|
ĐỔI MỚI LÒNG TÔN SÙNG KÍNH MẾN ĐỨC MẸ NƠI NGƯỜI GIÁO DÂN VIỆT NAM
1- LÒNG KÍNH MẾN ĐỨC MẸ NƠI NGƯỜI GIÁO DÂN VIỆT NAM. Trong phần trình bày hôm nay, tôi muốn chia sẻ một vài ý nghĩ đơn sơ, hầu dẫn tới những đổi mới về việc tôn sùng kính mến Đức Mẹ nơi chúng ta, những người giáo dân Việt Nam. Trong một cuộc di tản, chiếc ghe đánh cá thì nhỏ mà số người chen chúc trên đó lại thật đông. Vì thế ông chủ ghe ra lệnh cho mỗi người chỉ được đem theo một chiếc xắc tay nặng vài kýlô mà thôi, bởi đó phải vứt bỏ tất cả và chỉ giữ lại những gì là quí giá và cần thiết mà thôi. Có một thiếu phụ trẻ tay ôm một vật gì có vẻ bí mật. Người ta hỏi chị : - Có phải là đứa con đau nặng. Chị trả lời : - Không, đó là bức tượng Đức Mẹ bằng gỗ, mà chồng chị, một người ngoại trở lại, đã tạc ra cho chị. Phải chăng câu chuyện trên là một câu chuyện tiêu biểu cho lòng tôn sùng kính mến Đức Mẹ của chúng ta. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người giáo dân Việt Nam vẫn luôn luôn gắn bó với Mẹ. Và dù có mất đi tất cả, thì người giáo dân Việt Nam cuối cùng vẫn ngước trông lên Mẹ như tìm một ánh sao hy vọng, bấu víu vào Mẹ như vào một chiếc phao cứu cấp. Người giáo dân Việt Nam, qua lịch sử đã dành cho Mẹ những tình cảm trìu mến, và Mẹ đã có một địa vị một chỗ đứng trong cuộc sống riêng tư, cũng như trong những sinh hoạt đạo đức cộng đồng. Đây cũng là điều dễ hiểu vì tâm lý người con thường dễ qui hướng về người mẹ, đồng thời nghĩ về người mẹ bao giờ chúng ta cũng cảm thấy một cái gì êm đềm và dịu ngọt. Chạy đến với người mẹ bao giờ chúng ta cũng tìm thấy được sự nâng đỡ và ủi an. Người giáo dân Việt Nam chúng ta có thể hãnh diện vì là những người con luôn yêu dấu và gắn bó với Mẹ Maria cũng như đã dâng hiến cho Mẹ một lòng tôn kính sâu xa. Cứ mỗi chiều thứ bảy, chúng ta hãy đến những trung tâm hành hương của Mẹ như Fatima Bình Triệu, như dòng Chúa Cứu Thế, chúng ta sẽ thấy được biết bao nhiêu người con đang thành tâm kêu khấn Mẹ. Biết bao nhiêu nhà thờ, biết bao nhiêu giáo xứ đã được dâng kính Mẹ và chọn Mẹ làm bổn mạng để xin Mẹ nâng đỡ chở che. Nhà thờ lớn Hà nội đã được cung hiến cho Mẹ với bức tượng Mẹ bồng Chúa trên tay. Vương cung thánh đường Saigòn cũng đã được dâng hiến cho Mẹ với bức tượng Mẹ là Nữ Vương Hòa Bình, tay ôm trái địa cầu nhỏ bé của chúng ta. Biết bao nhiêu nghệ sĩ đã phô diễn vẻ đẹp của Mẹ, một vẻ đẹp tinh khiết mang màu sắc Á đông với những đường nét dịu dàng trên khung vải cũng như trên những bức tượng nghệ thuật. Biết bao nhiêu nhạc sĩ đã ca tụng Mẹ bằng những bản thánh ca tuyệt vời, và những bản thánh ca tuyệt vời ấy luôn sống mãi trong tâm khảm chúng ta. Biết bao nhiêu thi sĩ đã ngợi khen Mẹ bằng những lời thơ bất hủ, những lời thơ bất hủ ấy đã từng đi vào văn học sử như trường hợp của Hàn Mặc Tử… Tóm lại, người giáo dân Việt Nam chúng ta luôn yêu mến và gắn bó với Mẹ. Đồng thời Mẹ luôn có mặt trong đời sống riêng tư cũng như trong mọi hoàn cảnh của lịch sử để nâng đỡ ủi an. Tới đây, tôi muốn nói tới một hoàn cảnh đặc biệt, đó là trường hợp của La vang. Vào năm 1789, đời vua Cảnh Thịnh, đã xảy ra những vụ bắt bớ dữ dội, nhất là miền Thừa Thiên và các vùng phụ cận về hướng bắc như Quảng Trị, Quảng Bình. Người giáo dân phải chịu nhiều đau khổ về tinh thần cũng như về vật chất. Máu các vị anh hùng tử đạo đã nhuộm thắm trên quê hương. Người giáo dân ba tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị và Quảng Bình ngày đêm bị truy nã. Họ phải cúi đầu lãnh nhận những hình phạt nặng nề và dã man nhất để giữ vững đức tin. Giữa cảnh đen tối ấy, các linh mục phải cải trang, các tín hữu phải bồng bế nhau tìm đường lẩn trốn. Cách đồn Quảng Trị hơn 6 cây số, nơi rừng thiêng nước độc. Các tín hữu vùng Cổ Vưu đã đưa nhau vào đó hầu mong thoát khỏi tầm truy nã của quan quyền. Họ bắt đầu khai khẩn đất đai, vùi khoai trồng sắn, làm thành một xóm nhỏ, sống âm thầm trong nước mắt và lời nguyện cầu tha thiết. Như thường lệ một buổi tối, họ tụ họp nhau nơi đồng cỏ, dưới gốc một cây đa để than van, kêu xin Mẹ phù giúp cho chóng qua cơn nguy khốn. Bỗng nhiên, Đức Mẹ hiện ra, tay bồng Chúa Hài nhi, có hai thiên thần cầm đèn lồng đi theo hầu. Dựa vào truyền khẩu thì Đức mẹ đã an ủi khích lệ các tín hữu, đồng thời truyền dạy hái lá cây xung quanh, nấu lên làm thuốc để uống. Và rồi Mẹ đã phán : - Kể từ nay về sau, hễ ai chạy đến kêu cầu Mẹ tại chốn này, thì Mẹ sẽ nhận lời và ban ơn theo ý nguyện của họ. Sau khi cuộc bách hại chấm dứt, La vang đã trở nên một trung tâm hành hương, tôn sùng kính mến Đức Mẹ. Một ngôi thánh đường đã được dựng lên, đánh dấu ngày Giáo Hội Việt Nam trưởng thành : khi mà hàng giáo phẩm được thiết lập trên toàn lãnh thổ. Kinh nghiệm La vang cũng là kinh nghiệm chung của toàn thể Giáo Hội. Ngay sau khi Chúa Giêsu về trời, thì Mẹ đã có mặt giữa các tông đồ để khai sinh ra Giáo Hội. Và mỗi khi Giáo Hội gặp phải gian nguy thử thách, thì Mẹ liền có mặt để ban ơn trợ giúp, để người giáo dân được kiên vững trong niềm tin của mình. Cho dù La vang ngày nay đã bị chiến tranh tàn phá, thì lòng tôn sùng kính mến Đức Mẹ sẽ không bao giờ bị tàn phai trong tâm tư người giáo dân Việt Nam.
