vụ, để cùng nhau xây dựng, chứ không thể ngồi đó để luyến tiếc quá khứ, hay để trông chờ  một tương lai hão huyền.

Tin Mừng Lu-ca, một tin mừng đòi sự lột xác.

Thư Mục vụ đề nghị một lộ trình sống đạo khởi đi từ việc đổi mới bản thân” ( số 5 ). Đây là điểm hết sức căn bản, nhưng nếu chỉ nói suông mà không làm thì ích lợi gì, ngay trong lời mở thư Mục vụ đã nhắc lại lời thánh Gia-cô-bê : đó chỉ là một đức tin chết. Hơn nữa, từ “đổi mới” phải được hiểu dưới ánh sáng của  Tin Mừng. Vì trong thực tế, có nhiều sự đổi mới chẳng đi đến đâu, mà  có khi còn gây xáo trộn. Đổi mới không có nghĩa là bỏ cái cũ đi để đưa cái mới vào. Trong cuốn “Những lá thư của Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô I” (vị Giáo Hoàng với nụ cười bất hủ, chỉ ở ngôi vị GH có 33 ngày), trong lá thư viết gửi Giám Mục Félix Dupanloup (tưởng tượng thôi, vì vị này sống ở đầu tk XIX) ngài dùng câu chuyện cổ Ấn Độ A-la-đin và cây đèn thần để minh hoạ cho lời cảnh báo đừng vội chạy theo cái mới, chuyện thế này: người vợ của A-la-đin chỉ vì nhẹ dạ, cả tin vào lời rao “đổi đèn mới lấy đèn cũ” của tên phù thuỷ gian manh, ra vẻ làm một việc rất tốt, nhưng thực ra đó là một trò gian lận. Trong lúc chồng đi vắng, bà đã đem cây đèn cũ,mà bà không biết cái giá trị của nó, trao cho tên phù thuỷ để lấy những cây đèn mới. Chỉ đến khi đem sử dụng, bà ta mới biết mình bị lừa, những cây đèn mới toanh, óng ánh, nhưng thực ra vô giá trị (bản in ronéo trang 96).Câu chuyện cây đèn thần không chỉ có trong truyện cổ tích, mà cả trong  thực tế vẫn thường xảy ra .Gần đây nhất, người ta bàn luận nhiều về tác phẩm Mật mã Da Vinci, như thể những kẻ muốn phá Giáo Hội đã dùng nó như một vũ khí để lung lạc đức tin, bằng những quảng cáo đầy quyến rũ, lý luận hấp dẫn, khiến nhiều người bị hoang mang, tưởng đây là một khám phá mới . Đó chẳng phải là vì đời sống đạo thiếu nền tảng, không hiểu gì về Tin Mừng, hoặc chỉ biết lơ mơ, bằng lòng với mớ kiến thức kinh bổn thời ấu thơ hay sao? Nếu ham thích Lời Chúa, chuyên cần học hỏi Kinh Thánh, ít là bốn sách Tin Mừng, thì có nhìn thấy cuốn Da Vinci cũng chẳng thèm cầm lấy chứ đừng nói chi là mất thời giờ để đọc. Và còn biết bao chuyện trước mắt khiến chúng ta bị hoang mang chao đảo giữa cũ và mới.

Tin Mừng Lu-ca cho chúng ta một gương mẫu “đổi mới bản thân”, đó là câu chuyện ông Da-kêu ở chương 19. Cuộc gặp gỡ Đức Giê-su khiến ông đổi mới bản thân cách triệt để, một sự lột xác hoàn toàn. Khởi điểm chỉ là một sự tò mò (c.3 ). Nhưng chúng ta đừng nghĩ đơn giản, để thoả mãn óc tò mò, ông đã phải can đảm tạm quên đi cái địa vị xã hội, thân phận giàu sang của mình, để làm một trò cười cho công chúng, là leo lên cây sung chỉ để nhìn thấy Đức Giê-su (c.4), và khi Đ.Giê-su nhìn lên, gọi ông xuống và ngỏ ý muốn tạm trú tại nhà ông, thì “được lời như cởi tấm lòng”, ông mừng quýnh tíu tít như đứa trẻ thấy mẹ đi chợ về. Thái độ đó làm cho những kẻ đứng đắn, đạo mạo,nghiêm túc không sao chịu nổi, họ bắt đầu phê phán ông (c.7), nhưng mặc kệ, ông chẳng bận tâm, có Chúa là có tất cả. Ông quyết định đổi đời bằng những việc làm cụ thể: cho đi cách quảng đại, đền trả những bất công (c.8 ). Chính vì thế ông đã tức khắc nhận được ơn cứu độ  hay nói cách khác, ơn cứu độ đã đến với ông trong cái “hôm nay” của lộ trình sống đạo, của sự đổi mới tận căn: “hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này (c.19 ). Hành động của ông Da-kêu khiến chúng ta phải suy nghĩ và học nơi ông nhiều bài học. Thư MV mời gọi chúng ta đổi mới bản thân, thì như ông Da-kêu, không thể đổi mới nếu không gặp gỡ Chúa Giê-su. Nhưng để gặp được Chúa thì cái khởi điểm thật là quan trọng, chúng ta có quá nhiều lý lẽ để không dám thực hiện những ước vọng tốt đẹp, chúng ta sợ người khác phê phán, sợ mất uy tín, vì chúng ta có địa vị, có chút tiếng tăm, chúng ta không dám ra khỏi chính mình để nhìn nhận những thiếu sót, những sai lầm trong lối suy nghĩ cũng như hành động. Ông Da-kêu biết rõ cái giới hạn của mình, ông can đảm vượt qua cái giới hạn ấy, đó là khởi điểm, phần còn lại Chúa làm: Chúa nhìn ông , cái nhìn yêu thương mời gọi  và ông thực sự gặp gỡ Chúa đồng thời việc đổi mới bản thân được thể hiện tức khắc.

Tin mừng Lu-ca là tin mừng của hành động yêu thương.

 Khi thầy thông luật hỏi Đức Giê-su: “tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp” (Lc10,25). Đức Giê-su đã không đưa ra một chương trình to tát cho ông ấy, Người chỉ đưa ra dụ ngôn về một người Sa-ma-ri đã dám vượt  lên trên những xung khắc, những rào cản về tôn giáo, chính trị để thể hiện lòng yêu thương đến mức tối đa, không tính toán (c. 35). Người Sa-ma-ri đã làm một việc mà thầy tư tế và bác lê-vi đã “khôn ngoan” né tránh, vì không muốn “ách giữa đàng lại quàng vào cổ”, vả lại các bố còn nhiều công việc quan trọng có tên có tuổi, lẽ nào lại để mất thời giờ vào cái việc vô danh này sao. Đoạn Tin Mừng này xoay quanh từ “làm” ,và hai lần Chúa Giê-su nói: “cứ làm như vậy”. Đời sống đạo phải được thề hiện qua những việc làm mà thư Mục vụ gọi là “dấn thân phục vụ”. Đây là trọng điểm của thư Mục vụ, và đối tượng phục vụ là ai thì thư đã nói rõ, đó là những người nghèo khổ: nghèo kiến thức, nghèo vật chất, nghèo tình thương, nghèo niềm hy vọng, nghèo hạnh phúc…(số 6 ). Nói thì dễ, nhưng thực hành rất khó, vì trong thực tế, chúng ta thường chỉ đến với những người nghèo nào có đủ tiêu chuẩn do chúng ta tự đặt ra, điều này thật sai lầm, vì lúc ấy người nghèo trở thành phương tiện để chúng ta “thực hành nhân đức”. Người Sa-ma-ri đã không làm vậy. Trong cuốn “ Đường hay pháo đài” giáo sư Nguyễn Ngọc Lan đã dựa trên dụ ngôn này để xây dựng một lý tưởng sống đạo: “Đạo là đạo làm, anh làm được gì cho tôi, tôi làm được gì cho anh. Cho ăn, cho uống, cho mặc, tiếp đón, thăm viếng, gặp gỡ, hay làm tất cả những gì không thể định trước được, để đáp ứng những nhu cầu bất ngờ nhất trên đường, giữa cuộc sống…”(sđd trang 214). Chắc hẳn thầy tư tế và bác lê-vi cũng luôn giảng dạy cho dân về đức bác ái, các ông thuộc bài hơn ai hết, nhưng với thân phận cao quý của mình, các ông đã “tránh qua bên kia mà đi” (c.31.32).Để sống đạo theo Tin Mừng, bắt buộc ta phải ra khỏi cái tôi của chính mình, ra khỏi cái tháp ngà, khỏi mọi thứ pháo đài, thì mới có cơ hội gặp gỡ tha nhân mà hiện thực được, đức bác ái không cho phép dừng lại ở mức độ nào cả.

Nếu đời sống đạo là một mớ những luật lệ, những quy định cứng ngắc, thì tôi chẳng động gì đến ai, chẳng làm hại ai. Nhưng Tin Mừng Lu-ca còn cho thấy thái độ dửng dưng cũng bị lên án. Câu chuyện người phú hộ và La-da-rô. Ông nhà giàu không có một hành động nào làm hại La-da-rô, ông xài toàn hàng hiệu, tiệc tùng liên tục, đó là quyền của ông, vì ông kiếm ra tiền bằng tài năng của ông. Nhưng cái tội của ông là dửng dưng trước cảnh đói khổ của đồng loại. Câu chuyện kết thúc thật có hậu (x. Lc 16,19-31 ).

Tin Mừng Lu-ca và đời sống cầu nguyện.

Tin Mừng Lu-ca khởi đi từ khung cảnh trang nghiêm của nơi Cực Thánh trong đền thờ (x. Lc 1,8tt ), và kết thúc với tâm tình hoan hỷ chúc tụng Thiên Chúa của các Tông Đồ cũng trong Đền Thờ (x.Lc 24,52-53 ). Vì thế có thể nói Tin Mừng Lu-ca được bao trùm bằng tinh thần cầu nguyện. Cuộc đời rao giảng của Chúa Giê-su được chìm ngập trong bầu khí cầu nguyện. Ngay từ khởi đầu sứ vụ,  trong lúc Người cầu nguyện sau khi chịu phép rửa, trời mở ra và Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên Người, đồng thời Chúa Cha tuyên phán về Người (x. Lc 3,21-23 ). Trước những quyết định quan trọng Chúa Giê-su luôn cầu nguyện, như trước khi chọn mười hai Tông Đồ, Người đã thức suốt đêm để cầu nguyện cùng Thiên Chúa (Lc 6,12 ). Chúa Giê-su đã khơi dậy ý thức cầu nguyện nơi các môn đệ khi làm gương cho họ để rồi chính các ông ngỏ lời xin Chúa dạy cách cầu nguyện (x. 11,1-4 ).

Nếu tiếp tục đọc, tác giả Lu-ca sẽ cho chúng ta chiêm ngưỡng đời sống cầu nguyện của Chúa Giê-su trong suốt sách Tin Mừng, trong biến cố hiển dung chỉ có Lu-ca nói Chúa biến hình đang lúc Người cầu nguyện (Lc 9,29. ss Mt 17,2;  Mc 9,2 ), cũng chỉ Lu-ca nói tới lời Chúa hứa sẽ cầu nguyện cho Th. Phê-rô để ông khỏi mất lòng tin (x. Lc 22,32 ) và trong vườn cây dầu, lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trở nên khẩn thiết đến độ mồ hôi như những giọt máu rơi xuống đất (c.44 ). Lời cầu nguyện cuối cùng trên thập giá chỉ có Lu-ca ghi lại: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” .

Qua Tin Mừng Lu-ca, Chúa Giê-su vừa nêu gương cầu nguyện,vừa dạy chúng ta phải cầu nguyện.Vì thế, đời sống đạo không thể thiếu cầu nguyện, nếu thiếu cầu nguyện, đời sống Ki-tô hữu một lúc nào đó sẽ mất căn tính, vì cầu nguyện được ví như cá cần nước, con người cần oxy để thở (Giờ cầu nguyện…, tài liệu Khánh nhật truyền giáo 2006/tr.27 ).

Thư Mục vụ nhắc lại trong phần III: Đời sống cầu nguyện không miễn trừ một ai, dù là giám mục, linh mục, tu sĩ  hay giáo dân, phải đảm nhận như là một trách nhiệm. Đức Hồng y P.X. Nguyễn văn Thuận còn nói rõ hơn trong cuốn “Niềm vui sống đạo thế kỷ 21”: nguy hiểm lớn nhất là chúng ta quên cầu nguyện, đôi khi vì quá ham hoạt động, hoặc vì quá lo vận động, mưu mô quyền thế…Cầu nguyện là thể hiện cuộc sống Thiên Chúa Ba Ngôi ban cho chúng ta trong bí tích Rửa tội; cầu nguyện là nuôi dưỡng lòng yêu thương người bên cạnh mình. Và ngài nhắc lại một câu trong cuốn ĐHV : “Hoạt động không cầu nguyện là vô ích trước mặt Chúa”(sđd tr.148)

Không cầu nguyện tất cả những việc làm chỉ mang tính phô trương, đây là một căn bệnh phổ biến nhất mà ĐHY gọi là bệnh phô trương chiến thắng, một trong thập đại bệnh khiến Giáo Hội không phát huy được nét tích cực của mình, ngài minh hoạ bằng một hiện tượng rất hay gặp, đặc biệt nơi những giáo xứ toàn tòng: “Thỉnh thoảng đây đó đọc trên những bản tin sinh hoạt cộng đoàn thật nức lòng: Đại lễ tổ chức vô cùng thành công, cuộc rước kéo dài cả nửa cây số, hàng chục cha đồng tế, bữa tiệc kết thúc thật linh đình, bà con vô cùng hoan hỷ, chưa bao giờ có ai tổ chức được lớn như thế…Nhưng hết tiệc rồi ra về là hết. Đại lễ hôm qua, hôm nay thành quá khứ xa lơ. Cảm xúc hôm qua, hôm nay gọi mãi chẳng thấy về…Ta bảo làm sáng danh Chúa, nhưng xét cho kỹ Chúa mấy phần trăm, ta mấy phần trăm?(sđd tr.69) . Trong thực tế, có người tự đánh giá một công trình tập thể là của mình 60 % .Có những linh mục chỉ lao vào việc trang trí, xây dựng đến chóng mặt, như sợ rằng  cuộc sống ngắn ngủi không kịp làm hết những công trình để “sáng danh Chúa” , hoặc ngài muốn để lại di sản và chứng tích ( xin được gọi tắt là di-chứng), hầu mọi thế hệ sau phải ghi nhớ, rồi nay tổ chức tiệc mai tổ chức tiệc, một trăm lý do để ăn mừng. Như thế thì còn đâu thời giờ để cầu nguyện. Chỉ cần quan sát đời sống tương quan, cung cách cử hành phụng vụ hoặc nghe những bài giảng, là có thể đánh giá đời sống cầu nguyện của một linh mục.

Thư Mục vụ cũng nhắc nhở trách nhiệm của các gia đình về đời sống cầu nguyện, người viết bài này cũng có một chút kinh nghiệm về những vấp ngã trong đời sống thiêng liêng, những thất bại trong việc tông đồ, những xáo trộn trong đời sống gia đình…chỉ vì sao nhãng cầu nguyện. Hơn bao giờ hết, tôi xác tín giờ Kinh Sáng đem lại cho bản thân mình thật nhiều ích lợi, nó là sức sống cho cả một ngày làm việc. Còn giờ Kinh Tối giúp cho gia đình vượt qua những  sóng gió, hàn gắn mau chóng những bất hoà giữa các thành viên trong gia đình.

Đức Ma-ri-a và đời sống đạo

Để kết thúc bài viết này, tôi muốn chia sẻ một tâm tình của tôi về lòng tôn kính Đức Mẹ.Trong bốn Tin Mừng, chỉ có Th. Lu-ca cho ta biết nhiều về Đức Ma-ri-a, các tác giả khác nói rất ít hoặc với dụng ý  riêng, như Th. Gio-an chỉ ghi lại hai lần Đức Ma-ri-a hiện diện, ở  Cana và dưới chân thập giá (x.Ga 2,1-5 và 19,25-27). Để sống đạo hôm nay, chúng ta phải học với Đức Ma-ri-a thái độ đón nhận lời Chúa, sẵn sàng để Chúa hành động (x.Lc 1,38) ; mau mắn đem Chúa đến cho anh em, nhiệt tình phục vụ tha nhân (c.39. 56)  . Tôi không có thói quen lần chuỗi thường xuyên, đây là một thiếu xót mà tôi chưa tập được thói quen này. Tuy nhiên không làm việc gì mà tôi không cầu xin với Đức Mẹ, những lớp giáo lý mà tôi hướng dẫn tôi luôn phó thác cho Đức Mẹ, đặc biệt là các anh chị em dự tòng. Tôi cảm nhận được sự che chở của Đức Mẹ trong cuộc đời tôi .Tôi không dám coi thường  những biến cố xảy ra ở mọi nơi và mọi thời, nhất là những biến cố mà Giáo Hội đã ngưỡng mộ. Nhưng dù sao, hình ảnh Đức Ma-ri-a trong tiệc cưới Ca-na và dáng điệu vội vã trên đường đến nhà bà Ê-li-sa-bét , quá đủ cho tôi yêu mến và học cách  sống đạo nơi Mẹ Ma-ri-a.

Phê-rô Nguyễn Tuấn Hoan, An Lạc ngày 10-10-2006

Theo Sứ mạng chuyên đề 07