KỊCH

 

MẸ VIỆT NAM LÊ THỊ THÀNH

 

Mẹ Lê Thị Thành đã được tôn phong hiển thánh, để trở thành một mẫu sống đời hạnh phúc ngay trong nếp sống gia đình bình thường. Đây là điều con người ngày nay đang khát khao tìm kiếm. Mẹ đã trở thành biểu tượng một người Mẹ Việt Nam đích thực, suốt đời hy sinh quên mình để xây tổ ấm gia đình:

 

Mẹ Việt Nam không son không phấn.

Mẹ Việt Nam chân lấm tay bùn.

Mẹ Việt Nam không mang nhung gấm

Mẹ Việt Nam mang tấm nâu sồng.

 

Thánh Lê Thị Thành sinh năm 1781 tại Gia Miễu tỉnh Thanh Hóa, trong một gia đình Công giáo, nhưng lại gặp phải hoàn cảnh trắc trở ngay từ nhỏ, vì cha của bà là người khô khan và bê bối chuyện vợ con. Khuyên răn mãi không được nên Đức Cha cho phép mẹ con ở riêng ra mà giữ đạo.

 

Để tìm được nơi thuận tiện cho việc dạy dổ con cái, bà mẹ đã phải dắt con về sinh sống tại quê ngoại ở Phúc Nhạc tỉnh Ninh Bình. Lúc đó thánh nữ mới được 7 tuổi. Mẹ con sống đời vất vả nghèo túng. Cô bé Thành rất siêng năng, giúp mẹ làm việc như nuôi tằm, kéo tơ, dệt chiếu và têm trầu đưa ra chợ bán để kiếm thêm tiền nuôi gia đình. Nhưng dù long đong vất vả, người mẹ luôn săn sóc con cái về lòng đạo, đọc kinh sáng tối, siêng năng đi nhà thờ và xưng tội rước lễ.

 

Năm 19 tuổi, cô Thành lập gia đình với anh Nguyễn Văn Nhất. Rồi sinh con đầu lòng đặt tên là Đê, vì thế người ta thường gọi bà là bà Đê theo tục lệ lấy tên con trưởng mà gọi tên cha mẹ. Ông bà có tất cả 6 người con: 2 trai là Đê và Trân; và 4 gái là Thu, Năm, Nhiên và Nụ. Gia đình sinh sống bằng nghề làm ruộng, dệt chiếu, nuôi tằm kéo tơ như đa số dân trong vùng Phát Diệm. Với nếp sống cần cù và gương mẫu, ông bà đã được cả làng thương mến, vì chẳng bao giờ thấy ông bà cãi nhau hay gây chuyện với người khác.

 

Màn 1

 

Sáng sớm một ngày ấm áp, sân cỏ còn ướt sương đêm, Ông bà Đê cùng với các con đi lễ về.

Cặp vợ chồng trẻ cùng với các con nhỏ vẫn thường đi lễ sáng như vậy. Ông bà không chỉ chuyên chăm dạy dỗ con cái về giáo lý, cách dự lễ và xưng tội rước lễ, mà còn luôn làm gương sáng cho con cái noi theo.

Sau những ngày tháng vất vả cầy cấy, dân làng hớn hở đón mùa lúa mới ... Đang khi ông Đê và dân làng chuẩn bị ra ruộng để gặt lúa vì hôm nay là ngày đầu mùa, bà Đê cùng với mấy cô con gái lo cho tằm ăn và kéo tơ.

---------------------------------

(Bà Đê đang dọn dẹp nhà, ông Đê sửa soạn đi ra ruộng...)

Ông Đê: Này mẹ thằng Đê nó ơi, hôm nay là ngày đầu mùa. Năm nay được mùa chắc là dân làng dễ thở hơn. Bà ở nhà chuẩn bị bữa cơm để bà con về ăn chung với nhà mình, và nếu gặp mấy người ăn xin, bà nhớ cho họ thêm nhá.

Bà Đê: Được, tôi biết phải làm như thế nào rồi mà. Ông và hai con đi sớm về sớm để chuẩn bị đi đọc kinh tạ ơn chung dịp đầu mùa. Năm nay dân làng được mùa. À, hai con đâu rồi ông?

Ông Đê: Bà không nhớ à, hai con thường hay đi giúp Thầy Thanh và Thầy Hiếu cho lớp Xưng Tội Rước Lễ Lần Đầu, lén ở vườn đàng sau nhà ông trùm Cơ. Thời buổi cấm cách này phải ý tứ lắm, để lộ ra là bị bắt đấy.

Bà Đê: Hay ông đợi chúng nó về rồi đi chung, chứ một mình ông sao mà làm được.

Ông Đê: Có gì đâu. Tôi ra đó trước với dân làng, bà nói hai con ra sau.

Bà Đê: Đợi hai đứa nó về rồi hãy đi. Đi đâu có cha có con... Ông cứ thích đi một mình thôi.

Ông Đê: Thì có gì đâu, đi trước đi sau thì cũng thế... Mà kìa.. hai con nó về rồi đây này.

Hai con: Thưa bố mẹ, chúng con mới về.

Bà Đê: Được, hai con mau chuẩn bị ra ruộng gặt lúa với bố. Hôm nay là ngày đầu mùa, các con đi sớm về sớm để đi đọc kinh tạ ơn chung nữa.

Trân: Sao mà đọc kinh nhiều thế?

Bà Đê: Con đừng nói vậy. Con phải biết: Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Chúa ban mọi ơn lành cho mình, được nhà cửa ấm êm, gia đình tuy nghèo mà hạnh phúc. Chúng ta phải biết cảm tạ Chúa luôn. Các con thấy không, nhà mình có Chúa thì Chúa lo cho đủ mọi sự, có thiếu thốn chi đâu.

Ông Đê: Được. Cha con tôi đi đây, bà ở nhà với mấy đứa con gái, lo cho tằm ăn nhá.

Các con: Chúng con chào bố và hai anh.

Hai con: Thưa mẹ, chúng con đi.

----------------------

Sau khi ông Đê và hai con trai ra ruộng, bà Đê và mấy người con gái cho tằm ăn và kéo tơ. Đang khi đó thì các em nhỏ trong làng kéo nhau tới để bà dạy tiếng Việt và giáo lý.

--------------------

Nụ: Mẹ ơi, mấy đứa bạn con đến rồi kìa...

Các em: Chào bác, chào chị...

Bà Đê: Mấy cháu qua chơi...

Đào: Dạ thưa bác, chúng cháu đến tập hát.

Nụ: Mẹ ơi, hôm nay chúng con tập vài bài mới, vì bố mẹ mới làm thêm căn nhà ẩn sau vườn để các cha đến làm lễ, chúng con sẽ hát mừng mấy bài vui.

Chị Thu: Mấy em có hát ra hồn không đây... Lần trước các em hát làm chị buồn ngủ thấy mồ...

Bà Đê: Các cháu cứ tự nhiên tập hát nhá. Bác thích các cháu hát lắm.

Nụ: Dạ thưa mẹ, bài dân ca này nói lên tâm hồn người phụ nữ Việt Nam rất có ý nghĩa, luôn biết hy sinh quên mình như lòng trúc rỗng, để hơi thở Chúa chuyển vào thành Khúc Sáo An Tình. Cái đẹp có sẳn bên trong nên ở đâu cũng xinh cũng đẹp, không cần phải sơn phết thêm gì cả. (bắt nhịp một, hai, ba)

Cây trúc xinh (tang tình là) cây trúc mọc qua lối nọ (ư) bên bờ ao. Chị Hai xinh (tang tình là) chị Hai đứng, đứng  nơi nào qua lối xinh cũng xinh.

Bà Đê: Các cháu hát hay lắm. Ai dạy các cháu vậy?

Đào: Dạ. Mấy Sơ Mến Thánh Giá đấy.

Nụ: Mẹ ơi, người mẹ Việt Nam vất vả quá hả mẹ?

Bà Đê: Đúng vậy. Vất vả như con cò lặn lội bờ sông, mà mẹ thường hát ru chúng con đó:

À ơi... Con cò lặn lội bờ sông,

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non.

Mai kia lớn lên lập gia đình chúng con mới biết được lòng cha mẹ. Muốn cho gia đình an vui đầm ấm, người mẹ phải biết hy sinh quên mình, nhịn nhục chịu đựng. Vì một sự nhịn là chín sự lành. Chứ cứ tranh đua hơn thiệt thì nhà cửa tan nát dễ lắm. Vì thế chúng con phải tập siêng năng chịu khó, cậy dựa vào ơn Chúa, năng xưng tội rước lễ. Gia đình có Chúa thì gia đình mới hạnh phúc được.

Đồng thời cũng phải tham gia sinh hoạt xứ đạo, như vào ca đoàn, hội con Đức Mẹ, ban thưa kinh ở nhà thờ, như chúng con đang làm. Đáng khen lắm.

Bọn trẻ: Cám ơn mẹ, cám ơn bác... Chúng con cố gắng.

Bà Đê: Khi lớn lên, tuân theo ý Chúa mà lập gia đình là gánh rất nặng. Phải biết vui lòng nhận thánh giá Chúa gửi cho, sống hòa thuận, và nêu gương sáng cho gia đình.

Các con: Dạ thưa mẹ, chúng con nghe...

Lá: Cháu thấy mẹ cháu cũng vất vả lam lũ, nhiều đêm khuya vẫn chưa đi ngủ được.

Thu: Này các em, chúng ta nhờ mẹ nhờ cha mới có ngày hôm nay. Cha mẹ hy sinh vất vả chỉ vì muốn chúng ta được sung sướng.

Thảo: Đúng rồi.

Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Bà Đê: Vất vả thì đâu mà chả có. Nhưng với tình thương từ lòng mẹ thì tất cả sẽ được biến  thành những bông hoa tươi thắm. Như Đức Mẹ đã biến mọi sự dù nhỏ bé tầm thường trong gia đình Na-gia-rét thành thiên đàng hạnh phúc.

(Có mấy người đến ăn xin...)

Nhiên: Mẹ ơi, có mấy người đến ăn xin, mẹ có gì cho không?

Bà Đê: Cho người ta vào đây.

Thu: Mẹ ơi, không được đâu. Mấy người ăn xin ... rách rưới hôi hám lắm!

Bà Đê: Chúng con không được nói vậy. Phải biết thương người như thể thương thân. Họ nghèo khổ, không nhà không cửa, đang khi chúng con được no đủ. Họ nghèo của mà giầu lòng. Đón tiếp họ là chúng con đón tiếp Chúa đấy.

Nụ: Mẹ ơi, nhà mình còn ít cơm lắm. Hay là bảo họ ở lại đợi bố về rồi ăn chung.

Bà Đê: Con có ý kiến hay. Con ra mời họ vào đây đi. Thôi bây giờ tập hát xong, các cháu nghỉ một chút, rồi trở lại bác dạy kinh bổn và chữ Việt cho.

Đào: A.. a.. a.. a.. Mình ra ngoài chơi một tí đi.

Các bạn: Được, tụi mình đi nhẩy giây nhá.

 

MÀN 2

 

Đã 10 năm trôi qua, các con của ông bà Đê đã khôn lớn và được dạy dỗ chu đáo. Dù con cái đã lập gia đình, bà vẫn còn theo dõi khuyên bảo, thúc giục đi lễ và xưng tội rước lễ.