2. ĐỔI MỚI LÒNG TÔN SÙNG KÍNH MẾN ĐỨC MẸ. Thế nhưng, nếu suy nghĩ và đánh giá cho đúng đắn, chúng ta sẽ thấy lòng sùng kính ấy dựa nhiều trên tình cảm hơn là lý trí, có tính cách bộc phát hơn là suy luận, vì thế nó cũng có thể đem lại những trạng thái lệch lạc, và rất dễ rơi vào cái tình trạng mê tín. Bởi đó, việc đầu tiên chúng ta phải làm để canh tân lòng tôn sùng kính mến của chúng ta, đó là hãy học hỏi về Mẹ. Thực vậy, chúng ta thường nói : Vô tri thì bất mộ, không biết thì không thể nào yêu mến. Và muốn biết, nhất là muốn biết một cách đúng đắn, thì chúng ta phải tìm tòi, phải học hỏi. Những sự tìm tòi và học hỏi ấy phải dựa trên Kinh Thánh, cũng như dựa trên Công Đồng. Với hiến chế “Ánh sáng muôn dân”, Công Đồng Vatican II đã đưa ra một cái nhìn tổng hợp về Mẹ Maria, đã nói lên vai trò của Mẹ trong mầu nhiệm Đức Kitô và Giáo Hội. Đó cũng chính là chủ đề mà Đức Thánh Cha muốn chúng ta đào sâu. Thực vậy, Đức Thánh Cha đã viết : mỗi người phải đọc lại và đào sâu những gì Công Đồng dạy về Đức Trinh Nữ Maria. Mẹ Thiên Chúa, trong mầu nhiệm của Đức Kitô và của Giáo Hội mà thông điệp nói đến. Có tìm hiểu cho thấu đáo, chúng ta mới có được những quan niệm đích thực về Mẹ. Và từ những quan niệm đích thực ấy, chúng ta mới tránh đi được những lạm dụng và những thái quá trong việc tôn sùng kính mến Đức Mẹ. Việc thứ hai chúng ta cần phải làm để đổi mới lòng tôn sùng kính mến Đức Mẹ, đó là hãy noi gương bắt chước các nhân đức của Mẹ. Thực vậy, phải thẳng thắn mà nói rằng : những sinh hoạt đạo đức chúng ta dùng để biểu lộ những tình cảm của chúng ta đối với Đức Mẹ, nhiều khi mang nặng tính cách hời hợt bên ngoài, nó chú trọng đến phần trình diễn hơn là biểu lộ những tình cảm chân thành chất chứa tự bên trong : nào là rước kiệu, dâng hoa, hay thánh ca… Dĩ nhiên, những hình thức này đều có giá trị riêng của nó, nhưng nếu chúng ta chỉ chạy theo hình thức mà thiếu vắng tinh thần, thì thật là tai hại như người xưa vốn thường bảo “ post Festum pestum” sau ngày lễ lớn là cơn dịch hạch. Sau những ồn ào náo nhiệt là nỗi trống vắng thê thảm. Theo tôi nghĩ, cách biểu lộ những tình cảm trung thực nhất là hãy noi gương bắt chước các nhân đức của Mẹ. Người ta kể lại vào năm 1898 có một cuộc hải chiến xảy ra tại vịnh Manila. Giữa lúc giao tranh trở nên ác liệt nhất, thì người ta thấy một chàng thủy thủ nhảy xuống biển chỉ để vớt chiếc áo mà anh vừa đánh rơi. Khi cuộc chiến đấu kết thúc, anh đã bị truy tố và bị đưa ra tòa án quân sự. Anh đã bị kết án nặng nề : khổ sai chung thân, vì đã dám đào ngũ, dám rời bỏ phòng tuyến của mình giữa lúc tình hình trở nên nghiêm trọng như thế. Trước khi đẩy anh vào thế giới tù ngục, viên chánh án đã hỏi : - Bị can có muốn biện hộ hay nói lên một điều gì hay không ? Lúc bấy giờ, chàng thủy thủ rút ra từ túi áo một tấm hình và nói : - Đây là tấm ảnh mẹ tôi, không gì trên trần gian này có thể làm cho tôi xa cách. Bằng mọi giá, cho dù phải chết, tôi vẫn sẵn sàng nhảy xuống biển, vớt chiếc áo để lấy lại tấm ảnh của mẹ tôi trong đó. Phòng xử bỗng dưng im phăng phắc. Một lúc sau viên chánh án mới đứng lên và dõng dạc tuyên bố : - Thưa quí vị, đây mới thực là một người can đảm. Vì khi người ta dám liều mạng sống để bảo vệ tấm hình của người mẹ, thì người ta cũng có dư can đảm để bảo vệ quê hương đất nước. Vì thế, tôi tuyên bố tha bổng cho anh, và kể từ giây phút này, anh được tự do. Câu chuyện trên làm cho tôi tự hỏi : có bao giờ chúng ta nghĩ rằng chúng ta cũng có một tấm hình của Mẹ Maria, không phải chỉ là một tấm hình bằng vải hay bằng giấy, nhưng là một tấm hình sống động, được ghi khắc vào tâm hồn chúng ta. Điều quan trọng là chúng ta phải biết bảo vệ và gìn giữ tấm hình ấy, đừng để cho nó bị lu mờ, bị hoen ố bởi tội lỗi. Thế nhưng, gìn giữ bảo vệ mà thôi chưa đủ, chúng ta còn phải cố gắng để trở nên giống Mẹ trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời. Có bao giờ chúng ta đã quan sát một nhà họa sĩ hay một ông thợ tượng ? Trước mặt họ là hình mẫu của người họ định vẽ hay định tạc. Họ nheo mắt ngắm nghía để tìm ra những đường nét đặc thù, rồi họ bắt đầu làm việc. Nào bôi phết, nào tẩy xóa, nào đẽo gọt, từng đường nét một, để rồi cuối cùng khi tác phẩm hoàn tất, nó không phải chỉ giống với hình mẫu, mà còn toát ra được một vẻ sống động và nghệ thuật. Là những người con của Mẹ, chúng ta hãy trở nên giống Mẹ. Nếu chúng ta bị lung lay về đức tin ư ? Hãy chiêm ngắm Mẹ đang quỳ gối trước máng cỏ Bêlem : Một hài nhi yếu đuối thế mà Mẹ tin rằng đó là chính Thiên Chúa, đã viếng thăm và cứu chuộc dân Ngài. Nếu chúng ta bị cám dỗ về đức trong sạch ư ? Hãy nhìn ngắm Mẹ trong hoạt cảnh truyền tin với lời Mẹ thưa lên cùng sứ thần : Việc đó xảy đến thế nào được vì tôi không biết đến người nam. Mẹ chính là một bông huệ trắng dâng lên trước tôn nhan Thiên Chúa. Nếu chúng ta bị bạc bội, buồn phiền do những người chung quanh gây nên ư ? Hãy nhìn ngắm Mẹ tận tụy giúp đỡ bà Isave dưới mái nhà Ann Karim, cũng như hết tình giúp đỡ đôi tân hôn trong tiệc cưới tại Cana. Nếu chúng ta gặp phải những đau khổ và thử thách ư ? Hãy nhìn ngắm Mẹ âm thầm đứng dưới chân thập giá vào buổi chiều ngày thứ sáu Tuần thánh. Chúng ta không phải là những nhà họa sĩ để ghi lại hình ảnh Mẹ trên khung vải. Chúng ta cũng không phải là những ông thợ tượng để ghi lại hình ảnh Mẹ trên miếng thạch cao… Nhưng tất cả chúng ta đều có thể và phải khắc ghi những mẫu gương, những nhân đức của Mẹ vào trong tâm hồn chúng ta. Muốn được như vậy thì trước mỗi công việc, chúng ta hãy tự hỏi : - Ở vào hoàn cảnh của tôi, thì Mẹ sẽ nói năng, sẽ hoạt động như thế nào ? Hãy nhìn lên Mẹ và hãy uốn nắn bản thân và cuộc đời chúng ta theo như cái tiêu chuẩn, cái khuôn mẫu của Mẹ. Đó cũng là điều Đức Thánh Cha mong muốn nơi chúng ta trong Năm Thánh này. Ngài viết : không những chúng ta chỉ nói đến giáo lý đức tin mà còn nói đến đời sống đức tin, nghĩa là nói đến đường tu đức Thánh Mẫu đích thực, theo ánh sáng của truyền thống và nhất là theo ánh sáng đường lối tu đức được Công đồng khuyến khích. Một người mẹ hẳn sẽ vui mừng khi nhìn thấy đứa con có những nét giống mình. Từ chiếc răng khểnh đến nụ cười má lúm đồng tiền. Từ giọng nói thanh thanh đến dáng đi lạch bạch… Mẹ Maria cũng thế, hẳn Mẹ sẽ vui mừng khi nhìn thấy tâm hồn chúng ta có những đường nét nhân đức giống như Mẹ. Đó là cách thức làm cho Mẹ được hài lòng. Đồng thời cũng là cách thức biểu lộ lòng tôn sùng kính mến của chúng ta đối với Mẹ, vừa sâu xa lại vừa có ý nghĩa nhất. Lm. Fx. Mai Hoàng
|