VIỄN KIẾN NÀO
TỪ VẾT HẰN TRÊN LƯNG NGỰA HOANG
Đây là hình ảnh một con ngựa hiền hoà bị cưỡng bức hất ra khỏi nơi êm ấm an toàn để đẩy vào cơn lốc xoáy thành ngựa hoang lang thang với những vết thương hằn sâu trên lưng. Vết thương vẫn tiếp tục âm ỉ ngày đêm hành hạ khiến ngựa hoang đớn đau giãy giụa vật vã.
Trước khi ngã xuống chết, nó sinh hung hãn khác thường. Nó sừng sổ đấm đá cuộc đời. Nó tung vó hí vang hét lớn. Rồi nó gục xuống bên bờ vực thẳm. Nó đã chết bình an. Hai giọt nước mắt còn vương trên mắt. Nhưng nét mặt thật thơ ngây hiền hoà như ngày nó vào đời!
TỪ NGƯỜI DI TẢN BUỒN
Đối với nhiều người tỵ nạn, đám tang cuộc đời đã bắt đầu từ ngày đặt chân lên "Quán trọ trước cổng thiên đường" ở Thái lan, Mã lai, Indian Town Gap, Fort Chaffee... Nhiều người khác sau khi đã ghé môi cắn vào trái hệ lụy của xã hội mới liền dứt khoát "Đóng cửa trần gian" như một câu truyện thê thảm nào đó được viết ngay những năm đầu tỵ nạn.
Người tỵ nạn nào cũng mang một vết nội thương sâu xa. Bị phản bội, lừa lọc. Tất cả đều trở thành phi lý, buồn nôn. Sinh nghi ngờ mọi sự và mọi người.
Những hiện tượng tâm lý phát sinh từ vết hằn này thật nhiều.
Có người vì tan tác gia đình, con cái chết chìm trên biển, ăn thịt người để sống sót... Cuộc sống không còn lý do gì để mà sống, nên sinh ra bê tha rượu chè, mỗi ngày ra vườn sau ngồi thơ thẩn nhìn về phương đông mà thở dài, mà tìm quên cuộc đời ô trọc này!
Có người "thấy đời mình là những quán không", mất quá khứ vàng son, không thấy mình là ai nữa nên mang mặc cảm cố gắng khoả lấp trống rỗng bên trong bằng những hoạt động. Cần thêm một chỗ đứng. Cần thêm một chức tước, nên múa may quay cuồng tội nghiệp!
Có người thì lại hung hãn hơn. Thù đời nên sừng sổ đấm đá cuộc đời. Nhưng chỉ là giận chó đá mèo, giận cá băm thớt. Những màn la hét chỉ là hậu quả của vết thương hằn sâu trong tim. Rồi người đấm, người đỡ, người đổ tội, người cải chính. Vòng hệ lụy thật đáng thương. Nhiều người trở thành nạn nhân của nhau. Trò chơi này thật phí nhiều sức, còn nhuệ khí đâu mà lo xây dựng chung, nên cứ lẩn quẩn ba chuyện lẩm cẩm không sao vươn lên được.
ĐẾN ĐIỆU NHẢY NEW WAVE.
Quá khứ đồng nghĩa với cổ hủ, thua cuộc, nhục nhằn. Cần phải quên đi như quên một cơn ác mộng. Những danh từ hoa mỹ về lịch sử oai hùng, về tự hào dân tộc, xem ra chỉ là những mặc cảm tự ái hão, vì nó đã chết khô không còn sức khơi động sinh khí cho hiện tại. Một số người nào đó còn cố ca tụng thời vàng son, và hễ mở miệng khai bút là chê trách hiện tại. Âu cũng là một mặc cảm từ vết nội thương.
Người trẻ được hô hào giữ gìn văn hoá dân tộc, đừng mất gốc lai căng! Đang khi chẳng ai rõ văn hoá dân tộc là cái gì. Cuộc sống có vẻ như bế tắc không lối thoát. Giá trị cũ chỉ là "thành cổ tan hoang" và "miếu cũ rêu phong"
Trong trạng huống đó, khẩu hiệu "theo mới hoàn toàn theo mới không chút do dự" xem ra dễ được chấp nhận. Còn hấp dẫn là đàng khác.
Thế là con ngựa hoang tỵ nạn được các lái buôn đầu tư. Phạm Duy đã diễn tả bằng bài Ngựa Hồng trong Ngàn Lẻ Lời Ca (trang 374):
Ngựa Hồng hôm nay cột vào yên cương.
Cong lưng kéo chiếc xe thôi!
Đường đời quanh co chật chội
Bụi bờ quanh năm lầy lội
Cỏ hèn đã úa từng cội
Ngựa hồng đi quanh thành cổ tan hoang
Đi quanh miếu cũ rêu phong.
Ngựa hồng khiêng bao nặng nề trên lưng
Vó bước phong sương ngập ngừng
Ngựa hồng long đong, trụi bờm, se lông
Cong lưng vó bước mông lung.
Từng ngọn roi đau tàn bạo
Từng gò dây cương nghẹn ngào
Một hàm thiếc khoá miệng vào
Cuộc đời lao đao cua kẻ vong thân
Khiêng voi, cõng rắn trên lưng..."
Ngựa hoang được chải chuốt sạch sẽ vì hy vọng có lợi cho cuộc chạy đua sắp tới. Nó được cung cấp một job bở, một cái xe, một ngôi nhà, một bồn cỏ để có việc làm chúa nhật cho bớt trống rỗng, lý tưởng cuộc đời không cao hơn cái check cuối tuần.
Ngựa dù hôm nay đeo yên gấm vóc
Hay đưa xe loan cũng là kiếp nô.
Kiệu vàng trên lưng, nhưng đôi mắt đã che ngang
Bơ vơ trên đường nhấp nhô!
(Phạm Duy, Ngàn Lẻ Lời Ca, trang 375)
Điệu nhạc New Wave vẫn tiếp tục cuồng loạn và thu hút. Đến một lúc nào đó dừng chân thấy thân xác mệt mỏi, tâm hồn rã rời giống như tâm trạng của một người trẻ tâm sự:
Chiều trên City Park
Con vịt kêu càng cạc
Lá vàng rơi lác đác
Râu ria thì phờ phạc
Mặt mũi thì ngơ ngác...
Từ trong các gia đình một cơn khủng hoảng bắt đầu nổ tung. Xung khắc giữa thế hệ "Old Wave" và thế hệ "New Wave". Xung khắc giữa cà ghém mắm tôm với Burger King. Xung khắc giữa vợ chồng về quan điểm và lối sống. Chẳng còn độ rung nào chung để mà ngồi lại. Rồi cảnh sát. Rồi toà án. Mỗi bên đều thắng. Nhưng giá phải trả cho giấy ly dị “huy chương bội tinh” là những giọt nước mắt, là đàn con tan tác, đứa đi tập đâm chém và ăn cướp, đứa đi hút xì ke...
Nếu dấu chỉ thời đại của lớp Old Wave là những xung khắc đập đá trong các cộng đồng của những năm đầu thập niên 80 thì dấu chỉ rõ nhất của thập niên 90 là những đổ vỡ gia đình. Mọi người đều là nạn nhân, đều giẫy giọn, đều hung hãn đả kích la hét. Đôi khi có cảm tưởng càng giải quyết càng thêm vấn đề, càng uống càng khát... Vì mỗi người chỉ nhìn thấy ngọn mà không thấy nguồn, không biết căn nguyên nằm ở đâu nữa.
TẠI SAO VẬY CHÚA?
Carlo Caretto, một thầy tiểu đệ, đã chia sẻ cảm nghiệm vật lộn với đau khổ đời mình qua cuốn Why O Lord? Khi mũi kim chích thuốc cảm bình thường vừa rút ra khỏi, thì cũng chính là lúc Caretto nhận ra mình vừa mới bị liệt cả hai chân. Bao nhiêu mộng ước tương lai vụt tắt. Từ nay là xe lăn. Tại sao vậy Chúa?
Bạo động, chiến tranh phi lý, động đất, núi phun lửa, cướp của, giết người lãng nhách. Tại sao Chúa quyền năng mà để nữnmg chuyện đó xảy ra? Có Chúa thật không? Chắc chắn trong tâm khảm của một số lớn người Công giáo tỵ nạn đều có điều gì hận Chúa lắm, khó tha thứ cho Chúa nổi! Làm sao thấy được bàn tay quan phòng của Chúa vẫn tiếp tục dẫn mình đi qua đêm đen hãi hùng như thế?
Sau 30 năm vật vã, Caretto vẫn không tìm được câu trả lời cho đau khổ. Nhưng thày xác nhận với cảm nghiệm rằng mình thật hạnh phúc với hai chân tê liệt. Rất hạnh phúc. Chúa đã dẫn thày đi con đường khác lạ với ý thày muốn. Chúa đã muốn chôn chân thày ở sa mạc để trở thành một nhà tu đức sâu sa thay vì lông bông bay nhảy... Và Chúa đã biến đổi những gì là xui xẻo đời thày thành ơn phúc. Thày đã cảm nghiệm trong xương thịt thày câu nói của Thánh Augustinô: "Chúa để sự dữ xảy ra, để biến thành sự lành lớn hơn."
Người "ngoại đạo" Phạm Duy đã hát lên độ rung sâu thẳm nhất của người tỵ nạn:
"Người tình già trên đầu non
Tuyết đã tan trên vai mỏi mòn
Giữa đám mây xanh xao chập chờn,
Nhìn mặt trời thoi thóp hoàng hôn.
Người tình già trên đỉnh khơi,
Muốn lãng quên trăm năm một đời..."
Nhưng con người tỵ nạn này lại rất đạo khi nhận ra Đạo trong cuộc tử sinh này, một sức mầu vẫn hoá sinh qua Xuân Hạ Thu Đông:
"Người trở thành cây muà đông
Lá uá rơi vun cao cội nguồn
Nhưng cuối bước đi trăm năm một lần
Đầu cành khô bỗng hoa nở tràn..."
(Phạm Duy, sđd trang 361)
Qua những đớn đau cùng cực, qua những thăng trầm nổi trôi, con người vẫn nhận ra một chất "Đạo" vĩnh cửu. Câu trả lời cuối cùng của cuộc sống vẫn chỉ là Niềm Tin vào Đấng Vĩnh Cửu, Đấng Trung Thành tuyệt đối, Người Tình muôn thuở.
"Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, nên tâm hồn con khắc khoải mãi cho đến khi tìm được nghỉ yên bên Chúa" (Thánh Augustinô)
NHỮNG NỖ LỰC TÌM ĐƯỜNG
Quả thực, những khoá tĩnh tâm cuối tuần, những phong trào Linh thao, Canh tân, Cursillo, Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình v.v. đã như những cơn mưa mát xuống sa mạc khô cháy. Rồi tiếp đến là các khoá Thăng tiến Hôn nhân gia đình, Thánh gia... Trong khắp các cộng đoàn tại Hoa kỳ, cỏ non đang mọc lại, "đầu cành khô bỗng hoa nở tràn". Đâu đâu cũng có những khoá tĩnh tâm đầy người.
Ở hầu hết các cộng đoàn, sinh hoạt về giáo lý và đời sống nội tâm là ưu tiên trong mọi sinh hoạt khác. Các khoá tĩnh huấn vẫn tiếp tục để bước sang giai đoạn hai là hình thành các nhóm sống đời Kitô căn bản: CLC, Focolare, Thánh Linh, Cursillo...
Những cảm nghiệm sốt sắng ban đầu giống như thời kỳ trăng mật. Những nhóm ái hữu ban đầu dần dần bước sang giai đoạn lớn lên, đi vào chiều sâu và đường dài. Sau một số năm sinh hoạt về đời sống nội tâm theo các phong trào trên, hiện nay các cộng đoàn đều cần một chương trình tiếp nối đặt nền trên Kinh Thánh, làm tài liệu học hỏi và thao luyện.
Giáo dân đang mong đợi gì nhất từ những chương trình mục vụ, từ những đại hội hay báo chí Công giáo? Có lẽ không nhất thiết phải là các tuyên ngôn và kế hoạch to lớn, mà là những đáp ứng rung cảm của phong trào sống đạo hiện nay, để được dẫn vào đồng cỏ xanh tươi có dòng nước mát trong.
CON ĐƯỜNG NÀO ĐI TỚI?
Rồi thế hệ thứ nhất của người Việt đang qua đi dần. Con đường cái quan của Phạm Duy không kết ở "Người về Hậu giang xây tổ uyên ương, có cánh đồng lúa chín uốn mình như sóng sông" mà đã vượt Thái Bình Dương. Phạm Duy đã bắt đầu "Hát cho năm 2000" cho những thanh thiếu niên sẽ làm mẹ làm cha của năm 2000. Người Công giáo đã sửa soạn chương trình mục vụ nào cho năm 2000?
Những nhà chuyên môn nghiên cứu về di dân đều nói: "Thế hệ thứ nhất cố giữ lại. Thế hệ thứ hai đạp đổ. Phải đợi đến đời cháu mới tìm về."
Sự kiện về thế hệ thứ nhất thì quá rõ. Nhưng làm sao để thế hệ thứ hai không sụp đổ, khi phần đông tuổi từ 20 trở xuống không còn biết tiếng Việt, ít rung cảm trên tâm tình Việt. Chúng sẽ làm cha mẹ của năm 2000 thì chúng sẽ dạy gì cho con? Đây là một thách đố lớn đối với người Việt tỵ nạn nói chung và đối với người Công giáo nói riêng.
Nếu thế hệ trước chỉ ca tụng quá khứ vàng son mà than chê hiện tại thì thế hệ thứ hai sẽ gửi tất cả thứ "gia sản" đó vào bảo tàng viện. Chúng sẽ có lý do chối từ vì gia sản đó nếu không còn sinh khí cho hiện tại thì cũng không còn lý do tồn tại. Và như thế những cộng đoàn Công giáo Việt cũng chỉ là giai đoạn, "Con Đường Cái Quan" vẫn bị cụt. Vì cái chân "Việt" vẫn chưa vượt tới, chưa mở đường đi tới đầy lạc quan và phấn khởi cho lờp trẻ xác tín và hãnh diện tiếp nối dòng nhựa sống. Giai đoạn này khẩn thiết lắm rồi. Ngay một lý do này mà thôi thì cũng đủ cho thế hệ thứ nhất phải giật mình dẹp ngay sang một bên những xung khắc nội bộ lẩm cẩm, những tị hiềm hay hiểu lầm đương nhiên phải có, những tranh giành tẹp nhẹp.
Những tự hào chưa kiểm chứng cần phải được hình thành bằng hành động tại chỗ. Thủ tướng đầu tiên của quốc gia Do thái, ông Ben Gurion, đã nói: "Một trăm bài diễn văn hay chương trình đồ sộ không bằng lập được một làng Kibbutz."
Thời điểm đã tới. Cơ may đã tới. Niềm hãnh diện về văn hiến bốn ngàn năm không còn là hão huyền. Mà là cả một lối sống, được hình thành ra một nếp sống cụ thể. Đó là lối sống của các Thánh Tử đạo Việt Nam đã được cả thế giới Công giáo công khai xác nhận qua biến cố 19-6-1988.
Lối sống đó cần phải được đào sâu, chi tiết và cụ thể hoá qua các anh hùng tử đạo, và nhất là xác tín và hiện thực lối sống đó ngay bây giờ trong gia đình và cộng đoàn. Đường tu đức các Thánh Tử Đạo việt Nam phải là con đường và mẫu sống dễ rung cảm nhất đối với người Việt. Khi trình bày đường tu đức này, không chỉ nhằm vào tác động bị xử tử anh hùng mà ít người ngày nay có dịp, mà nhằm khai triển cả một lối sống của Việt Đạo, bình lặng nhưng kiên quyết vuông tròn hiếu trung. Và lối sống này được chứng minh do những hoa trái cuộc sống hiện tại. Đó là cuộc sống phát sinh an vui, thái hoà, trong gia đình, cộng đoàn, tập thể tỵ nạn.
Khi trái chín mọng thơm ngon thế này thì con cháu không dại gì mà không hái mà ăn và tiếp tục trồng cây truyền lại cho con cháu của chúng.
Và cuộc khai quật kho tàng gia sản chắc chắn phải thành công.
Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường