NẺO BƯỚC DŨNG LẠC
Việt là vượt. Sắp sửa hết một thế kỷ khổ nạn vì đấm đá và nghèo hèn, người Việt liệu đã hình thành được một con đường nào vượt thoát để có thể ngóc đầu lên bước vào thiên niên mới chưa?
TẠI SAO CHIM KHÔNG BAY NỔI?
Một câu hỏi rất mâu thuẫn là tại sao người Việt là con của chim Tiên mà bay không nổi? Người có đạo là con của Chúa, mang hình ảnh Chúa Thánh Thần như chim bồ câu, vậy mà sao cũng không vươn lên được gì hơn?
Câu trả lời được tìm thấy qua một câu chuyện điển hình xẩy ra thực. Tác giả cuốn “Let go of Fear” (buông nỗi sợ ra!) là Carlos Valles kể lại: một hôm ông đang đi dạo ở ven rừng vùng nhiệt đới Á Châu, thì bỗng thấy một hiện tượng khá lạ. Một con chim đang đậu trên cành cây cao mà run rẩy đờ thân ra như không còn sức gì mà bay lên được nữa. Mỏ nó líu lại không sao kêu ra tiếng nổi. Để ý quan sát, thì ông tìm thấy lý do rồi: ở dưới gốc cây là một con rắn hổ mang đang ngóc đầu lên phùng mang hướng thẳng về phía con chim. Thế là con chim như bị thôi miên cứng đờ ra mất hết tinh lực, đứng chờ sẵn để con rắn leo lên làm một bụng no nê. Điều lạ là con rắn thì ở xa mãi dưới gốc cây kia, mà con chim thì ở trên cành cây cao. Nó có cánh bay được và có mỏ hót được. Và nó có cả một bầu trời để tung mình vút cao mà nó làm không nổi.
Thấy cảnh đáng thương như vậy, Carlos Valles bèn lấy một cục đất ném về phía con rắn. Thấy động và thấy sự có mặt của một loài hơn mình, con rắn bèn rụt cổ xuống trườn đi chỗ khác, có vẻ tiếc rẻ miếng mồi ngon bỏ qua rất uổng. Và con chim bỗng hoàn hồn tỉnh táo cất giọng hót líu lo và tung cánh bay lên.
SỨC MẠNH CỦA CÁI NHÌN VÀ CÁI THẤY
Lý do gì vậy? Con chim không bay không hót nổi vì nó sợ quá. Nỗi sợ làm nó mù mắt không còn nhìn thấy gì nữa, quên luôn cả khả năng và bản lãnh của nó. Hay nói đúng hơn là nó chỉ còn nhìn thấy con rắn. Chính cái thấy trong đầu con chim đã giới hạn khả năng của nó, quên rằng nó có đôi cánh và bầu trời thênh thang rộng mở bên trên. Nó đã đánh mất niềm tin vào chính mình. Đời nó lúc này chỉ còn nhìn thấy một sự thực là con rắn đầy quyền năng chế ngự được nó. Cái thấy tạo ra phản ứng và tâm tình. Và tâm tình tạo ra hành động. Tâm tình ở đây là sợ hãi; và hành động là run rẩy cứng đờ ra. Như vậy chính cái nhìn và cái thấy trong đầu con chim mới là sức mạnh cột chân và mỏ nó và đủ sức làm nó bất động. Cái nhìn và cái thấy tạo ra thực trạng.
Chim bay là biểu tượng của đời an lạc thảnh thơi. Chim bay cũng là biểu tượng của tâm linh vươn lên khỏi thể xác và vật chất ô trược.
Thực trạng mỗi người Việt hình như đang có điều gì thực bi thảm. Trong tiềm thức, trong những cơn mơ mình vẫn mình đang bay. Mà bay một cách mệt nhọc, luôn luôn muốn rơi xuống. Bao nhiêu truyện tương tự như vậy đang xẩy ra trong tâm hồn, gia đình, cộng đồng và quê hương mình.
Làm thế nào để vượt thoát bay lên được? Con đường vượt thoát chính là đổi được cái nhìn và cái thấy. Con đường nằm ngay trong đầu mỗi người. Đó chính là niềm tin. Harvey Cohen, một nhà tâm lý nổi tiếng đã nói: “Nếu Chúa đã không dựng nên bạn có thể bay được, thì Ngài đã không cho bạn cái đầu.”
CÁI THẤY CỦA CON KIẾN
Một con kiến đang bò trên mặt một tờ giấy. Nó ra sức bò từ đầu này sang đầu kia. Một người đứng quan sát nó bò như vậy vừa tới đầu bên kia thì liền nẩy ra ý gấp tờ giấy lại. Con kiến lấy làm lạ là nó lại gặp lại chỗ nó đã khởi hành.
Đối với con kiến thì thế giới của nó là cái mặt phẳng hai chiều: chiều ngang và chiều dọc. Nó không thể hiểu và thấy được chiều kích thứ ba gọi là hình học không gian: chiều đứng. Đối với nó thì “thế gian” chỉ vỏn vẹn trong tầm mắt trên tờ giấy. Nếu có người bỏ một hạt gạo vào trên mặt giấy thì nó khoái trá mò đến kiếm ăn, nhưng nó không thể hiểu từ đâu tới. Đối với nó, việc hạt gạo “hiện ra” trên mặt giấy là một phép lạ. Hình ảnh này cũng giúp hiểu một điều xem ra rất mẫu thuẫn trong đạo là việc tin Chúa ở khắp mọi nơi “Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế” và việc Chúa hiện ra. Chúa vẫn ở đây chứ, nhưng chỉ thấy Chúa “hiện ra” thực khi nhìn với con mắt trong một chiều kích cao hơn mắt con kiến.
Chúng ta vẫn thường nói: mặt trời mọc và mặt trời lặn. Sự thật có phải vậy đâu. Nói như thế cũng giống như con kiến không thấy gì rộng hơn và cao hơn. Cho đến thời Galileo và Isaac Newton bỗng thấy một sự thật khác qua chuyện nhìn trái táo rụng mà “thấy” được, phát minh ra định luật về trọng lực.
CÁI THẤY CỦA KHOA HỌC THỜI CẬN ĐẠI
Quả thực, Newton và Descartes đã ghi mốc cho một nền văn minh gọi là khoa học kỹ thuật từ Âu Châu tiến đến tột đỉnh ở Mỹ như ngày nay. Sự vật được nhìn như những “thực thể” tách rời biệt lập, để được đo lường cân lượng, để trở thành những kết luận, những định luật, định lý.
Cái nhìn và cái thấy mới được gọi là “văn minh” này có thể diễn tả đơn giản là con kiến trước đây chỉ biết bò trên mặt phẳng, bây giờ biết bò trong một cái hộp vuông. Nó vẫn vênh mặt lên tự hào đã bá chủ được “vũ trụ”. Cho đến một hôm nó cố gắng mò mẫm lên được mặt trăng, chưa kịp gáy để khoe mẽ thì bỗng dưng cụt hứng khi nhìn về trái đất và thấy một sự thật khác: tất cả những đo lường, những dinh thự chọc trời, những bon chen ở dưới kia sao mà nhỏ bé li ti thế kia ! Rồi nhìn ra chung quanh: vũ trụ bát ngát bao la. Con người bằng ấy năm “văn minh” mà sao lệt bệt quá vậy? Cứ tưởng tượng xem: văn minh gì mà cứ phải bò lết trên mặt đường bằng những phương tiện mà loài người gọi là xe hơi. “Con kiến” như vừa thức tỉnh vượt lên khỏi cảnh “ếch ngồi đáy giếng” trong một cái nhìn mới trong một chiều kích mới.
MỘT NỀN VĂN MINH MỚI ĐANG HÉ MỞ
Tổng thống Vavlav Havel của Tiệp Khắc quả là đã nhìn thấy điềm thời đại khi nói: “thời đại mới bắt đầu bằng việc khám phá ra đất Mỹ thì cũng sẽ chấm dứt tại đất Mỹ. Đó là năm 1969 khi người Mỹ lên được mặt trăng lần đầu...”
Mà đúng vậy. Lần đầu tiên vượt cái nhìn ra khỏi hộp vuông, con người bỗng thấy một chiều kích mới. Cái mà tôi vẫn gọi là tôi không chỉ bị giam hãm trong cái bị đầy thịt và xương như thân xác tôi bây giờ, mà đang cố thoát mọc cánh bay lên một cách vất vả. Thì ra chưa bao giờ con người cảm thấy nhỏ bé và yếu hèn như trong thời đại văn minh kỹ thuật này. Nhiều khi thua cả con vật, thua cả máy móc. Con người tự tạo ra cho mình như vậy khi tự nhốt giam mình vào trong một hộp vuông vật chất, tách rời khỏi nguồn sống tinh thần. Vuông chỉ còn là vuông dưới đáy giếng mà không còn hòa được với trời tròn để có cảm nghiệm vuông tròn toàn mãn.
Khoa vật lý mới nhất đang hé mở ra một cái nhìn mới và một cái thấy mới. Từ Max Planck, Albert Einstein đến David Bohm, trời-đất-người không còn là những thực thể tách biệt nhau, mà chỉ là một sinh lực duy nhất (unified field), và theo ngôn ngữ của bác sĩ Deepak Chopra, giám đốc viện quốc gia nghiên cứu chữa bệnh bằng lực vũ trụ (quantum healing) thì mọi trật tự lạ lùng đều do “Đấng Toàn Tri” điều khiển. Mọi vật và ngay cả thân xác con người cứ tưởng là những thể đặc tách rời nhau, nhưng khoa vật lý lượng tử (quantum physics, dịch thoát là vật lý vũ trụ nhất thể) cho thấy chỉ là những phân tử năng lượng nhảy múa trong biển lực mênh mông. Phân tử là yếu tố nhỏ nhất gọi là hiện hữu làm nên nguyên tử nhưng không thể thấy được. Cái lạ lùng là tất cả xem ra lung tung rối loạn thì đang qui hướng có mục đích như trong cái thấy của Hàn Mặc Tử khi xuất thần trong bài Siêu Thoát:
Những cù lao trôi nổi chốn mênh mang
Sẽ qui tụ thâu về trong một mối
Và tư tưởng không bao giờ chắp nối
Là vì sao? Vì sợ kém thiêng liêng.
Trí vô cùng lan nghĩ rộng vô biên
Cắt nghĩa hết những anh hoa huyền bí.
Hay như cái nhìn của nhà thần học và khoa học Teilhard de Chardin: tất cả đang nhảy múa hướng tới một đích điểm như một ca đoàn trong bài ca vũ trụ “hymn of the universe”. Chính cái lực này, cái sức sống duy nhất mà ta gọi là tâm linh này đang là yếu tố chữa được nhiều bệnh ung thư như bác sĩ Chopra chứng nghiệm qua chương trình “quantum healing” của ông.
NHỮNG CẢM NGHIỆM HÚT HỒN
Mùa xuân đến. Từng mầm cây, từng đọt búp bỗng dưng nhú lên, từ những gì xem ra đã chết của mùa đông tàn lụi. Sức sống tung toé, tươi nở phơi mình dưới ánh nắng mới ngầy ngật, hay nhảy múa dưới ánh trăng nhiệm mầu, như một khúc luân vũ đất trời hòa hợp.
Chắc chắn đã có lần bạn cảm nhận sức sống này. Ở bờ biển lúc mặt trời mọc? Trên đỉnh núi Pecos rặng Rocky Mountains, trong sa mạc Arizona, hay bên dòng suối Gatlinburg thuộc Smoky Mountains? Lạ lắm và hút hồn lắm phải không?
Thi hào Hàm Mặc Tử đã tả lại một cảm nghiệm hút hồn bay bổng như vậy trong bài “Chơi giữa mùa trăng” khi còn bé với người chị là Nguyễn Như Lễ:
“Ánh sáng tràn trề, ánh sáng tràn lan, chị tôi và tôi đều ngả vạt áo ra bọc lấy, như bọc lấy đồ châu báu...
Tôi bỗng thấy chị tôi có vẻ thanh thoát quá, tinh khôi, tươi tốt và oai nghi như pho tượng Đức Bà Maria là bức tinh truyền chí thánh. Tôi muốn sốt sắng quì lạy mong ơn bào chữa. Nhưng trời ơi, sao đêm nay chị tôi đẹp đến thế này. Nước da của chị tôi đã trắng, mà vận áo quần bằng hàng trắng nữa, trông thanh sạch quá đi.
Tôi nắm tay chị tôi dật lia lịa và hỏi một câu hỏi tức cười làm sao: “Có phải chị không hả chị?” Tôi run run khi tôi có ý nghĩ: Chị tôi là một nàng Ngọc Nữ, một hồn ma, hay một yêu tinh. Nhưng tôi lại phì cười và vội reo lên: A ha, chị Lễ ơi, chị là trăng và em đây cũng là trăng nữa !”
Ngó lại chị tôi và tôi, thì quả nhiên là trăng thiệt. Chị tôi hí hửng như xuân, chạy nhảy xênh xang, cơ hồ được dịp phát triển hết cả ngây thơ của người con gái mười lăm tuổi, tôi ngắm mãi chị tôi, và tự vui sướng trong lòng vô hạn. Có lúc tôi đã kiêu ngạo thay cho cái sắc đẹp nhu mì ấy, mà chỉ dưới trời thu đêm nay tôi mới biết thưởng thức. Những phút sáng láng như hôm nay, soi sáng linh hồn tôi, và giải thoát cái “ta” của tôi ra khỏi nơi giam cầm của xác thịt... Tôi bỗng rú lên một cách điên cuồng, và chực ngửa tay hứng một vì sao đang rụng. Chị tôi đằng xa chạy lại bảo tôi: Em la to quá, chị sợ âm thanh rung động đến khí trời, rồi những ánh trăng sẽ tan ra bọt mất...
- Không, không, chị ơi ! Rồi ánh sáng đêm nay sẽ tan đi, ta sẽ buồn thương và nhớ tiếc. Em muốn bay thẳng lên trời để tìm ánh sáng muôn năm thôi...”
Có lần tôi cũng tả cái cảm nghiệm na ná như vậy khi vào sa mạc Arizona tịnh niệm nửa tháng vào tháng 5 năm 1990:
“Vào sa mạc là tự nhiên đi vào cõi trống rồi. Chung quanh chỉ có cát và những cây xương rồng saguaro khô khẳng. Xương rồng sa mạc Arizona đặc biệt lắm: nó mọc lên như một thân người có những cánh tay vươn cao trong tư thế cầu nguyện.
Mỗi tối, khi mặt trời xuống khỏi rặng núi xa xa, thì bầu khí trở nên u linh lạ lùng. Anh sáng thật huyền ảo. Bầu trời vút cao vời vợi. Tôi đã từng tập quì cầu nguyện với hai cánh tay giơ cao như những cây xương rồng. Chờ cho đến khi ánh sáng ban ngày tắt hẳn, tôi lấy vải trải trên cát, và nằm chiêm ngưỡng bầu trời đầy sao. Cái cảm nghiệm hút hồn đêm đó chắn chắn sẽ theo tôi suốt đời. Tôi thấy tôi lâng lâng khỏi mặt đất, khỏi những bon chen giam hãm như thành phố Tucson xa xa với ánh điện lờ mờ dưới kia. Có cái gì đang bị hay đang được phá vỡ trong tôi. Giữa cõi không gian nhiệm mầu đó, tôi thấy mình tách rời tất cả, buông xả tất cả. Một cảm giác kỳ lạ ngất ngây: tôi thấy mình tan biến đi mà nhẹ nhàng bay bổng vút cao hòa vào một thực tại bao la. Không còn trời. Không còn đất. Không còn chính tôi. Tôi không thể tả nổi cái cảm nghiệm này, hay không còn gì để nói thì đúng hơn. Tất cả như chỉ có một nhịp sống, chỉ có một hơi thở. Lần đầu tiên tôi nghe rõ tiếng nói của thinh lặng như trong bài hát “The Sound of Silence”. Và tôi hiểu được lời của Kahlil Gibran, nhà “tên tri” của thời đại trong cuốn Tiên Tri:
Hãy để giữa lòng bạn những khoảng trống
cho gió trời có thể nhảy múa thổi vi vu.”
ĐI TÌM CHÌA KHÓA CẢM NGHIỆM VUÔNG TRÒN
Từ cảm nghiệm trên, tôi vẫn tiếp tục đi tìm câu trả lời thỏa đáng. Tháng giêng năm 1994, trước Tết ta, tôi đi lên miệt núi El Toro thuộc rặng Santa Inez vùng Santa Barbara cách Los Angeles khoảng 60 dặm về phía bắc. Mười hai ngày trong một khóa đặc biệt gọi là Avatar, mà cốt tủy là thực tập phá bể cái tôi vốn bị nhốt giam trong cái hộp xác thân mà hòa vào cái ta đại thể của đất trời rộng mở bao la.
Đơn giản lắm. Bạn thử thực tập nhìn một đám mây trôi hay một dòng nước chảy. Hãy trở nên một như đám mây trôi hay như dòng nước chảy. Hãy hòa vào đó. Cảm nhận những gì mà đám mây trôi hay dòng nước chảy đang cảm thấy. Và cứ những thực tập đơn giản như vậy. Tự nhiên cái “tôi” trong bạn bị phá bể lúc nào không biết, và lòng bạn tự nhiên thấy mở rộng thênh thang vì bạn đang hòa vào cái ta đại thể rồi.
Truyện thiêng Bánh dầy bánh Chưng của Việt Tộc mang đầy đủ ý nghĩa của cuộc biến đổi này: biến cái tôi vuông cạnh vật chất nhỏ bé mà hòa vào cái ta trời tròn đại thể thành cảm nghiệm vuông tròn. Hoàng tử Tiết Liệu đã tìm được đạo sống vuông tròn ngay ở nhà mình chứ có phải tìm đâu xa. Ong đã được sống đời hoàng vương toàn mãn.
Thì ra cũng không cần phải vào sa mạc, hay trở về động cát Sa Kỳ “chơi giữa mùa trăng” của chị em Hàn mặc Tử mới có được những cảm nghiệm hút hồn đất trời hòa hợp sung mãn như cảm nghiệm của tiết xuân. Khoảng trống có thể tìm thấy trong lòng, ngay lúc này, trong cuộc sống bình thường. Và như vậy lúc nào cũng là Mùa Xuân như trong cái thấy của Hàn Mặc Tử:
Tứ thời xuân, tứ thời xuân non nước
Phút thiêng liêng nhuần gội áng hào quang
Thiên hạ bình và trời tuôn ơn phước
Như triều thiên vờn lượng khắp không gian.
Từ ngày 7 tháng 1.1995 đến 12 tháng 3.1995, bảo tàng viện nghệ thuật New Orleans triển lãm tranh vẽ của họa sĩ Claude Monet, trường phái ấn tượng. Người ta ước tính cả mấy trăm ngàn người đi xem. Ông này chỉ vẽ những gì thông thường trong vườn của ông ở Giverny phía tây bắc Paris. Ông bảo: “mỗi cchiếc lá đều quan trọng bằng những đường nét của một người đẹp mẫu”. Vẽ một chiếc lá hay một bông hoa súng đều có thể thành những tuyệt tác. Tất cả đều mang theo sinh lực đất trời. Hãy hòa vào sức sống của một cành lá, của một bông hoa.
Vậy thì bạn cũng có thể tìm thấy nét đẹp như vậy trong bất cứ gì xem ra tầm thường nhất ngay lúc này.
CÁI THẤY CỦA THÁNH DŨNG LẠC
Điều gì làm cho Thánh Dũng Lạc và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam mọc cánh bay lên được như đoàn phượng rồng dù ngay trong những “con rắn” khốn cùng?
Đó là cái thấy. Vẫn gọi là đức Tin. Thấy được Đấng Toàn Tri, Toàn Năng đang có mặt và yêu thương an bài thì còn gì phải sợ nữa?
Như Đức Maria, Thánh Dũng Lạc cũng có những lúc lo sợ, đi tìm con đường vượt thoát khỏi những khốn khó như khi bị lùng bắt. Chúa đã báo tin cho Đức Mẹ cũng như Thánh Dũng Lạc: “Đừng sợ, vì có Chúa ở cùng. Đấng Toàn Năng sẽ bao phủ. Không gì mà Chúa không làm được”.
Tin hay không tin điều ấy là tất cả bí quyết nơi Thánh Dũng Lạc. Mà tin là thấy. Cái thấy làm thay đổi tất cả. Thấy khác thì phản ứng khác và hành động khác. “Con rắn” vẫn có đó, nhưng thay vì chỉ thấy rắn toàn năng để mà run rẩy sợ hãi, thì giờ đây Thánh Dũng Lạc là con chim mẫu của đàn chim Việt Tộc đang nhìn thấy một lực khác lớn hơn nhiều. Và khi đã cảm nghiệm thấy được “Chúa ở cùng tôi, tôi ở cùng Chúa” thì còn gì có thể làm mình run sợ nữa. Như cảm nghiệm của Thánh Phaolô: Tôi có thể làm được mọi sự trong Chúa là sức mạnh của tôi” (Phil 4:13).
1. Xả buông cõi vuông mà hòa vào cõi tròn
Thấy được sự tù túng và yếu hèn của cái hộp vuông ba chiều, Thánh Dũng Lạc đã hòa được vào chiều kích thứ tư là cõi tròn đầy. Lần thứ ba bị bắt, Ngài không biết phải theo đường nào. Nhưng khi đã cảm nghiệm thấy ý Chúa muốn mình trở lại sẵn sàng chịu chết như thánh Phêrô trên đường trốn chạy khỏi thành Roma, Ngài đã bằng lòng theo đường Chúa.
2. Thấy Chúa đang hiện diện
Phép vượt và bí quyết sống vuông tròn dũng lạc của Thánh Dũng Lạc đơn sơ chỉ có thế. Chả cần gì phải có những đường tu đức cao xa thần bí. Chả cần phải viết thành những pho sách dầy cộm về phương pháp này phương pháp kia để tìm Chúa. Chúa đang ở đây mà. Có gì phải tìm đâu. Tin hay không tin, thế thôi. Thánh Dũng Lạc đã tin và đã thấy.
Chính vì thế mà khi bị bắt nhốt trong tù khổ cực giữa “những con rắn”, giữa những hành hạ của quan quân, Thánh Dũng Lạc vẫn an nhiên viết gửi cho bạn một bài thơ đầy tin tưởng:
Lạc rầy đã rõ chốn quan quân
Bút chép thơ này gửi thở than
Lòng nhớ bạn nỗi còn vất vả
Dạ thương khách chạy chưa yên hàn
Đông qua tiết lại thời xuân tới
Khổ tạm mai sau hưởng phúc an
Làm kẻ anh hùng chi quản khó
Nguyện xin cùng gặp chốn Thiên Đàng.
Thánh Dũng Lạc đã chữa được bệnh nan y bằng “quantum healing”, thấy được Chúa ngay trong nhà tù. Nơi nào có Chúa thì đó là Thiên Đàng hạnh phúc, đầy ơn: ơn dũng như Rồng và ơn lạc như Tiên. Còn phải tìm đâu xa? Chính vì thế mà Ngài luôn tỏ ra biết ơn Chúa qua mọi chuyện. Cám ơn vị quan đã bắt mình mà có lòng tử tế; cám ơn giáo dân đã thương mến tận tình; cám ơn Đức Cha và các vị thừa sai đã mang đức tin đến cho mình.
Thánh Dũng Lạc thấy mình sung sướng, mà còn tỏ ra thương hại người bạn dù đang sống tự do ở ngoài: Lòng nhớ bạn nỗi còn vất vả, Dạ thương khách chạy chưa yên hàn...
Và mặc dù những cảnh khốn khó như mùa đông lạnh buốt, nhưng Ngài vẫn tin tưởng nơi Chúa an bài đang xếp đặt cho mùa xuân bừng nở.
HÁT TRÊN XE LĂN
Có lần sau một khóa tĩnh tâm ở vùng St Petersburg bang Florida, tôi được mời đến thăm một thiếu nữ bị tàng tật phải ngồi xe lăn.
Trên đường đi tôi cứ nghĩ phải nói gì để an ủi một người “không may mắn” như vậy. Nhưng đến nơi thì tôi thấy ngược lại. Người đang ngồi trên xe lăn kia là một cô gái hơn hai mươi tuổi, bị liệt, nhưng nét mặt lại vui tươi không thể tả được, với nụ cười rạng rỡ như là hiện thân của chính niềm hạnh phúc. Sau vài câu chào hỏi, cô bắt đầu kể chuyện về những niềm vui được đi xe lăn đến thăm nhà thương hay những trại tù hồi còn ở Việt Nam. Mỗi lần đi thăm như vậy, cô chỉ biết hát tặng những bệnh nhân hay tù nhân. Những bài hát đong đầy lời Tin Mừng. Và cô tặng những nụ cười nở tươi tin tưởng, qua chính con người của cô. Cô đã hát tặng tôi một bài hát do một linh mục sáng tác từ trong nhà tù, rất giống trường hợp của Thánh Dũng Lạc:
Ôi tình yêu Thiên Chúa quá bao la
Con đâu dám kể lượng hải hà
Con chỉ biết muôn đời mãi mãi hoan ca.
Ôi thánh ý Chúa quá cao vời
Con đâu dám cưỡng lại ý Người
Con Nguyện quyết vui tươi vâng theo suốt đời.
-Ai có thể tách rời chúng ta khỏi tình yêu của Chúa? Phải chăng gông cùm gươm giáo, phải chăng đau khổ bệnh tật?
-Ai có thể tách rời chúng ta khỏi tình yêu của Chúa? Phải chăng thanh bình nắng ấm, phải chăng giông tố phũ phàng?
-Ai có thể tách rời chúng ta khỏi tình yêu của Chúa? Phải chăng thân mình rách nát, phải chăng đói khát cơ hàn?
Nghe cô hát như vậy trong niềm tin tưởng hạnh phúc, ai có thể giấu nổi niềm xúc động? Và tự nhiên tôi thấy thẹn vì được quá nhiều thứ mà có lẽ không hạnh phúc hơn cô ta! Và biết đâu mình mới là người “không may mắn” cần phải được chữa cho lành.
Đúng là cô ta đang “giảng” và làm chứng về đạo sống dũng lạc. Ngồi trên xe lăn hay bị nhốt trong nhà tù như thánh Dũng Lạc mà tâm hồn vẫn tự do bay bổng hoan lạc, vì vẫn luôn cảm nghiệm được tình yêu của Chúa, như Thánh Phaolô đã diễn tả:
Nào có gì ngăn cách giữa chúng ta với lòng thương của Đức Kitô? Phải chăng là những cuộc hoạn nạn hay lo âu, hoặc bị bách hại, hoặc thiếu của ăn áo mặc, hoặc bị đe dọa, hay là hơn nữa đao kiếm tấn công? Những thử thách đó chúng ta đã hoàn toàn khắc phục, nhờ quyền lực của Đấng đã yêu thương chúng ta” (Roma 8:35-37).
PHONG TRÀO DŨNG LẠC
Đại Hội Công Giáo kỳ 3 năm 1989 đã chọn đề tài: Các Thánh Tử Đạo Việt Nam nhân chứng đức tin. Đúng là một thời điểm xây lại bộ kinh tin, góp phần phục hưng Việt Nam. Kể từ đó, tinh thần Dũng Lạc vẫn được tiếp nối đào sâu.
Linh mục Ngô Duy Linh đã thổi hứng cho nhiều người với những bài hát đầy thần khí như Ngày Vinh Thắng, Gương Bất Khuất, Tình Yêu Tuyệt Đối, Au Ca Dũng Lạc... và những nỗ lực đào tạo những nhóm Chim Non Dũng Lạc.
Các Linh Mục Miền Đông Nam Hoa Kỳ đã soạn Tuần Chín Ngày Khấn Các Thánh Tử Đạo Việt Nam vào năm 1993 và đã thực hành trong các cộng đoàn. Điều đặc biệt là Miền Đông Nam cũng đã thành lập được thư viện Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đặt trụ sở tại Tu Hội Tận Hiến ở Baton Rouge, chính thức khai mạc từ ngày lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam 24 tháng 11.1994.
Và lần đầu tiên, đường tu đức Các Thánh Tử Đạo Việt Nam được áp dụng cho một khóa tĩnh tâm cho các linh mục Miền Đông Nam Hoa Kỳ tại nhà tĩnh tâm Lumen Christi (Houma, Louisiana) đầu tháng 10.1994.
Một ban đặc nhiệm về việc phát động Phong Trào Dũng Lạc đã được thành lập, gồm các linh mục tu sĩ và giáo dân. Và đã mở những khóa tĩnh huấn tại nhiều cộng đoàn khác nhau.
NHỮNG ĐỀ NGHỊ CỤ THỂ
Sau những ngày tĩnh tâm tại Houma, một số những đề nghị do chính các linh mục góp ý:
- Cố gắng hoàn thành sách “đường tu đức các hiển thánh Tử Đạo VN” càng sớm càng tốt. (LM Ngô Duy Linh)
- Đề nghị phát triển đường tu đức, ngoài việc soạn thảo và học hỏi, điều cần là chính các linh mục hãy lồng những tấm gương mẫu tin, cậy, mến, lòng chung, vị tha... của các ngài trong các bài giảng khi san sẻ lời Chúa, thay vì phải lấy những thí dụ ở đâu đâu. Tại sao không lấy một điểm của một vị thánh Tử Đạo thích hợp với lời Chúa của hôm đó, vừa súc tích vừa nêu gương, và để con cháu hãnh diện, và nhất là để theo gương các vị tiền bối của mình mà sống đạo.
- Cần nhiều tài liệu, chứng tá về các thánh Tử Đạo, để học hỏi nhiều hơn trong những hoàn cảnh khác nhau, để nhờ đó sự tôn kính nơi người Công Giáo Việt Nam mới được phát triển. Vì “vô tri bất mộ” mà.
- Có thể mỗi người được đề nghị nghiên cứu về một vị thánh nào đó, sưu tầm sâu rộng hơn, và có thể viết ra những chứng tích anh hùng của vị thánh đó, và gom lại thành Bộ Truyện CTTĐVN
- Đề nghị tìm điểm nổi bật của mỗi vị thánh rồi phát triển thành bài suy niệm để dùng trong các giờ cầu nguyện, hoặc thực hành trong cuộc sống thường ngày.
- Tìm đọc tài liệu và sử liệu về CTTĐVN, tìm ra những cá tính và hoàn cảnh khó khăn hoặc các nết xấu giống mình, xem các ngài giải quyết hoặc diệt trừ ra sao để đem áp dụng cho mình.
-
Đề nghị mỗi gia đình chọn một vị thánh TĐVN làm quan thày: học hỏi và tìm tòi tài liệu, noi gương sống đạo, hằng năm mừng lễ trọng thể cả gia đình cùng tham dự như một đại lễ của gia đình; tổ chức đọc kinh chung gia đình, đọc kinh CTTĐVN hằng ngày; hằng năm cổ võ gia đình dự lễ CTTĐVN với tuần 9 ngày; cổ võ gia đình tham gia yểm trợ công cuộc xây dựng thư viện CTTĐVN. (LM Thomas)
(một phần bài này đã được trình bày trongmột buổi hội thảo của Miền Đông Nam Hoa Kỳ)
Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường