TÌM RA CĂN CƯỚC
CHO ĐƯỜNG TU ĐỨC VIỆT
Năm 1986 khi hành hương sang Do Thái , tôi có dịp chứng kiến cảnh những đứa trẻ Do Thái khoảng 12 tuổi được cha mẹ đưa từ những nước Âu Mỹ về Bức Tường Khóc ở Giêrusalem để đọc bài Kinh Thánh đầu tiên bằng tiếng Do Thái. Cả gia đình rưng rưng nước mắt cảm động vì ngôn ngữ và truyền thống vẫn còn được duy trì và phát huy qua thế hệ con cái chứ không bị ”thằn lằn cụt đuôi”. Bức Tường Khóc này là di tích cuối cùng còn lại của đền thờ bị người Roma tàn phá năm 70. Và khi trở về đây, người Do Thái có cảm nghĩ họ đang trở về nguồn gốc của họ, tìm lại được căn cước, được bản sắc của mình. Dù có sinh sống ở bất cứ nước nào, người Do Thái luôn hướng về gốc của họ, và luôn hãnh diện.
CÓ GÌ ĐỂ HÃNH DIỆN?
Lớp người nào xác tín và hãnh diện về nguồn gốc và tinh thần dân tộc mình, lớp người đó có một sức mạnh phi thường và tiến rất nhanh, như Do Thái, Nhật ...
Ngược lại, có những lớp người di dân sống ở Hoa Kỳ mà nếp sống hết sức tồi tệ, chui rúc trong các khu ổ chuột dơ dáy nghèo nàn và đầy tội ác, tinh thần bạc nhược bê bối. Lý do rõ nhất và sâu xa nhất là họ không biết họ là ai, không có gì hãnh diện về nguồn gốc mình. Cũng có thể đầy mặc cảm muốn tìm quên một quá khứ đen tối của cha ông thời nô lệ bị các lái buôn Mỹ mua từ Phi Châu về làm việc cho các đồn điền nông trại!
Năm 1976 khi nước Mỹ kỷ niệm 200 năm độc lập thì một loạt phim với tựa đề ”Roots” của Alex Haley được chiếu trên Tivi. Càng mặc cảm tìm quên nguồn gốc thì sẽ càng khủng hoảng bản sắc hiện tại, và càng tiếp tục sống thấp hèn bệ rạc. Vì với mô thức chiếc lò luyện kim (melting pot) thì tất cả mọi lớp người được vất vào đó để tan biến thành một hợp chất mới. Con người ”Adam mới” này được chú Sam tạo dựng bằng cách thổi hơi đôla vào mũi thì thành một mẫu tiêu chuẩn mang nhãn hiệu Anglo-Saxon với chiếc mũ cao, tay cầm gậy và mặc bộ đồ tuxedo của Brook Brothers. Chứ không mang sắc cầu vồng hay pha giữa trắng đen vàng đỏ. Kể cũng lạ, mà ít người lấy làm lạ.
Sau vài chục năm trong lò luyện kim, không biết lớp người Việt ở Mỹ đang mang trong mình thứ hợp chất gì? Có thể một số người có đồng lương cao hơn, nhà cửa sang hơn, và bồn cỏ ngoài vườn rộng hơn để có việc làm cuối tuần cho bớt trống rỗng. Nhưng rồi cũng đến lúc mỗi người tự hỏi trong thẳm sâu: mình là ai? Có gì để hãnh diện về nguồn gốc và nòi giống mình hay tìm cách quên đi cho chắc ăn vì mặc cảm?
Tình trạng mất căn cước cũng giống như người lái xe mà mất bằng lái. Thành thử ra mỗi người một tiêu chuẩn, một mẫu số, một mẫu sống, một chủ trương, một lý tưởng, một hướng đi. Nhiều người sài căn cước giả mượn đỡ của hãng quảng cáo, của khuôn khổ xã hội được dọn sẵn ở trường học, nơi xưởng thợ. Hậu quả là khủng hoảng và rối loạn.
Cá nhân thì sống qua ngày không lý tưởng, không nghĩa sống, riết rồi sinh xì ke đâm chém ăn chơi... có khi tự tử vì đời sống buồn nôn.
Gia đình thì bắt đầu lủng củng, vì quan điểm về cuộc sống khác biệt giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa thế hệ già và thế hệ trẻ. Mỗi bên đều có lý về lối sống mới của mình, chứ không còn độ rung gì chung với nhau, không còn điểm nào chung để cùng nhìn tới.
Cộng đoàn cũng có thể nhiều lộn xộn. Mỗi người đều lớn tiếng kêu gọi người khác đoàn kết theo mình và đứng sau lưng mình! Mà chẳng có tiêu chuẩn nào hay điểm hội tụ nào để mà cùng qui về.
Từ việc khủng hoảng về căn cước này, người Việt mang mặc cảm:
- Có người thì ”đóng cửa trần gian” hiện tại để chỉ còn tiếc nuối quá khứ, luôn ca tụng quá khứ vang son và lịch sử oai hùng bốn ngàn năm văn hiến! Nhưng niềm tự hào này trở thành hão vì chỉ còn là một thứ đồ cổ trong bảo tàng viện, không còn sinh khí khai sáng hiện tại, và không làm ai xác tín, hãnh diện và hâm mộ.
- Có người thì lại tìm quên. Quên đi quá khứ đau buồn, để theo mới hoàn toàn theo mới không chút do dự. Mặc cảm cả ngôn ngữ cũng cần phải được loại bỏ.
TÌM RA CĂN CƯỚC QUA MỘT ĐẠO SỐNG.
Chính vì ý thức về sức mạnh của niềm xác tín và hãnh diện về nguồn gốc và bản sắc, nên nhiều người đã kêu gọi đi tìm hồn dân tộc, kho tàng văn hiến 4 ngàn năm, dòng sinh mệnh dân tộc, dòng máu anh hùng, tinh thần Việt...
Gia sản tinh thần này như một kho tàng bị chôn vùi lâu ngày, nhiều người đã nỗ lực đào bới mà chưa biết nằm ở đâu, khiến cho con cháu vẫn tiếp tục sống vô hồn, mất hướng và nghèo hèn. Khi một đứa trẻ đi hoang xì ke ma túy thì lỗi một phần cũng có thể là cha mẹ đã không cho nó một con đường nào đi tới, đã không cho nó một xác tín tối thiểu về dòng giống mình, và giá trị của con người mình. Sống trong mặc cảm riết rồi sẽ cảm thấy đời sống chẳng có nghĩa gì với ba chuyện làm ăn kiếm lợi vật chất hiện tại.
Thì nay, thời điểm đã tới. Giáo Hội Công Giáo trong ngày 19.61988 đã khám phá ra kho tàng quí báu gia sản của Việt tộc và đã lấy lời Kinh Thánh mà công khai xác nhận dân tộc Việt với mọi dân tộc trên thế giới:
”Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế hoàng vương, là dân tộc thánh thiện mà Chúa đã chọn làm dân riêng của Ngài” (1Phêrô 29)
Việc phong thánh luôn mang ý nghĩa đề cao một mẫu sống đáp ứng nhu cầu thời đại, chứ các thánh đã ở trên thiên đàng với Chúa đâu có phải được phong thánh thì mới làm thánh hoặc là thánh hơn ra đâu. Mẫu sống đó không chỉ nhằm vào tác động tử đạo bị chém đầu mà ít ai có diễm phúc trải qua, nhưng còn đề cao cả một lối sống để đạt an vui hạnh phúc trong cuộc sống thường ngày. Lối sống đó không lập dị khác thường, nhưng đơn sơ bình lặng. Là con đường dễ nhất và ngắn nhất để đạt hạnh phúc ngay trong bổn phận xây dựng tổ ấm gia đình và liên hệ yêu thương xã hội. Đó là lối sống của cả một dân tộc chứ không chỉ đặc biệt cho một số người có đặc sủng.
Trong thư gửi từ nhà tù cho chủng viện Kẻ Vĩnh ngày 24.3.1857 thánh Lê Bảo Tịnh viết rõ: ”Tử đạo bằng máu quả thật là họa hiếm, Thiên Chúa chỉ ban cho một số ít người: vì là hồng ân hoàn toàn chứ không phải là công nghiệp của ai. Nhưng mà tử đạo bằng ước muốn, bằng tình yêu ... là của hết mọi người. Và cũng có thể là của riêng những người có tinh thần nghèo khó, hiếu hòa và tâm hồn trong sạch. Thành Giêrusalem mới - theo Thánh Kinh - có 12 cửa vào: nếu không vào nổi qua cửa hồng môn, cũng còn những cửa khác đang mở sẵn. Là những lối vào khác nhau, nhưng cùng dẫn về một trung điểm, cùng đưa tới một mục đích là được hưởng Thiên Chúa.”
Việc phong 117 vị thánh Việt Nam lại mang một nét đặc biệt hơn nữa. Giáo Hội muốn giới thiệu cho thế giới đang mệt mỏi rã rời của văn minh máy móc Âu Mỹ và xã hội ”con vật kinh tế” của chủ nghĩa duy vật, một đạo sống rất cận nhân tình, rất đơn giản hợp cho mọi người. Đó là lối sống của cả một dân tộc mà 117 vị là tiêu biểu. Các ngài thuộc mọi hạng người, mọi giai cấp xã hội, mọi nghề nghiệp. Các ngài cũng là người Việt, mang xương thịt và máu huyết Việt như chúng ta.
Nếu trống đồng Đông Sơn là biểu hiệu Việt Đạo ghi dấu văn hóa từ mấy ngàn năm nay, mà vẫn chỉ là một thứ đồ cổ trong bảo tàng viện, thì nay chính Đức Thánh Cha Gioan PhaoLô II đã đánh lên tiếng trống lệnh đầu tiên: tiếng trống quật khởi tinh thần, đào lên cả một kho tàng quí báu gia sản dân tộc do tổ tiên bao ngàn năm tích lũy lại. Đào lên để giới thiệu và cống hiến cho thế giới được chia sẻ sức sống của một dân tộc. Dòng máu anh hùng không còn là dòng khô cứng không sinh khí nữa, mà đang được nóng lên bừng tới trở thành dòng sinh lực chảy tới làm trổ sinh hoa trái cho thế hệ hiện tại dù đang ở trong hoàn cảnh nào đi nữa:
”Cha sẽ tuôn trào nước xuống đất đai khô cằn rạn nứt, và cho suối chảy vào sa mạc hoang vu. Cha sẽ tuôn đổ sinh lực Thánh Thần Cha và ơn lành xuống trên dòng dõi con. Chúng sẽ trổ sinh giữa cánh đồng cỏ xanh tươi như những cây thùy dương bên bờ suối chảy” (Isaia 44:2-4)
Dòng sức sống đã chảy tới từ Nguồn Sống Mặt Trời ngay trọng tâm của mặt trống Đông Sơn dấu tích văn minh Việt Tộc. Sinh lực đã từ nguồn mặt trời chảy xuống thành 14 dòng, diễn tả ”nguồn vui ơn thánh êm đềm dịu dàng, trào tuôn xuống suốt đời con”. Người ta có thể hình dung và so sánh một phần với 7 dòng ơn Thánh Thần và qua 7 bí tích. Tổ tiên dân Việt đã nhận ra nguồn sống và đã hướng tâm hiếu trung vuông tròn, nên đã sống đời đầy hoa trái Thánh Thần là vui tươi, bình an và đầy yêu thương. Đúng là một cuộc sống thái hòa sung mãn (Xem Gioan 10:10).
PHÁT HUY ĐẠO SỐNG THEO TINH THẦN VIỆT
Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã làm chứng nhân đức tin bằng Việt Đạo, đã để lại một đạo sống, một con đường, một mẫu sống, một kho tàng. Đạo sống và kho tang đã bị chôn vùi lâu ngày nên con cháu sống nghèo nàn xơ xác. Đã đến lúc người dân Việt nghe rõ tiếng trống lệnh của hồn thiêng dân tộc trong tiếng trống Đông Sơn vẫn còn đang vang vọng mà vì mặc cảm đã che tai bịt mắt nên không nghe thấy và không nhìn thấy. Hãy thức dậy hỡi ai ngủ mê. Đứng lên, hát lên ôi đoàn người sống lại. Tiếng trống lệnh của Đức Thánh Cha đang thúc bách người con dân Việt lên đường và bắt đầu khai quật cả một kho tàng để sống một cuộc sống mới sung túc hoàng vương, chứ không nghèo nàn xơ xác mất hồn ngơ ngác. Hãy đào lên bằng cách thức và đường lối của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, bằng Đạo Trống.
Cùng nhau tìm lại một gốc, một nguồn, một mẫu số chung, một lý tưởng, một hồn dân tộc, như tất cả dòng sống tổ tiên đang dồn lại thành một dòng sinh lực, một tinh thần, một ngôn ngữ để nói chuyện với nhau, một đích để hướng tới thì mới có sức qui tụ mọi hoạt động, mọi khuynh hướng. Đó mới là động lực sâu xa nhất để hòa giải, để nối kết và tạo sức mạnh chung .
Đường Sống theo tinh thần Việt là con đường đã được tổ tiên cảm nghiệm và sống và đã đạt an vui thái hòa. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là tổ tiên của Đức Tin cũng đã làm ”chứng nhân” cho Việt Đạo này, là con đường chắc nhất, dễ nhất, ngắn nhất, để đạt cuộc sống hạnh phúc ấm êm từ trong gia đình đến cộng đoàn và xã hội. Con đường sống này, hay đường tu đức theo tinh thần Việt đã được cả Giáo Hội khám phá ra và công khai xác nhận, và giới thiệu cho thế giới, thì người dân Việt không thể không xác tín , hãnh diện và phát huy Việt Đạo.
Việt Đạo không chỉ như một lý thuyết để tô điểm cho đẹp, nhưng cần được hình thành một cách cụ thể qua một chương trình huấn luyện, áp dụng ngay cho các đoàn thể. Và như vậy các đoàn thể sẽ trở thành các cán bộ nòng cốt và tiên phong làm ”chứng nhân” cho Việt Đạo này.
Phát Huy Việt Đạo như một câu trả lời hợp thời điểm nhất cho thế hệ trẻ đang trong cơn khủng hoảng rã rời về bản sắc mà chạy theo các thứ ”new wave”. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam phải được trình bày và giới thiệu như những ”model” mẫu sống hợp thời nhất, hấp dẫn nhất, ”new wave” nhất. Để giới trẻ có được một lý tưởng, một con đường đi tới đầy khởi sắc.
Phát động một phong trào phát huy Việt Đạo bằng những áp dụng cụ thể và những biểu tượng: phát hành tài liệu huấn luyện Việt Đạo, ảnh và Hài Cốt Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, ảnh trống đồng Đông Sơn, một số các lễ nghi và phong tục diễn tả Việt Đạo cần được đào sâu và áp dụng vào đời sống tị nạn, vì đó là cách huấn luyện đi vào tim nhanh nhất.
Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường