VỊ THÁNH CHUYÊN TRỊ MẮT
THÁNH PHAOLÔ LÊ BẢO TỊNH
Thánh Lê Bảo Tịnh khi còn làm thầy giảng đã nổi tiếng về tài chữa thuốc. Bị bắt lần thứ nhất, Thầy bị giam tù bẩy năm, rồi năm 1848 thì được đổi án phát lưu đi Phú Yên. Trên đường đi đầy, Thầy và Cha Khanh được dừng lại Huế ít lâu. Trong thời gian đó, ở Huế có một vì quan hồi hưu bị đau mắt nặng nghe tin Thầy chữa thuốc mát tay liền cho tìm đến gặp. Thầy Tịnh hết sức từ chối, nhưng rồi cũng gắng giúp cùng với lời cầu nguyện để Chúa cứu chữa. Vậy mà ông quan được khỏi mắt khiến tiếng đồn lan rộng. Giữa các quan có một vị quan trẻ làm ngự sử bị bệnh mắt kinh niên tên là Nguyễn Đình Tân (tức Hưng) nghe biết cũng xin Thầy chữa cho. Và ông cũng được khỏi bệnh. Ông liền mang tiền bạc đến tạ ơn, nhưng Thầy tịnh không nhận, nói rằng mình chỉ chữa thuốc giúp đời, vậy chỉ xin khi nào quan nhậm chức nơi có người Công giáo thì xin thương tình, vì thực người Công giáo chỉ biết ăn ngay ở lành và trung thành với nhà Vua.
Chính vì vậy mà sau này quan Nguyễn Đình Tân khi được làm tổng đốc Nam Định, đã đền ơn bằng cách cho phép Cha Lê Bảo Tịnh lúc đó đã được tha trở về Kẻ Vĩnh và đã thụ phong linh mục được mở trường dạy thuốc. Thực ra đây chỉ là cớ bao che cho Cha Lê Bảo Tịnh mở chủng viện. Việc này về sau bại lộ, quan Nguyễn Đình Tân không dám bênh đỡ nữa nên Cha Lê Bảo Tịnh lại bị bắt một lầnhữngưã.
I. PHÉP LẠ CỦA MỞ MẮT NIỀM TIN
Thánh Lê Bảo Tịnh sinh năm 1793 tại Trinh Hà Thanh Hóa, là con thứ ba trong một gia đình 6 anh em. Năm 12 tuổi cậu Tịnh được cha Duệ xứ Bạch Bát giúp chuẩn bị vào chủng viện.
Trong chủng viện, Thầy Lê bảo Tịnh không học giỏi đặc biệt, nhưng rất chăm chỉ và ham đọc sách nên hiểu biết nhiều. Thầy Tịnh ảnh hưởng đường lối tu đức của cha Havard giám đốc chủng viện, thích đời sống khắc khổ của các thánh tu rừng như thánh Antôn... nên tập bớt ăn bớt ngủ, ăn chay hãm mình, nằm ngủ dưới đất. Đặc biệt mỗi ngày Thày lén để dành một phần cơm phơi khô chuẩn bị trốn đi tu rừng.
Một ngày kia Thày đã âm thầm bỏ chủng viện để lên rừng Bạch Bát tập sống đời ẩn tu. Thầy đã tìm được một cái hang yên tĩnh để cầu nguyện chiêm niệm. Thày tự tay trồng khoai mì để sinh sống.
Trong thời gian này thì chủng viện và Đức Cha cho lệnh tìm Thày khắp nơi, không cha nào được phép giải tội cho Thày Tịnh. Vào dịp lễ Phục Sinh năm ấy, Thầy Tịnh về đồng bằng xưng tội thì bị khám phá ra nên phải về trình diện Đức Cha.
Thầy Tịnh tiếp tục học Thần Học và được Đức Cha tín nhiệm phái đi Macao đón hai cha thừa sai và đồ tiếp tế cho địa phận. Năm 1837 Thầy Tịnh được cử đi lo việc truyền giáo tại vùng Bái Thượng ranh giới Lào. Vùng này nổi tiếng nhiều cọp. Có lần trên đường đi Thầy đã phải ngủ lại giữa rừng cùng với vài người cùng đi. Trong tình trạng nguy hiểm, Thầy đã lấy cây làm bốn Thánh Giá cắm chung quanh chỗ ngủ, xin Thánh Giá Chúa che chở bảo vệ. Quả thực sáng dậy, họ thấy các lốt chân cọp giẵm nát chung quanh...
Cuộc truyền giáo kéo dài một năm thật kết quả, nhiều người đã được rửa tội. Thầy về Kẻ Vĩnh báo cáo Đức Cha.Trong thời gian này đang có cuộc bắt đạo dữ dội. Đức Cha lại sai Thầy Tịnh đi Macao đón cha thừa sai. Về được ít lâu, năm 1841 Thầy Tịnh đi dạy giáo lý ở Kẻ Đầm thì bị bắt và bị đánh đập tàn nhẫn. Lúc đó Thầy Tịnh đã 48 tuổi.
Một hôm bị đánh quá đau, Thầy sợ chết trước khi có án tử, nên Thầy đã ngoái cổ lại nói với bọn lính :”Các anh đánh như gãi ngứa vậy thì nhằm nhò gì!”. Quan thấy đã hết sức hành hạ Thầy như vậy mà không ăn thua gì nên tạm ra lệnh ngưng đánh.
Thầy Tịnh có tài tranh luận và châm biếm. Một hôm quan hỏi tại sao các linh mục Công giáo có thể sống độc thân được, Thầy đã trả lời bằng cách chơi chữ nho: người độc thân là ”nhân” (người), người có gia đình thêm một nét nữa thành ”đại” (gồ ghề ), người nhiều vợ thêm một nét nữa thành ”khuyển” (chó). Thời đó quan nào cũng nhiều vợ, nên quan đã tức giận lấy thước đánh gẫy răng Thầy Tịnh.
Tình trạng tù đày như vậy kéo dài . Ngày 20.4.1843 Thày đã viết một lá thư dài cho chủng viện Kẻ Vĩnh:
Tôi, Phaolô, đang bị xiềng xích vì Chúa Kitô. Tôi xin tường thuật những gian nan khốn khó. Lao tù này thật là hình ảnh sống động của hỏa ngục đời đời. Xin anh em khẩn nguyện với Vua quyền năng dũng mạnh ban cho tôi đủ gan dạ chiến thắng. Xin thương đến tôi vì tay Chúa đã đụng chạm đến tôi. ”Lạy Chúa, Chúa đã cảm nghiệm vâng lời khó khăn chừng nào. Mỗi ngày Chúa nhìn thấy tôi tớ Chúa bị còng chân tay, bị đeo gông xiềng xích, bị đủ mọi thứ gian nan. Xin Chúa hãy biểu dương uy quyền của Chúa, xin hãy cứu thoát và nâng đỡ con, để trong thân xác yếu hèn này cả trăm họ sẽ nhìn thấy và ca tụng sự dũng mạnh của Chúa.” Tuy nhiên tôi vẫn tạ ơn Chúa, vì Ngài đã chọn sự yếu đuối để làm cho sự hùng mạnh phải bẽ mặt, đã chọn sự hèn mọn để đả phá sự cao sang. Tôi vẫn hân hoan vì đâu tôi có đơn phương độc mã mà luôn có Chúa ở cùng. Chính Ngài, Thày chí thánh, đã vác hết gánh nặng Thánh giá, tôi chỉ ghé vai chịu một chút phần đuôi. Nên tôi sẽ cam chịu tất cả những gian lao khốn khó ở đời này cho tới hơi thở cuối cùng. Giữa lúc cuồng phong vũ bão, tôi thả neo níu chặt vào ngai Chúa: đây là niềm tin tôi giữ mãi trong lòng.”
Cũng năm đó án tử hình của Thày được đổi thành án lưu đầy đi Bình Định. Trên đường đi, Thầy dừng tại Huế. Nhiều người lương và cả quan nghe tiếng các linh mục Công giáo có tài chữa bệnh thì tìm đến Thầy. Thực sự Thầy Tịnh không có khả năng đó, nhưng rồi Thầy cũng cầu nguyện xin sức mạnh chữa lành của Chúa, rồi lấy cao nóng dán vào đôi mắt lòa của quan Nguyễn Đình Tân, và ông ta được chữa khỏi cách lạ lùng.
Cuối năm 1848 vua Tự Đức lên ngôi ra lệnh ân xá tù nhân, nên Thầy Tịnh được thả về chủng viện Kẻ Vĩnh sau 7 năm tù đày. Đức Cha ra lệnh Thầy học làm lễ và đã truyền chức linh mục cho Thầy năm 56 tuổi.
Năm 1849 cha Tịnh được cử làm giám đốc chủng viện. Cha cổ võ đời sống nội tâm rất mạnh nơi các chủng sinh. Cha ham mộ Kinh Thánh và có lòng sùng kính Đức Mẹ đặc biệt. Cha thường lần chuỗi, ăn chay trước các ngày lễ kính Đức Mẹ. Cha nói:”Mọi ơn được ban qua Đức Mẹ. Yêu mến Mẹ thì Mẹ sẽ dẫn đến với Chúa.“ Cha đề cao đời sống cầu nguyện, vì cầu nguyện có sức mạnh cứu các linh hồn và làm cho người ta được ơn biến đổi hơn cả lời giảng. Cha có một phong thái dâng lễ rất sốt sắng, và rất chịu khó giải tội như Thánh Vianney.
Cha soạn một số sách cần thiết cho giáo dân: đời sống Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, dẫn giải Phúc âm, giáo lý căn bản, sách Xét Mình và những Lời nhắn nhủ...
Cha có lòng tôn kính và tin tưởng vào sức mạnh của Thánh Giá. Nên Cha đã cho dựng Thánh Giá ngoài trời, để cùng đi chặng đàng, và chính Ngài vác Thánh Giá để nói lên ý nghĩa lời Chúa vác Thánh Giá của chính mình mà theo Chúa. Cha thường nói: ”Thánh Giá là sức mạnh và là dấu nhắc nhớ Chúa.”
BỊ BẮT LẦN THỨ HAI
Cha Tịnh làm bề trên chủng viện được 8 năm, nổi tiếng đạo đức và khôn ngoan. Nhưng dù được quan Nguyễn đình Tân nhớ ơn cũ hết lòng che chở, cha Tịnh cũng bị vây bắt bất ngờ cùng với chủng viện Kẻ Vĩnh. Cha đã đứng ra chịu mọi trách nhiệm và bị tống giam.
Mười hai ngày trước khi bị xử tử, ngày 24.3.1857 Cha Tịnh đã viết một lá thư dài cho chủng viện với tâm tình rất sâu sắc. Cũng như thư trước, sau khi tả cảnh khốn cùng và những phấn đấu vật vã trong lao tù, ngài tin tưởng : ”Tôi vẫn thầm xác tín rằng: không gì có thể làm cho tôi xa lìa tình thương của Chúa Giêsu Kitô dù lao tù, dù đói khát, dù gươm giáo, dù sự chết, là vì chính Chúa Giêsu là sự sống của tôi...” Và Ngài nhận ra ý Chúa và tình thương của Chúa qua mọi khó khăn : ”Không phải vì tình cờ mà chúng tôi bị rơi vào những bàn tay hung ác, nhưng đó là một sự xếp đặt của Chúa Quan Phòng.”
Ngài cũng chỉ dẫn các chủng sinh cách tử đạo bằng đời sống thường ngày, làm chứng có thể đạt bằng bát phúc: ”Tử đạo bằng máu quả thật là họa hiếm, Thiên Chúa chỉ ban cho một số ít người: vì là hồng ân hoàn toàn chứ không phải công nghiệp của ai. Nhưng mà tử đạo bằng ước muốn, bằng tình yêu... là của hết mọi người. Và cũng có thể là của riêng của những người có tinh thần nghèo khó, hiếu hòa và tâm hồn trong sạch.”
Lần thứ hai này Cha Tịnh bị cầm tù 38 ngày. Trước ngày tử hình, Cha còn nói: ”Là đạo thật thì dù có bị bắt bớ tàn phá cũng không hề gì, trái lại sẽ còn đông người theo.” Ngày 6 tháng 4.1857 Cha bị điệu ra pháp trường Bảy Mẫu, ăn mặc chỉnh tề như để tiến lên bàn thờ hiến lễ cuộc đời, trên tay vẫn cầm cuốn sách nguyện và tràng hạt Mân Côi.
Sau khi bị chém đầu, xác Ngài được đưa về an táng tại chủng viện Kẻ Vĩnh.
I. PHƯƠNG THUỐC CHỮA BỆNH CỦA THÁNH LÊ BẢO TỊNH
1. Chia sẻ được với cả nhiệm thể Chúa và được thương cảm đỡ nâng
"Tôi, Phaolô Tịnh, trong lao tù và bị xiềng xích vì Chúa Kitô, xin gửi lời kính thăm tất cả anh em. Hôm nay tôi xin gửi về anh em nỗi tâm sự.
Để anh em khỏi mong chờ, tôi xin tường thuật những gian lao khốn khó tôi đang phải chịu, nhưng với mục đích là thêm lòng kính mến mà anh em sẽ cùng tôi ca ngợi Thiên Chúa, vì muôn đời Ngài vẫn là Đấng từ bi nhân hậu.
Lao tù này, quả thực là hình ảnh sống động của hỏa ngục đời đời. Ngoài xiềng xích gông cùm còng chân tay, còn có giận dữ, oán thù, nguyền rủa, tục tĩu, cãi lộn, bậy bạ, chửi thề, nói hành, và sau đó là chán nản, buồn sầu, ruồi muỗi, chấy rận, bọ mát, nhất là những con rệp chui rúc trong bao gối, chăn chiếu, quần áo... rất khó chịu. Còn có oán hận vua quan, thù ghét bạn hữu và chửi bới cha mẹ!"
2. Nhận ra Chúa vẫn có mặt và cùng vác thập giá
"Tuy nhiên, tôi vẫn tạ ơn Chúa, vì các hình khổ bày ra để làm khổ tù nhân chứ phần tôi thì vẫn hân hoan, vì đâu tôi có đơn phương độc mã, nhưng là có Chúa Kitô ở cùng.
Chính Ngài, Thày Chí Thánh, đã vác hết gánh nặng Thánh Giá, tôi chỉ ghé vai chịu một chút phần đuôi. Chúa không phải khách bàng quan chỉ đứng nhìn cuộc chiến, nhưng Chúa là chiến sĩ, là người chiến thắng kết liễu cuộc chiến. Do đó triều thiên vinh quang được đặt trên đầu vị chỉ huy, các chi thể tham gia vào sự vinh quang của Ngài."
3. Tin tưởng mọi sự đều do Chúa xếp đặt biến đổi sinh ích
"Tôi xin nhắc lại: không phải tình cờ mà chúng tôi bị rơi vào những bàn tay hung tàn, nhưng đó là một xếp đặt của Chúa Quan Phòng.
Nhưng Đấng mà đời xưa đã cứu thoát ba anh em trong lửa bừng bừng, Ngài vẫn ở bên tôi, cứu thoát tôi khỏi những tai họa nói trên, và biến tất cả thành êm dịu ngọt ngào, vì muôn đời Ngài vẫn là Đấng từ bi nhân hậu."
4. Phó thác hoàn toàn vào tình Chúa và bằng lòng chấp nhận
"Tôi vẫn thầm xác tín rằng: không gì có thể làm cho tôi xa lìa tình thương của Chúa Giêsu Kitô, dù lao tù, dù đói khát, dù gươm giáo, dù sự chết, là vì chính Chúa Kitô là sự sống của tôi.
Những dòng chữ này viết về để phối hợp niềm tin anh em với niềm xác tín của tôi. Giữa lúc cuồng phong vũ bão, tôi thả neo níu chặt vào ngai Chúa. Đây là niềm tin tôi giữ mãi trong lòng."
5. Cùng với Đức Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá tin vào phép lạ Phục Sinh.
Mẹ làm phép lạ nhiều vì Mẹ tin tay Chúa an bài, Mẹ nên phúc ân muôn loài.
"Với anh em là những người tôi quí mến, xin anh em nhớ rằng Đức Mẹ Maria phải được tuyên dương là Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo, mặc dù Ngài không thực sự bị gươm đâm thâu qua.
Anh em cũng có thể là Tử Đạo giống như thế, nghĩa là tử đạo trong tình yêu mến, tử đạo trong ước muốn, tử đạo trong đau khổ vì Chúa Kitô."
Lòng sùng kính Đức Mẹ của thánh Tịnh.
1. Đức Mẹ hiện ra một lần ở Macao: “ Phaolô, khi về Việt Nam con sẽ phải chịu khổ vì đạo”. Ngài hỏi lại bằng tiếng Latinh, Việt, Tầu, đều được trả lời: “Ta là Đức Bà Maria”.
2. Ngài thích hát bài Lạy mẹ là ngôi sao sáng, biểu hiện nguồn ánh sáng như Hàn Mặc Tử, và bảo hát 4 lần: Xin tỏ cho con biết Đức Mẹ là Mẹ của con.
3. Trước lễ Đức Mẹ: Ngài ăn chay và lần chuỗi.
4. “Đức Mẹ chẳng chuộc tội cho ta được, nhưng những ơn Chúa ban cho ta thì lại qua tay Đức Mẹ. Cho nên chúng ta phải sốt sắng mà kêu xin với Đức Mẹ gìn giữ che chở cho. Vì chưng ai kính mến Đức Mẹ thật lòng thì Đức Mẹ sẽ mở lòng cho người ấy kính mến Đức Chúa Trời”.
Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường