CHỤP ĐƯỢC NHỮNG KINH NGẠC
Trồng cây viết sách là một cái thú. Chả vậy mà ông Võ Phiến đã vẽ ra hình ảnh thật nên thơ hấp dẫn:
Anh về viết sách nuôi cây
Bao nhiêu sách ấy cây này là anh
Nhìn những cành mai trụi lá đang nhú ra những nụ tươi mởn mởn căng đầy sức sống mới thấy đã làm sao! Tưởng như từ bên dưới những tước đoạt trơ trụi đời mình một năng lực sống đang “đột xuất” phóng mình lên, vượt qua khỏi mọi tính toán, mọi lý luận bình thường. Mà trồng cây cũng thú ở chỗ phải vun, phải tưới, phải chăm. Mình góp phần tạo dựng sức sống, “sáng tác” được chất xanh tươi kia. Nhưng phải tưới cả vườn cây vào mùa hè thì cũng tốn sức "cần lao nhân vị" lắm. Phải tìm ra những nét sáng tạo thì mới nên thơ nổi.
Một hôm tưới cây, tôi thử “sáng tác” bằng một trò lạ: cho vòi nước phun ngược lên trời rồi mới rơi xuống. Trời ơi, bất ngờ quá, tia nắng xiên ngang đang biến những bụi nước thành cả ngàn hạt kim cương nhảy múa lung linh huyền ảo không thể tả nổi. Những đồ trang sức mắc tiền ở ngoài tiệm hay trên tay nhiều người chắc chẳng làm sao so sánh nổi. Và kinh ngạc hơn nữa: ánh sáng chiếu qua cả một màn nước bỗng dưng tạo ra một chiếc cầu vồng bác qua ngay trong vườn. Đủ màu đủ sắc. Tôi như đứa trẻ há hốc miệng, tròng mắt tròn xoe không sao chớp nổi. Như đang quá hồi hộp mở món quà bất ngờ rất quí và rất mắc tiền. Và chỉ biết lặp bặp lời cám ơn, cám ơn rối rít như chẳng biết nói gì. Tôi đang nhận ra ơn ban.
CHỤP ĐƯỢC HỒN MÌNH
Bài viết hay bức hình chụp có hồn hay không là ở chỗ ghi nhận được những giây phút kinh ngạc này. Nó có hồn, vì chụp được chính hồn mình, và cũng là hồn của con người muôn thuở, những u uẩn trong tim không sao diễn ra nổi, những loé hy vọng mong manh chưa lộ diện. Mà cũng chụp được tâm tình của cả người xem nữa. Trời ơi, đúng đây rồi. Chính điều này mình đã ấp ủ từ lâu mà không sao tìm được câu trả lời. Thì ra mình đang chộp bắt lại được chính hồn mình đã lạc mất, lấy lại được tinh thần và sinh khí đã bị sa sút.
Nhưng cũng có nhiều bài viết hay hình chụp nhạt nhẽo vô vị. Nó chẳng nói lên điều gì cả. Nó không có hồn. Nó vô duyên làm sao ấy.
Những phút kinh ngạc sảng khoái nhất thường lại đến vào những lúc bất ngờ, qua những chuyện xem ra thật tầm thường.
Ở cái thời mà máy chụp còn rất sơ khai tại Việt Nam, một hôm đi xem triển lãm ảnh ở Hà Nội, nhà ảnh Nguyễn Cao Đàm kể lại cảm nghiệm bắt đầu mê chụp hình do một chuyện thật tình cờ: “Có một tác phẩm làm tôi rung động đến sửng sốt, đó lá tác phẩm chụp mấy chiếc lá súng sau cơn mưa của Phạm Ngọc Chấn. Những giọt nước trái sáng, sao mà long lanh đến thế... Tác phẩm làm tôi rung động mãnh liệt. Tôi thấy đó là tôi, với hết nghĩa của nó. Mà có gì đâu, chỉ vài cál lá súng và vài giọt nước... Làng tôi là vùng nhiều nước, lá súng có rất nhiều, mà sao lâu nay tôi không để ý đến. Mà vùng quê tôi còn nhiều thứ đẹp nữa... Tôi bắt đầu cầm máy. Nói về đề tài sáng tác: quanh nhà chúng ta, quanh ngõ chúng ta, quanh làng chúng ta, quanh đất nước chúng ta, đâu đâu cũng là một kho đề tài vô tận. Và người ảnh đeo máy lên vai”.
Cũng thật trùng hợp, dịp lễ Valentine năm 1995 tôi có dịp đi xem triển lãm hội họa của Claude Monet đem từ Pháp sang New Orleans. Cũng là để tập nhận biết và say mê cuộc sống. Mà ông này nổi tiếng vì vẽ hoa súng, do chính ông trồng trong ao vườn của ông tại vùng Giverny khoảng 40 dặm phía tây bắc Paris. Cũng một ao súng mà ông vẽ tới vẽ lui. Tâm tình thay đổi khác đi qua màu sắc và ánh sáng vào nhiều lúc khác nhau: ban sáng, ban trưa, rồi ban chiều. Ông bảo vẽ một la cây cũng trân quí như vẽ một người mẫu đẹp. Monet đã thành công là vẽ được chính hồn mình, mà cũng là hồn của mỗi người đang đi tìm những phút giây an tĩnh khi hòa mình vào sức sống của vạn vật: bao nhiêu sách ấy cây này là anh.
Cũng mấy bông súng tầm thường mà sao nhà ảnh Trần Cao Lĩnh đã lột được linh hồn “Việt Nam Quê Hương Muôn Thuở” qua bức hình “Chiếc Cầu Ao”. Một cô gái quê đang ngồi ở cầu ao nhúng chân xuống ao súng, chạm vào nước mát, chạm vào sức sống rất Việt Nam, như kiểu
Chiều chiều ra đứng bờ ao
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.
Nhà ảnh Trần Cao Lĩnh đã làm cho người xem xúc động, không rời mắt được, vì đọc được chính mình trong đó. Ông đã bơm được chất sinh động vào cảnh tĩnh là vì ông “biết lột vỏ ngoài tầm thường để thấy rõ được giá trị bên trong của hình ảnh” như lời ông nói về “động tĩnh trong ảnh”.
CHỤP ĐƯỢC HỒN VIỆT
Những kinh ngạc thì vốn sẵn đấy, nhưng ít người thấy được. Phải có con mắt nhạy cảm cỡ của Cao Đàm, Cao Lĩnh, của Monet, Van Gogh, của linh mục người Ý là Dominici mới dễ nhìn thấy những nét Việt đầy hấp lực. Vị linh mục này đã nhận “Việt Nam Quê Hương Tôi” với cái tên cũng rất Việt Nam là Đỗ Minh Trí. Hình bìa cuốn sách “Việt Nam Quê Hương Tôi” là tấm hình “Chiếc Cầu Ao” của nhà ảnh Trần Cao Lĩnh. Ba bông súng đỏ căng đầy sức sống vươn lên trên mặt nước tĩnh lặng an bình đã làm cho một người Ý vốn có tâm hồn nghệ sĩ phải chết mê chết mệt. Ngài đã nhìn thấy linh hồn Việt Nam qua những đường nét, màu sắc, hình ảnh đặc trưng Việt Nam:
“Những người nông dân, nam cũng như nữ, nón lá đội đầu, suốt ngày kiên nhẫn còng lưng để cấy lúa, họ có một sức mạnh chịu đựng gian khổ, một thiện chí lao động, một ý chí tinh thần bền vững lớn lao đến nỗi mồ hôi của họ đủ sức nuôi sống cả nước Việt Nam. Đó là hình ảnh Việt Nam, quê hương tôi !
Những đàn ông trai tráng, buổi chiều thách thức với biển cả, tối tối chăm chỉ chài lưới. Những ngư phủ ấy, nam cũng như nữ, đều hết sức khoẻ mạnh, họ dám dầm mình trong sóng dữ, dám thách đố với cuộc sống một cách khôn ngoan can đảm. Đó là hình ảnh Việt Nam, quê hương tôi !
Những cô gái, những người vợ đã dâng hiến cuộc đời cho chồng và luôn giữ dạ trung thành ngay trong niềm cô đơn và đau khổ xa cách, ngay cả trong những ô nhục, xấu hổ vì bị phản bội. Đó là hình ảnh Việt Nam, quê hương tôi !
Những con chiên ngoan đạo, đàn ông, đàn bà, thanh niên, thiếu nữ, kể cả các em bé, vào thế kỷ trước đã sẵn sàng chịu tuẫn nạn để giữ đức tin nơi Đức Kitô, những người mà người ta thường gọi là “các Thánh Tử Đạo Việt Nam” đã sẵn sàng lấy máu mình làm chứng tích đức tin. Chính cuộc đời họ là hình ảnh Việt Nam quê hương tôi !
Những người dù nam hay nữ, già hay trẻ, đã ở lại Việt Nam chứ không di tản sang Mỹ, đã sẵn sàng ở lại bên cạnh anh em đồng bào để chia sẻ chén đắng của đau khổ, gánh nặng của nô lệ. Chính họ là hình ảnh Việt Nam quê hương tôi !
Những nhà bác học, những nhà văn, những nhà trí thức đã kiên quyết chịu đựng kếp tù đầy trong các trại cải tạo để trung thành với niềm tin và tín ngưỡng của mình, trung thành với nhân phẩm. Chính họ là hình ảnh Việt Nam, quê hương tôi!
Những người như Đức Cha Nguyễn Văn Thuận và một số người đã dám chia sẻ phần lương thực ít ỏi của mình để cứu những bạn tù đang đói, và dám tự nguyện đi hốt hầm cầu thay cho kẻ khác. Chính họ là hình ảnh Việt Nam, quê hương tôi!
Những người tỵ nạn dù phải bơ vơ xứ lạ, vẫn cố gắng làm việc để trở thành công dân tốt của quê hương mới. Chính là hình ảnh Việt Nam quê hương tôi! ...
Một nước Việt Nam mà không một chế độ nào, không một cuộc chiến tranh nào có thể xóa được trên trái đất. Một nước Việt Nam mà không một chế độ nô lệ nào có thể chà đạp hoặc khống chế.
Tôi hân hạnh được làm công dân một nước Việt Nam trường cửu, bất diệt như vậy.” (Việt Nam Quê Hương Tôi, trang 18-20).
Linh mục Đỗ Minh Trí ghi nhận hình ảnh cũng như nhà ảnh Trần Cao Lĩnh chụp hình, tất cả đều đã nhìn, đã thấy linh hồn Việt Nam. Tuyệt vời quá. Rời ra sao nổi! Cái vẻ đẹp hút hồn của tinh thần Việt Nam qua bức hình chụp hai bông lan với tựa đề “Trong Ngọc Trắng Ngà”. Dòng tình yêu của mẹ Việt Nam luân lưu suốt lịch sử, chuyển sức sống vào từng mạch máu đàn con qua tấm “Quạt Nồng”. Cái sức sống đó hiển hiện quanh đây trong ánh mắt kiên trì chịu đựng nhưng cũng đầy hy vọng của mẹ tôi, mà cũng là của Tiên Au tổ mẫu.
Cũng là cảnh đánh cá mệt nhọc mà sao nhà ảnh Trần Cao Lĩnh đã thấy và ghi lại được nét sinh động đầy niềm vui như triệu triệu hạt vàng long lanh trong “Mẻ Cá Đầu”. Cũng là đồng ruộng Cửu Long với lam lũ cầy bừa mà sao con mắt thần kỳ của nhà ảnh này đã nhận ra nét an nhiên hài hòa đất trời qua tấm “Người Ta Đi Cấy”, chứ không phải “người là con vật kinh tế” chỉ biết tranh mồi hay chỉ biết tranh gáy như con gà, đánh giá một người bằng “dóp thơm” hay “dóp giổm”. Người đánh cá hay một người làm ruộng như đang là một nghệ sĩ hòa nhịp vào khúc luân vũ đất trời, hay như một nhà hiền triết vượt trên cả mọt thứ bằng cấp.
Người ta đi cấy lấy công
Tôi đây đi cấy còn trông nhiều bề.
Trông trời trông nước trông mây
Trông mưa trông gió trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời trong bể lặng mới yên tấm lòng.
