CHÂN DUNG

 

MẸ LÊ THỊ THÀNH

 

Thánh Lê Thị Thành sinh năm 1781 tại làng Gia Miễu tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình Công giáo, được rửa tội lấy tên thánh là A-nê (hay I-nê). Nhưng ông bố thì khô khan và bê bối. Có gia đình rồi mà ông còn đèo bồng thêm một bà vợ lẽ nữa. Khuyên răn không được nên Đức Cha Gia (Longer) giám mục hiệu tòa Gortygne, lúc đó là giám mục tông tòa địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội, Sơn Tây, Phát Diệm, Thanh Hóa), cho phép mẹ của thánh nữ được ở riêng ra mà giữ đạo. Và để tìm được hoàn cảnh tốt mà dạy dỗ con cái, bà đã dắt bé Lê Thị Thành mới được 7 tuổi về sinh sống tại quê ngoại ở xứ Phúc Nhạc tỉnh Ninh Bình thuộc giáo phận Phát Diệm bây giờ.

 

Mẹ con đã sống đời nghèo khổ. Cô bé Thành đã rất siêng năng, giúp mẹ làm việc kiếm thêm cơm ăn, như nuôi tằm kéo tơ, và têm trầu đưa ra chợ bán để kiếm thêm tiền nuôi gia đình. Nhưng dù hoàn cảnh gia đình long đong và vất vả làm ăn, người mẹ luôn săn sóc cho con về lòng đạo: sốt sắng đọc kinh sáng tối, thường hay đi dự lễ, năng xưng tội và rước lễ.

 

LẬP GIA ĐÌNH

 

Năm 19 tuổi, cô Thành đã lập gia đình với Nguyễn văn Nhất thuộc xã Thôn Đồng xứ Phúc Nhạc, và sinh con đầu lòng đặt tên là Đê. Vì thế Bà được gọi là Bà Đê theo tục lệ của xứ Phúc Nhạc lấy tên con trưởng mà gọi tên cha mẹ.

Gia đình sinh sống bằng nghề làm ruộng, dệt chiếu và nuôi tằm kéo tơ như đa số dân trong vùng đất Phát Diệm. Với nếp sống cần cù và gương mẫu, ông bà được cả làng thương mến, vì chẳng bao giờ thấy hai ông bà cãi nhau hay gây chuyện với người khác, chỉ biết nhịn nhục và thương người.

Thánh Lê Thị Thành đã sống bí tích hôn nhân một cách thiết thực, là đưa chồng con đến được với Chúa, và chỉ cho chồng con thấy Chúa hiện diện trong gia đình. Con mắt đức tin này đã biến gia đình thành một thiên đàng hạnh phúc. Vì nơi nào có Chúa thì nơi đó chính là Thiên Đàng rồi chứ có cần phải tìm mãi đâu xa. Và bà đã biến những bổn phận tầm thường hằng ngày thành phi thường theo mẫu sống của Mẹ Maria tại Na-gia-rét. Bà đã xác tín sức mạnh của cầu nguyện là chìa khóa giải quyết mọi khó khăn. Chính Chúa toàn năng biến đổi mọi sự và chuyển dòng nhựa sống làm cho cây gia đình xanh tươi trổ sinh hoa trái.

 

MẸ LÀ TỔ ẤM

 

Ông Bà Đê có tất cả 6 người con: 2 trai là Đê và Trân, và 4 gái là Thu, Năm, Nhiên và Nụ. Và lúc bà tử vì đạo thì năm người con đã lập gia đình, và bà đã được 17 người cháu.

Bà đã dạy dỗ con cái rất chu đáo. Đức tính nhẫn nhục quên mình và kiên tâm trong mọi khó khăn và âm thầm trong bổn phận thường ngày là bí quyết làm cho gia đình luôn được an vui hạnh phúc. Bà đã đi con đường sống bình dị cận nhân tình như đa số các bà mẹ Việt Nam, chứ không phải là những con đường khua múa xã hội mà bỏ bê trách nhiệm chính là lo tạo tổ ấm yêu thương gia đình. Vì người mẹ là trái tim của thân thể gia đình, trái tim còn đập thì còn sức chuyển máu cho cơ thể sống được.

Cô Lu-xi-a Nụ, con gái út, đã cung khai với giáo quyền thẩm vấn trong việc điều tra phong thánh như sau:

“Mẹ chúng tôi rất chăm lo việc dạy dỗ các con. Chính người dạy chúng tôi đọc chữ và học giáo lý, sau lại dạy cách tham dự thánh lễ và xưng tội rước lể. Người không để chúng tôi biếng nhác việc xưng tội. Khi chúng tôi lơ là, người thúc giục chúng tôi bằng được mới thôi. Người cho chúng tôi nhập hội Con Đức Mẹ, vào ban thiếu nữ thưa kinh ở nhà thờ”.

Dù con cái đã lập gia đình, bà vẫn còn theo dõi thúc dục đi lễ và lãnh bí tích. Một người con khác, cô Anna Năm cũng xác nhận rằng:

“Cha mẹ chúng tôi chỉ gả con gái cho những thanh niên đạo hạnh. Sau khi tôi ket hôn, mẹ tôi thường đến thăm chúng tôi và khuyên bảo những lời tốt lành”

Có lần người dạy tôi:

“Tuân theo ý Chúa con lập gia đình là gánh rất nặng. Con phải ăn ở khôn ngoan, đừng cãi lời cha mẹ chồng. Hãy vui lòng nhận thánh giá Chúa gửi cho”.

Người cũng thường khuyên vợ chồng tôi:

“Hai con hãy sống hòa hợp, an vui, đừng để ai nghe chúng con cãi nhau bao giờ”.

 

MẸ LÀ ĐÁ

 

Mặc dù gia đình cũng chẳng khá giả là bao, nhưng bà rất thương người nghèo, không bao giờ từ chối người đến ăn xin.

Trong thời gian vua Minh Trị bên Nhật biết thức thời đưa nước Nhật tới tiến bộ theo kịp nền văn minh mới, thì ở bên Việt Nam, Vua Minh Mạng cũng như vua Thiệu Trị vì thiển cận, mù quáng và sai lầm trầm trọng, đã ra lệnh “bế quan tỏa cảng” không muốn giao dịch với Tây Phương và cấm đạo gắt gao với những sắc lệnh vào năm 1836 và 1838:

“Tả đạo Tây Dương làm hại lòng người. Đã lâu nay nhiều chiếc tàu của Au Châu sang buôn bán, thường để lại các đạo trưởng. Các người người ấy làm mê hoặc lòng dân và bại hoại phong tục. Như thế chẳng phải là cái tai họa lớn cho nước ta sao? Vậy ta nên ngăn cấm điều bậy bạ ấy, để khiến dân ta quay về với chính đạo... Cấm mở cửa biển cho tàu bè bọn mọi rợ vào, chỉ trừ Cửa Hàn (Đà Nẵng). Hễ giáo sĩ Au nào bị bắt trên tàu khách vào trong nước phải xử tử. Người nào chứa chấp họ trong nhà cũng bị xử tử”.

Chính những quyết định sai lầm trên này đã làm cho nước Việt thụt lùi lại biết bao trước đà tiến hóa về khoa học và kỹ thuật của nhân loại vào đầu thế kỷ 19. Đứng trước những bất công và mù quáng của triều đình như vậy mà người Công Giáo không thù oán hay chống lại, nhưng luôn nhẫn nại chịu đựng và trung thành.

Trong thời cấm đạo, mọi nhà thờ bị phá hủy, không còn chỗ dâng thánh lễ và cử hành bí tích. Bà đã nêu gương dấn thân xây dựng Hội Thánh Chúa trong công việc tông đồ giáo dân, biến nhà bà thành nhà xứ cho các cha dừng chân, vừa làm nơi dậy giáo lý, vừa làm nhà thờ, nhà xứ “chui” đúng như lời Chúa nói với Phêrô khi tuyên xưng đức tin: “Con là đá, trên đá này Cha xây Hội Thánh Cha”.

Ông bà đã làm một ngôi nhà ở vườn sau để cho các linh mục ngoại quốc cũng như Việt Nam trú ẩn trong thời gian bắt bớ, tự tay mình coi sóc, bảo mật. Chính Bà Đê lo liệu cơm nước cho các ngài. Can đảm như Bà quả là hiếm có. 

Các cha vẫn thường lén lút tụ họp dân chúng tại nhà bà để dâng lễ. Các cha Kim, Ngân, và Thành, đã nhiều lần trú ẩn tại nhà bà. Và nhất là Cha Thánh Phạm Khắc Khoan từ khi còn là thầy giảng rồi sau làm chính xứ Phúc Nhạc, Tôn Đạo, và hai thầy Thanh và Hiếu đã dùng nhà bà làm nơi dừng chân khi di chuyển từ Hiếu Thuận, Tôn Đạo, để làm việc mục vụ và dạy giáo lý cho tân tòng cũng như trẻ em.

 

LIỀU THÂN

 

Vua Minh Mạng là người bắt đạo dữ nhất. Ong chết đầu năm 1841 lúc mới 50 tuổi. Con là Thiệu Trị lên nối ngôi. Lúc đầu có vẻ còn nới tay, nhưng rồi lại tiếp tục chính sách bắt đạo của vua Cha.

Những việc làm của bà Lê Thị Thành trong việc chứa chấp các linh mục trong nhà đã đến tai các quan, nhất là lại nghe có hai linh mục thừa sai người Pháp mới tới Phúc Nhạc. Ngày 14 tháng 4 năm 1841 vào đúng lễ Phục sinh, chính quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh chỉ huy dẫn 500 lính vây làng Phúc Nhạc vì nghe tin có nhiều linh mục trú ẩn trong làng. Cha Thành đang ở nhà Bà trốn thoát kịp, còn cha Lý thì vội chạy ra vườn sau, Bà Đê chỉ cho cha một đường mương khô cạnh một bụi tre, lấy rơm và cành khô phủ lên trên rồi dặn cha:

“Xin Cha ẩn dưới này, Đức Chúa Trời gìn giữ thì Cha thoát, bằng không cha và con đều bị bắt”.

Nhưng quân lính đã trông thấy và đuổi theo bắt được Cha Lý, nên họ bắt luôn cả Ông Bà Đê là chủ nhà và hai chị dòng Mến Thánh Giá là Thanh và Khiêm và một số người. Tất cả bị giải về đình làng rồi ra Nam Định. Nhà Bà Đê bị lục soát: đồ đạc, tiền bạc và thóc lúa bị tịch thu hết.

 

HOA HỒNG ĐANG NỞ

 

Theo thư viết tay của Đức Cha Liêu gửi về Hội Thừa Sai Ngoại Quốc ở Paris ngày 6 tháng 7 năm 1843, thì ông Đê bị đánh đập để bắt phải bỏ đạo, nhưng ông không chịu, nên bị kết án phải đi làm lính suốt đời.

Còn Bà Đê thì bị tra tấn ba lần rất tàn nhẫn, lúc đầu bằng roi ngắn rồi sau bằng gậy tre và thanh củi. Trịnh Quang Khanh ra lệnh: “Đạp Thập Giá đi, tao cho về đoàn tụ với chồng con”. Nhưng bà lớn tiếng tuyên xưng đức tin:

“Tôi tin theo Đức Chúa Trời, không bao giờ tôi bỏ đạo”.

- Hai giáo sĩ Tây đến Phúc Nhạc từ bao giờ? Từ đâu đến?

Họ tìm cách khai thác thêm tin tức sinh hoạt các vị thừa sai trong vùng, nhưng bà Đê chỉ nói:

“Thưa quan, tôi không rõ từ đâu họ tới và từ bao giờ. Tôi chỉ biết là họ bị bắt ở trong vườn nhà tôi, và tôi bị coi như người chứa chấp”.

Có lần quan đã dùng trò dã man là buộc ống quần áo của bà lại rồi vất rắn độc vào trong người bà làm cho bà hoảng sợ. Đây là trò quá ác độc. Con rắn lành lạnh bò tới bò lui. Cơn sợ hãi tăng lên cùng độ. Nhưng bà luôn miệng cầu xin ơn Chúa: “Giêsu, Maria, Giuse, xin ba Đấng cứu con”. Và Bà can đảm đứng yên không nhúc nhích nên rắn không cắn mà từ từ bò ra. Bà đã cầu nguyện tha thiết và Chúa đã ban cho bà sức mạnh phi thường để chịu đựng những thử thách xem ra vượt quá sức của bà. Sau đó bà đã nói rõ bí mật này:

“Họ đánh đập dữ tợn lắm. Người thế gian không có sức nào mà chịu được, song khi tôi phải đòn thì tôi cầu xin Đức Mẹ phù hộ thêm sức mạnh cho tôi, nên tôi không cảm thấy đau đớn”.

Suốt ba tháng trong tù, bà không hề than thở gì, mặt bà luôn vui tươi. Bọn lính lôi bà qua thập giá thì bà cự tuyệt, nên bà bị đánh dữ hơn nữa đến kiệt sức đi không nổi. Một nhân chứng tên là Đang cho biết rằng:

“Bà Đê bị đánh đập tàn bạo đến nỗi thân mình bà đầy máu mủ. Vậy mà bà vẫn vui vẻ mà còn muốn chịu khó hơn nữa”.

Cô con gái út là Nụ có lần đến thăm mẹ, nhưng lính không cho vào. Họ đem bà ra sân nói chuyện với con. Cô Nụ làm chứng:

Tôi thấy áo quần mẹ tôi bê bết máu, chân tay sưng lên và những vết thương thối ra, nhưng nét mặt mẹ tôi vẫn vui tươi hớn hở. Thấy mẹ tôi mang gông bọc sắt khổ sở, tôi òa lên khóc thì mẹ tôi an ủi:

”Con đừng khóc. Mẹ thấy hoa hồng đang nở đó con”.

“Có Chúa lo liệu cho mẹ, con cứ về nói cho anh chị em con chăm sóc việc nhà, sáng tối đọc kinh, dự lễ, siêng năng xưng tội rước lễ, đừng khi nào bỏ đọc kinh tối sáng và nhớ cầu nguyện cho mẹ vác thánh giá đến cùng. Chúng con phải thương yêu nhau, sống hòa thuận, và nhất là lo giữ đạo cho sốt sắng. Mẹ mà bỏ đạo, bỏ Chúa về với các con thì rồi mẹ cũng sẽ chết chứ có lột xác mà sống mãi với các con đâu. Nếu mẹ trung thành với Chúa thì mẹ sẽ sớm về với Người mà chờ đợi chúng con đoàn tụ trên thiên đàng. Lúc đó gia đình ta sẽ được hạnh phúc mãi mãi.”

Nữ tu An đi săn sóc những người tù có đạo cũng làm chứng:

“Bà Đê rất sốt sắng, không những bà đọc kinh sáng tối ở trong tù, mà ban ngày bà cũng hay lần hạt và ngắm đàng Thánh Giá. Sau khi bà vào tù mấy ngày, tôi đã tìm cách đưa cha vào giải tội và cho bà rước lễ”

Nửa tháng trước khi tắt thở, bà bị sốt liên miên và kiệt sức dần đi. Nhưng bà vẫn luôn tỉnh trí cầu nguyện:

”Lạy Chúa, Chúa đã chịu đóng đinh chết vì con, Chúa định cho con thế nào, con xin chịu làm vậy theo thánh ý Chúa. Xin Chúa tha mọi tội lỗi cho con”.

Và vì kiệt sức, bà đã chết rũ tù ngày 12.7.1841 tại Nam Định lúc 60 tuổi. Khi hấp hối Bà đã cầu nguyện lời cuối cùng:

“Con xin phó dâng hồn xác con trong tay Chúa, xin ban cho con được tuân theo thánh ý Chúa trong mọi sự”.

Sau khi bà tắt thở, theo thủ tục, người lính canh ngục cho đốt đầu ngón chân bà để biết chắc đã chết thật. Xác Bà được chôn ngay tại pháp trường Bảy Mẫu. Sáu tháng sau được đưa về chôn ở vườn sau gia đình. Năm 1881 được cải táng về chôn ở khu vực nhà xứ Phúc Nhạc cùng với 7 Đấng Tử Đạo Phúc Nhạc. Ngày 2 tháng 5 năm 1909 Đức Thánh Cha Piô X tôn phong bà thành chân phước, và ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong bà lên bậc hiển thánh.

 

TRẦN CAO TƯỜNG

VỀ MỤC LỤC