DIỄN TIẾN ĐƯỜNG TU ĐỨC VIỆT
Theo Tiến Trình Tâm Lý ngày nay Việt Đạo là con đường, đạo sống theo lối Việt. Nói đến Việt Đạo, một số người nhất là giới trẻ bán tín bán nghi: về nguồn với tổ tiên có phải là trở về với những gì cổ hủ lỗi thời có thể làm cản trở bước tiến hóa không?
Về nguồn Việt Đạo không phải là lặp lại quá khứ, mà là đi tới nguồn đang nằm sẵn dưới đáy lòng mỗi người bằng con đường chắc chắn tới được do tổ tiên đã chứng nghiệm qua bao đời, và tổ tiên đức tin là Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã làm chứng nhân cho một mẫu sống đơn giản hợp thời đáp ứng nhu cầu đúng lúc cho thế giới duy vật và quá phức tạp hiện nay.
Như vậy việc hình thành Đường Tu Đức Các Thánh Tử Đạo Việt Nam trong tinh thần Việt Đạo là một điều khẩn thiết.
Đường tu đức này phải đi trong truyền thống tu đức của Hội Thánh, và phải được trình bày hợp cảm quan của thời đại mới với những khám phá khoa học về tâm lý xã hội. Các đường tu đức trong truyền thống Hội Thánh thì nhiều và cũng rất khác nhau, tùy cá tính của vị thánh, và tùy hoàn cảnh đương thời, nhưng tiến trình thì giống nhau. Con đường đó đã được khoa phân tâm ngày nay nghiên cứu áp dụng cho môn tu đức thực nghiệm trong các phân khoa tu đức bây giờ. Gồm những bước nối tiếp nhau theo một tiến trình ăn khớp với nhau để đạt được nguồn sống, quật khởi được tinh thần hết cỡ.
TIẾN TRÌNH TÂM LÝ TU ĐỨC
Đây là tiến trình theo Karl Jung, cha đẻ của khoa tâm lý miền sâu và tâm lý tu đức ngày nay. Tiến trình như một con Đường Đi Tới Nguồn gồm bốn giai đoạn. Cũng chính là Việt Đạo để đi về nguồn sống. Con đường đó đã được chính tổ tiên Việt Tộc và tổ tiên đức tin là Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã đi, đã tới nguồn, và làm chứng. Tiến trình này đang được dùng cho khoa chữa bệnh tâm lý và hướng dẫn tâm lý, giúp cho con người phương cách làm lại con người thật của mình và khai quật tiềm năng vô hạn vẫn còn tản mát và chôn vùi bên trong. (Xem hình tiến trình đạt vuông tròn sung mãn hết cỡ người theo Karl Jung, gọi là individuation).
Giai Đoạn 1
NHẬN RA MÌNH LÀ AI VÀ CHÚA LÀ AI.
(Centering of the Self)
Đây là giai đoạn nhận định “nguyên lý thứ nhất và nền tảng” của đời sống, như thánh I-Nhã đã phác họa trong Linh Thao. Chỗ kết thúc cuộc hành trình cũng là chỗ khởi đầu.
DÒNG GIỐNG TIÊN RỒNG
Con người là ai? Tôi là ai? Đó là câu hỏi từ thẳm sâu mỗi người cần phải được trả lời để định hướng đời sống. Vì sai một ly sẽ đi một dặm.
Kẻ thì bảo con người là con vật biết suy nghĩ, là con vật kinh tế. Kẻ thì bảo con người bởi khỉ theo thuyết tiến hóa. Nhiều khác đã nhận ra thân phận mình có cái gì khác hơn: trong giấc mơ thấy mình là cái trứng phượng hoàng nở ra trong đám gà con, lớn lên với những “phong tục” gà sà sà mặt đất không sao bay lên được!
Tổ tiên của Việt tộc đã cảm nghiệm thấy mình không phải là con gà hay con khỉ, mà có cái gì cao hơn nhiều, và đã vẽ ra bằng một hình ảnh biểu tượng qua truyện thiêng để truyền lại cho con cháu. Huyền thoại là một cách truyền đạt chân lý đi thẳng vào tim chứ không dừng trên đầu óc để lý luận.
Truyện Hồng Bàng mở đầu sách Truyện Thiêng Lĩnh Nam có thể nói được là Kinh Khởi Nguyên của người Việt. Đó là những truyện truyền khẩu được thu góp lại không biết từ bao đời qua không biết bao kinh nghiệm sống tích lũy lại thành đạo sống.
Tiên là vật biểu từ hình ảnh Mẹ Âu, là chim hải Âu có cánh bay lên được thanh thoát như Tiên. Và vì là chim nên có thể đẻ trứng và làm tổ, nên gọi là tổ tiên. Tiên luôn là hình ảnh của xinh đẹp, an hòa thảnh thơi, tràn trề từ tâm và yêu thương, nhiều quyền phép sẵn sàng trợ giúp, thoát tục siêu phàm, sống động, nhưng vượt không gian và thời gian. Đúng là hình ảnh hoa trái Chúa Thánh Thần.
Rồng là hình ảnh biểu trưng cho nét hùng mạnh trổi vượt, sức sống vô tận, biến hóa vô song, vùng vẫy khắp biển khơi và bay bổng mãi tận tầng mây, không gì có thể cản trở giới hạn được.
Con người là vua Hùng, kết tinh sức sống hùng anh của mẹ Tiên bố Rồng, gồm tất cả những đặc tính trên đây. Chính vì thế mà trong các thiệp cưới, chúng ta thường thấy hình ảnh chim phượng và con rồng đang bay lượn tuyệt đẹp.
Tổ tiên Việt tộc khi vẽ lên hình ảnh Tiên Rồng, đã đi trước khoa tâm lý miền sâu ngày nay rất xa. Đó là biểu tượng của mỗi người (self image) trong tiềm thức, và hơn nữa là biểu tượng nguyên sơ (archetypal image) trong tiềm thức cộng thông của cả một dân tộc, thì quả là một xác tín có khả năng gây sức mạnh vô biên.
Kinh Thánh đã xác nhận: “Ai hy vọng vào Chúa sẽ phục hưng được tinh thần. Một sức sống mới đã vươn lên như chim phượng hoàng bay cao” (Isaia 40:31).
Vậy sức mạnh vươn cao của Tiên Rồng cũng là sức mạnh của mỗi người Việt, kết tinh của bao ngàn năm kinh nghiệm sống của tổ tiên. Vì thế, Việt có nghĩa là vượt, vươn tới, bay lên được.
VỀ NGUỒN THEO NHỊP TRỐNG ĐÔNG SƠN
Con người chỉ có thể biết mình là ai khi nhận ra Chúa là ai.
Nhìn kỹ mặt trống đồng Đông Sơn, chúng ta thấy một đoàn người đang cùng ca mừng nhảy múa theo nhịp trống tưng bừng. Cả trăm người trong một bọc tròn đang bay bổng lên vì cũng đang mang cánh như chim mẹ Âu. Đó là những hiện thân của mẹ Tiên. Đoàn người đó cũng đang sinh hoạt trên những thuyền rồng khắc ở tang trống. Tất cả đang hòa nhịp cùng nhau và các loài chim, nai, và muôn vật để vũ bài “tình khúc tạ ơn” sau mùa gặt đầy hoa trái.
Tất cả đang hưởng được cảnh vườn Địa Đàng an vui thái hòa vì qui hướng về mặt trời là nguồn mọi sinh lực, và đang hân hoan đón chào ánh thái dương như những con chim phượng chào bình minh trong một vũ khúc. Đúng là cả vũ trụ đều nhảy mừng như lời ca tiền tụng trong các thánh lễ mùa Phục Sinh.
Hơn 100 chiếc trống đồng đã được tìm thấy tại Việt Nam. Đông Sơn là một địa danh bên sông Mã, Thanh Hóa, nơi đã tìm thấy rất nhiều di tích đồ đồng có trên ba ngàn năm, và vì thế các nhà nghiên cứu đã dùng địa danh Đông Sơn mà đặt tên cho văn hóa vào thời kỳ này. Tiêu biểu nhất là trống Sông Đà tỉnh Hòa Bình và trống Ngọc Lũ tỉnh Hà Nam.
Lý do gì khiến tổ tiên Việt tộc sống đời hạnh phúc như vậy? Đường múa nào Mẹ Tiên Bố Rồng muốn vẽ lại và “viết” lại bằng Kinh vô tự (không lời) trên mặt trống đồng Đông Sơn để chỉ dạy cho con cháu cũng được sống đời an vui thái hòa như vậy?
Trên mặt trống Đông Sơn, mặt trời là tâm điểm đang chiếu tỏa bao trùm vạn vật, khiến muôn vật được triển nở tốt tươi. Đó là nguồn sinh lực, nguồn muôn ơn vẫn ngày đêm không ngừng tuôn đổ rót thành 14 dòng sinh lực nhựa sống khiến con người được sống sung mãn.
Con người có tổ có tông
Như cây có cội như sông có nguồn.
(Ca Dao)
Mười bốn dòng sinh lực này có thể so sánh phần nào với 2x7 ơn Chúa Thánh Thần, cũng là những con số biểu trưng cho sự tràn trề ơn thánh.
Thánh Trần Văn Thiện và Thánh Dũng Lạc đã nhận định được “nguyên lý nền tảng”, đã nhìn thấy rõ đích điểm và lý tưởng của đời sống, nên đã dứt khoát chọn lựa giá trị đích thực, vì thế đã có thể bay lên được. Nhìn vào bức ảnh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta có thể nhận ra ngay đó là mọt đoàn phượng rồng đang tung bay lên nhảy múa bài ca khải hoàn.
Giai Đoạn 2
ĐẠO TRỐNG
(The unveiling of the Persona)
Tu đức học gọi giai đoạn này là giai đoạn thanh tẩy. Lòng con người như một mỏ quí bị chôn vùi, cần phải được khai quật, cần phải qua “phép rửa,” mở màn chắn.
Trong kịch nghệ Á Đông, các vai đóng thường được sơn vẽ mang mặt nạ chứ không để trần là mặt thật. Nghệ thuật sân khấu này có ý trình bày cuộc sống là một vở kịch mà mỗi người đang mang mặt nạ đóng vai trò khác nhau mà chính mình cũng không nhận ra. Nghĩa là ít ai đang sống với con người thật của mình, với giá trị thật của mình.
Vì mặc cảm, vì nghĩ mình chẳng là ai, nên phải đeo thêm nhiều thứ khác cho chắc ăn. Riết rồi mình trở thành những tên hề trên sân khấu cuộc đời, những người mang mặt nạ. Karl Jung đã gọi những phàm ngã (cái tôi giả, false self) đeo mặt nạ này là persona. trong tiến trình viên mãn về tâm lý, con người phải làm sao rũ bỏ được những mặt nạm này, nếu không thì sẽ bị chúng hành khổ, và rồi hành khổ nhiều người. Chẳng lạ gì ở những bệnh nhân tâm lý khi bị khủng hoảng về bản sắc không biết mình là ai, có người soi gương luôn thấy mặt mình là mặt quỉ. Có lúc ngồi nhìn vào chính mình sẽ cảm được tâm tình của Tagore:
Ân sũng Người ban thì vô biên vô tận
Để lãnh nhận tôi chỉ có hai bàn tay nhỏ bé vô cùng.
Ngày này lớp lớp qua đi Người vẫn không ngừng đổ rt,
Song hồn tôi vẫn trống và tay tôi thì hãy còn vơi.
Lý do là vì đã quá đầy những thứ rác rến làm tắc nghẽn nên ơn thánh như nhựa sống vẫn tràn trề đó mà không chuyển xuống được. Như thế, khi thấy đời sống bất an đầy rắc rối thì không phải chương trình Chúa tính sai, mà có cái gì bất ổn trầm trọng đang che phủ. Thử quan sát một cành cây bị gẫy và héo vì mất nhựa sống, chúng ta sẽ hiểu tại sao có người sống phấn khởi vui tươi đầy nghị lực, công việc đầy hoa trái, có người thì héo tàn cằn cỗi bất an. Chính Chúa Giêsu đã kể truyện về cây nho và cành nho như vậy.
Bí quyết của tổ tiên Việt tộc là đạo trống. Cái trống chỉ kêu được khi lòng rỗng không: chỉ khi lòng mình trống ra thì khí lực trời cao mới hội thông được. Chỉ khi nào kính được lau sạch thì ánh sáng Chúa mới chiếu xuống chan hòa. Chỉ khi nào những màn chắn được mở ra thì kho tàng tinh thần của con người thật tức là cái đại ngã tâm linh mới thực sự bừng lên.
Thánh Phạm Viết Huy, Thánh Hồ Đình Hy và Thánh Lê Văn Gẫm, đã nhận thức được tình trạng tắc nghẽn của mình, và đã bằng lòng để ơn thánh Chúa khai thông làm trống ra để lòng mình nhận tràn đầy thần lực Chúa.
Giai Đoạn 3
Giai Đoạn 3
ĐỐI DIỆN VỚI BÓNG TỐI VÀ THÁNH GIÁ
(confrontation with the shadow)
Karl Jung dùng từ “bóng tối” để chỉ những gì đối nghịch trái ngược với mình nhưng thực ra là cái bóng, cái phân nửa của mình.
Bóng tối là thập giá, là những gì sợ hãi nhất trên đời như những con rắn. Sợ hãi chúng trốn chạy thì chúng đuổi cắn chết như đã cắn nhiều người lẩm bẩm cằn nhằn không chấp nhận được “bóng tối” là những gian khổ thử thách trên sa mạc. Chúng vẫn là những con giao long ở dưới nước gặp người trên đất xuống là tác hại như được viết rong truyện Hồng Bàng. Chúng luôn luôn xung khắc như nước với lửa, như cực âm và cực dương của điện sẵn sàng làm xẹt lửa cháy nhà giết người.
Con rắn được vẽ hình trước cửa phòng các bác sĩ cũng vẫn muôn đời là những con dao mổ, kim chích và thuốc đắng đối với những ai khiếp sợ. Và sẽ làm cho những người này la hét ngất xỉu. Thập giá sẽ đè bẹp những ai trốn chạy.
Nhưng con rắn lại là biểu tượng của sự chữa lành:
“Như Môisen đã treo con rắn lên ở trong sa mạc thế nào, thì Con Người cũng sẽ phải treo lên như vậy, để tất cả những ai tin ở Người, sẽ không bị hủy diệt, nhưng được sống đời đời. Vì Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình, để tất cả những ai tin ở Con của Ngài thì không phải hư mất, nhưng được sự sống đời đời."
“Ngày nào treo Ta lên, Ta sẽ kéo mọi sự lên cùng Ta.”
Thập giá là bóng tối đêm đen mà Thánh Duy-An Thập Giá đã khai triển từ cảm nghiệm sống đường tu đức của Ngài. Môsê lên Sinai gặp Chúa mà thực ra đi vào mây mù. Chỉ khi nào bằng lòng trở thành con cú đi vào đêm đen thì mắt thần mới bắt đầu rực sáng, mỏ “Lửa Tình sinh động” bên trong mới có thể bừng lên. Chúa dùng thập giá đêm đen như dàn khoan mỏ dầu vĩ đại còn đang tiềm ẩn bên trong khiến mình có thể sống sang giầu với phong thái hoàng vương. Có đau đớn thật, nhưng là sự đau đớn cần thiết. Tu đức học gọi giai đoạn này là để “bước vào vùng rực sáng” (illumination).
Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã không trốn chạy thập giá, đã không đạp lên thập giá, nhưng dám đương đầu với những tra tấn ngục tù: lúc mình cảm thấy yếu đuối nhất thì chính là lúc sức mạnh Chúa tác động mạnh mẽ nhất, như tâm tình của Thánh Phaolô.
Giai Đoạn 4
CHẤP NHẬN MẾN THÁNH GIÁ
(relating to the animus/anima)
Đây là giai đoạn kết hợp âm dương, “giao chỉ” vuông tròn, giữa những khác biệt đối nghịch, tức là biết chấp nhận được những khó khăn, những thập giá. Tu đức học truyền thống gọi giai đoạn này là nhiệm hiệp.
Khi Tiên cưới được Rồng thì sẽ sinh được vua Hùng với sức mạnh hết cỡ người. Khi người trên đất vẽ mình rồng chơi được với giao long dưới nước như được kể trong truyện Hồng Bàng, kết bạn được với “bóng tối” (make friend with the shadow) của mình, với những đối nghịch, cũng là chính nửa phần mình mà mình vẫn trốn chạy hoặc tấn công, thì sẽ tìm lại được an bình, sẽ phát sinh điện lực.
Thánh Đỗ Quang Hiển và Thánh Lê Bảo tịnh là hai vị tiêu biểu cho lòng sùng kính và yêu mến thánh giá. Chính vì thế mà Thánh Giá trở nên sức mạnh lạ lùng.
KHAI TRIỂN MỘT ĐƯỜNG TU ĐỨC
Trong Hội Thánh, một con đường tu đức thường được phát khởi do một vị thánh hay những vị linh hướng nổi tiếng. Như truyền thống của thánh Phan Sinh ở Assisi, truyền thống Linh Thao của Thánh I-Nhã, truyền thống Thánh Biển Đức, Thánh Têrêsa Mẹ, thánh Đa-Minh. Thời mới thì có truyền thống của Thomas Merton. Các truyền thống được đẩy mạnh và phát động do những dòng tu, phong trào, như phong trào Linh Thao, phong trào Cursillo v.v.
Khi phong thánh, Hội Thánh nhằm nêu cao một gương chứng nhân đức tin trong môi trường sống khác nhau, để bất cứ ai trong bất cứ hoàn cảnh sống nào cũng có thể có một mẫu gương mà sống đạo và nên thánh. Mẫu gương được khai triển thành một lối sống, một con đường tu đức.
Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã được phong thánh, chắc chắn Hội Thánh cũng nhằm nêu lên những mẫu gương chứng nhân đức tin thành một con đường tu đức như vậy. Liệu người mình và những dòng tu hay phong trào đã đáp ứng đường lối của Hội Thánh mà hình thành một con đường tu đức và phát động thành những trào lưu có sức làm lóe lên niềm phấn khởi cho chính người mình chưa?
Phong thánh là một niềm hãnh diện chung cho dân tộc mình, nhưng cũng là một thách đố người mình với thế giới nữa, để cùng nỗ lực góp phần bản sắc của mình vào kho tàng truyền thống tu đức của Hội Thánh. Bây giờ chưa bắt đầu thì còn phải đợi đến bao giờ?!
Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường