bước chín

 

SỨC BẬT TỪ CỘNG ĐỒNG VIỆT

 

Lạ lắm! Khi khoa học lên cao nhất tưởng có thể chế ngự được mọi sự thì lại phát sinh nhiều chứng bệnh do tiến bộ quá cỡ trên “bước tất yếu của lịch sử”: căng máu, ngộp tim, thâm gan, tím mật, lộn ruột, quên cười, da nhăn, bạc tóc, nhức đầu, bồn chồn, mất ăn, mất ngủ, ứ mỡ, bong thần kinh... Số người tự tử về hạng ba sau tai nạn xe hơi và giết người. Thế là thế nào?!

 

I. KHI MỸ PHẢI ĂN XIN

 

Trong báo Time ngày 28.8.1995, Robert Wright đã nhận định về hiện trạng “Nỗi Buồn Thế Kỷ 20” khi mà người Au Mỹ đang bị cái vòng “văn minh” quay cho xây xẩm mặt mày:

 

“Trong cuộc sống hằng ngày, có những lúc thật sự có một cái gì không ổn: hoặc là chúng ta bị đè nặng bởi một náo động quá lớn do công việc hằng ngày; hoặc bị làm chai lì vì cảm giác bị xã hội cô lập; hoặc sa lầy trong một tâm tư về cuộc sống vô nghĩa. Cũng có khi bị đảo lộn bởi một tình trạng lo lắng không sao giải tỏa; hoặc không còn cảm thức được ý nghĩa của thời gian vì phải ngụp lặn trong những tuần lễ làm việc dài dài. Dù cho nguồn gốc của những căng thẳng tinh thần là gì, thỉnh thoảng chúng ta vẫn có cảm tưởng đời sống hiện thời không phải là những gì chúng ta mong ước mà chỉ là những gì chúng bị áp đặt”

 

Mấy nhà tâm lý về tiến hóa (evolutionary psychology) cho biết lý do: vì cấu trúc xã hội xoay tầm bậy quá khác với cấu trúc di truyền tự nhiên của thân tâm nên sinh bấn loạn. Đưa một hình ảnh bình dân dễ hiểu: một người bị quay một chục vòng rồi buông ra là lảo đảo té xuống ngay, là vì cái nhịp độ ở ngoài và trong cơ thể không đi được với nhau. Cũng giống như một người lần đầu tiên đi tàu, bị nhiều đợt sóng nhồi. Nhịp sóng và nhịp cơ thể không quen nhau thành ra say quá sức.

 

BỆNH BẤT MÃN KINH NIÊN

 

Như vậy có nghĩa là cấu trúc của xã hội, hay cái nền văn minh này đang bất ổn, không tự nhiên, không hợp cho con người bình thường. Cả một xã hội bị bệnh. Thế giới ngày nay là một môi trường khó sống, thuận lơi để các bệnh tâm thần phát sinh. Con người của thế kỷ này nhiều thô bạo hơn là vị tha hiền hòa. Thân tâm con người không hợp với kiểu sống kỹ thuật quá cao, quá thành thị, mỗi người một hộp vuông tách biệt cô đơn, quá đòi hỏi với những tiêu chuẩn và người mẫu trong Tivi thành luôn cảm thấy bất ổn và bất mãn.

 

Lâm Ngữ Đường trong Một Quan Niệm Sống Đẹp đã bảo: một xã hội mà người đàn bà bị vất ra khỏi nhà, không dám sinh con, là một xã hội bệnh hoạn, bất bình thường.

 

Trước đây “chúng ta đánh giá chúng ta qua người trong làng. Nhưng giờ đây chúng ta so sánh đời sống với rất nhiều giả tưởng trong Tivi. Vợ hoặc chồng mình, cha mẹ, con cái có thể rất là bất tương xứng khi so sánh. Vì thế chúng ta bất mãn với họ, và bất mãn ngay cả với chính chúng ta”.

 

Các bà cứ phải lo sửa mắt, mũi, miệng, cằm, vì thấy hình người mẫu “model” trên báo mướt thế cơ mà. Các ông thì chê vợ cười chưa tình đủ bằng con tài tử đóng phim. Có biết đâu người ta đã phải tốn cả mấy triệu để kiếm cho ra một đứa tập cười như vậy đấy, chứ về nhà nó là đứa nhăn nhất xóm.

 

MÁT DÂY CHẠM ĐIỆN

 

Ngày 10 tháng 12 năm 1995 giải Nobel về hóa học được trao cho ba nhà bác học khảo cứu về lớp khí ozone bao quanh trái đất là các ông Mario Molina, Sherwood Rowland và Paul Crutzen.

 

Từ năm 1974 nhiều người đã nói tới lớp khí này bị các chất ga CFC từ những bình xịt, tủ lạnh v.v. ăn mỏng ra, khiến cho khí hậu trở thành nóng lạnh bất thường, vì tầng ozone loãng quá không chắn được sức nóng mặt trời, và không chặn được tia tử ngoại kỹ nữa nên dễ sinh ung thư. Hiện nay ở Nam cực đã bị thủng một lỗ lớn.

 

Trước đây nhiều nhà buôn chống lại lý thuyết về ozone vì sợ không bán được hàng. Nhưng nay thì các nhà bác học đã chứng minh rành rành! Thì chính con người tạo ra cái bệnh ung thư, mát dây, chạm điện, vì làm mất trật tự của thiên nhiên. Mình đang phải tự trả giá. Hèn chi mấy năm qua xẩy ra nhiều hiện tượng lạ: mùa hè 1995 ở miền Bắc phía Chicago chết nóng cả mấy trăm mạng; mùa đông 1996 lại lạnh quá làm thần chết cũng bận rộn ra phết.

 

ĐI TÌM NHỊP ĐIỀU HÒA

 

Có lần một anh bạn trẻ tâm sự: nhiều lúc mình cảm thấy như bị cột vào một vòng xích trong một chiếc máy lớn. Nó chạy, nó quay xình xịch, là mình cứ phải rướn theo, có muốn thoát ra cũng không sao nổi! Hằng ngày có quá nhiều chuyện phải làm cho xong, tìm được phút an tĩnh thật khó! Những gì phải làm tuần tới, tháng tới, năm tới, đã đầy cả sổ rồi. Những “nhu cầu” của vợ con theo mức đua đòi làm điên cái đầu. Phải có xe mướt. Phải có áo Polo. Có nghĩa là mình chả còn là mình nữa. Cuộc sống mỗi ngày mỗi nghèo nàn đi, thu hẹp lại.. . Mệt và căng quá đi!

 

Thế là người Au Mỹ phải đi tìm lối thoát, cho bớt căng. Không thì điên mất. Phải bỏ nhà đi xa tìm vào kiểu sống thiền, nếp đơn giản của dân Amish, lối liên hệ cộng đồng của những Kibbutz Do Thái. Tìm cho ra một cái xã hội nào thuận lợi, môi trường nào hợp nhịp cho con người để sống bình thường chứ.

 

Nhưng đâu có đơn giản như vậy được. Đàng nào mình cũng bước vào cái xã hội này rồi, dù có bị áp đặt hay bị ném vào, chả lẽ mình bỏ đây lên núi làm ông đạo Dừa tịnh khẩu à? Chả lẽ mình nhốt mình lại khép kín như dân Amish?

 

Thì đây, nhiều người đang khám phá ra lối sống có sức hóa giải nơi những cộng đồng Việt. Vẫn đón nhận mọi tiến bộ văn minh mới mà vẫn giữ được lối sống an nhiên của văn hóa mình. Hoa hồng vẫn nở qua mọi ngóc ngách. Chả cần phải bỏ nhà đi đâu cả.

 

LÀM ƠN LÀM PHÚC CHO MỸ

 

Sau 20 năm tỵ nạn, ngày 30 tháng 6 năm 1995, một giáo xứ mới nữa được lập thêm tại New Orleans, Louisiana, cho người Việt sống ở vùng Tây ngạn sông Mississippi, với đầy đủ năng quyền pháp nhân. Giáo xứ mới này được đặt tên bổn mạng một vị thánh nữ duy nhất của Việt Nam là Lê Thị Thành. “Biên cương” được vạch định: phía Đông và Nam xuống tận Empire quận Plaquemines, phía Tây giáp ranh Houma-Thibodaux, phía bắc là sông Mississippi có cầu Con Cò nối nhịp. Trong văn thư thành lập, Đức Tổng Giám Mục Francis Schulte nói rõ:

 

“Người Việt và gia đình Việt đến đây là một ơn phúc lớn lao cho toàn thể tổng giáo phận”

 

Vậy là đến lượt người Au Mỹ nghèo nàn phải trông chờ viện trợ của mình rồi đây. Mình có dịp làm ơn làm phúc cho người ta, chứ mọi khi cứ phải tủi thân đi ăn xin thôi.

 

Lý do để thành lập thêm một giáo xứ nữa cho người Việt rõ như vậy đấy. Vì lối sống đạo và giá trị gia đình Việt. Còn chờ gì nữa mà không hãnh diện để cùng khai thác phát triển đi.

 

Có lần Đức Cha đã xác định câu nói trên trước mặt cả các linh mục và các hội đồng giáo xứ Mỹ rằng chỉ có hai giáo xứ Việt trong tổng giáo phận mà cung cấp 50% số chủng sinh trong chủng viện cho Tổng Giáo Phận.

 

Dân Xì ở đây cả mấy chục ngàn, lại đến trước mình mấy chục năm, mà không được lập thành xứ gì cả, ghen ra mặt. Thì tại họ chưa đủ sức làm ơn làm phúc như người mình.

 

Như vậy là mình đang có một lối sống góp phần làm giầu cho nhiều giáo phận. Người Mỹ được nhờ và cũng muốn học nơi người mình nữa: Tại sao học sinh Việt học giỏi, thành công, tại sao người Việt đi tu nhiều, tại sao gia đình Việt khắng khít hơn. Tại sao nhà thờ Việt đầy người đi lễ ngày thường. Tại sao cộng đồng Việt phát triển mạnh chứ không khép kín?

 

Bây giờ thì người Mỹ phải đọc đàng hoàng đúng tiếng Việt: Lê Thị Thành. Chứ không được phép phát âm léng phéng là “Tan Ti Lee”. Mấy ông cụ cũng bớt tủi. Cũng bởi có mấy ông đi học lớp làm Mỹ Vàng,  phải đọc trẹo cả quai hàm tên người làm ra bản quốc ca Mỹ là Phan-xít-xi Xì-cót-tì. Hỏi mãi mới biết là Francis Scott.

 

VƯỜN RAU XANH NGÁT MỘT MẦU

 

Anh sĩ Mark Sindler thì khoái người Việt ra mặt, luôn cười tươi đi ngốn chả giò chấm nước mắm ớt khen ngon ơi là ngon. Anh mê tìm chụp nét đẹp của văn hóa Việt, mò ra được vùng “kinh tế mới” là vùng đất bỏ hoang từ lâu, nay được các cụ Việt ta chặt cây, làm cỏ, xới đất trồng rau, thành hàng thành luống. Lúc đầu thì lấy thùng xách nước dưới mương lên trông rất “miệt vườn”. Sau này các cụ “cơ giới” hóa bằng máy bơm, mua rẻ ề à. Nhìn những đọt rau đang mơn mởn phóng lên, các cụ thấy đời mình tươi trẻ lại. Về nhà ăn cơm thấy ngon hơn, đọc kinh thấy dòn hơn, chứ không uể oải như mọi khi.

 

Rình mãi, Mark Sindler mới chụp được cảnh “vườn rau xanh ngát một mầu” của mấy ông bà cụ vùng New Orleans. Thay vì ngồi than ngao ngán “thấy đời mình là những quán không” thì đi trồng rau. Vừa chạm đến thiên nhiên tươi mát, vừa có tiền còm mua bánh kẹo cho các cháu. Các cụ còn phát ngôn ngon lành: “Người Mỹ các anh cứ nhốt mình trong phòng như cái hộp vuông. Như vậy điên mát là đúng rồi. Phải mở hộp vuông ra mà hòa với trời tròn, với đời sống cộng đồng, thì đời sống mới vuông tròn được”. Có lý thật. Hèn chi thấy nụ cười các cụ no tròn và miệng hát nghêu ngao. Bác sĩ thần kinh thấy vậy chỉ biết ngồi ngáp vặt.

 

DỌN TẾT

 

Mà muốn cảm được cái nét vuông tròn này thì phải bám sát Mark Sindler đi chụp hình “Dọn Tết”. Tuyệt lắm. Anh ta có vẻ chộp bắt được cái hồn của người Việt khi chụp cảnh này. Chắc là phải tốn nhiều công sức thời giờ lắm.

 

Cả nhà đang cùng tham gia một “công tác” lớn: Bà mẹ đang cặm cụi gói bánh chưng, mấy đứa nhỏ đứa thì đưa lá, đứa đưa lạt buộc. Cứ như là cảnh bác sĩ giải phẫu có mấy cô y tá đưa dao đưa kéo. Đứa bé nhất đang bò thì có bà coi, cảnh bà cháu ríu rít sao mà ngon thế. Mấy đứa lớn thì lăng xăng chạy tới chạy lui đưa bánh cho bố bỏ vào thùng lớn để nấu.

 

Nhìn kỹ này, đây mới là điểm chú tâm của tấm hình: Ông bố với dáng điệu trang trọng như đang cử hành nghi lễ. Anh sáng từ bếp lửa làm rạng lên khóe mắt long lanh hay từ một sức gì bên trong toát ra, khó mà phân biệt được. Hay là cả hai. Ông bố như đang mở tâm ra nhận lấy dòng sức sống từ bao đời qua mấy ngàn năm lịch sử với đầy vinh quang mà cũng nhiều tủi nhục của dân tộc. Bây giờ đến lượt ông là người dẫn đầu gia phong có trách nhiệm chuyển dòng sức sống này chảy tới cho đàn con cháu đã đưa sang Mỹ. Khói nồi bánh chưng tỏa lên nghi ngút tưởng chừng như khói hương rước hồn thiêng tiên tổ từ những mồ cao mả dài hằng bao thế hệ về hiện diện nơi đây, một Việt Nam thu hẹp.

