bước bẩy
NGƯỜI MẸ KHÔNG MẶT
Những năm gần đây bộ mặt phụ nữ mỗi ngày một nổi, hơn cả phe đàn ông nữa chứ. Lady first mà. Từ bà Thatcher thủ tướng Anh đến bà Jacqueline vợ tổng thống Kennedy; bà Clinton được báo chí kê là đồng tổng thống. Rồi đến những ngôi sao màn bạc ăn khách một thời như Sophia Loren hay sôi sục như Madonna. Về phía đạo thì có mẹ Teresa bên Calcutta. Kể ra thì chả có ngành nào mà không có tên tuỗi các bà.
Ý thức hay vô ý thức, mỗi người đang rập theo một người mẫu nào rồi. Người mẫu bây giờ được phô diễn trên màn ảnh Tivi, về cách trang điểm phải mua loại nào cho trẻ trung thu hút, kiểu sống lang bạt tự do chồng ăn chả vợ ăn nem nhan nhản mỗi màn chiếu; thuốc lá cũng phải hút loại nào thì thon đẹp bớt béo; quần áo thì cứ bị thôi thúc đổi thay mỗi ngày cho hợp thời tiết, lúc nào thì phải loại nào mới đúng kiểu. Ôi thôi không biết cơ man nào mà kể. Theo được đúng thời trang cũng bở hơi tai lắm. Và cuối cùng thì nhà cửa bếp núc và chồng con chả ai thèm ngó nữa. Bận nhiều thứ quá. Không có giờ cho mấy chuyện “nhỏ” đó nữa. Thôi thì các ông liệu mà tập làm là vừa. Bình đẳng mà!
Tìm cho ra một người mẫu đóng vai trò then chốt là tạo được tổ ấm gia đình thì xem chừng chưa có ai sáng giá. Mà chẳng báo chí Tivi nào thèm đề cao cái mẫu này, vì cứ lo ở nhà không chịu trưng diện cho nổi nang thì hàng hóa còn biết bán cho ai!
BÚP BÊ KHÔNG MẶT
Dân Amish có một lối sống an bình hạnh phúc rất ngược với những lề thói của các khuôn mẫu và tiêu chuẩn của xã hội hiện tại. Họ thuộc một thứ giáo phái đặc biệt rất ngặt do Jacob Ammann lập ở Thụy sĩ, nhưng bị bách hại phải chạy sang vùng Alsace-Lorraine, rồi di sang Mỹ khoảng năm 1720. Họ nhất định sống với nhau thành những cộng đồng riêng biệt trong những nông trại vùng Pennsylvania, Ohio, Indiana, Iowa, Nebraska.
Chủ trương của họ là không để thói phô trương chạy theo thị hiếu làm hủy hoại đời sống hạnh phúc đơn giản, nên nhà họ không có những gì mà khoa học thời mới phát minh ra như điện, xe hơi, điện thoại, Tivi. Khó có thể tưởng tượng nổi rằng ở ngay trên đất Mỹ này bây giờ mà vẫn có nhiều người như thế chủ ý không sài đèn điện, không mua sắm Tivi, tủ lạnh, máy giặt, máy sấy, không mất tiền cho bất cứ gì gọi là máy móc. Họ có một đời sống rất ngăn cách với thế giới bên ngoài, không chịu để người lạ bước vào trong gia đình họ.
Vậy mà bà Sue Bender đã được may mắn sống trong một gia đình dân Amish, và viết lại kinh nghiệm sống trong cuốn “Giản Đơn” (Plain and Simple), với một giọng làm say mê những người đang bị chìm ngập trong vòng hỗn loạn cuộc sống văn minh máy móc làm mất tính người này. Điều quan trọng không phải là rập theo kiểu sống của họ, e không ổn, mà là khám phá ra lối nhìn của họ về hạnh phúc giản đơn.
Một trong những phong tục đặc biệt của người Amish là khi con gái đi lấy chồng, bà mẹ tự tay làm cho con một búp bê không mặt, nghĩa là trên mặt không vẽ mắt, mũi, miệng, tai gì hết, và các ngón tay ngón chân cũng không rõ nét. Mà bà mẹ nào cũng làm như vậy, không cần phải đẹp đẽ cầu kỳ gì cả, nhưng mỗi búp bê đều mang sắc thái riêng, nhận ra ngay nét riêng biệt của người mẹ làm. Trao búp bê không mặt cho con là trao một của hồi môn đầy ý nghĩa, sẽ làm cho con giầu lắm, chứ không bao giờ trao vàng bạc gì cả, vì người Amish không đeo vàng, không trang điểm. Thậm chí áo họ mặc thường ngày cũng không có cúc, vì cúc cũng là đồ trang sức khoe mẽ.
Con búp bê đó sẽ để mãi trong phòng, luôn nhắc nhở cho con rằng không cần phải sơn trét vào mặt những vinh hoa giả tạo. Bên trong nội tâm con, dưới mái nhà con, đã sẵn kho tàng giầu có rồi, con hãy hướng vào mà khai mỏ, mà xây dựng cho gia đình con thành một tổ ấm. Con hãy tập âm thầm chịu đựng, ẫn mặt đi và bằng lòng thua thiệt thì gia đình mới hạnh phúc được.
Và rồi cứ theo đạo lý đó, người Amish đã và đang sống rất hạnh phúc và an bình giữa một xã hội Mỹ rối loạn. Bà Sue Bender mới sực nhận một điều quan trọng: văn minh nào thì văn minh, đường nào thì đường, điều cốt tủy vẫn là văn minh hay con đường đó có làm cho người ta sống hạnh phúc không. Về điều này người Mỹ đang phải chạy đi tìm nơi người Amish, về một lối sống đơn giản chứ không quá phiền toái như ngày nay.
NGƯỜI MẸ VIỆT NAM KHÔNG MẶT
Một cách nào đó, Mẹ Lê Thị Thành đúng là một người “không mặt”, vì xem ra chẳng có mặt nào nổi cả, không để lại tài liệu sách vở gì đáng kể như nhiều vị thánh Tây, để có thể nghiên cứu mà hình thành một đường tu đức. Nhưng chính cái không mặt đó mới lại là điều đáng đồng tiền bát gạo mà con người ngày nay đang muốn tìm: cái đơn giản, bình thường.
Hội Thánh tôn vinh thánh nữ là có ý giới thiệu cho thế giới một lối sống đáp ứng nhu cầu của con người ngày nay: quá mệt mỏi chạy theo những phức tạp phiền toái. Con người cần tìm ra một lối sống đơn giản và an bình hơn, một lối sống ẩn mặt mà giầu có về tinh thần, vì đã được thực tập biết sống chấp nhận trở thành không mặt, nghĩa là trở hành như bị bông, thì thay vì thua thiệt, lại thành sức mạnh vô hiệu hóa mọi đối nghịch. Đúng là tìm được sức mạnh trong sự yếu hèn thấp kém như tâm tình của thánh Phaolô. Điều này như đã ăn sâu vào máu người Việt trong ca dao:
Hoài công mà đấm bị bông
Nó xẹp bên nọ, nó phồng bên kia.
Để mặt trống không sơn phết là vì tất cả những thêm thắt đó chỉ che lấp đi hình ảnh đích thực của con người được tạo dựng là hình ảnh Chúa, giống như Chúa. Còn mặt nào đẹp đẽ cao quí hơn mà còn phải vẽ vạch kiếm chác thêm? Không ý tứ thì dễ thành mặt mo, mặt thớt, mặt nạ, giả dối lươn lẹo muôn mặt.
Chính vì thế mà ca dao Việt cũng diễn tả cái đạo sống không mặt trống trơn tuyệt vời này như lòng trúc rỗng. Cây trúc phải được khoét rỗng trống thì mới trở thành Khúc Sáo Ân Tình được. Cái xinh đẹp đã sẵn bên trong. Mang được mặt của Chúa, thì ở đâu chả đẹp, đứng đâu chả xinh, chứ cần gì phải giương mặt khoe mẽ:
Trúc xinh trúc mọc bờ ao
Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh.
Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.
Đức Maria đã được truyền thống tu đức gọi là cây sậy hay cây trúc của Chúa Trời. Đó là truyền thống của những người ”bé nhỏ” không mặt (anawim) từ Cựu Ước qua Tân Ước. Và bài ca tuyệt vời ví như khúc sáo ân tình mà ”Chị Hai (Maria) xinh, tang tình là Chị Hai đứng, đứng một mình qua lối xinh cũng xinh” chính là bài Tình Khúc Tạ Ơn ”Magnificat”:
Phận nữ tỳ hèn mọn,
Người đoái thương nhìn tới;
Từ nay hết mọi đời
Sẽ khen tôi diễm phúc.
Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi
Biết bao điều cao cả.
Danh Người thật chí thánh chí tôn...
Ngài đập tan lũ kiêu căng ngạo nghễ
Kẻ quyền thế sẽ bị Ngài hạ bệ
Và nâng cao kẻ hèn mọn khiêm nhường
Ai đói khó được no thỏa thần lương...
Chúa là dòng thác ân sủng vẫn ngày đêm tuôn đổ xuống qua mọi sự, nhưng chỉ những tâm hồn mở trống ra thì mới lãnh nhận được, còn ngược lại cứ sơn phết che phủ thì mãi mãi sẽ còn vơi như tâm tình của Tagore:
Ân sủng Người ban thì vô biên vô tận
Để lãnh nhận tôi chỉ có hai bàn tay nhỏ bé vô cùng.
Ngày ngày lớp lớp qua đi Người vẫn không ngừng đổ rót,
Song hồn tôi vẫn trống và tay tôi thì hãy còn vơi.
HÌNH HOA HẬU LÊ THỊ THÀNH
Ai cũng phải nhận khuôn mặt của mẹ mình có cái gì “thu hút” không thể tả và so sánh được. Không mang nét đẹp phơi bày lồ lộ của những hoa hậu thế giới. Không có nét thông minh kênh kiệu của bà Clinton. Không có nét quí phái đài các của nữ hoàng Elizabeth. Kể cả không có nét thánh thiện cao cả và nổi tiếng như Mẹ Teresa bên xứ Ấn. Nhưng phải nhận mẹ mình đẹp nhất thế giới, một cách nào đó trong tim mình, mà chỉ mình mới có quyền chấm điểm, mặc dù mẹ mình chỉ là một người nhà quê, có thể là “một bà già trầu”, chất phác, mộc mạc, như Phạm Duy diễn tả trong trường ca Mẹ Việt Nam:
Mẹ Việt Nam không son không phấn,
Mẹ Việt Nam chân lấm tay bùn.
Mẹ Việt Nam không mang nhung ấm
Mẹ Việt Nam mang tấm nâu sồng.
Nét hoa hậu này của mẹ đã được chấm qua những nhịn ăn nhịn mặc cho con, những chấp nhận chịu đựng “cuộc đời trôi nổi vẫn tươi cười vì lòng vui”. Đúng hiệu Bà Mẹ Quê như lời ca Phạm Duy:
Vườn rau, vườn rau xanh ngát một mầu
Có đàn, có một đàn gà con nương náu.
Mẹ quê, mẹ quê vất vả trăm chiều,
Nuôi đàn, nuôi một đàn con chắt chiu.
Ba, bà mẹ quê, gà gáy trên đầu ngọn tre,
Bà, bà mẹ quê, chợ sớm đi chưa thấy về,
Chờ nụ cười son, và đồng quà ngon.
Trời mưa, trời mưa ướt áo mẹ già,
Mưa nhiều, mưa nhiều càng tươi bông lúa.
Trời soi, trời soi bốc khói sân nhà,
Nắng nhiều, nắng nhiều thì phơi lúa ra.
Bà, bà mẹ quê, đêm sớm không nề hà chi,
Bà, bà mẹ quê, ngày tháng không ao ước gì,
Nhỏ giọt mồ hôi, vì đời trẻ vui.
Mẹ đúng là giáo sư chính ngạch của đại học tình yêu, là mái ấm gia đình, vậy mà có mấy ai chịu cấp bằng tiến sĩ danh dự cho mẹ mình đâu. Nét đẹp này nơi mẹ Lê Thị Thành được chính người con gái út “chụp vẽ” lại một cách tài tình khi vào nhà tù thăm mẹ:
“Tôi thấy áo quần mẹ tôi bê bết máu, chân tay sưng lên và những vết thương thối ra, nhưng nét mặt mẹ tôi vẫn vui tươi hớn hở. Thấy mẹ tôi mang gông bọc sắt khổ sở, tôi òa lên khóc thì mẹ tôi an ủi”:
Con đừng khóc. Mẹ thấy hoa hồng đang nở đó con.
Một nhân chứng tên là Đang cho biết rằng:
“Bà Đê bị đánh đập tàn bạo đến nỗi thân mình bà đầy máu mủ. Vậy mà bà vẫn vui vẻ mà còn muốn chịu khó hơn nữa”.
Còn khuôn mặt nào đẹp hơn không? Còn tấm hình nào quí hơn được như vậy không? Chắc chắn họa sĩ Vincent Van Gogh cũng không thể nào vẽ bức tranh nào mắc tiền hơn được, mặc dù ông ta đã từng vẽ tranh bác sĩ Gachet mà về sau người ta đã mua tới 82 triệu tiền Mỹ.
NGHĨA CŨ NGÀY SAU MÀ NHÌN
Những nhà tâm lý thời mới cỡ Erich Fromm, Leo Buscaglia, Robert Johnson, tha hồ mà mổ xẻ trái tim loài người. Nhưng mổ riết rồi chỉ thấy những mảnh văng ra tứ tung mà các luật sư nhặt được bèn “chịu khó” giúp cho các cặp vợ chồng năng chạo nhau được dịp ra tòa dứt điểm cho rảnh mặt. Người mình thì xem ra không cần phân tích nhiều. Trai gái lớn lên là phải biết ăn trầu. Bố mẹ trước khi lấy nhau đã phải ăn trầu. Miếng trầu là đầu câu truyện.
Gặp nhau ăn một miếng trầu
Gọi là nghĩa cũ ngày sau mà nhìn
Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu
Trầu này têm những vôi Tầu
Ở giữa đệm quế đôi đầu thơm cay
Mời anh xơi miếng trầu này
Dù mặn dù nhạt, dù cay dù nồng
Dù chẳng nên đạo vợ chồng
Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương.
Truyện thiêng trầu cau và phong tục ăn trầu mãi mãi là một gia tài lớn truyền lại cho con: càng bị nghiền nát nhai ra thì càng trở nên mầu đỏ thắm tình yêu.
Bước theo đạo sống vuông tròn
Mang gươm thập giá khơi dòng tình yêu
Con đường nghiền nát trầu cau
Nên màu đỏ thắm nên màu sắt son.
Cao Tường
Thời nay ít người còn biết ăn trầu, nhưng cái ý nghĩa vẫn là một: bằng lòng chấp nhận được trầu cay, vôi nồng, cau chát, cũng như những đắng cay cuộc sống của gừng cay muối mặn. Lấy vợ lấy chồng là đi gánh vác như Mẹ Lê Thị Thành đã từng nói với con, nên phải tập nhai mình ra, tập hy sinh quên mình thì mầu tình gia tình mới thắm nồng được. Đám cưới mà đút cho nhau ăn bánh ngọt thì thật là đang đánh lừa nhau. Cứ tưởng bở. Cứ chờ sẽ được ăn ngọt như vậy mãi, cho đến khi không được thì vỡ.
Các “bà già trầu” mới đúng là những giáo sư đại học tình yêu trong phân khoa tâm lý đúng hiệu đấy. Tiệc cưới bây giờ không có trầu cau thì ít ra cũng phải có gừng cay muối mặn chứ. Tập nấu ăn là vừa. Người làm bếp giỏi biết pha chế điều hợp mọi chuyện chua cay mặn ngọt thành một món ngon quá sức, ăn vào là mê không rời nổi:
Tay bưng bát muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau.
Những thực tập chịu đựng và quên mình này đã trở thành chất phản xạ trong máu người đàn bà Việt, mang một sắc thái tích cực chứ không tiêu cực thiệt thòi, vì luôn thấy trước được phần thưởng của những “không mặt” này:
Tưởng rằng đá nát thì thôi
Ai ngờ đá nát nung vôi lại nồng.
KHI BÁC SĨ THẦN KINH THẤT NGHIỆP
Năm 1995 xẩy ra vụ nổ bom một tòa nhà có nhiều cơ quan chính phủ tại Oklahoma City, trong đó có một vườn trẻ. Nhiều người bị chết thê thảm, trẻ con cũng bị banh xác. Phi lí quá! Những người mẹ vừa khóc thảm sầu vừa nhặt những mảnh thịt xương con mình văng vãi. Sau đó, nhiều người bị khủng hoảng tâm lý rõ. Tivi phải thường xuyên kêu gọi bác sĩ tình nguyện giúp trị liệu những chứng bệnh bất thường này.
Nếu theo mức này thì chắc người Việt mình trong nửa thế kỷ qua cần phải có mấy triệu bác sĩ trị liệu tâm lý mất. Nhưng thật lạ, trải qua những đau khổ cùng độ và những phi lí trong cuộc chiến hay trong cuộc vượt biên như vậy mà số người Việt bị điên mát không nhiều.
Sức chịu đựng phi thường của người Việt nói chung, và đặc biệt của người mẹ Việt Nam đã làm ngạc nhiên nhiều người ngoại quốctrong đó có linh mục dòng Tên người Ý tên Việt là Đỗ Minh Trí (phiên âm bởi tên chính là Dominici), người đã nhận Việt Nam là quê hương của mình, đã có một nhận xét rất đặc sắc về tâm hồn Việt Nam. Sức chịu đựng bền bỉ và thích nghi cân bằng đời sống với bất cứ hoàn cảnh nào đã trở thành nét văn hóa tiêu biểu như một gia sản riêng của người Việt, ít dân nào có được:
”Cuộc sống con người là một sự cân bằng giữa sức khoẻ và bệnh tật, niềm vui và đau khổ, giữa lao động và nghỉ ngơi, giàu có và nghèo nàn.. . Khi sự cân bằng đó mất đi bởi vì một yếu tố trở nên lấn lướt hơn so với yếu tố kia, con người sẽ bị khủng hoảng. Cuộc sống của cả một dân tộc trở nên phong phú và có nhân tính nếu như cái dáng dấp bi thảm của khổ đau quân bình với cái hình dạng của niềm hân hoan và hạnh phúc...”
“Tôi nhớ vào năm 1979 ở Kuku, các bác sĩ người Pháp đã rất kinh ngạc vì số lượng rất thấp của những căn bệnh rối loạn tâm trí giữa một số lượng đông đảo người tị nạn đang sống trong một tình cảnh bi đát. Tôi tin rằng sở dĩ có được điều này là do tâm tính vui vẻ và thơ thới của Người Việt... Chính ngay điều đó chứng tỏ được rằng sự thông minh của người Việt đã biết cách tạo dựng nên những điều kiện lý tưởng để cho cuộc sống của họ, dù rằng đôi khi cay đắng và bi thảm, trở nên có nhân tính”.
“Nhân tính, đó mới là phẩm chất mà theo tôi, tâm hồn người Việt Nam có thể tóm gọn vào hai chữ đó. Người Việt Nam có rất nhiều nhân tính. Họ không khao khát một sự thánh thiện cao siêu, một nếp sống hào hùng hay những khám phá phi thường. Lý tưởng của họ là một nếp sống an nhàn, tràn đầy niềm vui đơn sơ và bình dị của con người.”
“Chính cái nhân tính đó đã làm cho người ngoại quốc rất ưu ái và gắn bó rất chặt chẽ với dân tộc Việt Nam. Nhất là người Tây phương rất cần đến cái nhân tính đó của người Việt Nam, là vì họ đã biến đổi cuộc sống thành một cuộc chạy đua điên cuồng trong lãnh vực tiến bộ khoa học kỹ thuật, một sự tiến bộ đã làm cho cuộc sống nhân loại khổ sở biết chừng nào!” 1
CÁC BÀ MẸ VIỆT NAM TIÊU BIỂU
Vua Giulianô của đế quốc Rô-ma là một người Công Giáo đã bỏ đạo, và trong hai năm làm vua từ 361 đến 363 đã tìm hết cách để triệt hạ đạo Công Giáo nhưng không thành công. Cuối cùng ông đã hỏi ý kiến một hiền triết thì được trả lời:
“Nhà vua không triệt hạ được đạo Công giáo đâu, vì đạo Công giáo có những bà mẹ can đảm.”
Một nhà tu đức có viết: “Có những người chồng sẽ không được cứu rỗi, có những người con sẽ hư mất, nếu không có những người vợ đạo đức, những người mẹ thánh thiện.”
Quả vậy, từ câu truyện trong sách Kinh Thánh về bà mẹ thời Maccabêô can đảm khuyến khích và chứng kiến 7 đứa con bị hành hình trước mặt mình, để rồi cuối cùng bà cũng bị xử tử, Hội Thánh Việt Nam cũng luôn có những bà mẹ gương mẫu như Thánh Lê Thị Thành.
TRUYỀN THỐNG CÔNG CHÚA MỴ CHÂU
Việt Nam hãnh diện có những người nữ lẫm liệt trong lịch sử chiến công như Hai Bà Trưng, bà Triệu Thị Trinh. Lại có những người hy sinh đời mình để tạo hòa bình với nước lân bang và mở mang thêm bờ cõi như công chúa Huyền Trân đời nhà Trần, hay hai công nương Ngọc Vạn và Ngọc Khoa con chúa Sãi. Đúng là ba vị này đã “đổi sắc hương lấy cõi giang san” là đất Chàm và Chân Lạp, tức từ Quảng Trị vào tới Đồng Nai Sài Gòn xuống mãi tận Cà Mau ngày nay. Dù sao lịch sử cũng ca tụng vì những kế hoạch trên đều thành công.
Nhưng có một người nữ trong bộ truyện thiêng tộc Việt cũng đã hy sinh như vậy mà chỉ vì chương trình không đạt kết quả toại nguyện nên chưa được đề cao đúng mức, đó là công chúa Mỵ Châu. Nàng công chúa này cũng đã vâng lời vua cha là An Dương Vương để lấy con của Triệu Đà là Trọng Thủy, cốt gây tình giao hảo với nước láng giềng phương Bắc, mong cho dân được sống an lành. Mỵ Châu cũng đã làm trọn bổn phận của một người vợ hiền chỉ biết một lòng tin tưởng và chung thủy yêu chồng. Vậy mà Mỵ Châu vừa bị Trọng Thủy phản bội, vừa còn phải chịu đựng nỗi oan nối giáo cho giặc.
Thì có phải là nàng chọn làm chuyện đó đâu. Nhà vua và mọi người bàn kế hoạch và chọn lựa như vậy mà. Mỵ Châu chỉ đành chấp nhận hy sinh đời mình thôi. Nay thì lòng hy sinh chẳng những không được tôn vinh mà còn mang nỗi oan ức. Như thế là bất công. Dù vậy nỗi oan này cũng đã được giải do dòng máu của Mỵ Châu chảy xuống biển Đông thành thứ ngọc quí, và Trọng Thủy đã sám hối khóc thương, nước mắt chảy thành giếng, đem ngọc biển đông mà rửa bằng giếng nước sám hối này thì thành thứ ngọc sáng ngời.
Như vậy nét ẩn mặt chịu đựng của Mỵ Châu chịu thua thiệt rốt cuộc cũng là yếu tố căn bản của nét văn hóa Việt ăn sâu vào máu dân mình như chất di truyền rồi còn gì. Không cần biện bạch, không cần tòa xử. Mẹ Việt Nam vẫn phảng phất mang nét thiệt thòi của Kính Tâm hay thiếu phụ Nam Xương trong những mẩu truyện bình dân. Rồi cuối cùng niềm tin vào cuộc đời vẫn vinh thắng: trầu cau bị nghiền nát tưởng như là nỗi oan thì lại trở thành mầu tình yêu đỏ thắm. Đó vẫn mãi mãi là điều bí mật ẩn mặt của người Mẹ Việt Nam.
BÀ MẸ CỦA THÀY ANRÊ PHÚ YÊN
Cha Đắc Lộ đã tường thuật rất chi tiết về Cái Chết Hiển Vinh của vị tử đạo đầu tiên của Việt Nam: một thầy giảng ở Phú Yên mang tên thánh là Anrê. Thầy có một người mẹ “rất nhân đức, ân cần chăm sóc việc giáo dục Anrê về đường đức hạnh và học vấn. Mặc dù góa bụa và đông con, bà cũng lo cho cậu được học chữ nghĩa kinh sử. Chỉ có một điều khiến bà ngày đêm lo lắng là đứa con út của bà đã khôn lớn mà chưa được chịu phép rửa tội. Bà cầu xin cho có giáo sĩ đến để con mình được gia nhập đạo Chúa. Ngày mong chờ đã đến, theo lời Cha Đắc Lộ: “Đúng ba năm trước khi tử đạo, mẹ thày Anrê dẫn thày đến cho tôi, và tôi được hạnh phúc rửa tội cho thầy”. Năm đó là năm 1641. Và cũng chính cha Đắc Lộ đã đứng chứng kiến thầy Anrê bị chém đầu.
NGƯỜI MẸ QUẢ QUYẾT CỦA PHAOLÔ BỘT
Ngày 27 tháng 2 năm 1857 làng Vĩnh Trị và chủng viện bị quan quân vây phá tan tành, cha giám đốc là Lê Bảo Tịnh bị bắt và đã bị giết chết vì đạo. Sau đó Cha Thánh Ven (Vénard) cũng cùng chung số phận. Tiểu chủng viện Kẻ Báng là nơi các chủng sinh từ Vĩnh Trị chạy sang trọ học cũng bị 700 lính đến bao vây ngày 16 tháng 1 năm 1858. Họ đã bắt được 14 bổn đạo và 4 chủng sinh, trong số đó có Phaolô Bột và Gioan Trần Pháp, em ruột của cụ Sáu Trần Lục, cha sở nổi danh với công trình xây cất quần thể nhà thờ Phát Diệm sau này.
Phaolô Bột sinh trưởng tại tỉnh Ninh Bình, là một chủng sinh lớp 7, đã bị điệu ra trước tòa quan cùng với Gioan Pháp và hai chủng sinh nữa. Mỗi người bị đánh bốn chục roi mây, bắt bỏ đạo, nhưng không một ai nản lòng. Lần thứ hai cũng vậy. Nhưng đến lần thứ ba thì quan đổi giọng. Thay vì giận dữ, quan tỏ ra hiền lành thương mến: Ta đây là phụ mẫu của dân, thấy bốn anh còn niên thiếu, trong lòng rất muốn tha, ngặt vì pháp luật bó buộc. Vậy có cách này, vừa không lỗi lề luật, vừa có thể cứu được các anh, mà đàng khác, các anh cũng không mang tội bỏ đạo, là các anh cứ nhắm mắt để mặc cho bọn lính muốn khiêng đâu thì khiêng
Nghe vậy, Phaolô Bột và 2 chú nữa đã thơ ngây nhắm mắt cho lính khiêng, vã dĩ nhiên là họ đã khiêng 3 anh qua thập giá. Duy chỉ mình Gioan Pháp đã nhận ngay ra kế của quan nên quyết không chịu cho lính khiêng.
Thế là Phaolô Bột trúng kế của quan, bị coi như đã bước qua thập giá bỏ đạo, nên quan tha cho về. Còn Gioan Pháp em ruột của Thầy Sáu Trần Lục thì bị đầy lên Lạng Sơn. Mấy tháng sau Thầy Sáu Trần Lục cũng bị bắt và cũng bị đầy lên đó, có dịp gặp lại người em can đảm ở đây. Nhưng lúc đó Gioan Pháp đã kiệt sức và đã chết vì đạo Chúa trên tay anh mình.
Trong thời gian Thầy Sáu Trần Lục còn đang trốn ẩn cùng với Đức Cha ở làng La-mát thì một hôm có một chú chủng sinh khóc lóc đến xin gặp Đức Cha để xưng tội vì việc bước qua thập giá chối đạo. Chú đó chính là Phaolô Bột.
Phaolô Bột đã kể cho Thầy Sáu Trần Lục nghe về chuyện bị bắt và trúng kế của quan, đã nhắm mắt để lính khiêng qua thập giá, nên bị coi là bỏ đạo. Và khi trở về nhà, thì bị mẹ quát mắng:
“Hãy cút đi. Nhà này không có giống bỏ đạo. Không bao giờ mẹ cho phép một đứa đã bỏ đạo bước vào nhà, dù đứa ấy là con đi nữa. Con ơi, nếu con chịu chết vì đạo, thì mẹ sẽ khóc con như khóc một đấng tử đạo. Nay thì mẹ phải khóc vì đã sinh ra đứa con phản bội Chúa”.
Thế là Phaolô Bột đã nghe lời Thầy Sáu Trần Lục khuyên không cần gặp Đức Cha, mà chỉ cần tỏ dấu hối hận đi xưng tội với một linh mục. Vài ngày sau, Phaolô Bột viết thư cho Thầy Trần Lục:
“Chẳng những con đã hối hận, mà còn muốn đền bù bằng cách sẽ trở lại Nam Định nộp mình cho quan”.
Thầy Trần Lục trả lời ngay: “Không có gì bắt buộc con phải làm việc anh hùng như thế, nhưng nếu tin cậy ở Chúa mà đi nộp mình cho quan, thì thật là một việc làm vẻ vang cho Hội Thánh”.
Nhận được thư trả lời, Phaolô Bột đã lấy quần áo đẹp nhất ra mặc, đến quì trước mặt mẹ mà xin lỗi:
“Thưa mẹ, mấy tuần lễ trước, con trót dại để mặc lính khiêng qua thánh giá, thực là một trọng tội và làm ô nhục cho gia tộc. Nay nghĩ lại, con rất hối hận và xấu hổ, nên muốn đền lại bằng cách đi lên Nam Định để xưng đạo. Vậy lần cuối cùng con đến từ giã mẹ, và xin mẹ cầu nguyện cho con đủ can đảm và nghị lực. Lần này con đi và không trở lại nữa”.
Bà mẹ can đảm rướm nước mắt đáp rằng:
“Con cứ đi và làm như điều con đã nói. Mẹ dâng con cho Chúa đã lâu rồi. Mẹ sẽ cầu nguyện xin Chúa phù hộ con”.
Ngày hôm sau, Phaolô Bột đã đi gặp quan ở Nam Định trình rằng:
“Quan lớn đã đánh lừa tôi, bảo tôi nhắm mắt rồi cho lính khiêng tôi qua thập giá. Việc ấy không phải do tôi, mà là do quan lớn, tôi xin trả lại cho quan, và nhất định xưng đạo”.
Quan đã cho đánh đòn thật đau, nhưng không lay chuyển được quyết tâm của chú bé. Sau cùng quan truyền trói chú lại cho hai con voi dẫm chết.
Hiện nay, mộ của Phaolô Bột vẫn còn ở Phúc Nhạc, thuộc giáo phận Phát Diệm. Mặc dù chưa được phong thánh chính thức nhưng hồ sơ xin phong thánh đang được tiến hành.
MẸ DŨNG CẢM CỦA CẬU TRẦN VĂN TRÔNG
Có hiếu với mẹ là một nét nổi nơi Thánh Trần Văn Trông. Cha qua đời sớm, mẹ muốn lập gia đình cho, nhưng anh Trông vẫn chưa muốn, mà ở vậy nuôi mẹ.
Khi bị bắt giam tù, anh Trông đã tỏ ra là một người rất tử tế đến nỗi lính canh tin tưởng mà cho phép anh ban đêm được lén về nhà thăm mẹ.
Ngày 28.11.1835 có án xử tử, anh Trần Văn Trông bị dẫn ra pháp trường. Hôm ấy trời mưa và gió lớn. Anh Trông vẫn vui vẻ hân hoan, tay cầm tràng hạt đi bên lính đao phủ. Mẹ anh hay tin vội vã ra chợ An Hòa gần Thành Nội để gặp con lần cuối.
Bà còn hỏi anh xem còn nợ nần ai gì không để mẹ lo trả cho họ. Hai mẹ con nói lời từ giã sau cùng. Anh bị dẫn tới làng Bắc Đình để xử. Lính tháo gông và xiềng xích ra. Anh đã nhờ lính trao xích lại cho mẹ anh giữ, rồi quì xuống cầu nguyện.
Bà mẹ đứng gần đó để chứng kiến con mình tử nạn và khuyến khích nâng đỡ con trong giây phút sau hết. Và khi hồi chiêng trống vọng lên, đầu vị thánh trẻ mới trên hai mươi tuổi đời đã bị chém đứt rơi xuống. Bà mẹ dũng cảm liền chạy ngay tới đưa mấy quan tiền chuộc đầu con. Rồi bà quì xuống, trải vạt áo dài ra bọc chiếc đầu lại và chạy ra sông Hương xuống thuyền ngược về Thợ Đúc. Bà còn cho người đem tiền chuộc luôn xác con về đặt trong nhà. Đêm ấy, Bà cho người lên núi tìm vị linh mục đang trốn ẩn về làm lễ an táng cho con. Bà xin Cha mặc áo đỏ vì ”hôm nay là ngày vui mừng của gia đình”, ngày chiến thắng của một vị tử đạo.
Trong sắc lệnh tôn phong Á Thánh, Đức Thánh Cha Leo XIII đã đặc biệt nêu cao gương tử đạo của vị thánh trẻ như sau:
”Trong các Đấng Tử Đạo Việt Nam có Anrê Trông thời danh không những vì chính ngài dũng cảm mà mẹ ngài cũng anh hùng như con, vì bà đã bắt chước Đức Mẹ đồng công chịu đau khổ với con, đứng bên cạnh xem con mình chịu chết, và khi con bị chém đầu rồi thì ôm đầu con trong lòng mình”.
***
NGƯỜI VIỆT CÓ MẶT NÀO NỔI?
Quả thật, khi nghiên cứu về văn minh Việt Nam, người ta lấy làm lạ là người mình chẳng để lại điều gì lớn lao, chẳng có mặt nào xem ra nổi cả.
Ay cũng tại người ta cứ lấy cái thước phách lối chỉ ưa mặt nổi đè người của Tây phương mà đo cái không đo được. Anh nhà buôn Bắc Mỹ đi nghỉ hè miền núi gặp một nhà tu hành mà hỏi lợi tức hằng năm bao nhiêu thì ai thèm trả lời. Tay đánh võ khỏe như Tyson mà đi hỏi nhà bác học Einstein rằng ông không đánh được tôi la ông thiếu văn minh, thì thật lố bịch.
Sơn Nam trong cuốn “Người Việt có dân tộc tính không?” đã dí dỏm nói lên cái thái độ tự đắc của người Âu Mỹ:
”Nhiều nhà khảo cổ Tây Phương nghiên cứu kỹ lưỡng để xem người Việt có gì đặc sắc so với người Ai Cập, người Tàu, người Ấn Độ, căn cứ vào di tích, vào những gì mà ngày nay còn chụp ảnh được, đào xới được, đọc được... Dưới mắt người Tây Phương, rõ ràng người Việt Nam chẳng có gì đáng kể, về hình thức. Người Nhựt, người Tàu, người Ấn Độ, người thiểu số cao nguyên, bộ lạc ăn lông ở lỗ ngoài hải đảo Thái Bình Dương đáng chú ý hơn. Ở giải đất Đông Dương thì quyền ưu tiên dành cho Đế Thiên Đế Thích, nghệ thuật Chiêm Thành, hoặc cánh đồng rải rác những cái chum bằng đá ở Lào. Việt Nam thuộc vào hàng thứ yếu...” 2
”Trong việc sưu tầm văn hóa, người Pháp đã tặng cho người Việt vài lời khen an ủi: sọ người ở Hòa Bình, trống đồng Thanh Hóa, lăng tẩm Huế, tượng nhà sư Minh Hạnh. Trước khi rút lui, người Pháp phát giác thêm những di tích ở đồng bằng Hậu Giang về nước Phù Nam, tại thương cảng Óc Eo (núi Ba Thê An Giang)” 3
MỘT NỀN VĂN MINH KHÔNG MẶT
Mỗi dân tộc đều có cái ”máu” đặc sắc khác nhau. Người Ý có máu nghệ sĩ, sản xuất biết bao nhân tài về hội họa, điêu khắc, nhạc... Người Đức, người Nhật có máu ta đây, nên thích đè bẹp lân bang để tỏ ra chủng tộc mình trổi vượt, nên họ nghiện làm quên ăn quên ngủ, miễn là dân mình phải hơn thiên hạ, đè bẹp nhiều người. Mặc dù cái máu đó giúp cho hai dân này tiến bộ về khoa học thực, nhưng tiến bộ như vậy để làm gì? Tần Thủy Hoàng để lại Vạn Lí Trường Thành do biết bao nhân mạng để xây cất. Bao đền đài lăng tẩm đã là kết quả của biết bao xương máu.
Mỗi nền văn hóa có những quan niệm và tiêu chuẩn để đo giá trị khác nhau. Văn minh Hy Lạp thích đo bằng đầu óc triết lí. Văn minh Ai Cập chuộng sức mạnh tâm linh. Văn minh Âu Mỹ thích tìm tòi sự lạ, thích đề cao hiệu năng sản xuất, tôn thờ vật chất. Hết định nghĩa người là con vật biết suy tư đến người là con vật kinh tế. Chẳng biết đâu là văn minh, đâu là man rợ. Cứ thấy cái cảnh người Âu Mỹ giết bào thai đã có tay chân phèo phổi một cách ngon lành mà lại do luật pháp bảo vệ, đang khi ai trót dại động tới mấy con chó là bị hội bảo vệ súc vật lôi ra tòa liền. Người ta tự hỏi nền văn minh đang đưa con người tới đâu? Chỉ biết xã hội Âu Mỹ đang trả giá cho văn minh này: bác sĩ thần kinh không bao giờ thất nghiệp, thuốc nhức đầu bán chạy hơn tôm tươi. Con người mệt mỏi, rã rời, khắc khoải...
Suy nghiệm về thân phận Việt Nam, chúng ta vẫn thường tự hỏi nếu người mình có cái gì gọi là đặc sắc, thì cái đặc sắc đó chính lại cái không mặt, không có gì, chẳng để lại gì đồ sộ nguy nga. Thánh Lê Thị Thành hay chính người mẹ của mình mà có qua đời thì cũng chẳng để lại sách vở di tích gì gọi là đáng kể. Nếu có thì cũng chỉ để lại con búp bê không mặt, phong tục ăn trầu, nếm gừng cay muối mặn.
CÁI LẠ TRONG CÁI THƯỜNG
Cái đặc sắc chính là điều biết sống cái bình thường, chính là cái biết tìm an nhiên tự tại trong bất cứ hoàn cảnh nào. Người Việt vốn không tin vào những chủ trương lấn lướt này hay lý thuyết quá khích nọ, nhưng tin vào sự sung túc của cuộc đời, và dai dẳng bám vào sức sống đó, qua những bình lặng hằng ngày, qua những trầm bổng đắng cay ngọt bùi, mà khám phá ra cái lạ thường trong những tầm thường. Người Việt luôn biết dung hòa và hóa giải mọi đối nghịch để tìm ra nét hài hòa và thăng bằng để làm nên đạo sống an nhiên tự tại. Sống như vậy gọi là phong lưu: hòa được vào dòng sinh khí vẫn đang thổi hơi sức song và dòng nước suối nguồn cuộc đời vẫn đang luân lưu chảy. Đời sống không phải là những phép lạ là gì?
Cái đặc sắc là biết trở thành như búp bê không mặt. Không có mặt nên không sợ mất mặt. Lòng trống như ống trúc có thể nhận được hơi thở sức sống tình yêu của Chúa thành Khúc Sáo Ân tình. Trống như biển cả có thể dung nạp mọi dòng nước chảy xuống, uế tạp hay trong lành, đều có thể hòa chung thành một cõi bao la như lòng người mẹ.
Lấy tiêu chuẩn nào mà đo xem dân nào văn minh dân nào không? Ở ngưỡng cửa của một thiên niên mới, con người phản tỉnh nhìn lại những con đường đã đi để thấy rõ hơn con đường nào mới thật sự dẫn mình tới an bình hạnh phúc. Một người Mỹ như Sue Bender mê con đường của dân Amish. Một người Ý như linh mục Dominici mê con đường của dân Việt để nhận “Việt Nam quê hương tôi”. Đức Giáo Hoàng Gioan Phalô II và Hội Thánh Công Giáo thì chỉ rõ con đường của Lê Thị Thành và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam vào ngày 19 tháng 6 năm 1988.
Lối sống làm cho con người an vui hạnh phúc thì mới là văn minh. Dân nào có được đạo lý và lối sống đó thì mới gọi là dân văn minh. Mẹ Lê Thị Thành chính là mẹ của mỗi người, là người đàn bà mẫu cho năm 2000, mở ra một lối sống văn minh theo đúng nghĩa nhất: Đường Nở Hoa.
1 LM Dominici, Việt Nam Quê Hương Tôi, trang 26-28
2 Sơn Nam, Việt Nam có dân tộc tính không? trang 9-1
3 Như trên --- trang 12.
TRẦN CAO TƯỜNG
NGƯỜI MẸ KHÔNG MẶT