NGÀN NGÀN DẶM RA ĐI

 

Phim Băng May Phúc (The Joy Luck Club) kể lại cuộc sống gian khổ của bốn bà mẹ người Tầu bỏ nước ra đi sang Mỹ, với những ước mơ và những xung đột với bốn đứa con gái lớn lên trong xã hội mới.

 

CHIẾC LÔNG THIÊN NGA

 

Khi ra đi, bà mẹ ôm theo một con thiên nga, mong ước rằng con gái mình sẽ có cơ may ở xã hội mới để vươn lên, để bay lên được như con thiên nga này. Nhưng tới phi trường San Francisco thì người ta giữ con vật lại không cho mang vào Mỹ. Người mẹ phải lén nhổ được một chiếc lông thiên nga và giữ kỹ. Như một ấp ủ, một ước mơ. Thầm nhủ rằng khi con mình lớn lên, mình sẽ trao cho nó chiếc lông thiên nga này. Mình sẽ kể cho nó nghe những truân chuyên khổ nạn của một kiếp người “thấp cổ bé miệng”, rằng con phải cố lợi dụng được cơ may mà ngóc đầu lên con nhé. Cha mẹ đã cúi mình chịu nhục nhằn đủ rồi.

Nhưng rồi những đứa con sang Mỹ và lớn lên, thay vì nuốt tủi hận hộ cho cha mẹ, chúng chỉ biết hồ hởi nuốt co-ca. Và những xung đột hằng ngày trong gia đình chẳng sao tránh khỏi. Rồi cũng chẳng có dịp nào để người mẹ có thể trao chiếc lông thiên nga cho đứa con gái. Vì có độ rung nào đâu. Những phút giây chớp mắt cảm động hình như chỉ là chuyện tiểu thuyết. Thực tế, mỗi đứa một hăm hở mới, đuổi bắt những đam mê mới, phải rướn theo những sức ép mới của đà quay xã hội như những sợi xích sắt trong một bộ máy lớn không có cách nào thoát ra được.

Bà mẹ giữ riêng niềm ước mơ, thành niềm đau xót. Rồi một ngày bà ngã bệnh tắt thở. Đứa con lớn lên, thấm mệt cuộc đời mới, với những khúc mắc mới, xung khắc tâm lý Au Mỹ và Á Đông. Đứa lấy Mỹ, đứa lấy Tàu. Đứa nào cũng bằng ấy vấn đề, khác nhau ở từng trường hợp, nhưng giống nhau ở những nét chung. Thì ra Tây vẫn là Tây, Ta vẫn là Ta. Vẫn những nghi kị và kỳ thị phân loại da trắng da màu. Vẫn những khác biệt về gốc gác sang hèn... Cứ tưởng ở những xứ Á Đông nghèo túng thì nhiều vấn đề, chứ có ai ngờ bây giờ lại còn nhiều rắc rối hơn. Phải chạm trán rồi mới thấy rõ. Chứ chẳng chịu nghe kinh nghiệm của ai bao giờ.

Cho đến một ngày thật chín mùi sau những ốm đòn cuộc sống, ông bố liền gọi con gái ra một chỗ thân tình ấm cúng, rồi ông trân trọng trao cho con một phong thư, trong đựng chiếc lông thiên nga mẹ để lại mà chẳng có dịp nào trao. Ông chỉ nói vài lời ngắn gọn, nhưng có sức xoáy sâu vào tim con. Thế là cảnh sụt sùi khóc thương cảm động. Cô gái lớn rồi mới vỡ lẽ hiểu được con tim của mẹ, vượt qua mấy tầng ngôn ngữ. Và cô gái đã quyết làm một cuộc hành trình về thăm nước Tàu, tìm về gốc gác của mình. Cắm rễ vào đó thì cây mới vươn lên được ở xứ đa tạp này.

 

LỜI CA RAY RỨT

 

Một thực trạng mà ai cũng đang nhận thấy là các gia đình Việt ngàn ngàn dặm ra đi đang phải đương đầu với quá nhiều vấn đề, đôi khi có cảm tưởng vượt qua tầm tay của mỗi người. Sau hơn hai chục năm, một thế hệ mới bắt đầu. Góp phần tạo dựng cũng có, mà vào đường dây băng đảng làm hủy hoại cũng nhiều!

Một đứa bé mới ngày nào được rửa tội một cách vội vã trong trại tiếp cư nào đó, bây giờ đã có thể trở thành cô giáo phụ dạy các em trong cộng đoàn, sắp sửa ra trường có chân đứng vững trong đà tiến hóa của xã hội mới, sáng giá nào có kém ai.

Cảnh ngược lại: một đứa bé trai mới 14 tuổi đi học mà trong túi có sẵn một máy “beeper” luôn “sắp sẵn” để nghe lệnh trao thuốc xì ke ma túy kiếm bộn bạc, đô la rủng rỉnh đi “shopping” mua những thứ đồ mắc tiền nhất để le lói với chúng bạn. Cám dỗ lắm chứ.

Cha mẹ thì mỗi người cũng bị ném vào vòng quay của cái đà cuốn hút. Bận quá. Mỗi người một lo lắng, một thế giới, một quyền lợi, một kiếm chác. Chẳng còn giờ cho nhau. Chẳng còn giờ cho con cái. Riết rồi gặp lại nhau như những đơn vị lạ hoắc. Chẳng còn gì rung cảm chung. Mái nhà chẳng còn ấm là bao, chẳng phải là chỗ trở về bồi bổ lại tim gan. Mối đe dọa như bom nổ chậm từ mọi phía. Không còn gì gọi là an toàn. Có cái gì bất ổn mà không sao làm cho rõ nét nổi. Sống theo kiểu Mỹ? Sống theo kiểu Việt? Giằng co, khắc khoải, hình như chưa tìm ra đường thoát.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã hát lên lời ca ray rứt trong Rong Khúc Hát Cho Năm 2000, khi thấy những đứa bé gái đang lớn lên, có thể đang tiếp nối con đường ước mơ của lớp người ra đi, mà cũng có thể đang giẫy giụa như thằn lằn cụt đuôi, mất hướng.

Nhiều bà mẹ trẻ đang làm mất quê hương khi không còn ham dạy con “tiếng nước tôi, tiếng ngàn năm ròng rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”. Mẹ là Thị, nhưng mẹ không muốn làm Thị chuyển dòng sống dân tộc, chuyển hơi thở quê hương cho con bằng tiếng ru ca dao ngọt ngào, bằng đạo sống tổ tiên. Mẹ yêu con thì dạy con nên người Việt, chứ đừng để con mù chữ mẹ, trở thành lạc loài hay “vô loài” chẳng giống ai!

 

Mẹ bây giờ lạc loài trên thế giới

Việt Nam là gì giảng nghĩa cho coi?

Mẹ quên tiếng nói, tên họ đổi thay,

Cuối thế kỷ này, Mẹ sẽ 20.

Mẹ đang trên bờ vực sâu tăm tối

Bước đi có thể về phía suy đồi

Nhìn kỹ đi coi: một trăm năm tới,

Mẹ nước Việt Nam: Vượt mãi? Hay lui?

.....

Mẹ đang đi vào cuộc đời đang tới,

Mẹ đang đi vào thế kỷ ngày mai,

Sinh con anh hùng, người hiền nhân ái?

Hay sinh kẻ hèn, bạo chúa vô loài?

          (Phạm Duy, Ngàn Lời Ca trang 365)

 

TƯỢNG MẸ BỒNG CON CHẠY

 

Dịp kỷ niệm 20 năm xa xứ, tháng 4 năm 1995, người Việt dựng được một bức tượng thật ý nghĩa và gợi cảm ở ngay thủ đô Ottawa của nước Canada. Đó là tượng “Mẹ Bồng Con” đang tất tả chạy, do điêu khắc gia Phạm Thế Trung (hình trang 10). Nét mặt người mẹ đầy quả cảm nhìn về phía trước, tìm một chỗ an toàn cho đứa con đang ngủ bình yên trên cánh tay mẹ.

Mẹ là Thị, là người chuyển dòng sinh mệnh tộc Việt. Mẹ chạy đi đâu thì nơi đó là bờ cõi mới. Còn mẹ là còn quê hương. Vì mẹ là quê hương thu hẹp.

Đôi mắt người mẹ đang nhìn thấy gì? Và đứa con trên tay mẹ đó hôm nay đang ở đâu, làm gì, có còn cảm thấy trong giây phút quyết liệt đó trong niềm ước mơ của mẹ mình không? Người mẹ đó có thể ngày hôm nay đã nằm xuống lòng đất lạ. Nhưng người mẹ đã làm xong một sứ mạng, như công chúa Huyền Trân đã đành hy sinh đời mình cho lớp đàn con cháu ra đi mở thêm bờ cõi như tâm tình của bài hát “Nước Non Ngàn Dặm Ra đi”.

Nước non ngàn dặm ra đi,

Dù đường thiên lý xa vời

Dù tình cố lý chơi vơi

Cũng không dài bằng tình yêu mến người.

Bước đi vào lòng muôn dân....

 

MỘT LẦN VƯỢT BIÊN

 

Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.

Đó là một câu tục ngữ Việt mà các nhà tâm lý miền sâu ngày nay tha hồ mà phân tích. Ap dụng vào giáo dục thì tuyệt.

Sau khi đã nghe theo Đức Giám Mục giải quyết được chuyện bất ổn hôn nhân, mẹ của Thánh Lê Thị Thành đã bỏ quê nội với bầu khí không mấy tốt đẹp để dẫn con về quê ngoại là Phúc Nhạc, tỉnh Ninh Bình, kiếm kế sinh nhai và tìm được môi trường tốt, thuận tiện hơn cho việc dạy dỗ con về nề nếp sống đạo. Lúc đó cô bé Lê Thị Thành mới được 7 tuổi.

Những bước gian nan của hai mẹ con cũng chẳng khác cảnh tượng mẹ bồng con vượt chạy. Chắc chắn cô bé Thành cũng đã đọc được trong mắt mẹ mình những đắng cay tủi nhục và kiên tâm chịu đựng, những mơ ước về một tương lai gầy dựng cuộc sống mới, lo cho con cũng phải biết đôi chút chữ nghĩa, và nhất là đào tạo con thành một người con của Chúa, thành một vị thánh tử đạo tương lai. Mẹ cũng giống công chúa Huyền Trân, sẵn sàng hy sinh hạnh phúc riêng mình và chấp nhận mọi khổ cực, để con có cơ may hơn mẹ, lớn lên nếm được hạnh phúc, ngóc đầu lên mà nên thân nên người.

Chẳng lạ gì, đang khi nhiều bà mẹ quê thời đó thất học, Bà Lê Thị Thành lại có chữ nghĩa đàng hoàng. Có chữ nên bà mới có thể dạy các con đọc chữ và học giáo lý, như lời tường thuật của người con gái út là cô Nụ lúc được giáo quyền hỏi trong diễn tiến điều tra phong thánh:

“Mẹ chúng tôi rất chăm lo việc giáo dục các con. Chính người dạy chúng tôi đọc chữ và học giáo lý, sau lại dạy cách tham dự thánh lễ và xưng tội rước lễ. Người không để chúng tôi biếng nhác việc xưng tội. Khi chúng tôi lơ là, người thúc giục chúng tôi bằng được mới thôi. Người cho chúng tôi nhập hội Con Đức Mẹ, vào ban thiếu nữ thưa kinh ở nhà thờ”.

 

TRUYỆN CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN

 

Trong suốt dọc dài lịch sử, mẹ Việt Nam cứ phải bồng con vượt biên. Việt là vượt, nên người Việt cứ phải vượt chạy hoài. Từ vùng hồ Động Đình sông Dương Tử, chạy xuống Bắc Việt bây giờ. Rồi từ vùng sông Hồng mở bờ cõi xuống sông Hương do sự hy sinh cuộc đời của mẹ Huyền Trân. Câu truyện thật xúc động, nói lên lòng người mẹ Việt Nam.

Đầu thế kỷ thứ 14, vua Trần Nhân Tông đã cao tuổi, liền truyền ngôi cho thái tử nối nghiệp là Trần Anh Tông.

Vua Cha có dịp đi chu du thắng cảnh đất nước, vào tới tận giáp nước Chiêm Thành. Lúc bấy giờ biên giới nước ta mới chỉ giáp tới Quảng Trị bây giờ. Có lần nhà vua mải mê đi lạc cả sang đất Chiêm, may được cư dân tỏ tình hiếu khách. Vua Chiêm là Chế Mân nghe biết chuyện này, vì sợ oai nước ta, cũng phải thân hành đến đón tiếp.

Nhà vua ở đây được vài tuần thì bỗng thấy công chúa Huyền Trân dẫn đoàn tùy tùng đến đón cha về nước. Dĩ nhiên đoàn tùy tùng cũng được vua Chiêm khoản đãi trọng thể. Chính trong dịp này mà vua Chiêm đã đem lòng mê say sắc đẹp của công Chúa Huyền Trân.

Sáu tháng sau, Chế Mân sai phái đoàn sang nước Việt dâng lễ vật quí báu lên vua Trần Anh Tông để xin cưới công chúa Huyền Trân về làm hoàng hậu.

Vua Anh Tông liền hỏi ý em là Huyền Trân về chuyện này, thì Huyền Trân giẫy nảy:

- Trời ơi, ai mà đi lấy cái thứ đó. Vả lại em còn bé mà!

Nhà vua cũng phải nói lại với sứ giả như vậy, rằng công chúa còn nhỏ, xin chờ thêm một thời gian.

Qua một năm, Chế Mân lại sai sứ giả sang đem theo nhiều lễ vật hơn nữa để xin cưới. Lần này thì vua Anh Tông bàn với mấy quan đại thần mời đoàn sứ giả đi dự tiệc riêng tạo tình thân thiện. Rồi trong lúc ngà ngà, một đại thần rỉ tai viên sứ:

“Quí quốc có ý tặng nhiều của báu, song đều là những thứ không ứng dụng, còn việc cầu hôn nên có đồ dẫn cưới xứng đáng với nghĩa thông gia để thượng hoàng còn có chỗ du ngoạn trong tình thân thích chứ”.

Khi sứ thần về tâu, Chế Mân hiểu ý nên cười và nói: Chuyện nhỏ mà. Ta sẽ dâng châu Ô làm lễ. Vậy hãy đi ngay chắc là thế nào cũng xong.

Sứ thần tìm đến quan đại thần trình bày nguyện vọng. Đại thần làm bộ suy nghĩ vì cần phải hỏi ý kiến nhà vua. Sau khi đã bàn tính, quan đại thần trả lời viên sứ:

- Tôi đã biết mà. Một vị công chúa cành vàng lá ngọc ắt là đồ sính lễ phải xứng đáng, cho nên thánh thượng phán rằng một châu đất núi đem dâng làm sao mà đành. Vậy xin ngài vui lòng về trình lại với vua Chiêm.

Sứ giả về trình tâu sự việc thì vua Chiêm sốt sắng nói ngay:

Phải, phải. Một vị công chúa xinh đẹp như vậy thật là vô giá. Vậy ta dâng thêm châu Lý nữa là xong. Ngươi lại vì Ta mà ra đi một lần nữa lo liệu công việc.

Khi được tin vua Chiêm đã bằng lòng dâng hai châu Ô và Lý thì vua Anh Tông rất mừng, liền trình lại với vua cha. Công chúa Huyền Trân nghe tin như sét đánh bên tai, vùng vằng khóc lóc, ôm gối vua cha mà năn nỉ kêu xin, vì biết vua cha rất thương yêu mình, chẳng xin một điều gì mà vua chẳng cưng chiều. Vua Anh Tông liền lấy lời vỗ về:

- Em nên nghĩ đến tình cảnh nước nhà. Dân mỗi ngày một đông, chen chúc nhau nơi đồng bằng hạn hẹp, phương Bắc, nước Tàu đứng chắn mình không ngoi lên được, chỉ còn một lối có thể mở mang là phương Nam, nay có dịp họ nhường đất khỏi phải chinh phục hại đến sinh linh, chỉ cần một mình em chịu đi là bờ cõi rộng thêm gấp rưỡi. Xin em vui lòng hy sinh cho đại cuộc...

Huyền Trân còn vùng vằng viện đủ lý do rằng sao không kiếm người khác thay thế. Trước cảnh tượng như vậy, vua cha thương con quá cũng định bỏ việc cưới hỏi. Nhưng rồi nghĩ tới đại nghĩa thương dân mở nước với dịp may hiếm có, vua cha đành vỗ về an ủi con gái cưng:

- Con ơi, con biết cha thương con chừng nào, không lẽ cha lại muốn con khổ. Nhưng việc nước trọng hơn tình riêng, con nên vì thanh thế của nhà Trần ta, và vì hạnh phúc của muôn dân mà hy sinh vâng lời anh con đi, con không sợ cô đơn đâu, cha sẽ vào thăm con luôn, vì non sông trong đó đẹp lắm. Vả lại một khi con làm hoàng hậu thì quyền uy cao cả, ai mà trái lệnh con được...

Công chúa biết không thể trái lời cha và anh được, nên thút thít khóc rồi làm thinh.

Thế là năm 1306, Huyền Trân đã từ giã hoàng cung và đất Việt để đi sang đất Chiêm Thành, làm hoàng hậu, để đổi lấy đất cho nước Việt rộng thêm ra. Châu Ô và châu Lý ngày nay là Quảng Trị, Huế, và hai huyện Diên Phước và Hòa Vang của Quảng Nam.

 

CUỘC NAM TIẾN

 

Lạ lắm. Việc mở mang bờ cõi nước Việt xuống phía Nam cứ tưởng phải dùng gươm giáo giết chóc nhiều. Gần đây, khi thấy cảnh đau khổ cùng độ của dân Việt, một số người đã nghĩ quẩn hay là tại cha ông mình ác quá, diệt chủng dân Chiêm Thành và Chân Lạp, nên phải lãnh ác quả ác báo!

Nhưng thực sự không phải vậy, mà là công đầu của những người đàn bà đã hy sinh đời mình cho đất nước.

Truyền thống muốn tạo mối hòa với lân bang có từ thời huyền sử khi công chúa Mỵ Châu bằng lòng lấy Trọng Thủy con Triệu Đà. Vụ này không thành công. Nhưng Mỵ Châu vẫn là biểu tượng cho sự hiến thân cho dân cho nước, muôn đời phải được ghi ơn tôn kính.

Đầu thế kỷ 17, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên theo cao kiến của Đào Duy Từ mà mở mang xuống miền Nam. Vì miền Bắc đã bị nước Tàu quá mạnh án ngữ, và họ Trịnh lại chận cổ phân tranh. Mà đất nước thì chật hẹp, miền trung khô chồi. Cao kiến đó là lợi dụng việc Nam hòa quen thân với cả hai nước Chiêm Thành và Chân Lạp, để mượn đất canh tác phát triển.

 

CÔNG NƯƠNG NGỌC VẠN

 

Nguyễn Phúc Nguyên có hai người con gái cưng là Ngọc Vạn và Ngọc Khoa. Trong khi quan hệ đi lại thì vua Chân Lạp là Chay Chetta II mê công nương Ngọc Vạn ra mặt, liền sai sứ giả xin cưới làm hoàng hậu. Cũng giống như truyện Huyền Trân xưa, Ngọc Vạn làm sao mà bằng lòng được, nhất là phải vào mãi xứ Đồng Nai vùng Sài Gòn bây giờ. Nhưng Đào Duy Từ khuyên:

“Ở đời ai chẳng muốn sống yên vui bên người thân yêu ở quê cha đất tổ. Chỉ tại họ Trịnh tàn ngược mà chúng ta phải cầm cự lâu dài. Việc cần là lo an toàn cho dân chúng nơi Đàng Trong này. Họ vì mến đức mà theo vào ngày một thêm đông. Vậy phải làm sao đây? Là vì từ Quảng Bình vào đây, đất sỏi khô cằn, nguồn lợi chỉ trông vào rừng với biển, vậy phải tìm nơi mình có thể duỗi chân ra được, mới là kế vẹn toàn. Nay mà công nương lên ngôi hoàng hậu nước Chân Lạp thì là một việc rất vui mừng. Hai nước giao hảo với nhau sẽ có lợi cho cả đôi bên, về an ninh cũng như về thông thương, có khi còn về binh bị nữa nếu có gì bất trắc xẩy ra. Còn về phần trước mắt thì một số con dân được theo hầu công nương sẽ tìm được cách làm ăn. Đời nhà Trần công chúa Huyền Trân đã hy sinh đời mình mà chúng ta có đất sông Hương núi Ngự đây...”

Thế là nhờ lòng hy sinh của Ngọc Vạn mà bao nhiêu người Việt đã được theo vào khai khẩn đất Đồng Nai làm nên những ruộng đồng phì nhiêu. Khi vua Chetta II chết thì triều đình tranh quyền loạn cả lên, người theo phe Việt, người theo phe Thái. Cuộc nội chiến kéo dài tự diệt nhau, khiến dân tình điêu đứng khốn khổ. Hoàng hậu Ngọc Vạn kêu cháu là Hiền Vương vào cứu, cuối cùng mọi phe cánh qui về một mối do họ Nguyễn lãnh đạo.

 

CÔNG NƯƠNG NGỌC KHOA

 

Khi chúa Nguyễn giao hảo với Chân Lạp thì vua Po Rome của Chiêm Thành ở Đồ Bàn (Bình Định) cũng móc nối để xin cưới công nương Ngọc Khoa. Lần này Đào Duy Từ không phải nói nhiều vì Ngọc Khoa đã thấy gương chị. Thế là một đám cưới trọng thể nữa lại diễn ra tại phủ chúa Nguyễn rước công nương Ngọc Khoa về làm hoàng hậu xứ Chàm như công chúa Huyền Trân xưa.

Ngọc Khoa ở đất Chàm được 20 năm đã giúp cho tình thân hữu hai nước khăng khít, và nhất là đưa được nhiều dân Việt được vào khai khẩn lập nghiệp. Nhưng năm 1651 xẩy ra một cuộc nội loạn chia phe phái giết hại lẫn nhau, vua và hoàng hậu đều bị sát hại. Hiền Vương phải đưa quân vào cứu, dẹp tan loạn rồi đặt người Việt giữ đất trị an. Từ đó Chiêm Thành sát nhập vào lãnh thổ Việt thành những tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết.

 

BIÊN GIỚI NƯỚC VIỆT BÂY GIỜ LÀ ĐÂU?

 

Những người mẹ Việt Nam như vậy đấy. Vẫn luôn hy sinh đời mình cho tương lai con cháu. Mẹ lại bồng con vượt chạy tiếp, với cuộc di dân lớn của người mình xuống miền Nam vùng sông Đồng Nai, sông Cửu Long đầu thế kỷ thứ 17. Đến năm 1708 thì biên cương nước Việt đã tới Hà Tiên. Và mãi tới khoảng năm 1759 thì vua cuối cùng của Chân Lạp là Nặc Tôn trao đất cho Mặc Thiên Tứ và Mặc Thiên Tứ dâng lại cho chúa Nguyễn. Thế là biên giới phía nam nước ta tới Châu Đốc, Hà Tiên, mũi Cà Mau. Nghĩa là mới chỉ cách đây khoảng 250 năm thôi. 

Thế là mỗi người Việt đều giống như người lữ khách trong Con Đường Cái Quan của Phạm Duy cất lời ca:

Tôi đi từ Ai Nam Quan sau vài ngàn năm lẻ

Chia đôi một họ trăm con đã lên đường

....

Vua Lê dắt lính vô Trung

Tôi theo Chúa Nguyễn vượt Cù Mông tôi lên đường...

Con đường đó tưởng đã kết thúc ở:

Cửu Long Giang! Gió về vui trên sóng sông

Uốn quanh như chín con rồng ôm chặt đứa con ...

Người về Hậu giang xây tổ uyên ương

Có cánh đồng lúa chín uốn mình trên sóng sông.

Về miền Nam! Oi quê hương mới.

Về Cần Thơ khơi kinh khơi nước ngòi.

Về Hà Tiên ta tiễn chúa ra đảo khơi,

Về Cà Mau ta đốt biết bao lửa vui...

Nhưng con đường đó vẫn chưa phải là “đường đi đã tới” mà mới chỉ là tạm dừng bước chân vui thôi. Quả thực, đoạn kết Con Đường Cái Quan của Phạm Duy đã như một lời tiên tri. Vì nào ngờ biến cố 1975 đã mở biên cương ra đi muôn phương, đến tận cùng trái đất, thành con đường thế giới xa xôi, trong lòng dân chúng nơi nơi:

Đường đi đã tới, lòng dân đã nối!

Người tạm dừng bước chân vui, người ơi.

Người mơ ước tới: đường tan ranh giới

Để người được mãi đi trong một duyên tình dài.

Con đường thế giới xa xôi

Trong lòng dân chúng nơi nơi.

 

NGÀN NGÀN DẶM RA ĐI

 

Đối với nhiều người Việt thì biến cố 1975 là một biến cố đau buồn và xui xẻo. Cả triệu người phải bỏ nước ra đi, không phải chỉ ngàn dặm, mà cả ngàn ngàn dặm. Có bao giờ bạn thử để ra một buổi chiều ngồi trả lời với thực lòng mình câu hỏi tại sao tôi ra đi, và ra đi để làm gì không? Lúc ban đầu phải vùng vẫy để sống còn, chứ bây giờ câu hỏi đó được đặt ra bắt mỗi người đi xa phải trả lời chứ không trốn chạy được nữa.

Nhiều người lại nhìn biến cố 1975 một cách tích cực và lạc quan hơn. Cứ tưởng tượng Việt Nam phải đuổi theo Nhật Bản mất 150 năm thì bao giờ mới kịp! Đang khi ngay cả thời bình trước 1975, cả nước mình được mấy người du học? Vậy mà bây giờ Việt Nam có cả mấy trăm ngàn du học sinh thuộc đủ mọi ngành khác nhau. Nếu nhìn như vậy thì biến cố 1975 biết đâu lại là một cơ may. Chỉ có dịp duy nhất như vậy thì Việt Nam khi phục hưng mới có đủ nhân tài để có thể theo kịp đà tiến quá nhanh của thế giới ngày nay.

Những biến cố dồn dập của thế giới trong những năm qua cho người Việt càng ngày càng nhìn rõ hơn về một thời điểm Việt Nam. Và tương lai về một cuộc phục hưng xây lại quê hương không còn là chuyện viễn mơ nữa. Vậy thì câu hỏi được đặt ra lúc này phải là tôi đang chuẩn bị gì để góp phần xây dựng cho đại cuộc một Việt Nam phục sinh?

Trả lời câu hỏi đó, tự nhiên người Việt và nhất là lớp trẻ nhìn thấy rõ hướng đi cho cuộc sống ly hương. Và cũng tự nhiên những vấn đề lẩm cẩm giẵm chân tại chỗ ở nhiều tổ chức tìm ra lối thoát vươn tới trong một hừng đông tươi sáng.

 

ĐỔI SẮC HƯƠNG LẤY CÕI GIANG SAN

 

Mẹ Huyền Trân, Ngọc Vạn, Ngọc Khoa, có ý nói rằng con đường ra đi vào Nam để mở cõi bờ giang sơn dù sao cũng không dài bằng con đường đi vào lòng người, đi vào lòng muôn dân như những người Việt hiện nay. Mong người lữ khách nối tiếp công việc đi vào lòng đất nước và lòng người, để cuộc ra đi của mỗi người cũng mang tính cách lịch sử ”mở cõi giang san” nữa. Vì cuộc ra đi này là đi vào lòng thế giới, thu thập được tinh hoa của thế giới, phát huy nét giầu và đẹp của lối sống dân mình với thế giới.

Cuộc sống của mỗi người Việt hôm nay cũng được đánh đổi bằng bao tủi nhục của biết bao nhiêu người đã hy sinh ngã gục nằm xuống, chết tức tưởi trên mọi nẻo đường đất nước, trên đường vượt biên, cho mình sống còn mà làm một cái gì trả nợ, trả ơn, trả nghĩa cho quê hương, cho dân mình. Xác của bằng ấy người đã chết không phải là phi lý vô nghĩa, mà đang dồn lại, tích tụ thành tinh anh cho lớp trẻ đứng lên, chứ không chịu cúi mặt nhục nhằn mãi được. Cuộc ra đi và sống sót của mỗi người đâu có phải là tình cờ.

Việc ra đi là một đau buồn khổ nhục, nhưng cũng là một cơ may để dân mình vượt ra khỏi mảnh đất đã quá chật hẹp mà vươn lên với thế giới. Hãy quí yêu xây dựng mảnh đất mới, do máu xương của những Huyền Trân mới. Và hãy cố mà ngóc đầu lên, trả món nợ cho xứng với những người đã hy sinh cho mình, như lời người vượt biên theo bước mẹ Huyền Trân trong Con Đường Cái Quan của Phạm Duy:

Ai đi trên đường là dặm đường?

Đi đâu mà vội vã, cùng là hò khoan...

Khoan khoan tôi mời là mời bạn

Vui họp đoàn đêm nay chừ là nay.

Năm tê trong lúc sang xuân

Tôi theo công chúa Huyền Trân tôi lên đường.

Đường máu xương đã lắm oán thương

Đổi sắc hương lấy cõi giang san.

Tôi đi theo bước ái tình

Đi cho trăm họ được hòa bình ấm no.

Đèo núi cao nghe gió vi vu.

Thôi phấn son bay tới kinh đô.

Hò hô hò hò ơi hò.

Anh đi trên đường là gập ghềnh

Mau mau đi kẻo lỡ truyện tình nước non...

 

MỞ MANG BỜ CÕI MỚI

 

Thì ra dân mình đang mở mang thêm bờ cõi đấy. Bây giờ biên giới nước Việt là Sài Gòn Nhỏ ở Ca-Li, Phố Việt ở Hiu-Tân, Làng Việt ở Ngọc Lân v.v. Cộng đoàn, họ đạo, nhà thờ, đình chùa, hội trường, mọc lên khắp nơi. Với tên Việt, chủ quyền Việt, cứ tiếng Việt mà đả, báo chí sách vở tiếng Việt rất ư xôm tụ. Người Việt thành đạt trên mọi phương diện: làm giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, chủ tiệm, giám đốc cơ sở thương mại v.v.

Nước Mỹ trước đây mấy trăm năm là của người Da Đỏ chứ. Dân Xì, dân Anh, dân Tây da Trắng sang cắm dùi dựng chợ rồi bảo là của họ. Dân Hồng Mao lấn lướt, bắt nói tiếng Anh làm chính, rồi vì lắm ruộng tổn công mà phải đi mua dân Da Đen từ Phi Châu về làm nô lệ hầu hạ.

Bây giờ đến lượt phe ta. Có phải đất của ai hẳn đâu. Đất tạp chủng mà. Đỏ, Trắng, Đen, Vàng. Ai ở đâu thì bảo chỗ đó là đất của mình. Dân Da Đỏ rút vào sa mạc Arizona mà than thân trách phận. Cũng như dân Chàm, dân Chân Lạp xưa kia tự diệt nhau, số còn lại rút lên núi làm dân tộc thiểu số chứ có ai diệt chủng đâu.

 

LỜI TRỐI CỦA MẸ

 

Mẹ đang đi vào cuộc đời đang tới,

Mẹ đang đi vào thế kỷ ngày mai,

Sinh con anh hùng, người hiền nhân ái?

 

Hay sinh kẻ hèn, bạo chúa vô loài?

          (Phạm Duy, Ngàn Lời Ca trang 365)

Người mẹ Việt Nam có thể cũng đã để kỹ chiếc lông thiên nga đâu đây trong nhà. Vì chưa phải là lúc có thể trao lại cho con. Rồi có ngày con ngồi nghĩ lại, con sẽ nghe được lời Mẹ Việt Nam nhắn gửi:

“Đoàn con Việt ơi, bằng ấy năm đọa đầy vùi dập và cúi đầu chịu nhục đã đủ chưa?”

“Một mai con lớn lên con sẽ hiểu được chiếc lông thiên nga trong trái tim mẹ, khi mẹ đã ngậm tủi nuốt sầu mang con vượt biên. Con cố mà vươn lên con nhé. Gặp phải ai hay dân nào làm nhục con, con đừng mất hơi thù ghét nó. Hãy dành sức mà học thành tài, để có thể làm một cái gì gỡ nhục cho mẹ cho cha, cho dân tộc khổ đau của con. Bao nhiêu người đã chết trên biển cả, trên các bãi chiến trường một cách thê thảm, để cho con được sống đấy. Họ là những công chúa Huyền Trân mới, đổi xác thân mình cho con có một mảnh giang sơn mới”.

“Con còn sống sót không phải như một tình cờ, mà con đang mang một sứ mạng, một nhiệm vụ, một món nợ phải trả. Và con thấy không, cuộc ra đi có thể là một cơ nguy, nhưng cũng có thể là một cơ may, vì con đang có một cộng đoàn, đang có một biên cương mới. Con đang có cơ may mở mang bờ cõi cho đất Việt. Không còn bị chặn ở mũi Cà Mau, mà nay đã lan sang đất Au, đất Uc, đất Mỹ. Biên cương đất Việt đã bung ra khắp thế giới. Con hãy làm đẹp cho biên cương mới, làm cho cộng đoàn Việt hãnh diện hơn với sức góp phần của con. Con đang xây dựng đất nước con đấy, chứ không chỉ lo tìm vinh thân phì gia”.

 

CHUYẾN VƯỢT BIÊN LẦN CUỐI

 

Rồi Mẹ Lê Thị Thành cũng chẳng sống mãi mà nuôi con cái được. Mẹ lại chỉ đường cho con nhìn về một quê hương lâu bền, nơi sẽ đoàn tụ gia đình thực sự.

Mọi sự rồi cũng sẽ qua đi. Của cải vật chất sẽ tiêu tan hao mòn. Vì thế khi biết mình sắp lìa đời, vượt biên bờ sinh tử để đi vào cõi vô biên, mẹ trối lại những cái mà “mối mọt không thể gặm nát và trộm cắp không thể lai vãng được”, đó là hãy biết sắm sửa kho tàng trên Trời:

“Có Chúa lo liệu cho mẹ, con cứ về nói cho anh chị em con chăm sóc việc nhà, sáng tối đọc kinh, dự lễ, siêng năng xưng tội rước lễ, đừng khi nào bỏ đọc kinh tối sáng và nhớ cầu nguyện cho mẹ vác thánh giá đến cùng. Chúng con phải thương yêu nhau, sống hòa thuận, và nhất là lo giữ đạo cho sốt sắng. Mẹ mà bỏ đạo, bỏ Chúa về với các con thì rồi mẹ cũng sẽ chết chứ có lột xác mà sống mãi với các con đâu. Nếu mẹ trung thành với Chúa thì mẹ sẽ sớm về với Người mà chờ đợi chúng con đoàn tụ trên thiên đàng. Lúc đó gia đình ta sẽ được hạnh phúc mãi mãi.”

Đời người gồm nhiều cuộc vượt biên ra đi. Lần đầu ra đi từ bụng mẹ mà sinh vào trần thế. Rồi lại phải từ giã mái ấm gia đình tuổi thơ mà ra đi vào cuộc đời làm người lớn. Hoạt động vẫy vùng ngang dọc rồi cũng phải đi vào tuổi mùa thu lá vàng. Mỗi cuộc ra đi đều bắt đầu bằng những tiếng khóc. Nhưng cuộc ra đi lần cuối xem chừng gây nhiều chấn động bên trong hơn. Ai mà chả ham giữ lấy sự sống vì tưởng rằng chết là hết. Cho đến khi mở mắt nhìn thấy một cõi sống mới, mà cái chết là ngưỡng cửa bước vào. Người Việt mình gọi lúc chết là sinh thì, nghĩa là lúc bắt đầu sống.

Mẹ biết nhìn xa hơn, cao hơn, và dẫn đoàn con vượt biên theo. Vẫn chỉ là một con đường vượt biên ngàn ngàn dặm ra đi mở bờ cõi mới. Từ cánh đồng Tương sông Dương Tử, từ sông Hồng, sông Hương, sông Đồng Nai, sông Cửu Long. Và bây giờ có thể là sông Cô (Miss. River), tức sông Mississippi, Con Đường Cái Quan luôn vượt tới.

Chuyến ra đi lần cuối vượt cả không gian, vượt cả thời gian, vượt bờ sinh tử. Vượt biên nước Việt, vượt biên thế giới, vượt biên cuộc đời, mà đi vào Đường Nở Hoa miên viễn. Đó cũng chính là lúc lên đường: Mẹ thấy hoa hồng đang nở đó con.

 

 

TRẦN CAO TƯỜNG

NGÀN NGÀN DẶM RA ĐI

 

VỀ MỤC LỤC