Thì ra trong máu mỗi người Việt đích thật đã có sẵn chất thơ, chất nghệ sĩ, mà người ta vẫn thường gọi là Việt tính. Đi kiếm “dóp” đâu nhất thiết chỉ để kiếm tiền khiến phải tranh mồi hay tranh gáy như kiểu gà. Còn phải trông nhiều phía chứ: trời trong, bể lặng, nhà êm... sao cho mọi sự an hòa am hợp với nhau, biến cuộc sống thành một ca khúc mới được. Mỗi người Việt là một người ảnh. Chụp được những đường nét của lối nhìn và lối sống người Việt thì tuyệt quá. Hèn chi mấy ông cố Tây có tâm hồn cỡ linh mục Đỗ Minh Trí chết mê chết mệt là phải.
MỘT VỊ THÁNH TÂY VỚI TÂM HỒN RẤT TA
Trong 117 Đấng Thánh Ta, tôi để ý đến một ông thánh “người Việt gốc Tây”. Đó là thánh Théophane Vénard, mà người Việt thường gọi là thánh Ven. Có mũi lõ mắt xanh đàng hoàng. Vậy mà lại mang máu Việt đặc sệt. Máu Việt trong tâm hồn, nghĩa là có máu thật nghệ sĩ: nhìn thấy cuộc đời là một bài thơ và chụp được những tấm hình ghi nhận toàn những kinh ngạc. Và dĩ nhiên cũng đã nhận “Việt Nam quê hương tôi”. Vậy mà một số người Việt thì lại chỉ thích mang máu Tây máu Mỹ!
Đang khi máu Tây thì thích biến con người thành những cái máy tranh mồi như kiểu Mỹ, hay chỉ thích lấn lướt tranh gáy như kiểu Đức kiểu Nhật, thì Thánh Ven mê về Á Đông ra mặt.
Có cả một cuốn sách viết về vị thánh “người Ta gốc Tây” này do cố Tây Christian Simonet, và nhà Ignatius xuất bản. Kể cũng lạ. Các thánh Ta thì có gì để viết đâu mà thành cả một cuốn dầy gần 200 trang! Tôi cũng bị nhiễm máu Tây nặng nên nổi tính “nghiên cứu” chộp về đọc một hơi từ đến cuối. Và bèn thất vọng. Chả có gì đặc biệt. Nhập làng Ta thì cũng đúng là thánh Ta, xem ra cũng là thánh “dổm” vậy thôi!
Nhưng chả lẽ vậy? Ít lâu sau tôi đọc lại lần thứ hai. Lần này thì đọc chậm, nhìn kỹ, đọc giữa hai hàng chữ. Tôi bỗng thấy những nét chấm phá mới, mà lại có sẵn trong máu một người Á Đông: nhìn thấy và chụp được những kinh ngạc trong những tầm thường hằng ngày.
Người Au Mỹ đang thèm cái nhìn này quá sức. Hèn chi họ xếp hàng dài đi xem phim Hội Phúc Lạc (The Joy Luck Club) của cô Tàu Amy Tan, hay phim Mùi Đu Đủ Xanh của người Việt Trần Anh Hùng bên Pháp. Những cái nhìn mới là những giải pháp mới cho những bế tắc của cái đà văn minh chán mứa này.
Nụ hồng và chim hót
Thánh Ven sinh ngày 21 tháng 11 năm 1829 tại Saint-Loup-sur-Thouet, một làng quê có sườn đồi dốc Bel Air bên dòng sông Thouet bên Pháp. Chú bé Ven khi mới 9 tuổi đã từng phải đi chăn dê ở vùng đồi cỏ này, và cũng chính cái bầu khí đồng quê thiên nhiên này đã giúp cho chú bé biết mơ mộng. Chú nhìn xa về một chân trời Á Đông và mong một ngày nào đó sẽ trở thành một người truyền giáo, vì chú vừa chăn dê vừa đọc những mẩu tin truyền giáo nói về cái chết tử đạo mới toanh ở Việt Nam của Thánh Cornay Tân, thuộc địa phận Poitiers của chú.
Giấc mơ cứ lớn dần với tuổi đời. Năm 12 tuổi được cha mẹ gửi đi “du học” nội trú trên tỉnh. Và cũng chính trong thời gian này, chú bé Ven bắt đầu biết viết thư. Chú có tài diễn tả tâm tình. Từ những nỗi nhớ nhà, thèm đồ ăn mẹ làm, đến những hãnh diện đứng nhất lớp. Ngày xưng tội lần đầu thì viết thư xin lỗi cha mẹ. Mẹ qua đời lúc chú bé mới 13 tuổi, chị là Mélanie thay thế săn sóc theo dõi em, và cũng là chỗ chú em có thể giãi bày tâm sự trong lúc tuổi đang lớn lên.
Năm 18 tuổi thì chú Ven được vào tiểu chủng viện Montmorillon nơi thánh Cornay Tân đã từng là chủng sinh. Tâm hồn của Ven có nhiều nét tươi sáng, thích diễn kịch vui mỗi thứ năm trong chủng viện. Cha giám đốc đã nhận xét chú Ven đúng là “được sinh ra với một nụ hồng trên môi và một con chim hót bên tai”.
Năm 1848 lúc 19 tuổi cậu được vào đại chủng viện địa phận Poitiers. Thầy Ven có tài nhìn mọi cảnh vật với một con mắt thật nghệ sĩ. Cái gì cũng được thi vị hóa thành đẹp đẽ sinh động và nên thơ cả. Căn phòng lần đầu tiên được ở riêng được ví như người thân:
“Tôi thích căn phòng này như người thân thuộc, như người mẹ thương con. Hơn nữa, căn phòng là con của tôi, vì tôi sinh nó ra. Mọi sự trong phòng đều nói chuyện với tôi; mọi sự đều có một vài điều thân thương nói với tôi. Khi viết đây, tôi chưa thắp nến; vậy để nhìn rõ hơn, tôi đến ngồi bên cửa sổ, khỏi cần bàn viết gì cả, chỉ cần cuốn sách thần học kê ở đầu gối. Từ cửa sổ nhìn ra là cả một cảnh trí tuyệt vời chưa từng thấy. Bầu trời thì tinh khiết, và bóng tối bắt đầu bao phủ dần lấy tôi và trang giấy. Thôi tôi không viết nữa. Nguệch ngoạc vậy thôi... Ngủ ngon nha”.
Viết cho chị, thầy Ven ca tụng:
Cuộc sống như vậy quả là đầy hứng thú. Thầy Ven đã làm cho nụ hồng nở và tiếng chim hót vang lên từ những gì xem ra tầm thường nhất.
Được Tặng Kim Cương Bắc Việt
Ngày 3 tháng 3 năm 1851, sau nhiều suy nghĩ trằn trọc, Thầy Ven gia nhập Hội Thừa Sai Paris, sửa soạn nhiệm vụ đi truyền giáo. Thời đó đi tàu sang Á Đông phải mất cả nửa năm trở lên. Mà đi là cầm chắc cái chết với những cuộc cấm đạo dữ dội. Vậy mà người cha cũng như gia đình thân yêu đã bằng lòng chấp nhận dâng của lễ hy sinh.
Trong chủng viện thừa sai, Thầy Ven luôn làm mọi người vui cười, thấy cái gì cũng hấp dẫn cả thôi: từ đài cầu nguyện kính Đức Mẹ ở cuối vườn đến công tác quét nhà. Thầy Ven vừa đạo đức vừa giỏi, giống như pho bách khoa kiến thức vậy. Đối với Thầy, những mầu nhiệm trong đạo quả là những đề tài và những bông hoa thơ tuyệt vời. Thầy có khướu văn chương và biệt tài về viết kiểu thư với hình ảnh và ngôn từ thật giầu.
Sau khi chịu chức linh mục, Cha Ven được lệnh lên đường sang Trung Hoa, lênh đênh cả mấy tháng trên biển cả mênh mông. Lúc đầu cha hơi buồn vì Cha vốn ước ao được đi Bắc Việt. Nhưng ý Chúa thật lạ lùng. Vào phút chót hội thừa sai gửi tới một quyết định ngắn gọn: “Cha Ven, để khích lệ Cha, chúng tôi trao tặng Cha viên kim cương là xứ Bắc Việt”. Cha Ven thật vui mừng nói với mọi người rằng từ nay đừng ai gọi tôi là người Tàu nữa, mà xin gọi tôi là người Việt. Thế là Cha Ven bỏ bộ áo Tàu, và mặc bộ đồ Việt chính hiệu: quần trắng và áo chùng thâm.
Cha Ven được bí mật đưa vào Cửa Cấm năm 1854, lúc nhà Nguyễn đang bắt đạo ráo riết. Nhưng một trường hợp hết sức lạ lùng là nhờ quan Nguyễn Đình Tân làm ngơ cho Cha Lê Bảo Tịnh mở chủng viện, vì vị quan này muốn trả ơn Cha Tịnh đã chữa mình khỏi đau mắt nặng trước đây, mà vùng Bắc Việt tương đối được nới rộng một thời gian. Cha Ven đã giảng bài giảng đầu tiên bằng tiếng Việt tại nhà thờ Kẻ Đoan. Cha sống rất hòa đồng với dân chúng, nên được mọi người thương mến.
Như bông hoa mùa xuân
Nhưng rồi việc nhắm mắt làm ngơ của quan Nguyễn Đình Tân chẳng kéo dài lâu. Sau khi Cha Lê Bảo Tịnh bị bắt thì cuộc truy lùng các thừa sai trở nên gay gắt. Cha Ven đã bị bắt và bị nhốt vào cũi như một người trọng tội. Trong thời gian trong tù, Cha viết thư về gia đình vĩnh biệt:
“Một lưỡi đao sẽ chém rơi đầu con, như một bông hoa mùa xuân mà chủ vườn yêu thích ngắt lấy. Chúng ta tất cả đều là những bông hoa trồng trên mặt đất để Chúa hái khi nào Người muốn, kẻ trước người sau. Có người là bông hồng thắm, có người là bông huệ trắng tinh, có người là bông hoa tím âm thầm. Tất cả đều cố gắng làm hài lòng Chúa cao cả bằng hương thơm và vẻ đẹp riêng”.
Thánh Ven được phúc tử đạo năm 1861 lúc mới 31 tuổi.
LÂY HỨNG CHO MỘT BÔNG HOA NHỎ NỮA
Thánh Ven tử đạo được 12 năm thì thánh nữ Têrêsa Hài Đồng mới sinh ra. Những lá thư của Thánh Ven viết về gia đình đã được báo chí Công Giáo bên Pháp thời đó đăng tải, như một hấp lực đặc biệt. Lối sống và đường nên thánh thật mới lạ và đơn giản, từ những gì nhỏ bé nhất, qua hình ảnh độc đáo là bông hoa nào cũng đẹp, cũng quí và cũng có những nét đặc sắc riêng. Lối nhìn này đúng là của người Á Đông, của Việt Nam, đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc thành hình một vị thánh khác, đó là Thánh Têrêsa Hài Đồng.
Chả vậy mà ngay trong truyện một tâm hồn, Thánh Têrêsa đã gọi là “Truyện Mùa Xuân Bông Hoa Trắng Nhỏ”. Đúng là ngôn gữ của Thánh Ven rồi còn gì., và cũng cũng cái kiểu tự thuật như viết thư của thánh Ven:
“Người mở ra trước mắt con cuốn sách thiên nhiên là phong cảnh trời đất. Ngắm cảnh thiên nhiên, con nhận thấy rằng tất cả những hoa Chúa dựng nên đều xinh đẹp hết: mầu thắm hoa hồng và sắc trắng tinh hoa huệ, cũng không át được mùi hương hoa tím, cũng không làm mất vẻ đơn sơ xinh đẹp của loài hoa cúc. Phải rồi, nếu tất cả những hoa nhỏ xíu ấy lại muốn làm hoa hồng cả, thì cảnh thiên nhiên sẽ mất vẻ đẹp lý thú mùa xuân, các cánh đồng sẽ chẳng còn muôn hoa rực rỡ nở... Những linh hồn ngây thơ chất phác này chính là những hoa nở ngoài đồng, mà vẻ đơn sơ mộc mạc làm say lòng Chúa, và bởi sự tự nhún nhường ấy, Chúa đã tỏ uy quyền cao cả vô cùng của Chúa ra”.
Thánh Têrêsa kính mến Thánh Ven một cách đặc biệt, và đã từng làm tuần cửu nhật kính Người. Mấy chỗ trong truyện Một Tâm Hồn thánh nữ nhắc tới thánh Ven. Đặc biệt là trên giường bệnh, thánh nữ ao ước được một chút xương thánh Ven. Mà Chúa đã cho thánh nữ toại nguyện. Ngày 6 tháng 9 năm 1897 thánh nữ đã được mẹ bề trên trao cho mẩu xương thánh Ven. Thật là lạ lùng. Thánh nữ đã hôn kính và giữ kỹ không lúc nào rời tay.
Lý do thánh nữ yêu mến Thánh Ven thì chính thánh nữ đã nói với các chị em:
“Cha Ven là một Đấng Thánh Nhỏ. Cha có một cuộc sống giản dị hết sức, cha kính mến Đức Mẹ. Và tình lưu luyến gia đình của Cha không thể tả được. Em cũng thế, em quyến luyến gia đình em lắm”.
Cuộc sống thánh nữ Têrêsa bình lặng quá tưởng chừng chẳng có gì để nói, xem ra còn thua cả thánh Ven nữa. Một hôm nằm bệnh sắp chết, thánh nữ nghe một chị xì xào: “Têrêsa Hài Đồng sắp chết rồi. Chị ấy qua đi không biết mẹ bề trên phải nói chuyện chị làm sao. Chắc mẹ sẽ lúng túng lắm, vì chị ấy đáng yêu thì đáng yêu thật, nhưng chị chẳng làm nên truyện gì đáng nói”.
Và lá thư cuối cùng thánh nữ viết đễ vĩnh biệt chị em đã dùng chính lá thư thánh Ven viết thư về vĩnh biệt gia đình:
“Chúng ta tất cả đều là những bông hoa trồng trên mặt đất để Chúa hái khi nào Người muốn, kẻ trước người sau. Có người là bông hồng thắm, có người là bông huệ trắng tinh, có người là bông hoa tím âm thầm. Tất cả đều cố gắng làm hài lòng Chúa cao cả bằng hương thơm và vẻ đẹp riêng”.
“Tình ý và lời lẽ của Cha cũng là của em, vì linh hồn em giống hệt linh hồn Cha”. Cuối thư, thánh nữ ký tên và không quên ghi chú: “Viết theo lời cha Thánh Ven tử đạo”.
Vì thế không lạ gì khi đọc truyện Một Tâm Hồn thấy thánh nữ đã từng ước ao qua Nhà Kín Việt Nam để nhận “Việt nam quê hương tôi” như thánh Ven, như linh mục Đỗ Minh Trí.
NGƯỜI MẸ LUÔN KINH NGẠC
Lối nhìn của Đức Maria là lối nhìn của một nghệ sĩ đúng nghĩa. Nhìn và bỗng nhận ra Chúa luôn hiện diện qua mọi vật mọi chuyện. Và nhà ảnh Maria đã chụp được hình Chúa. Ít nhất có hai chỗ Kinh Thánh nói về con mắt này. Qua biến cố sinh con nơi hang chiên nghèo hèn ở Bê-Lem và lúc lạc mất con khi đi dự đại lễ tại Giêrusalem. Mẹ lấy làm lạ về những chuyện xảy ra, ghi nhớ và suy niệm ấp ủ trong lòng. Và Mẹ bỗng nhận ra mọi sự đang là ơn ban. Đức Mẹ đã diễn tả được niềm vui này một cách tuyệt vời: Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi nhảy mừng trong Chúa là Đấng Cứu Độ tôi... Chúa đã làm cho tôi biết bao điều lạ lùng... Vì Người đã đoái thương người phận nhỏ.
Đúng là đại tác phẩm về một bông hoa nhỏ. Mỗi việc, mỗi chuyện dù nhỏ bé tầm thường mấy cũng trở thành một kiệt tác đối với con mắt thấy được của nghệ sĩ. Tâm hồn Á Đông là ở chỗ đó. Lối nhìn của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là ở chỗ đó.
Tất cả đều lạ lùng kinh ngạc. Cuộc sống đầy vẻ hào hứng. Chúa đang hiện ra. Chúa đang biểu hiện qua từng cảnh vật, từng cọng cỏ, từng cành hoa. Người đây, chụp đi.
Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường