|
Miếng vá
Trong một lần cá cược, Thạch Sùng đã thua đối thủ của mình chỉ vì thiếu một manh áo vá. Buồn bực, uất ức khi tài sản tiêu tán, Thạch Sùng chết đi hoá thân thành con thằn lằn, đêm đêm tắc lưởi tỉ tê lời tiếc nuối. Câu chuyện truyền khẩu về sự tích con thằn lằn, hay thạch sùng, đã đem manh áo vá quàng vào kho tàng truyện cổ. Hình ảnh quen thuộc của dân gian Việt Nam bần hàn, lam lủ một nắng hai sương bên nương khoai, đồng lúa sẽ thiếu sót rất nhiều nếu vắng bóng những chú mục đồng, trong manh áo vá, ngất ngưởng trên lưng trâu, tay cầm chiếc sáo tre, chuyễn thổi hơi thở thành âm thanh dìu dặt của thanh bình, như một ước mơ. Miếng vá, xuất hiện từ rất lâu trong dân gian và trong tôn giáo. Ở Á Châu, người ta thấy những miếng vá làm thành chiếc mủ ni ( Diadem) của những Lạt-ma trong các Thiền viện, hay là tấm áo khoác ngoài của chư ta(ng Phật Giáo. Gần đây nhất, những miếng vá, tapestries, đã xuất hiện ở châu Mỷ La Tinh như một dụng cụ đấu tranh thầm lặng. Tài liệu lịch sữ còn ghi lại, thời tướng Augusto Pinochet ( 1973 - 1989), nhà độc tài gieo đau thương cho dân tộc Chi Lê với những cuộc bắt bớ, thanh trừng, thủ tiêu đẫm máu. Junta, lực lượng vỏ trang của chính quyền, đã bao vây dân chúng bằng những bức màn sắt chặt chẻ, hòng kiểm soát tối đa hành động của dân chúng, nhằm chặn đứng các cuộc nổi dậy đòi tự do. Trong chế độ sắt máu đó, rất nhiều người mất tích. Những người đàn ông mất dần trong sinh hoạt hằng ngày, các phụ nữ phải thay thế, vừa đảm trách công việc nuôi sống gia đình, vừa lo âu tìm kiếm những người chồng, người cha của họ, mà giờ đây không biết ở nơi nào, sống chết ra sao. Dần dà, tình yêu thương mãnh liệt thôi thúc họ hợp lại với nhau, từng nhóm nhỏ, để nương tựa nhau mà thực hiện những cuộc truy tìm người thân mất tích, trong âm thầm. Những phụ nữ chân yếu, tay mềm, cô thân, cô thế, đã nghĩ ra một cách: Bằng khả nang tầm thường của họ, họ bắt đầu làm những tấm thảm mỹ thuật kết tay từ những manh vải vụn. Với vật liệu thô sơ sẳn có và tài khéo léo của họ, những miếng vá đó đã thành những thành phẩm thủ công xinh đẹp, vừa có thể bán để sinh nhai, vừa gói ghém được cả tấm lòng yêu thương của họ trong từng đường kim mũi chỉ, gỡi đến người thân nơi nao. Họ bắt đầu kể chuyện của họ, của gia đình họ trong từng miếng vá. Mỗi đường khâu đã chuyễn đi tất cả nỗi lòng yêu thương, đau khổ, mất mát hay hân hoan. Và một phong trào mới, bắt đầu bùng dậy ở Chi Lê (*) Những phụ nữ Chi Lê đã sữ dụng những mảnh vải vụn để ghép thành một đồ biểu nào đó khả dĩ chuyễn tải đến người thân của họ những lời nhắn nhủ, hay cách thế liên lạc tìm ra tung tích nhau. Những mảnh vụn đời thường hôm nay, nếu được sắp xếp cách nào đó, vẫn có thể trở thành một biểu đồ tâm linh, khả dĩ giúp con người nhận ra những ẩn dấu trong cuộc sống, nhìn lại chính mình, tìm lại được những gì đã mất trong hành trình Đức Tin. Những đường khâu, khéo hay vụng, nếu được hướng dẫn bởi lòng yêu thương chân thành, như Đức Kitô, vẫn vẽ lại được lối đi tìm kiếm Thiên Chúa của mỗi người, vẫn có thể giúp người khác, những người cùng đi trên một hướng đường mà Thầy Giêsu đã, và vẫn đang, mời gọi: Hãy theo Thầy ! Những miếng vá, đôi khi thô sơ mộc mạc, được kết từ những biến cố đã qua, không phải là trò đùa, nhưng là sức sống mới, bùng dậy làm đổi thay cuộc sống. (*) Trích từ tài liệu của Ena Burbano, History Of Arpilleras, York University 2001 Mai Hoa Tháng 5, 2005 |