bước sáu

 

SỨC ĐỘT BIẾN TỪ CƠN GIẪY GIỤA

 

Trong cơn đau khủng khiếp, trong bóng đen ghê rợn, ai mà chẳng quằn quại giẫy giụa. Tự nhiên cái xẩy ra tai nạn, cơn chấn động tim. Thế là xe lăn, tê liệt. Tự nhiên cái bị ăn đòn hằn, mà hằn không đúng. Kẻ cắn tỏ ra bệnh nặng. Có người vì thế mà trở nên hung hãn đấm đá thù đời. Có người đâm ra chán nản, buông xuôi, thất vọng. Nhưng nhiều người thì vẫn thấy được đường vượt lên. Trong đêm đen họ bỗng thấy một điều gì. Mắt họ sáng lên. Và không gì có thể cản trở nổi nữa. Thế là thế nào?

 

BỨC TRANH THẬT MẮC TIỀN

Một trong những bức tranh mắc tiền nhất thế giới của họa sĩ Vincent Van Gogh, trị giá cả mấy chục triệu, là bức “Đêm Sao” (Starry Night) đang để trong bảo tàng viện nghệ thuật tân thời MOMA ở thành phố New York. Van Gogh đã vẽ bức tranh này trong những ngày đen tối nhất ở dưỡng trí viện vùng St Rémy gần Arles miền Nam nước Pháp.

Ngày 20 tháng 2 năm 1888, Van Gogh rời ga Lyon của thành phố ngột ngạt tù túng Paris để đi “tìm ánh sáng” mở lối của miền nam nắng đẹp. Và ông đã dừng chân tại Arles với những bức tranh mang nhiều sắc vàng của màu nắng miền Provence, như bức Căn Nhà Vàng, Hoa Hướng Dương màu vàng, Thửa Vườn Hoa Vàng Nở... Bức nào cũng vàng óng lên như đang phô diễn vẻ giầu có sang trọng bật sáng cuộc đời.

 

Ay thế mà bỗng dưng ông bị bệnh tâm trí quật ngã, tối tăm mặt mày.  Điều lạ ở bức tranh Đêm Sao là cả một bầu trời đen thăm thẳm kia đang có một dòng sinh lực cựa mình luân chuyển. Sáng lạ lùng. Mạnh lắm. Những lớp sóng nhấp nhô lên xuống hiện trên mặt cuộc sống cũng chỉ như những bọt bèo trôi nổi. Dòng sống vẫn chảy tới theo hướng và theo một nhịp điệu huyền nhiệm, như sức sống đất trời cựa mình vào buổi sang xuân qua những ngày đông tàn lụi. Nhìn thấy được như vậy thì tranh mắc tiền chẳng có gì lạ.

 

ĐÊM ĐEN NƯỚC MÌNH

 

Trong thời gian vua Minh Trị bên Nhật biết thức thời đưa nước Nhật tới tiến bộ theo kịp nền văn minh mới, thì ở bên Việt Nam, Vua Minh Mạng cũng như vua Thiệu Trị và Tự Đức, vì thiển cận, mù quáng và sai lầm trầm trọng, đã ra lệnh “bế quan tỏa cảng” không muốn giao dịch với Tây Phương và cấm đạo gắt gao với những sắc lệnh vào năm 1836 và 1838:

 

“Tả đạo Tây Dương làm hại lòng người. Đã lâu nay nhiều chiếc tàu của Au Châu sang buôn bán, thường để lại các đạo trưởng. Các người ấy làm mê hoặc lòng dân và bại hoại phong tục. Như thế chẳng phải là cái tai họa lớn cho nước ta sao? Vậy ta nên ngăn cấm điều bậy bạ ấy, để khiến dân ta quay về với chính đạo... Cấm mở cửa biển cho tàu bè bọn mọi rợ vào, chỉ trừ Cửa Hàn (Đà Nẵng). Hễ giáo sĩ Au nào bị bắt trên tàu khách vào trong nước phải xử tử. Người nào chứa chấp họ trong nhà cũng bị xử tử”.

 

Cấm giao dịch với Tây Phương nhưng lại thần phục và lệ thuộc nhà Thanh bên Tàu một cách khác thường, về hầu hết mọi phương diện. Từ văn hóa, tôn giáo đến thi cử. Rập khuôn kiểu Mãn Thanh y nguyên từ cách xây cửa cung điện đến các lăng tẩm. Hệ thống luật pháp và hành chánh như đặt tỉnh, quan lại, phẩm phục triều đình, cũng giống y như bên nhà Thanh. Thậm chí ra lệnh cho đàn bà phải mặc quần theo kiểu Tầu, chứ trước đó đâu phải vậy.

 

Nhà Mãn Thanh đã dùng luật pháp cứng rắn để cai trị Hán tộc khi chiếm được trọn vẹn Trung Quốc. Nhà Nguyễn lại rập khuôn như vậy, vì đó là hệ thống bảo vệ ngai vàng vững chãi nhất. Nào ngờ đâu lại đưa nước mình đi theo nhà Mãn Thanh cũng đang trên đà rơi xuống vực thẳm mà vẫn tưởng mình là đỉnh cao trí tuệ loài người.

 

Chính những chọn lựa sai lầm này đã làm cho nước Việt thụt lùi lại biết bao trước đà tiến hóa về khoa học và kỹ thuật của nhân loại vào đầu thế kỷ 19. Chứ ít ra biết ngoại giao khéo như Thái Lan thì cũng đâu đến nỗi.

 

Rồi khi bị sức mạnh mới từ phương Tây lấn lướt thì thay vì tìm cách canh tân đất nước, lại nhất định cố thủ với chính sách “bình Tây sát Tả”, nghĩa là chống Tây và giết người Công Giáo cho là “đạo tà nối giáo cho giặc”. Trên thực tế, với súng đạn cổ lỗ lỗi thời thì chẳng giết được mấy tên Tây, mà chỉ sát hại người mình với nhau, gây ra không biết bao tang tóc đau thương, một vết đen ngòm trong lịch sử. Vậy mà cho đến ngày nay, một số người vẫn còn mang thái độ sẵn sàng đổ mọi tội lên đầu người Công giáo, vì đó là cách dễ nhất để bào chữa cho mình vô tội. Nhưng thực ra về tâm lý thì đó lại là dấu rõ nhất tự thú rằng “lạy ông tôi ở bụi này”.

 

ĐÒN HẰN MINH MẠNG

 

Ở phòng văn khố của Hội Thừa Sai Paris có treo một bức phóng lớn sắc vua Gia Long phong Đức Cha Bá Đa Lộc (Pierre Pigneau de Béhaine), người đã được nhà vua nhờ cậy đắc lực trong việc mở tầm mắt bắt tay được với thế giới Tây phương để phát triển tiến bộ (Hình trang 144). Có thể nói, nhà Nguyễn xây được cơ đồ cũng nhờ vào sự mở cửa liên hệ này. Vua Gia Long biết ơn Đức Cha. Đạo Công Giáo được nhà vua đón nhận ngay từ đầu. Người miền Nam đã ghi nhớ bằng Lăng Cha Cả. Sau năm 1975 mộ bị bốc phải đưa về chôn dưới hầm nhà nguyện Hội Thừa Sai ở Paris. Thế nhưng tại sao sau khi vua Gia Long băng hà, thì vua Minh Mạng lại “phát giác” ra tụi Tây là “quân mọi rợ” và đạo Công giáo là “đạo tà”, để rồi đưa đến sụp đổ nhà Nguyễn và làm cho nước nhà phải cúi mặt nhục nhằn thua thiệt các nước như ngày nay?

 

Câu trả lời được tìm thấy phần nào nơi bức hình vẽ Hoàng Tử Cảnh được treo trang trọng trong phòng khách chính của Hội Thừa Sai ở Paris bây giờ. Dưới hình vẽ có hàng chữ đề: “vị hoàng tử nối ngôi của Việt Nam, Nguyễn Cảnh, tám tuổi, vẽ ở Versailles. Sinh năm 1779 và qua đời năm 1801”. (Hình trang 145)

 

Nhìn bức hình này, ai cũng nhớ lại mối thịnh tình và lòng tin tưởng hoàn toàn của vua Gia Long đối với các cố đạo Tây Phương và người Công Giáo. Nhà vua thức thời này đã giao hoàng tử nối nghiệp mình cho Đức Cha Bá Đa Lộc đưa sang Au Châu, tạo nhiều thiện cảm liên hệ hỗ trợ rộng của nhiều nước, và  có dịp chu du mà mở tầm mắt nhìn những tiến bộ của thế giới, để mai kia lên làm vua thì Việt Nam sẽ chẳng thua kém ai. Như thế, vua Gia Long còn đi trước cả Minh Trị Thiên Hoàng bên Nhật nữa. Và như vậy thì Việt Nam mình bây giờ đâu đến nỗi!

 

Thế nhưng  sự việc lại xẩy ra bất ngờ. Hoàng tử Cảnh đã chết non trong một trận chiến khi mới được 22 tuổi. Vậy thì ai sẽ là người được nối ngôi vua? Đúng ra, khi hoàng tử Cảnh chết thì con của hoàng tử mới là người kế nghiệp. Vậy mà sau này đã không theo vậy. Minh Mạng là con bà khác lại được leo lên. Thế là bao nhiêu chuyện có thể bởi đó mà ra.

 

Cứ xem bức hình hoàng tử Cảnh treo ở Paris thì biết được thiện cảm của các cố đạo người Tây như thế nào đối với vị hoàng tử có tài này, và dĩ nhiên cũng liên hệ tới dòng chính là con của hoàng tử sẽ lên nối nghiệp. Và đây có thể là căn cớ cho đòn hằn mà vua Minh Mạng trút lên các cố đạo Tây và người Công Giáo. Có thể vì mặc cảm vây cánh tiếm vị, không chính danh vì không phải là dòng chính, nên nhà vua phải lấy tên là Minh Mạng có nghĩa là mạng sáng, nhưng đâu ngờ Minh Mạng cũng có nghĩa là mạng tối!

Lê Văn Duyệt là công thần được người miền Nam mến chuộng xây Lăng Ông như vậy mà cũng bị vua Minh Mạng cho cào mả bằng địa và đóng cọc xích lại trị tội với lý do bề ngoài là không dạy được Lê Văn Khôi. Nhưng thực ra chỉ là đòn hằn, vì Lê Văn Duyệt vốn bênh vực dòng chính Hoàng Tử Cảnh và rất thiện cảm với đạo Công giáo. Khi vua Minh Mạng ra lệnh giết đạo trưởng Tây thì ông phản đối công khai: cơm các cố Tây còn dính ở răng, nghĩa là công ơn của họ với vua cha và đất nước còn sờ sờ ra đó mà mình nỡ đối xử thế sao cho hợp đạo!

 

ĐÊM ĐEN LÊ THỊ THÀNH

 

Đứng trước những bất công và mù quáng của triều đình như vậy mà người Công Giáo không thù oán hay chống lại, nhưng luôn nhẫn nại chịu đựng và trung thành. Trong đêm đen vẫn thấy dòng ánh sáng chuyển vần, không một thứ quyền lực nào có thể ngăn chận được.

 

Vua Minh Mạng là người bắt đạo dữ nhất. Ong chết đầu năm 1841 lúc mới 50 tuổi. Con là Thiệu Trị lên nối ngôi. Lúc đầu có vẻ còn nới tay, nhưng rồi lại tiếp tục chính sách bắt đạo của vua cha vì sức ép của một số quan lại hủ lậu.

 

Theo lệnh của vua Thiệu Trị, nhà thờ vẫn tiếp tục bị phá sập, các linh mục bị lùng bắt. Bà Lê Thị Thành dù là phận đàn bà cũng ra tay trợ giúp Hội Thánh bằng cách chứa chấp các linh mục trong nhà. Việc này đã đến tai các quan, nhất là lại nghe có hai linh mục thừa sai người Pháp mới tới Phúc Nhạc. Ngày 14 tháng 4 năm 1841 vào đúng lễ Phục sinh, chính quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh chỉ huy dẫn 500 lính vây làng Phúc Nhạc vì nghe tin có nhiều linh mục trú ẩn trong làng. Cha Thành đang ở nhà Bà trốn thoát kịp, còn cha Lý thì vội chạy ra vườn sau, Bà Lê Thị Thành chỉ cho cha một đường mương khô cạnh một bụi tre, lấy rơm và cành khô phủ lên trên rồi dặn cha:

 

“Xin Cha ẩn dưới này, Đức Chúa Trời gìn giữ thì Cha thoát, bằng không cha và con đều bị bắt”.

 

Nhưng quân lính đã trông thấy và đuổi theo bắt được Cha Lý, nên họ bắt luôn cả Ong Bà Đê là chủ nhà và hai chị dòng Mến Thánh Giá là Thanh và Khiêm và một số người. Tất cả bị giải về đình làng rồi ra Nam Định. Nhà Bà Đê bị lục soát: đồ đạc, tiền bạc và thóc lúa bị tịch thu hết.

 

Theo thư viết tay của Đức Cha Liêu gửi về Hội Thừa Sai Ngoại Quốc ở Paris ngày 6 tháng 7 năm 1843, thì có một người ngoại giáo xin tha cho bà Đê mà chỉ bắt ông Đê là chủ nhà thôi. Nhưng quan trả lời rằng không thể được vì bà Đê không chịu đạp thập giá.

Ông Đê bị đánh đập để bắt phải bỏ đạo, nhưng ông không chịu, nên bị nhốt tù và về sau bị kết án phải đi làm lính suốt đời.

 

Còn Bà Đê thì bị tra tấn ba lần rất tàn nhẫn, lúc đầu bằng roi ngắn rồi sau bằng gậy tre và thanh củi. Trịnh Quang Khanh ra lệnh: “Đạp Thập Giá đi, tao cho về đoàn tụ với chồng con”. Nhưng bà lớn tiếng tuyên xưng đức tin:

 

“Tôi tin theo Đức Chúa Trời, không bao giờ tôi bỏ đạo”.

Quan tìm cách khai thác thêm tin tức sinh hoạt các vị thừa sai trong vùng xem họ từ đâu tới và tới bao giờ, nhưng bà Đê chỉ nói:

 

“Thưa quan, tôi không rõ từ đâu họ tới và từ bao giờ. Tôi chỉ biết là họ bị bắt ở trong vườn nhà tôi, và tôi bị coi như người chứa chấp”.

 

Có lần quan đã dùng trò dã man là buộc ống quần áo của bà lại rồi vất rắn độc vào trong người bà làm cho bà hoảng sợ. Đây là trò quá ác độc. Con rắn lành lạnh bò tới bò lui. Cơn sợ hãi tăng lên cùng độ. Nhưng bà luôn miệng cầu xin ơn Chúa:

 

“Giêsu, Maria, Giuse, xin ba Đấng cứu con”.

 

Và Bà can đảm đứng yên không nhúc nhích nên rắn không cắn mà từ từ bò ra. Bà đã cầu nguyện tha thiết và Chúa đã ban cho bà sức mạnh phi thường để chịu đựng những thử thách xem ra vượt quá sức của bà. Sau đó bà đã nói rõ bí mật này:

 

“Họ đánh đập dữ tợn lắm. Người thế gian không có sức nào mà chịu được, song khi tôi phải đòn thì tôi cầu xin Đức Mẹ phù hộ thêm sức mạnh cho tôi, nên tôi không cảm thấy đau đớn”.

 

Những nét phác hoa trên đúng là của một bức tranh “Đêm Sao” thật mắc tiền. Trong những tra tấn đau đớn, trong những tăm tối hãi hùng, Mẹ Lê Thị Thành luôn vững một niềm tin. Vì Mẹ thấy rõ một dòng sinh lực đang chuyển vần, một luồng sáng đang vươn tới theo nhịp theo điệu như những đợt sóng lên xuống.  Chẳng gì cản trở nổi. Chẳng ai vùi dập được.

 

Cũng như đêm đen nước mình, bức tranh Lê Thị Thành không còn diễn tả giông bão nữa, mà là vẽ lên khung trời rực sáng, của một cuộc khải hoàn. Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ. Qua khổ nạn thì tới Phục Sinh. Cơn khổ nạn sinh thành.

 

CỨ VỮNG ĐẠO TRỜI KHĂNG KHĂNG

 

Thừa hưởng cả một gia tài văn hóa giầu có về phép tu thân tích đức của tổ tiên để lại, Thánh Lê Thị Thành nay lại được tiếp nhận đức tin vào Thiên Chúa Toàn Năng thì quả là một hội nhập văn hóa hiếm hoi ít nước có được. Thực vậy, niềm tin vào ơn Trời đã bén rễ sâu trong tâm khảm người Việt. An Tiêm khi bị đi đầy ra hoang đảo vẫn tin tưởng:

 

Trời sinh trời dưỡng.

Trời sinh voi Trời sinh cỏ.

 

Gặp những lúc giông bão của cuộc sống, người Việt cảm được sâu xa thân phận và cũng cố tìm đường giải thoát như những khám phá mới nhất về diễn trình tâm lý trị liệu của Karl Jung:

 

Em như con hạc đầu đình

Muốn bay không cất nổi mình mà bay.

 

Khi mình không còn biết giãi bầy tâm sự cùng ai, thì đã tìm được một chỗ đáng tin tưởng nhất, kể cả tỏ bầy được nhiều điều “chẳng thơm chút nào” được diễn tả qua khói bay nghi ngút. Đó là chính ông Trời, Ngọc Hoàng ở Thiên Trào. Ngọc Hoàng hỏi lại xem ai than thở, nhưng chắc chắn đã biết là ai rồi. Lời ca dao diễn tả tình liên hệ đất trời thâm thúy quá, lột được đúng tâm trạng và lối “trị liệu” của người Việt:

 

Ngồi buồn đốt một đống rơm

Khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào

Khói lên đến tận thiên trào

Ngọc Hoàng phán hỏi: thằng nào đốt rơm?

 

Trong bóng tối, người mình cũng phải giẫy giụa, vật vã. Nhưng rốt cùng rồi cũng phải nhận ra chương trình của Trời rất khác với chương trình của mình: con người vẫn phải tiến hành công việc, nhưng thành công hay không thì tùy ở Trời: mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.

 

Ta về ta dựng mây lên

Trời xe mây lại một bên hòn Lèn.

 

Và trong những câu ru câu hát ca dao của người dân quê, những nhà truyền giáo phải phải ngạc nhiên về thửa đất mầu mỡ đã dọn sẵn nơi tâm hồn dân Việt. Niềm tin tưởng tuyệt đối vào dòng sinh lực chuyển vần, vào ơn Trời dìu dắt chở che:

 

Non kia ai đắp nên cao

Sông kia ai bới ai đào mà sâu.

Núi kia ai đắp mà cao

Sông kia ai đào nước chảy vòng quanh.

 

Chẳng lo chi áo rách tay

Trời kia ngó lại vá may mấy hồi.

 

ĐÔNG QUA TIẾT LẠI

 

Cho nên qua dọc dài lịch sử bi đát đen thùi của đất nước, qua những khổ lụy oái oăm của gia đình, người Việt xem ra rất lì, rất dai dẳng, nhất định bám vào dòng sinh lực này mà vươn tới. Và đã vượt tới thật, chẳng khác gì câu nói: qua Thập Giá tới Vinh Quang, hạt lúa phải thối rữa mới mọc cây sinh trái được. Ca dao Việt vang lên khúc hát rất sát với Kinh Thánh:

 

Làm người tích đức tu thân

Hết cơn hoạn nạn tới tuần hiển vinh.

Dù ai nói ngược nói xuôi

Ta đây cứ vững đạo Trời khăng khăng.

 

Thánh Dũng Lạc trong những ngày trong tù vẫn an nhiên viết thư thăm hỏi an ủi bạn ở ngoài. Đáng lẽ người ở ngoài phải thăm nuôi và khích lệ người trong tù mới đúng chứ.

 

Lạc rầy đã rõ chốn quân quan.

Bút chép thơ này gửi thở than,

Lòng nhớ bạn nỗi còn vất vả,

Dạ thương khách chạy chưa yên hàn.

Đông qua tiết lại thời xuân tới,

Khổ tạm mai sau hưởng phúc an.

Làm kẻ anh hùng chi quản khó,

Nguyện xin cùng gặp chốn thiên đàng.

 

Niềm tin này cũng đúng là niềm tin của chính Mẹ Maria. Lần đầu tiên khi tiếp nhận lời truyền tin mang thai Đức Giêsu, cũng như phút cuối cùng dưới chân Thập Giá chứng kiến cảnh xử tử tàn ác người con của mình, Mẹ Maria cũng chẳng hiểu bằng đầu bao nhiêu, nhưng con mắt của con tim thì nhìn thấy rõ con đường Thiên Chúa:

 

Mẹ ơi, Mẹ tin nơi Chúa an bài

Mẹ nên phúc ân muôn loài.

 

Chẳng lạ gì, truyền thống Hội Thánh vẫn dành ngày Thứ Bẩy hằng tuần làm ngày kính Đức Mẹ. Đúng là ngày của đức tin. Vì ngày này xác Đức Giêsu là Con dấu yêu vẫn còn nằm trong mồ tối. Vậy mà Đức Mẹ vẫn tin. Tin rằng dòng sức sống đang chuyển vần. Con mình sắp phục sinh. Vincent Van Gogh quả là đã vẽ bức tranh “Đêm Sao” với cái nhìn này. Bức tranh mắc tiền là phải.

 

CÁI THẤY CỦA HÀN MẶC TỬ

 

Trong những lúc đen tối tột cùng của bệnh cùi, Hàn Mặc Tử bỗng thấy chân trời bật sáng. Nỗi đau khổ bỗng được biến thành niềm sung sướng khi cảm nhận được Tình Yêu Thiên Chúa qua luồng ánh sáng:

Ai tới đó mà chẳng nao thần trí

Tòa châu báu kết bằng hương kì dị

Của Tình Yêu rung động lớp hào quang

....

A ha hả, say sưa chê chán đã

Ta là ta hay không phải là ta?

Có gì đâu cả thể với cao xa

Như cội rễ của trăm ngàn đạo hạnh.

                           (Siêu Thoát)

Và trong bài “Ngoài Vũ Trụ”, hồn thơ còn nhìn thấy rõ hơn:

Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền

Không u tối như cõi lòng ma quỉ

Vì có Đấng Hằng Sống hằng ngự trị

Nhạc thiêng liêng dồn trổi khắp u linh.

....

Tình thơm tho như ngấn lệ còn nguyên

Ta ước ao đầu đội mũ triều thiên

Và tắm gội ở trong nguồn ánh sáng.

 

SẼ QUI TỤ THÂU VỀ TRONG MỘT MỐI

 

Nhiều người trong cuộc khảo cứu của bác sĩ Melvin Morse, sau khi chết đi sống lại, đã trở nên khác lạ với những khả năng cảm thụ đặc biệt. Trường hợp Olaf trong “Được Anh Sáng Biến Đổi” thì thấy: “đang trôi trong vũ trụ vô bờ bến... Vũ trụ như những bọt xà bông  đang qui về trọng tâm theo một hình thái phức tạp, nhưng tôi hiểu được trọn vẹn, thấy được mọi sự đều có nghĩa... cảm thụ được toàn thể vũ trụ...” (trang 12-13).

 

Hàn Mặc Tử cũng đã được khả năng lạ lùng này, là thấy mọi trắng đen đỏ vàng, buồn vui, trầm bổng cuộc đời không phải là những mảnh vỡ vô nghĩa hay những cù lao trôi nổi phi lí, mà đều qui tụ thâu về trong một mối, mang trọn ý nghĩa trong một chương trình mầu nhiệm như lời Kinh Thánh:

 

“Chúng ta biết rằng mọi sự đều đi liền với nhau sinh ích cho những ai được Chúa yêu thương, tức là những người được Chúa kêu gọi theo chương trình của Người” (Roma 8:28).

 

Cái thấy này cũng đang phù hợp với những khám phá mới nhất về khoa học vật lý. Từ nhãn quan vật lý cá biệt “những cù lao” của Newton áp dụng cho khoa học thời cận đại, đến thuyết tương đối của Albert Einstein, và bây giờ là “quantum physics”, khoa vật lý lượng tử mở màn cho khoa học bước vào năm 2000, dịch thoát là “vật lý vũ trụ nhất thể”, mọi sự xuất phát và “qui tụ thâu về trong một mối”, đều liên hệ tới nhau vì chia sẻ cùng một lực sống.

 

Giải Nobel về vật lý năm 1995 được trao cho hai nhà bác học đào sâu vào vật lý lượng tử là Frederick Reines và Martin Perl. Từ thập niên 1950 ông Reines đã khám phá ra Neutrino là phân tử nhỏ nhất. Và khoảng 1970 thì ông Perl tìm ra Tau Lepton. Vật chất không đặc như người ta vẫn thấy, không tách rời biệt lập như nằm chết trong không gian ba chiều kiểu Newton. Mà đang là những năng lượng nhảy múa, liên hệ với nhau trong không thời bốn chiều, đang sinh động trong một diễn trình hủy diệt và tăng trưởng không ngừng có định hướng, “thâu về trong một mối”.

 

Bức tranh “Đêm Sao” cũng như hầu hết các bức vẽ của Van Gogh đều mang cấu trúc những nét chấm đi liền với nhau, như những lượng tử đang nhảy múa sinh động, chuyển vần phóng tới, chứ không phải thứ vật lý cứng ngắc vô hồn của khoa học kỹ thuật đang bị đào thải hiện nay. Như thế, có thể Van Gogh cũng như Hàn Mặc Tử đã thấy được thị kiến về một khai mở khoa học đang tới: vật lý không còn là thuần vật chất nữa, mà là hiện thể của năng lượng ánh sáng. Hàn Mặc Tử đã tả lại cái thấy này trong bài Siêu Thoát:

 

Những cù lao trôi nổi xứ mênh mang

Sẽ qui tụ thâu về trong một mối.

Và tư tưởng không bao giờ chắp nối

Là vì sao? Vì sợ kém thiêng liêng

Trí vô cùng lan nghĩ rộng vô biên

Cắt nghĩa hết những anh hoa huyền bí

Trời bát ngát không cần phô triết lí

Thơ láng lai chấp chóa những hàng châu

Ta hiểu chi trong áng gió nhiệm mầu?

Những hạt lệ của trích tiên đầy đọa.

 

NHỮNG BỨC TRANH ĐẮT GIÁ NHẤT

 

Cái thấy của Thánh Lê Thị Thành trong lúc gặp giông bão. Cái thấy của Thánh Dũng Lạc trong nhà tù. Cái thấy của Đức Mẹ trong đêm đen thứ sáu rạng ngày thứ bẩy. Cái thấy của họa sĩ Van Gogh trong u tối hãi hùng. Cái thấy của Hàn Mặc Tử trong cơn vật vã bệnh cùi. Cái nhìn của niềm tin là cái thấy lạ lùng. Tất cả mọi đen tối đều được bật sáng nhờ cắm vào một chấu điện: luồng ánh sáng tình thương của Chúa. Tin bao nhiêu thì được bấy nhiêu. Những “cù lao” rời rã sẽ qui tụ thâu về trong một mối: nguồn ánh sáng. Vì “nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại” (Gioan 1:3-4).

 

Nhìn thấy và chuyển đạt cái thấy này là sứ vụ của Hàn Mặc Tử, của Van Gogh. Họa sĩ Van Gogh đã có thời học giảng đạo và đã thực tập “mang ơn giải thoát” cho những người phu mỏ nghèo khổ thấp cổ bé miệng vùng quê nước Bỉ. Rất tiếc, ông đã không thành công trong nghề này. Nhưng ước mơ của ông vẫn là một: tìm cách nào giúp giải thoát con người trong đêm tối cuộc đời. Và cuối cùng ông đã học vẽ và thành công chuyển được cái nhìn và cái thấy hút hồn của ông, có sức biến đổi và hồi sinh người xem.

 

Henri Nouwen, một nhà tu đức nổi tiếng gốc người Hòa Lan đã dạy đề tài “Việc truyền đạo của Van Gogh” tại đại học Yale. Quả thực,  những bức tranh của Van Gogh đã có sức cảm hóa lòng người. Henri Nouwen trong lời đề tựa cho cuốn “Van Gogh and God” của Cliff Edwards (Loyola University Press), đã nói rõ:

 

“Tôi chắc chắn rằng những lớp dạy về Van Gogh này đã ảnh hưởng sâu đậm trên các sinh viên hơn bất cứ khóa nào tôi đã dạy. Tôi đã dùng nhiều sách tu đức hiện đại như của Thomas Merton, nhưng tôi chưa từng thấy những sinh viên bị hút hồn về cả đầu óc và con tim, như trong khóa này khi nhìn kỹ những bức tranh của Van Gogh. Tôi còn nhớ, chúng tôi đã để cả mấy giờ cùng với nhau trong thinh lặng, chỉ để nhìn ngắm những bức dương bản của tác phẩm Van Gogh. Tôi không phải cố gắng giải nghĩa hay phân tích gì cả. Tôi chỉ muốn các sinh viên hãy cảm nghiệm trực tiếp những hút hồn và những quằn quại của họa sĩ này đang cố đi tìm ý nghĩa cuộc sống... Thiên Chúa của Van Gogh rất thật, rất trực diện, sờ thấy được nơi thiên nhiên và con người, rất từ bi thương cảm, vì đã từng rất yếu đuối bị thương tích tư bề. Chính vị Chúa này mà tất cả chúng ta muốn đến gần”

 

Trong thư gửi cho em trai là Theo, Van Gogh nói rõ ý về bức tranh này: “là một ủi an, hay để dọn đường cho lối vẽ mang chất ủi an lớn hơn” (thư số 595).

 

Nay thì bức tranh vẽ phác về mẹ Lê Thị Thành đã được Đức Thánh Cha cùng với cả thế giới Công Giáo tôn vinh, thán phục, và noi theo. Cũng đúng là bức tranh “Đêm Sao”, thật đắt giá, không biết bao nhiêu triệu. Bức tranh này có sức thay đổi cả một đời người. Chả cần phải tìm tài liệu tới lui. Cũng không cần phải cố gắng giải nghĩa hay phân tích gì cả. Chỉ cần nhìn kỹ bức tranh chân dung một người Mẹ, cảm nghiệm trực tiếp những phấn đấu trong đêm đen như của đời mình. Và đây này, một sức gì lạ lắm đang phóng lên, vần chuyển, biến đổi mọi sự, và bật sáng lung linh. 

 

Bức tranh này đang trong tay bạn, trong tay tôi. Vậy mà không trở thành giầu có, mắt không sáng lên được nữa thì thôi!

 

LUỒNG ÁNH SÁNG HÓA GIẢI

 

Niềm Tin là cái thấy được nguồn ánh sáng có sức biến đổi đêm đen, như Hàn Mặc Tử đã thấy: Tình Yêu rung động lớp hào quang. Và lòng phó thác của Thánh Lê Thị Thành như một thùng kín múc sức mạnh thắng vượt trong lời cầu nguyện cuối cùng:

 

“Con xin phó dâng hồn xác con trong tay Chúa, xin ban cho con được tuân theo thánh ý Chúa trong mọi sự”.

 

Để thực tập lòng tin tưởng này, xin cùng bước đi với Thánh Lê Thị Thành, và mới đây với phong trào “Tình Chúa Xót Thương” mà Thánh Faustina đã nhận được thị kiến.

 

Thánh Faustina người Ba-Lan được Chúa cho thấy nhiều thị kiến về luồng ánh sáng tình thương của Chúa và yêu cầu thánh nữ làm tông đồ loan truyền sứ điệp này cho thế giới đang khát vọng tình thương ngày nay. Thánh nữ qua đời năm 1938 lúc 33 tuổi vì bệnh lao, và mới được phong chân phước ngày 18 tháng 4 năm 1993. Những thị kiến và sứ điệp được chính thánh Faustina ghi lại trong nhật ký (có ghi số).

 

Khi hiện ra vào năm 1931, Chúa đã cho thánh Faustina thấy Ngài mặc áo trắng dài, tay phải giơ lên ban phép lành, tay trái chỉ vào tim, nơi chiếu ra hai luồng sáng: một luồng đỏ và một luồng trắng. Thánh Faustina thật kinh ngạc và sung sướng khi thấy thị kiến này. Rồi Chúa Giêsu nói với thánh nữ:

 

“Con hãy vẽ lại hình ảnh này như con đang thấy, với câu ghi chú “Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Chúa”.

 

- Cha hứa rằng linh hồn nào tôn kính hình ảnh này sẽ không hư mất. Cha cũng hứa một cuộc chiến thắng kẻ thù đã xuất hiện trên mặt đất, nhất là trong giờ chết. Chính Cha sẽ bảo vệ vì đó là vinh dự của Cha (47, 48).

 

- Cha ban cho con người một cái thùng để đến hấng lấy ơn từ nguồn tình thương. Cái thùng đây là hình này với hàng chữ “Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Chúa” (327).

 

- Cha mong ước hình này được tôn kính, trước hết ở trong nhà nguyện của chúng con, và  khắp thế giới” (47).

 

Do sự yêu cầu của cha linh hướng, thánh Faustina đã xin Chúa cho hiểu ý nghĩa của hai luồng sáng trong hình, thì được nghe Chúa nói:

 

“Hai luồng ánh sáng là Máu và Nước. Luồng trắng là nước rửa sạch các linh hồn. Luồng đỏ là chính Máu Chúa, là sức sống cho các linh hồn. Hai luồng sáng này chiếu ra từ thẳm sâu tình thương dịu hiền của Cha khi Tim Cha trong cơn hấp hối trên Thánh Giá bị một lưỡi đòng đâm thủng. Phúc cho ai tìm đến ẩn dưới luồng ánh sáng này, vì tay công thẳng của Thiên Chúa sẽ không động tới ho (299). Qua hình ảnh này, Cha sẽ ban ơn cho các linh hồn, và cũng nhắc nhớ về đòi hỏi của tình thương: đức tin không có việc làm là đức tin chết” (742).

 

Thánh Faustina lo lắng không biết có thề vẽ lại giống hình ảnh xem thấy không, thì được Chúa xác nhận:

 

“Đừng lo làm sao có thể vẽ nổi hình ảnh cao cả này theo đúng màu sắc, mà phải là do ơn Cha ban”.

 

THÙNG KÍN MÚC TÌNH THƯƠNG

 

Niềm tin tưởng nơi Chúa Giêsu là then chốt để lãnh nhận tình thương. Khi đi kín nước ở giếng, chúng ta cần thùng đựng nước. Thùng nhỏ thì chỉ đưa về được ít nước. Thùng lớn thì mang về được nhiều. Ai có thùng đều có thể kín được nước từ giếng. Nước luôn sẵn đó, không ai bị loại trừ. Chỉ cần có thùng thôi. Đó là hình ảnh về tình Chúa xót thương. Trong nhiều lần thị kiến, Chúa đã nói rõ cho thánh Faustina rằng giếng nước là Thánh Tâm của Ngài, nước là tình thương xót, và thùng là niềm tin tưởng.

 

“Cha đã mở tim Cha như giếng nước tình thương hằng sống. Hãy để mọi linh hồn đến được biển tình này với niềm tin tưởng (1520). Trên Thánh Giá, nguồn nước tình thương đã được lưỡi đòng mở rộng cho mọi linh hồn, không ai bị loại trừ (1182). Cha ban cho mọi người một cái thùng để đến mà kín nước ân sủng từ nguồn nưóc tình thương. Cái thùng chính là tấm hình với hàng chữ: “Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Chúa” (327). An sủng tình thương chỉ được kín bằng thùng này, đó là lòng tin tưởng. Càng tin tưởng thì càng nhận lãnh được nhiều” (1578).

 

Tin tưởng Chúa vì chỉ một mình Chúa mới là niềm tin tưởng: Hơn thế nữa, tin tưởng là nhận ra quyền năng của Chúa, để cho Chúa đúng là Chúa chứ đừng biến mình thành Chúa giống như A-Đam, nghĩa là để cho ý định và chương trình Chúa được thực hiện nơi cuộc sống chứ không phải là những ý định riêng của mình: nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên Trời.

 

“Cha là chính tình yêu và lòng thương xót (1074). Đừng để ai sợ hãi không dám đến gần Cha dù tội lỗi đầy hoen ố (699). Lòng Cha thương xót lớn hơn tội con và tội toàn thể nhân loại (1485). Cha đã để Thánh Tâm Cha bị lưỡi đòng đâm thủng  để mở rộng nguồn nước tình thương cho con. Vậy con hãy đến với lòng tin tưởng mà kín lấy nước ân sủng nơi giếng nước này. Cha không bao giời từ khước tâm hồn thống hối (1485). Dù mà trời đất có biến thành hư không chứ lòng Cha thương xót sẽ không bao giờ quên ấp ủ tâm hồn tin tưởng (1777).

 

CÁCH KÍN NƯỚC TÌNH THƯƠNG

 

Năm 1935, trong một thị kiến, thánh Faustina được Chúa chỉ cách kín múc được nước ân sủng tình thương xót bằng lời kinh tin tưởng:

 

1. NHẬN NGUỒN SÁNG QUA THÁNH LỄ

 

Hình ảnh hai luồng sáng được nhận ra rõ nhất qua mỗi thánh lễ. Trong nhật ký, nhiều lần thánh Faustina kể lại đã trông thấy hai luồng ánh sáng đỏ và trắng không phải từ hình Chúa, mà từ Mình Thánh Chúa; và một lần lúc linh mục đang ban phép lành chầu Mình Thánh, thánh Faustina thấy luồng sáng từ hình ảnh Tình Chúa Xót Thương xuyên qua Mình Thánh và tỏa ra khắp thế giới (441).

Quả thực, Mình Thánh Chúa là thác nước ân sủng tuôn trào. Và với con mắt đức tin, chúng ta thấy được chính Chúa Giêsu tỏa luồng sáng từ nguồn tình thương trong mỗi Mình Thánh, như hiến chế về phụng vụ của công đồng Vatican II: “Đặc biệt từ Thánh Thể, ân sủng ban như mạch nước tuôn trào xuống chúng ta” (#10).

Vì thế, thánh Faustina đã cảm nghiệm: “mạch nước này tuôn trào với đầy ngon ngọt và sức mạnh” (914); “Mọi tốt lành trong tôi đều do việc rước lễ” (1392). “Ở đây là nguồn tất cả bí mật sự thánh thiện” (1489).

 

2. CÁCH KÍN NƯỚC BẰNG CHUỖI TÌNH CHÚA XÓT THƯƠNG

 

Để thiết thực hơn, Chúa đã chỉ cách lần chuỗi Tình Chúa Thương Xót. Có thể đọc bất cứ lúc nào, nhưng nhất là sau khi rước lễ; vì là lúc cảm nghiệm hy tế tạ ơn.

 

- Đọc kinh mở đầu: một kinh Lạy Cha, một kinh Kính Mừng, một kinh Tin Kính.

 

- Rồi kinh “Lạy Chúa Cha hằng hữu” (kinh này được lặp lại sau mỗi chục).

 

“Lạy Chúa Cha hằng hữu, con dâng lên Chúa: Mình, Máu, Hồn và Thiên Tính của Con yêu dấu Chúa, là Đức Giêsu Kitô, để đền tội chúng con và toàn thể nhân loại.  Nhờ cuộc tử nạn cực hình của Chúa Giêsu, xin Chúa thương xót chúng con và toàn thể nhân loại” (436).

 

- Mỗi chục, thay vì đọc kinh Kính Mừng như lần chuỗi kính Đức Mẹ, thì đọc một chục kinh:

    (bè 1)   Nhờ cuộc tử nạn cực hình của Chúa Giêsu

    (bè 2)    Xin Chúa thương xót chúng con và toàn thể nhân loại.

 

- Sau năm chục thì kết bằng kinh: Lạy Chúa rất thánh, lạy Chúa toàn năng, lạy Chúa hằng hữu. Xin Chúa thương xót chúng con và toàn thể nhân loại.

 

ƠN ÍCH CHÚA HỨA BAN

 

cho những ai thực hành  việc lần chuỗi này:

- Ai lần chuỗi Tình Chúa Thương Xót thì sẽ nhận được lòng thương xót bao la của Chúa trong giờ chết (687).

- Khi lần chuỗi này bên cạnh người đang hấp hối, Cha sẽ đứng giữa Đức Chúa Cha và người hấp hối, không như là quan án mà là Chúa Cứu Chuộc từ bi (1541).

- Các linh mục sẽ giới thiệu cho các tội nhân như là hy vọng cuối cùng để được cứu rỗi. Ngay cả những tội nhân cứng lòng, nếu chỉ đọc chuỗi này một lần thì cũng được lãnh ơn thương xót vô biên của Cha (687).

- Cha sẽ ban ơn dồi dào cho những ai tin tưởng vào tình thương xót của Cha (687).

- Qua việc lần chuỗi này, con sẽ được mọi sự con xin, nếu hợp với ý Cha (1731).

 

TRẦN CAO TƯỜNG

SỨC ĐỘT BIẾN TỪ CƠN GIẪY GIỤA

 

VỀ MỤC LỤC