Trong thời gian vua Minh Trị bên Nhật biết thức thời đưa nước Nhật tới tiến bộ theo kịp nền văn minh mới, thì ở bên Việt Nam, Vua Minh Mạng cũng như vua Thiệu Trị vì thiển cận, mù quáng và sai lầm trầm trọng, đã ra lệnh “bế quan tỏa cảng” và cấm đạo gắt gao với những sắc lệnh vào năm 1836 và 1838:

“Tả đạo Tây Dương làm hại lòng người. Đã lâu nay nhiều chiếc tàu của Au Châu sang buôn bán, thường để lại các đạo trưởng. Các người người ấy làm mê hoặc lòng dân và bại hoại phong tục. Như thế chẳng phải là cái tai họa lớn cho nước ta sao? Vậy ta ra lệnh ngăn cấm. Hễ đạo trưởng nào bị bắt trên tàu khách vào trong nước phải xử tử. Người nào chứa chấp họ trong nhà cũng bị xử tử”.

Trong thời cấm đạo, mọi nhà thờ bị phá hủy, không còn chỗ dâng thánh lễ và cử hành bí tích. Ông bà Đê đã làm một ngôi nhà ẩn đàng sau vườn để cho các linh mục ngoại quốc cũng như Việt Nam trốn tránh trong thời gian bắt bớ, tự tay mình coi sóc, bảo mật. Chính Bà Đê lo liệu cơm nước cho các ngài. Can đảm như Bà quả là hiếm có. Các cha vẫn thường lén lút tụ họp dân chúng tại nhà bà để dâng lễ và dạy giáo lý.

(Đang khi bà Đê phụ giúp các cha và các thầy sửa soạn lễ và đọc kinh, thì quan quân triều đình theo lệnh vua đi lùng bắt các linh mục).

Cha: Các con thân mến, dù biết bao thử thách cơ cực, không gì có thể tách rời chúng ta khỏi tình yêu của Chúa. Lời Chúa là sức mạnh, là đường, là ánh sáng, nên dù có qua thung lũng âm u cũng chẳng sợ hãi chi. Thánh Thể Chúa ở với chúng ta luôn mãi, nên cứ vững tâm tin vào Chúa theo gương các thánh đã sẵn sàng chết vì đức tin.

Dù ai nói ngược nói xuôi

Ta đây cứ vững đạo Trời khăng khăng.

(Khi Cha và các thầy giúp dân chúng về bí tích, bà Đê và một số bà trong xứ giúp dạy dỗ và săn sóc các trẻ em)

Bà 5: Chị Đê, em thấy chị vất vả quá. Chị để em giúp một tay.

Bà Đê: Cám ơn chị. Mình phục vụ Chúa mà.

Bà 6: Cầu xin Chúa giữ gìn xứ mình. Tôi nghe nói quan quân đang đi lùng bắt các cha và những người chứa chấp. Tội chứa chấp các cha cũng bị tử hình đó.

Bà Tư: Chắc không sao đâu. dù sao chăng nữa thì mình cũng là người dân mà. Tôi chỉ lo cho các cha và các thầy thôi. Năm ngoái Cha xứ Phạm Khắc Khoan và Thầy Thanh, Thầy Hiếu, đã được phúc tử đạo...

Bà Đê: Mấy chị đừng lo quá làm gì. Mọi sự đã có Chúa an bài. Bây giờ còn chỗ nào cho các cha trốn ẩn ngoài nhà mình được. Vả lại giáo dân cần có chỗ tụ họp dâng lễ và trẻ em có chỗ học giáo lý chứ.

Bà 6: Các Cha trốn ở đây cũng lâu rồi. Chắc là không sao đâu.

Bà Đê: Mấy chị giúp tôi tiếp đón dân chúng, để tôi lo cơm nước cho các cha và các thầy.

-------------

Đang khi mọi người sửa soạn kinh chiều thì ở ngoài làng, quan quân tìm đến bao vây nhà ông bà Đê, vì có người tố cáo chứa chấp các đạo trưởng.

-----------------------------

Nụ: Mẹ ơi, có quan quân đang đi về hướng nhà mình.

Bà Đê: Con ra ngoài coi, nếu thấy gì thì vào cho mẹ hay.

Nụ: Mẹ ơi, nguy quá, quan đã tới nhà mình rồi.

Bà Đê: Mau... mọi người chạy trốn mau. Quân lính đã đến rồi kìa...

Nụ: Còn cha Lý thì sao mẹ?

Bà Đê: Các con dẫn cha ra sau vườn, chỉ cho cha nằm xuống đường mương khô cạnh bụi tre, nhớ lấy rơm phủ lên trên.

Nụ: Dạ.

---------------------------------

Quan: Mẹ cháu đâu rồi, nhà cháu mới có khách phải không?

Trân: Mẹ ơi. Mẹ ơi.

Quan: Lớn dồi... còn mẹ ơi với mẹ ơi... gì nữa. Mau nói cho quan biết: phải nhà có khách không cháu?

Bà Đê: Con kính chào quan lớn. Quan lặn lội từ xa đến đây có điều chi dạy bảo ạ?

Quan: Này, đây có phải nhà chị Đê không? Có người tố cáo chị chứa chấp các tên đạo trưởng?

Bà Đê: Dạ thưa quan lớn. Chồng con đi làm chưa về. Ở nhà chỉ có mấy mẹ con chân yếu tay mềm.

Quan: Này chị kia. Chân yếu tay mềm à? Chị tưởng tôi không biết gì về những việc chị đã làm ở xứ này sao? Chồng chị thì vất vả đi làm tối ngày. Còn chị thì ở nhà chuyên môn lén lút tụ họp dân lại cho các đạo trưởng tuyên truyền đạo tà. Chị mới là người mang tội chứa chấp và lộng hành, không còn coi luật pháp ra gì nữa. Chị mau nộp mấy tên đạo trưởng đó, rồi tôi sẽ xin đức vua tha chết cho chị.

Bà Đê: Dạ thưa quan lớn, con có làm gì đâu.

Quan: Ơ hay. Chị thật là cứng đầu. Nhẹ không ưa lại ưa nặng! Bay đâu?

Quân lính: Dạ.

Quan: Hãy lục xét kỹ cho ta.

----------------------------------------

Quân lính 1: Dạ thưa quan lớn, không có ai trong nhà cả.

Lính 2: Dạ thưa quan lớn, không có ai trong buồng hay trong bếp cả.

Quan: Trong nhà thì không, còn sau vườn thì sao. Hãy lục xét sau vườn cho ta.

Quân lính: Dạ.

Bà Đê: Dạ thưa quan lớn, sau vườn, con nuôi gà vịt, xin quan quân đừng đạp chết gà vịt của con.

Lính 1: Bắt được rồi. Bắt được đạo trưởng rồi.

Quan: Này chị Đê. Gà vịt gì đây, gà vịt gì lớn thế này.

Bà Đê: Dạ thưa quan lớn, xin tha cho người này, ngài hiền lành lắm.

Các con: Xin quan lớn tha cho...

Quan: Nước có luật pháp, nhà có kỷ cương. Bà Đê kia, bà đã biết chứa chấp đạo trưởng là có tội với đức vua. Bà còn bí mật tụ tập dân chúng nghe theo tà đạo. Thật là tội lớn tầy trời. Quân đâu?  (Dạ..), bắt tên đạo trưởng này về phủ, bắt luôn cái con mẹ này về cho ta. Tịch thu hết mọi đồ đạc trong nhà đưa về phủ cho ta.

Quân lính: Dạ...

-----------------------

MÀN 3: Tử Đạo

 

Sau đó ông Đê cũng bị bắt. Ông nhất định không chịu đạp thập giá bỏ đạo nên đã bị án phải đi lính suốt đời. Còn Bà Đê thì bị dẫn lên Nam Định để tra tấn:

Quan: Cây có cội, nước có nguồn. Chị Đê kia, chị là người nước Nam, tại sao lại dại dột đi theo tà đạo Tây Dương. Các đạo trưởng làm bại hoại phong tục nước ta. Chị chứa chấp các đạo trưởng trong nhà, trái lệnh đức vua, thật là tội lớn tầy trời.

Bà Đê: Thưa quan lớn, quan nói đúng: Cây có cội, nước có nguồn. Loài người do Chúa Trời Đất dựng nên, vậy phải nhận biết nguồn gốc thực của mình là thờ phượng Đức Chúa Trời là Cha cả muôn loài mới phải.

Quan: Thật là bậy bạ, thật bậy bạ. Cha trên trời! Bà muốn dạy đời ta sao? Bà là dân nước Nam, bà phải tuân theo lệnh vua. Bà lại đi chứa chấp đạo trưởng. Vậy bà hãy nghe ta đạp thập giá bỏ đạo để được tha về.

Bà Đê: Thưa quan lớn. Đạo Đức Chúa Trời là đạo thật. Tôi không bao giờ bỏ đạo.

Quan: Thật hỗn láo. Nếu bà không chịu bỏ đạo, ta không thể tha cho bà được. Người đâu...

Quân lính : Dạ.

Quan: Làm cho nó thấy Cha Trên Trời cho ta coi.

Quân: Dạ.. (cha trên trời... cha trên trời.)

(Đang khi quan tra tấn bà, cô Năm và cô Nụ đến thăm)

Lính: Dạ thưa quan lớn, có người nhà của nó đến thăm.

Quan: Có cha có mẹ thì hơn, không cha không mẹ như đàn đứt dây. Mất cha con cũng u ơ, mất mẹ con cũng bơ vơ một mình. Này chị Đê kia, chị mau bỏ đạo đi, con cái chị đang mong chờ chị. Bỏ đao thì ta tha cho về với chúng nó. Chị nỡ lòng nào mà bỏ rơi chúng nó như vậy được.

Năm: Mẹ ơi, mẹ có sao không?

Bà Đê: Họ tra tấn đánh đập mẹ ba lần dữ tợn lắm. Người thế gian không có sức nào mà chịu nổi. Song khi mẹ phải đòn thì mẹ cầu xin Đức Mẹ phù hộ thêm sức mạnh cho, nên mẹ không cảm thấy đau đớn.

Nụ (òa khóc): Mẹ ơi, sao áo mẹ dính đầy máu vậy!

Bà Đê: Con đừng khóc. Mẹ thấy hoa hồng đang nở đó con. Có Chúa lo liệu cho mẹ, con cứ về nói cho anh chị em con chăm sóc việc nhà, siêng năng đi nhà thờ và xưng tội rước lễ, đừng khi nào bỏ đọc kinh tối sáng, và nhớ cầu nguyện cho mẹ vác thánh giá đến cùng. Chúng con phải thương yêu nhau, sống hòa thuận, và nhất là lo giữ đạo cho sốt sắng. Mẹ mà bỏ đạo, bỏ Chúa về với các con thì rồi mẹ cũng sẽ chết chứ có lột xác mà sống mãi với các con đâu. Nếu mẹ trung thành với Chúa thì mẹ sẽ sớm về với Người mà chờ đợi chúng con đoàn tụ trên thiên đàng. Lúc đó gia đình ta sẽ được hạnh phúc mãi mãi.

Lính: Mấy đứa này, sao ngồi mãi ở đây làm gì. Mau ra ngoài.

Nụ và Năm: Mẹ ơi, họ đuổi chúng con đi...

Bà Đê: Thôi các con về đi... Nhớ cầu nguyện cho mẹ.

Quan: Này mụ kia, ta cho mụ một cơ hội nữa thôi, là mụ phải đạp thập giá để bỏ đạo, thì ta sẽ tha cho về với con cái.

Bà Đê: Tôi nhất định tin theo Đức Chúa Trời, không bao giờ tôi bỏ đạo.

Quan: Bay đâu... (Dạ... ) Làm cho nó mở mắt ra coi nào... (Dạ...)

Lính: Cha trên trời. Đức Chúa Trời... cho mày chết luôn.

Quan: Bay đâu... (Dạ...) Kéo nó qua thập giá này cho ta.

Lính: Đi mau. Đi mau lên. Đi. (Bà đê vùng vằng cố cự lại)

Bà Đê: Xin Chúa tha tội cho con. Đấy là họ dùng sức kéo con chứ không phải ý của con. Con không bao giờ bỏ Chúa.

Quan và lính: Hà hà...

Bà Đê: Giêsu, Maria, Giuse, xin ba Đấng cứu con. Lạy Chúa, Chúa đã chịu đóng đinh chết vì con. Chúa định cho con thế nào, con xin chịu làm vậy theo ý Chúa. Xin Chúa tha tội cho con. Con xin phó dâng hồn xác con trong tay Chúa. Xin cho con được tuân theo ý Chúa mọi sự. Giêsu Maria Giuse, Giêsu Maria Giuse... (Rồi tắt thở).

Lính (đi ra khám xác): Ừ, nó chết thật rồi.

...............

(Một lúc thì các con tìm đến vây quanh ôm xác mẹ khóc. Bài hát vang lên bắt đầu được một khúc thì cho nhỏ lại và đọc xen kẽ từng đoạn lời sau đây, rồi lại cho lớn bài hát lên để kết ở đoạn Mẹ Việt Nam ơi...)

Sóng vỗ miên man như câu ru êm của mẹ dịu dàng

Nước biếc mênh mông

như đôi tay ôm của mẹ trùng dương

Mẹ Việt Nam cho quê hương muối trắng

Thêm thơm mâm cơm mặn nồng.

Mẹ còn cho con

luôn luôn tôm to cá lớn tươi ngon đầy thuyền.

Vì kiệt sức, bà đã chết rũ tù ngày 12 tháng 7 năm 1941 tại Nam Định lúc 60 tuổi, để lại một tấm gương kiên trung với đức tin cho đến cùng.

Mẹ hiền không lên bão tố

Mẹ già không đem nỗi khó.

Mẹ là mẹ nhà cho mưa với gió hiền khô

Ngày ngày vươn vai ra khơi

đón ánh dương soi con tim bồi hồi.

Chiều chiều chơi vơi không nguôi

thương thương nhớ nhớ con trong cuộc đời.

Ngày 19 tháng 6 năm 1988, một người đàn bà Việt Nam đầu tiên là Lê Thị Thành được Giáo Hội hoàn vũ tôn phong, cũng là thánh nữ duy nhất trong số 117 vị Thánh Tử Đạo Việt Nam. Mẹ Lê Thị Thành đại diện cho những người Mẹ Việt Nam, suốt đời thầm lặng hy sinh quên mình cho hạnh phúc gia đình. Đó là đường nên thánh, sống hạnh phúc thật đơn giản, mà thế giới bây giờ đang cần tìm đến.

Mẹ tìm con trong gió Bắc

Mẹ về phương Nam nắng gắt.

Tình nhà mở cửa đem ra góp với bao la.

Sóng vỗ êm êm

như khuyên con mau trở lại mẹ hiền.

Gió rít thông reo như kêu con mau trở lại mẹ yêu.

Mẹ Lê Thị Thành đã được tôn vinh trở thành một mẫu sống, không những cho Việt Nam mà còn cho toàn thế giới. Chúng con hãnh hiện về Mẹ, một người Mẹ Việt Nam, một bà mẹ Công Giáo đích thật. Đúng là “lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra...”

Mẹ Việt Nam ơi, Mẹ Việt Nam ơi. Mẹ Việt Nam ơi, Mẹ Việt Nam ơi.

Chúng con đã về khát khao hơi mẹ. Chúng con xin thề giữ thơm quê mẹ.

Cuộc đời rồi phai tàn sau thế giới. Chỉ còn tình yêu của mẹ mà thôi.

Ôi Mẹ Việt Nam. Ôi Mẹ Việt Nam.

(Kịch này được diễn lần đầu tại Họ Đức Mẹ Lên Trời, Avondale, giáo xứ Lê Thị Thành, Louisiana, vào ngày lễ Phục sinh, 7 tháng 4 năm 1996, do Phạm Tri dạo diễn).

 

 

Lm. Dũng Lạc TRẦN CAO TƯỜNG

KỊCH: MẸ VIỆT NAM LÊ THỊ THÀNH

 

VỀ MỤC LỤC