 

Nấu bánh chưng thì cũng phải nấu bánh dầy. Vuông phải hòa nhập với tròn, đất phải hòa hợp với trời. Ong bảo chỉ nấu bánh chưng không là nghe dại mấy đứa duy vật nghỉ chơi với Trời, cho ông Trời thất nghiệp “lây óp” là láo xà.  Nên ăn tết phải có đủ nghi lễ bánh chưng bánh dầy. Người Nam mình còn đơn giản hơn nữa, nét vuông nét tròn được cô đọng lại nơi đồng bánh téc. Trời cao đất thấp gặp nhau. Xa cách mấy rồi cũng nối liền được. Đối nghịch mấy rồi cũng dung hóa được. Mà có dung hóa như vậy được thì mới phát sinh điện lực, như cực âm cực dương nối kết. Người Việt lì lắm, gặp khốn khổ mấy cũng biết vậy đã. Rồi đâu cũng vào đó. Cũng có cách giải quyết chứ không điên mát như người Au Mỹ đâu.

 

Cảnh nấu bánh dầy bánh chưng mà linh thiêng vậy đấy, có nghi thức hẳn hòi chứ chả thường đâu. Cả nhà tham dự. Cả dòng họ tiên tổ tham dự. Cả trời đất tạo dựng, chuyển dòng sức sống cho từng người, cho từng công việc, cho cả năm. Mark Sindler không mê sao được.

 

SỨC BẬT TỪ CỘNG ĐỒNG VIỆT

 

Sức sống cộng đồng Việt, nhất là về đức tin, đang ảnh hưởng mạnh tại những nơi định cư, nhiều người tìm đến. Tập thể người Việt Công Giáo tại Mỹ có khoảng 250 đến 300 ngàn người, đang là một sức mạnh.

 

Chính vì thế mà buổi chiều ngày lễ phong thánh 19 tháng 6 năm 1988, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói với cộng đồng người Việt những lời khẳng định và trông chờ vào tiềm năng của sức bật này:

 

“Anh chị em hãy là những người không ngừng loan truyền Phúc Am. Trong những khó khăn thường có của hoàn cảnh di cư, người đồng hương của anh chị em chờ đợi được nghe sứ điệp cứu rỗi của Chúa Kitô. Vậy phần anh chị em, anh chị em phải là những người rao truyền Tin Mừng giữa các người Việt Nam ở hải ngoại. Cha không nghi ngờ việc anh chị em đã sẵn có ước vọng này, và Cha khuyến khích anh chị em, ở bất cứ nơi nào anh chị em đang sống, anh chị em hãy phát triển sức sống cộng đoàn Hội Thánh.

 

Và không phải chỉ nguyên những người đồng hương của anh chị em mới trông chờ chứng tá của anh chị em. Tại các nước đón tiếp anh chị em, anh chị em cùng chia sẻ hoàn cảnh của những xã hội thường sống xa nguồn gốc Kitô giáo. Anh chị em đi sát cạnh biết bao nhiêu người, nam cũng như nữ, vẫn còn ở trong tình trạng thiếu hiểu biết về Tin Mừng. Cộng đồng đạo đức của anh chị em được vững mạnh trong thử thách, lúc này có trách nhiệm phải chiếu tỏa ánh sáng đã được truyền thông. Đó là di sản mà anh chị em đã lãnh nhận. Di sản này thường được mang tới cho anh chị em do những người con của những quốc gia mà hiện nay anh chị em đang cư ngụ. Anh chị em hãy nhận lãnh phần vụ tông đồ cần thiết của thời đại ta”.

 

 

II. GIẤC MƠ BAO GIỜ TRÒN?

 

Thực Hiện Viễn Ảnh Cộng Đồng Việt

Năm 1984 sau gần mười năm người Việt xa xứ, một bài hát đạo khá phổ biến diễn tả đúng tâm trạng “giấc mơ chưa tròn”:

 

Dâng lên Cha từ nhân, giấc mơ chưa tròn ôm ấp bao tháng ngày,

Nên như rượu thánh, bánh tinh tuyền dâng trước thiên tòa.

Xin Cha thương nhận đây, giấc mơ chưa tròn nơi xứ lạ quê người,

Cho bao người Việt Nam đón nhau về khắp trời nở hoa.

 

Đây là những giấc mơ chưa tròn: Giấc mơ “đem êm ấm thanh bình cho dân” khi vào lính. Giấc mơ hy sinh tần tảo “cuộc đời buôn thúng bán bưng, để đem cơm áo nuôi đàn con thơ”. Giấc mơ đi tu “để nên nhân chứng cho tình yêu thương”. Giấc mơ góp phần xây dựng một quê hương ngóc đầu lên được. Tất cả mọi giấc mơ đều tan vỡ, đều hụt chân, lỡ bước!

 

Giờ gặp nhau trên vùng đất lạ

Ôi bao là nhớ quê nhà xa xăm.

 

Quả thực người Việt lúc ấy với tâm trạng như cây tàn lụi, chẳng ai nghĩ tới chuyện an cư lạc nghiệp ở quê người này, mà chỉ mong hẹn đón nhau về thì đời mới nở hoa được thôi.

Nhưng rồi với sức nhẫn nại chịu đựng và với nếp sống đức tin vững mạnh do gia sản tiền nhân để lại, sau vài chục năm, các cộng đoàn Việt đã tạo được sự chú ý của người Au Mỹ. Đầu cành khô bỗng hoa nở tràn. Ở khắp các giáo phận, nhiều cộng đoàn ái hữu đã trở thành giáo xứ pháp nhân chính thức như bất cứ giáo xứ địa phương nào khác. Nhà thờ mọc lên khắp các tiểu bang, do sức đóng góp của giáo dân chứ không phải đi ăn xin dân Mỹ nữa. Từ những người được họ mở tay đón nhận, bây giờ trở thành chỗ họ trông chờ “viện trợ” cho họ gương sống đạo và tiềm lực gia sản có thể đóng góp hồi sinh tinh thần bạc nhược và rối loạn của xã hội này.

 

NHIỆT LỰC MẸ LÊ THỊ THÀNH

 

Sự giầu có tinh thần này chắc chắn là gia sản quí của tiền nhân đức tin, của mẹ Lê Thị Thành và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Mẹ Lê Thị Thành chỉ là một người đàn bà bình thường mà đã góp phần tích cực xây dựng giáo xứ, tạo được nhiệt lực phát huy đức tin lan tỏa ra chung quanh một cách mãnh liệt.

 

Mẹ Lê Thị Thành biết quán xuyến mọi mặt. Đức Cha Liêu trong thư phúc trình về thân thế thánh nữ cũng đề cập rằng Bà Lê Thị Thành lo lắng từ việc buôn thúng bán mẹt tần tảo vất vả nuôi gia đình, đến việc biến nhà bà thành nơi dạy giáo lý, nơi trốn ẩn của các linh mục để ban bí tích, nơi làm nhà thờ “chui” thời cấm đạo dữ dội, và đồng thời cũng là nhà xứ “chui” để làm nơi cho các cha các thầy dừng chân săn sóc mục vụ.

 

Trong thời buổi cấm cách, Mẹ là cánh tay đắc lực giúp các linh mục, các thầy giảng, và các nữ tu dòng Mến Thánh giá nhà Yên Mối. Thánh Phạm Khắc Khoan là cha sở Phúc Nhạc và hai Thầy Thanh và Hiếu chắc chắn cũng đã nhiều ngày thi hành nhiệm vụ tại nhà bà. Đúng như lời Chúa nói với Phêrô khi tuyên xưng đức tin: “Con là đá, trên đá này Cha xây Hội Thánh Cha”.

 

Nhà nước cấm đạo, phá hết nhà thờ, tưởng như vậy là xong. Có ngờ đâu, cửa hỏa ngục có rấy lên cũng không làm gì nổi. Bởi vì chính mẹ Lê Thị Thành đã trở nên nhà thờ rồi. Mẹ là trường giáo lý và thày dạy giáo lý. Mẹ là nhà xứ. Loại nhà này bằng đá cứng lắm, đá vào chỉ gẫy chân thôi! Mà quả thật, những người bắt đạo đá vào đá đã bị khuất phục hết.

 

Ông bà Đê đã làm một ngôi nhà ẩn ở vườn sau để cho các linh mục ngoại quốc cũng như Việt Nam ở “chui” trong thời gian bắt bớ. Chính tay Bà Đê coi sóc, bảo mật và lo liệu cơm nước cho các ngài. Can đảm như Bà quả là hiếm có. 

 

Các cha vẫn thường lén lút tụ họp dân chúng tại nhà bà để dâng lễ. Các cha Kim, Ngân, và Thành, đã nhiều lần trú ẩn tại nhà bà. Và nhất là Cha Thánh Phạm Khắc Khoan từ khi còn là thầy giảng rồi sau làm chính xứ Phúc Nhạc, Tôn Đạo, và hai thầy Gioan Đinh Văn Thanh và Phêrô Lê Văn Hiếu đã dùng nhà bà làm trạm dừng chân khi di chuyển từ Hiếu Thuận, Tôn Đạo, để làm việc mục vụ và dạy giáo lý cho tân tòng cũng như trẻ em.

 

Ngày 28 tháng 4 năm 1840, Thánh Phạm Khắc Khoan là cha xứ Phúc Nhạc bị chém đầu tại Lò Gạch ở chân núi Cánh Diều, tỉnh Ninh Bình, cùng với hai thầy giảng là Thánh Hiếu và Thánh Thanh.

 

Phòng chứa các di tích tử đạo Việt Nam tại Hội Truyền Giáo ở Paris, hiện còn treo một bức tranh lớn đương thời vẽ về vụ xử án Thánh Khoan và hai Thầy. Chung quanh có một số bà vây quanh cầu nguyện. Ở góc trái ngay gần chiêng lệnh là một bà đang ngồi cạnh cái thúng đựng chai rượu và hộp trầu, để biếu quan mà xin xác các vị tử đạo về. Hai người đàn ông đang lom khom bên những gông và xích gần chỗ xử Thánh Khoan ở phía trái để sửa soạn lấy xác, một tên lính vừa chém xong giơ đầu Thánh Khoan lên trình quan. Ở góc trái dưới cùng là hai bà nữa mang theo thúng đựng vải đỏ để bọc xác các ngài. (Hình trang 190)

 

Có thể một trong những người đàn bà này chính là Bà Lê Thị Thành, người đàn bà đã dấn thân hết mình cho Hội Thánh không biết sợ. Một người giữ vai trò chủ động như bà Lê Thị Thành ở Phúc Nhạc liên hệ trực tiếp với các cha, thì chắc không thể vắng mặt trong ngày xử án cha sở của mình.

 

CHẲNG GÌ CẢN TRỞ NỔI

 

Một năm sau cuộc tử đạo của cha xứ Phạm Khắc Khoan, ngày 11 tháng 4 năm 1841, khi được mật báo rằng ở Phúc Nhạc có nhiều linh mục và thừa sai ngoại quốc ẩn náu, tổng đốc Nam Định là Trịnh Quang Khanh đích thân đưa 500 quân lính vây chặt làng. Ho đã bắt được cha thừa sai là cố Lý tại vườn sau nhà ông bà Đê. Thế là họ đã bắt cả hai ông bà cùng với một số người.

 

Đọc các sách viết về Thánh Lê Thị Thành, người ta không khỏi ngạc nhiên tự hỏi tại sao cái gì cũng đề cập tới thánh nữ mà không nói gì mấy tới người chồng và là chủ nhà là ông Đê, tức ông Nguyễn Văn Nhất. Theo lệnh vua Minh Mạng cũng như Thiệu Trị, khi bắt được nhà nào chứa chấp các đạo trưởng, tức là các linh mục, thì chủ nhà cũng sẽ bị bắt xử tử. Như vậy, đáng lẽ quan quân phải bắt ông Nguyễn Văn Nhất thay vì bà mới đúng chứ. Hay là ông cũng bị bắt và chối đạo nên không ai nói tới nữa?

 

Thực ra thì trong thời cấm đạo dữ dội, đàn ông dễ bị theo dõi bắt bớ, nên bà Lê Thị Thành và một số bà khác đã giữ một vai trò quan trọng trong việc tông đồ. Đàn bà đắc lực lắm.

 

Văn khố của Hội Thừa Sai Ngoại Quốc tại Paris (M.E.P) hiện nay còn giữ được chi tiết này do chính Đức Cha Liêu (Retord, Giám Mục Giáo Phận Tây Bắc Việt) viết tay gửi bề trên Hội Truyền Giáo Paris ngày 6 tháng 7 năm 1843, tường thuật cuộc tử đạo và gia thế của Thánh Lê Thị Thành.

 

Đức Cha cho biết rõ là Ong Đê cũng bị bắt bỏ đạo nhưng ông không chịu, nên đã bị nhốt tù và sau này bị kết án phải đi làm lính cả đời. Một người ngọai giáo đã xin tha cho bà mà chỉ bắt ông là chủ nhà thôi. Nhưng quan trả lời chỉ tha khi bà chịu đạp thập giá. Có lẽ ông ta cũng đã nghe biết về những hoạt động nhiệt thành của bà trong vùng Phúc Nhạc

- Tôn Đạo. Bà không chịu, thế là sau ba trận đòn quan quân đã điệu bà đi nhốt tù tại Nam Định. Nhưng chẳng thế lực nào lay chuyển được, chẳng gì cản trở nổi sức bật của niềm tin.

 

SỨC TRUYỀN THỤ MỘT THẾ HỆ MỚI

 

Gia sản quí này bây giờ được trao đến một thế hệ mới, để khai triển, phát huy tại miền đất mới. Nhựa sống sung sức thì cây tất nhiên phải tươi và trổ hoa trái thơm ngon. 

 

Không ngờ mà nhanh vậy. Thế hệ Việt thứ hai đã bắt đầu, nhiều em sinh bên Mỹ, thành “Mỹ con”, nói tiếng Mỹ, ăn đồ ăn Mỹ. Một thế hệ mới mà cũng là một thách đố mới cho cuộc ra đi của người Việt.

 

Cứ tưởng tượng 100 năm nữa người ta khám phá ra bên cái nước gọi là Mỹ có những cộng đồng người Việt vẫn còn nói tiếng Việt, giữ phong tục và nếp sống Việt Nam hoàn toàn, dĩ nhiên cũng nói tiếng Anh thật giỏi và được kính phục. 

 

Đây là điều ước mong, nhưng cũng có thể sẽ xẩy ra thực, tùy mình thôi. Vì mới đây, sau khi đọc sách tìm hiểu, Bác sĩ Lê Văn Lân đã đi thăm tận nơi 3 làng Việt bên Tầu vẫn được sống như tự trị ở vùng duyên hải Quảng Tây, đã di cư sang đó từ lâu đời, không phải là 100 năm, mà là 500 năm trước đây. Tên ba làng đó là Ô Vĩ, Vu Đầu, Sơn Tâm, thuộc huyện Giang Bình, quen gọi là Kinh Tộc tam đảo.

 

Dân số 3 làng vào khoảng 12 ngàn người, vẫn giữ tiếng nói, kiểu ăn mặc, phong tục Việt, vẫn ăn tết, hát dân ca cổ truyền, dùng đàn bầu, đàn nhị, sáo, trống, cồng. Đồ ăn của họ thì cơm vẫn là chính, dùng nước mắm, lại có xôi chè, bánh tráng nướng, bún riêu, bún ốc. Họ vẫn dùng chữ nôm, và dĩ nhiên cũng nói tiếng Tầu địa phương. Mỗi thôn làng có một ông thôn đứng đầu, và ông kiểm phụ trách. Nghĩa là họ còn giữ phong tục và chữ viết kỹ hơn cả người Việt mình bây giờ.

 

Sách Dân Tộc Từ Điển của Thượng Hải xuất bản năm 1987 cho biết đây là nhóm thiểu số người Kinh, trước gọi là Việt giống Lạc Việt. Thế kỷ 16 họ di cư từ vùng Đồ Sơn (Hải Phòng) đến đây.

 

Tại sao họ đã đến đây thì không được rõ. Có thể vì vua Lê Tương Dực (1510-1516) bê tha, loạn lạc đói khổ khắp nơi, nên họ phải đi tìm chỗ sống. Nếu vậy thì họ là lớp thuyền nhân thứ hai trong lịch sử Việt Nam. Đợt thuyền nhân thứ nhất là tôn thất nhà Lý tên là Lý Long Tường do việc nhổ cỏ tiệt gốc của Trần thủ Độ mà phải tỵ nạn sang Triều Tiên, và đã trở thành một tướng giỏi được Triều Tiên xây tượng tôn kính. Dân Việt con cháu nhà Lý tại Triều Tiên vẫn còn đền thờ tổ tiên và giữ nghi thức hành lễ bằng ba hồi chiêng trống tưởng nhớ quê hương. (theo tài liệu của Bác sĩ Lê Văn Lân trong Ngày Nay, 1.1.1996).

 

BIẾT THEO ĐƯỜNG NÀO BÂY GIỜ?

 

Ngày 30 tháng 4 năm 1995 là dịp 20 năm người Việt xa xứ, tờ The Times-Picayune vùng New Orleans đăng một bài nhận định khá dài về tình trạng giới trẻ Việt trong khung cảnh mới, với tựa đề Xung Đột Văn Hóa (Culture Clash).

 

Đây là trường hợp cụ thể một cô bé Việt choai choai:

Ở trường thì gọi là Cindie. Về nhà thì lại gọi là Trân.

 

Ở trường thì nói tiếng Mỹ. Về nhà thì nói tiếng Việt, nhưng chỉ khi nào cha mẹ nghe được. Cha mẹ không muốn nó quên tiếng mẹ đẻ, nhưng nó thì lại nói chuyện, suy nghĩ và ngay cả mơ bằng tiếng Mỹ, là nơi nó sống từ khi cha mẹ mang sang lúc nó mới sinh ra được một tuần.

 

Đa số các em choai choai gốc Việt cũng giống Đặng Trân 15 tuổi sống ở vùng Gretna, Louisiana: Phải leo dây giữa hai văn hóa quá khác nhau và đôi khi xung khắc nữa.

 

Nó ăn đồ ăn Việt, nhưng thực ra thích pizza hơn. Nó dành chiều thứ bẩy giúp việc nhà theo lệnh cha mẹ, nhưng lại có vẻ ghen tị với bạn bè được đi chơi cuối tuần mút mùa. Nó nhiệt thành trong sinh hoạt cộng đoàn Việt, nhưng cũng khoái lang thang dạo phố mua hàng, mặc dù cha mẹ ít khi cho đi nếu không có người lớn đi kèm.

 

Đúng là hai thế hệ đã khác biệt lắm rồi. Người lớn thì dù có cố gắng am hợp hoàn cảnh mới, vẫn luôn giữ phong tục Việt Nam. Còn bọn trẻ thì sinh ra và được giáo dục theo kiểu Mỹ, thì việc dung hạp không đơn giản tí nào.

 

Xã hội này cổ võ từ lớp 9 đã phải có bồ. Không có bồ thì mang mặc cảm là không giống ai. Trẻ được tự do phát biểu ý nghĩ, đang khi cha mẹ cho như vậy là lếu láo, và bắt phải kỷ luật lễ phép. Như vậy đám trẻ bây giờ phải phấn đấu không những để lựa chọn đồ ăn, tiếng nói, mà còn giữa những lối nhìn cuộc sống quá khác biệt. Biết theo đường nào bây giờ? Hay là bỏ quách đi cho gọn!

 

MỘT NGHIÊN CỨU ĐÁNG CHÚ Ý

 

Cũng bài báo trên cho biết kết quả một cuộc nghiên cứu về lý do tại sao học sinh Việt vùng New Orleans thành công, lên đại học nhiều. Nhóm Carl Bankston của ban xã hội học đại học Loyola cùng với sự cộng tác của đại học LSU đã cho biết như sau:

 

1. Vì cha mẹ thúc đẩy, sẵn sàng hy sinh cho con chỉ mong con cái vươn lên được. Chính vì thế mà nhiều em cho biết có những lúc muốn đi chơi mà nghĩ thương cha mẹ nên quyết học, mà học thành công thật.

 

2. Học sinh nào có liên hệ chặt chẽ với cộng đoàn Việt, biết đọc và viết tiếng Việt, sinh hoạt tích cực với nhà thờ, và giữ được những giá trị phong hóa Việt, thì là những em giỏi trong trường Mỹ.

 

3. Học sinh dở trong nhà trường thường thuộc lớp thiểu số, không phải vì các em ấy quá giữ kiểu Việt mà không am hợp xã hội Mỹ, nhưng thường là vì chúng xa lìa lối sống Việt của cộng đoàn Việt. Mà vì không thuộc về đâu cả nên đâm loạn. Đúng là vô loài, chẳng giống ai.

 

CHỌN CẢ HAI

 

Bỏ kiểu Mỹ mà chỉ giữ kiểu Việt thôi thì không ổn rồi, vì sẽ tự hủy mất. Mà bỏ Việt quách đi để thành Mỹ hoàn toàn cũng đâu xong. Có ai cho mình là Mỹ đâu. Mấy chục năm rồi mà gặp mình, người Mỹ vẫn chỉ mặt mà bảo là “You Vietnamese”. Người Mỹ trắng hay Mỹ đen vẫn những mầu da chẳng thể lẫn lộn được. Việt vẫn mãi là Việt, chẳng lột da, đổi mặt, đổi mũi, đổi tóc được.

 

Vả lại Mỹ là gì? Mỹ đúng nghĩa chỉ là Mỹ Da Đỏ thì đã bị người da trắng đẩy vào trong các sa mạc Arizona từ khuya rồi. Phải nói ở xứ này, ai mạnh người ấy thắng thế. Người da trắng đến từ Au Châu, nhất là từ Anh, Ai Nhĩ Lan, làm chủ tình hình từ ngôn ngữ cho đến phong tục, rồi tự bảo đó là tiếng Mỹ, kiểu Mỹ. Rồi có Mỹ Pháp, Mỹ Đức, Mỹ Ý, Mỹ Xì, Mỹ Do Thái, Mỹ Ba Lan... Mỗi nhóm một thế tung hoành. Người Ý làm chủ New York. Người Do Thái thao túng nhà băng cùng báo chí TiVi. Người Ai bao thầu nhiều trong Công Giáo.

Lại có kiểu Mỹ Phi Châu con cháu của dân nô lệ bị người da trắng mua về đây làm công không lương, bây giờ cũng bình quyền như ai. Trong cuộc diễn hành “Một triệu người”, Farakhan đã chỉ mặt người da trắng mà cảnh cáo thái độ trịch thượng chủng tộc! Rồi Mỹ đen cũng kéo nhau về nhà thờ riêng, múa hát tha hồ theo kiểu văn minh rừng hoang thời thượng.

 

Bây giờ đến lượt người da vàng, đến muộn, nhưng cũng khá nổi. Cũng có cái gì đóng góp chứ chả lẽ cúi mặt đi theo cái lấn lướt của những người gốc Au Châu! Người Mỹ gốc Á thành công trong nhiều lãnh vực cũng làm thiên hạ bái phục lắm chứ.

 

Nhiều em Việt đã nhận thức được một chọn lựa mới. Không phải là chọn một bỏ một, mà là chọn cả hai. Dù đôi khi có xung khắc thật, nhưng lại là cơ may cho người Mỹ Việt vì vậy mà có thể hơn người Mỹ Au. Đang khi đa số người Mỹ Au chỉ nói được một thứ tiếng, ăn một loại đồ ăn, thì người Mỹ Việt hơn họ là cái chắc. Nấu được cả đồ Việt lẫn đồ Mỹ, ăn được bằng đũa và bằng xiên cũng hết xẩy. Nói tiếng Mỹ rào rào, mà nói tiếng Việt còn trơn miệng hơn. Biết được nét đẹp lối sống Mỹ, nhưng lại càng biết kỹ về cái hay và lối sống Việt mà nhiều người thèm khát chưa sao theo được.

 

MỘT NGƯỜI TRẺ GỐC Á LÀM NGẠC NHIÊN

 

Báo The Times-Picayune số ngày 6 tháng 1.1996 ở New Orleans, đăng tải một tấm hình chụp một thanh niên tóc đen Á Châu, da ngăm ngăm, đứng bên cạnh ông Foster, tân thống đốc Louisiana. Đó chính là Bobby Jindal mới 24 tuổi mà được bổ nhiệm làm tổng trưởng bộ y tế của tiểu bang, một bộ với ngân sách là 5 tỷ 6 cao nhất trong các bộ, và có tới 13,500 nhân viên dưới quyền.

 

Bobby  Jindal mới chỉ sinh ra sau khi cha mẹ từ An Độ di dân đến Mỹ ở Baton Rouge vào năm 1971. Anh đã học rất giỏi tại đại học Brown với điểm trung bình 4.0 và đã được huy chương học giả Rhodes vào năm 1992.

 

Việc bổ nhiệm một người Á quá trẻ vào chức vụ quan trọng như vậy làm nhiều người xôn xao, hồ nghi về khả năng và kinh nghiệm. Tân thống đốc Foster đã trả lời báo chí: “Tôi là một người rất bảo thủ. Việc bổ nhiệm này không phải là chuyện đánh bạc cầu may đâu. Sự thành công không nhất thiết tùy ở tuổi tác, mà do kinh nghiệm và khả năng. Jindal là một người giỏi và có khả năng giải quyết vấn đề”.

 

Thực ra thì nước Mỹ bắt đầu trọng người gốc Á châu để hóa giải sự căng thẳng giữa trắng và đen. Và trong sự bác cầu liên hệ ngoại giao mới, người gốc Việt lại càng được ưu tiên nếu thông ngôn ngữ và văn hóa Việt.

 

MỘT KINH NGHIỆM HIẾM

 

Nhìn vào những người Mỹ da trắng, mình cứ tưởng rằng họ chỉ là một khối, từ Au Châu sang mà. Thực ra thì họ cũng bởi nhiều gốc gác rất khác nhau, và cũng kỵ nhau lắm. Cũng như nhìn da vàng nhiều người tưởng cũng như nhau, chứ họ có biết đâu, Tầu khác Phi Luật Tân, Lào khác Nhật, và Triều Tiên khác Việt Nam như thế nào.

 

Những người da trắng gốc Đông Au cũng mang nhiều nỗi tủi lắm. Họ là người da trắng nhưng cũng bị coi là dân thiểu số mà, kiếm việc không dễ đâu.

 

Linh Mục Frank Beeda là một trường hợp cụ thể. Ngài là người gốc Tiệp Khắc, ở vùng Scranton, Pennsylvania. Dân Tiệp tụ tập khá nhiều ở vùng này, nhưng rồi tản dần mất. Ngài là một trong những người lãnh đạo cộng đồng Tiệp Khắc bên Mỹ.

 

Qua kinh nghiệm bị mất cơ hội duy trì được cộng đồng Tiệp, ngài đã có lần ghé thăm linh mục Vũ Hân là chỗ thân quen, và muốn nhắn gửi người Việt một điều:

 

Nhớ giữ lấy tiếng Việt và phong hóa Việt, và nếu có thể dựng được cái gì cho cộng đồng thì nên làm ngay đi. Mình đã có một tài sản văn hóa thì cố mà bảo toàn. Mình phải có một cái gì. Nếu mình tự tước bỏ, rồi đi nhặt hết của người ta, thì mình cũng chẳng thành người ta được. Rốt cuộc rồi mình trở thành kẻ vô loài, và đương nhiên các chủng tộc khác sẽ khinh rể. Người Mỹ đã chỉ trọng dân Nhật, dân Tầu, vì những dân này chứng tỏ họ có cái gì thật. Người Việt thì còn quá mới, liệu trong tương lai có được nể trọng không?

 

GIA ĐÌNH LÀ NƯỚC VIỆT THU HẸP

 

Đa số trẻ không biết Việt Nam là gì, chẳng có kỷ niệm gì mà nhớ mà thương. Nếu người mình có gì đẹp thì chúng chỉ thấy được qua cha mẹ và cộng đoàn. Chứ cứ chửi chúng là mất gốc quên nguồn mà cái gốc cái nguồn lù lù trước mặt chúng chưa thấy hấp dẫn là bao thì còn gì mà nói chuyện!

 

Mỗi gia đình phải là một nước Việt thu hẹp, nơi đây con cái học được lễ giáo, giá trị giầu có của lối sống gia đình, nguồn gốc tổ tiên. Đó là những gia sản có thể đóng góp làm giầu cho xã hội mới. Họ cũng đang bị rối loạn cần tìm được thoát. Họ cần mình mà, sao mình lại bỏ cái quí đi uổng vậy. Bốn điều thiết thực mà mỗi gia đình cần trong giai đoạn này là:

 

1. Làm sao cho con cái có thể nói và viết tiếng Việt được.

Cũng tại cách đây mười năm nhiều gia đình sợ con cái không nói tiếng Mỹ giỏi để tiến thân, nên chỉ chú trọng tiếng Mỹ. Bây giờ ngược lại, ai cũng sợ mất tiếng Việt. Việc thúc đẩy là một bổn phận bắt buộc chẳng trốn vào đâu được nữa rồi, chứ sao lại để cho con cái tự do chọn điều dễ dàng là chỉ nói tiếng Mỹ! Nhiều người bỗng thấy mất con, vì khám phá ra nó hoàn toàn là con nhà người ta: đầu nghĩ kiểu gì đâu, máu mê nhiều thứ lạ mà trong dòng máu nhà mình chưa hề có, và không còn biết nói tiếng người mẹ đẻ nó ra nữa!

 

Mẹ Lê Thị Thành dù ít học cũng chăm lo nhiệm vụ trọng yếu này, làm thày dạy trong nhà về tiếng Việt và giáo lý. Cô Lu-xi-a Nụ, con gái út, đã cung khai với giáo quyền thẩm vấn trong việc điều tra phong thánh như sau:

 

“Mẹ chúng tôi rất chăm lo việc dạy dỗ các con. Chính người dạy chúng tôi đọc chữ và học giáo lý, sau lại dạy cách tham dự thánh lễ và xưng tội rước lể. Người không để chúng tôi biếng nhác việc xưng tội. Khi chúng tôi lơ là, người thúc giục chúng tôi bằng được mới thôi”.

 

2. Bữa cơm gia đình.

Cố gắng để mỗi ngày có một bữa cơm chung. Đúng là lúc con cái cảm nhận được tình gia đình, từ cách sống lễ giáo, ăn trông nồi ngồi trông hướng, học ăn học nói học gói học mở ngay trong lúc cùng dọn cơm chung. Giờ cơm là lúc tốt nhất để nói và thực hành phong tục tập quán, có dịp nói về nguồn gốc tổ tiên, lịch sử, địa lý v.v. và nhất là thực hành tiếng Việt. An đồ ăn Việt riết rồi chúng mê. Nhiều đứa ăn cà ghém mắm tôm khen rối rít, ngốn chả giò bao nhiêu cũng được. Chẳng gì bằng thói quen.

 

3. Bữa cơm thiêng.

Chỉ cần ghi khắc một câu của Mẹ Têrêsa: Gia Đình cầu nguyện, gia đình tồn tại. Gia đình không còn cầu nguyện chung với nhau, tức ăn bữa cơm tinh thần với nhau, thì đói lả là cái chắc. Và coi chừng hậu quả.

Mẹ Lê Thị Thành đã làm cho con cái thành những con nhà giầu theo đúng nghĩa nhất, bằng hưởng được tình thương săn sóc và hiện diện thường xuyên của cha mẹ, và nhất là đã học biết cách khai mỏ giầu có trong những thực hành đức tin và cầu nguyện.

 

4. Tập cho con cái tham gia xây dựng cộng đoàn.

Xây dựng một cách cụ thể bằng tài chánh cũng như khả năng và thời giờ, tham gia hội đoàn, ca đoàn, sinh hoạt trường giáo lý và Việt ngữ, tham gia những công tác cộng đồng.

 

Làm cho cộng đoàn thêm đẹp, thêm hãnh diện, là góp phần mở mang bờ cõi Việt sang đến tận Mỹ rồi. Con cái lớn lên đang chen chân trong mọi lãnh vực: làm luật sư, bác sĩ, kỹ sư, chủ thương mại. Các cơ sở mọc lên khắp nơi. Số linh mục tu sĩ nam nữ trực tiếp làm việc cho các giáo xứ Mỹ và dòng tu Mỹ khá đông, trở nên thành phần chính thức và chủ động như bất cứ ai.

 

Gương Đức hồng y Bernadin của Chicago rất rõ. Khoảng sau 1925 thì cha mẹ ngài di cư từ Bắc Ý. Sang đây ngài mới có 4 tuổi. Gia đình gặp bao khó khăn về ngôn ngữ, về công ăn việc làm. Vậy mà bây giờ con của một người di dân đã là hồng y tổng giám mục Chicago.

 

Trong lúc hội thánh gặp sóng gió, Mẹ Lê Thị Thành đã tích cực giữ cho tiến vững, và luyện tập cho con cái xây dựng giáo xứ một cách cụ thể. Cô gái út làm chứng:

“Người cho chúng tôi nhập hội Con Đức Mẹ, vào ban thiếu nữ thưa kinh ở nhà thờ”.

Quan tâm của Mẹ là hỗ trợ các linh mục tu sĩ trong mọi hoạt động mục vụ, giúp các nữ tu dòng Mến Thánh Giá tại Yên Mối dạy giáo lý, vì đó là nghĩa vụ trực tiếp làm tông đồ cho Chúa. Bây giờ các giáo phận Au Mỹ rất thiếu ơn gọi đi tu, đang trông chờ vào các cộng đồng Việt. Mỗi gia đình đều phải cảm thấy một ước mơ “sản xuất” ra một linh mục hay một bà sơ đấy.

 

LỜI XÁC QUYẾT ĐẦY PHẤN KHỞI CỦA ĐỨC HỒNG Y BERNADIN

 

Quả là gia sản của mình giầu thật, đang được truyền đạt hữu hiệu, và trở thành ơn phúc cho người Mỹ. Trong bài nói chuyện với các linh mục tu sĩ Việt Nam dịp dự khóa hội thảo về Giáo Lý Tân Biên tại Chicago dịp hè 1995, Đức hồng y Bernadin, Tổng Giám Mục Chicago, đã phát biểu rất sâu xa về gia tài ơn phúc của người Việt:

 

“Đây là quê hương của anh em, đây là Giáo Hội của anh em. Tôi kêu gọi anh em hãy mở rộng vòng tay ôm lấy cả hai như của riêng anh em, và hãy chiếm lấy chỗ đứng chính đáng như những thành phần đầy đủ quyền lợi của Hội Thánh trong xã hội đa chủng này. Đây là nhà của anh em hiện nay. Anh em hãy chia sẻ trách nhiệm tông đồ và mục vụ của Giáo Hội tại đây.

 

Tuy nhiên, trong khi như anh em phải chiếm lấy chỗ đứng hợp pháp trong Giáo Hội tại xứ này, anh em hãy cố gắng duy trì toàn vẹn tư cách là người Việt Nam Công Giáo. Anh em đã phong phú hóa kinh nghiệm đức tin sâu xa, bằng đức tin cương quyết, bằng dạ trung thành không lay chuyển đối với Giáo Hội...

 

Tặng phẩm quí giá anh em hiến cho Giáo Hội Công Giáo xứ này tuy không thể rờ thấy, nhưng không kém hữu hiệu: đó là chính tư chất con người Việt Nam và Công Giáo của anh em. Anh em hãy tiếp tục làm men trong Giáo Hội và trong thế giới. Hãy tiếp tục tỏa ánh sáng và ướp muối Phúc Am trong tất cả những gì anh em làm. Anh em là chứng nhân ở đây cho gia tài hãnh diện của Giáo Hội Việt Nam bên nhà, một Giáo Hội phong phú hơn cả những bách hại và tử đạo mà anh em có thể đem chia sẻ.

 

Kinh nghiệm cá nhân của tôi về người Việt Nam tỵ nạn, nhất là về các linh mục, chủng sinh, tu sĩ và các lãnh đạo giáo dân, từng được lưu dấu sáng chói bởi sức mạnh nội tâm lớn lao, nghị lực can đảm phi thường, và niềm xác tín tôn giáo mãnh liệt, mà anh em chỉ có thể có được, do sự đồng hành mật thiết với Đấng Cứu Thế chịu đóng đinh và sống lại.

Trong Giáo Hội và trên đất nước này, chúng tôi cần những nhân chứng cá nhân cũng như nhân chứng tập thể của các bạn về Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài, đặc biệt trong tư cách là người Việt Nam Công Giáo...”

 

THỰC HIỆN GIẤC MƠ CHO TRÒN

 

Năm 1975 lớp người Việt đầu tiên qua Mỹ, biết bao lạc lõng, bơ vơ, hụt chân, lỡ bước. Gia đình tan nát. Quê hương mù mịt. Không còn nước mắt mà khóc nữa. Thê thảm tột cùng. Bị phân tán đi khắp nơi. Nhưng rồi người Việt lại liều mạng rủ nhau xuyên bang tụ lại thành những cộng đoàn. Về Cali miền Tây mát mẻ, xúm xít quanh vùng Nữu Ước ngó đuốc nữ thần tự do, bồng bế nhau đi Téc-Xịt chăn bò và hút dầu, về miền Trung nghe trái tim Mỹ đập, qua miền Đông Nam, Georgia, Florida nắng ấm. Liều lắm chứ.

 

Mình thì đi xuống miền Nam “kinh tế mới văn minh miệt vườn” Louisiana, đất cũ của vua Louis nước Pháp ăn lấn dân Da Đỏ, có “Café du Monde” đúng điệu Tây và nhạc Jazz nổi tiếng thế giới. New Orleans rất giống Sài Gòn về khung cảnh và khí hậu, vì thế mà dân ta gọi ngay là Ngọc Lân. Cũng cùng một giấc mơ là xây dựng được cộng đồng Việt, như một mở mang bờ cõi, tìm cho ra nghĩa cuộc ra đi. Và nhất là tạo dựng được những cơ sở tôn giáo bề lâu bề dài. Chắc chắn cũng phải “chân lấm tay bùn, trầy da tróc vẩy” nhiều!

 

Nay thì bỗng thấy hoa nở tràn khắp các bang. Các giáo xứ Việt Nam, các linh mục tu sĩ Việt Nam, nghiễm nhiên đóng vai trò khẩn thiết trong nhiều giáo phận. Một hãnh diện, một tự tin để bước tới. Giấc mơ phải tròn chứ. Cũng là do nỗ lực từ nhiều phía, nhờ con Đường Nở Hoa của mẹ Lê Thị Thành đã thực hiện khi di tản về Phúc Nhạc vùng “kinh tế mới” Phát Diệm. Cái nôi Phúc Nhạc của Mẹ đã sinh ra nhiều xứ chung quanh xum xuê hoa trái.

 

VIỄN ẢNH NĂM 2000

 

Sau khi Chúa Kitô phục sinh, các tông đồ đầy hứng khởi tung chân đi khắp nơi loan báo tin vui lớn, không gì ngăn cản nổi, không gì làm giảm bớt nhiệt lực. Tin vui lớn đó là Chúa Kitô vẫn đang sống động và tiếp tục rao giảng, làm phép lạ, chữa khỏi mọi bệnh tật, hồi sinh mọi tâm hồn mghèo khổ, mỏi mệt, buồn phiền. Các ngài đã trở thành hiện thân của chính Chúa Kitô Phục Sinh, nhân danh Chúa mà làm phép lạ, như Thánh Phêrô đã làm cho người què ăn xin ở cửa Đẹp đứng dậy đi ngay được trước mặt mọi người.

 

Và cộng đoàn những tín hữu đầu tiên cũng trở thành hiện thân của Chúa đầy sức hấp dẫn, khiến người ta ào ào nhào tới xin nhập đạo.

 

Vậy thì sức bật của cộng đồng Công giáo Việt Nam cũng phải phát sinh từ niềm hứng khởi này. Người ta sẽ nghe lại bài giảng đầu tiên với đầy nhiệt lực của Thánh Phêrô và chứng kiến sức hấp dẫn lạ lùng nơi cộng đồng tín hữu bây giờ. Vì họ nhìn thấy chính Chúa Kitô Phục Sinh đang sống động nơi đây là hiện thân của Người. Họ hăm hở tìm đến nghe tin vui lớn, đón chờ phép lạ nhân danh Chúa. 

 

Những giấc mơ như “đem êm ấm thanh bình cho dân”, “đem cơm áo nuôi đàn con thơ”, “nên nhân chứng cho tình yêu thương”, tưởng chừng đã tan vỡ năm 1975, đã mờ nhạt năm 1980, nay lại đang được thực hiện. Người mình đã mở được bờ cõi mới cho đất Việt, vượt qua cả sông Hồng, sông Hương, sông Chín Con Rồng và mũi Cà Mau. Người mình đang mơ ước cho con: cố mà vươn lên con nhé. Mình đang nên nhân chứng cho tình yêu thương mà người Au Mỹ đang cần quá sức, cho người mình nữa, như lời Đức Thánh Cha đã nhắn gửi.

 

“Không phải chỉ nguyên những người đồng hương của anh chị em mới trông chờ chứng tá của anh chị em. Tại các nước đón tiếp anh chị em, anh chị em cùng chia sẻ hoàn cảnh của những xã hội thường sống xa nguồn gốc Kitô giáo. Anh chị em đi sát cạnh biết bao nhiêu người, nam cũng như nữ, vẫn còn ở trong tình trạng thiếu hiểu biết về Tin Mừng. Cộng đồng đạo đức của anh chị em được vững mạnh trong thử thách, lúc này có trách nhiem phải chiếu tỏa ánh sáng đã được truyền thông. Đó là di sản mà anh chị em đã lãnh nhận. Di sản này thường được mang tới cho anh chị em do những người con của những quốc gia mà hiện nay anh chị em đang cư ngụ. Anh chị em hãy nhận lãnh phần vụ tông đồ cần thiết của thời đại chúng ta”.

 

Một trăm năm sau khi viết về lịch sử người Việt tại Mỹ, con cháu sẽ ghi rõ tên tuổi và công lao của những người khai sáng những cộng đồng Việt đầu tiên này, là cha mẹ, ông bà của chúng, là những người đã hy sinh và cố gắng vượt bậc cho việc hình thành những cơ sở ban đầu, và biết nhìn xa về tương lai và niềm hãnh diện của cộng đồng người Việt, như một phần đất mới nối dài biên cương nước Việt.

 

Bây giờ đến lượt thế hệ trẻ được truyền thụ để tiếp nối gia tài quí giá này. Được mở tầm mắt nhìn cao lên hơn những vật lộn thường ngày. Vẫn luôn là một giấc mơ mở lên một viễn ảnh cần thực hiện cho tròn.

 

TRẦN CAO TƯỜNG

SỨC BẬT TỪ CỘNG ĐỒNG VIỆT

 

VỀ MỤC LỤC