|
Bài trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông Đồ.
Anh em thân mến, như trẻ sơ sinh, anh em hãy thèm khát sữa thiêng liêng trong sạch, để nhờ đó anh em được lớn lên trong ơn cứu độ, khi anh em nếm được Chúa ngon ngọt dường nào. Anh em hãy tiến đến viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng được Chúa tuyển chọn và tôn vinh. Anh em như những viên đá sống động, hãy để Chúa xây dựng anh em nên tòa nhà thiêng liêng, nên chức vụ linh mục thánh, để hiến dâng những của lễ thiêng liêng xứng đáng được Thiên Chúa chấp nhận nhờ Đức Giêsu Kitô.
Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế hoàng vương , là dân tộc thánh thiện, dân riêng của Chúa, để rao giảng quyền năng của Đấng đã gọi anh em ra khỏi tối tăm mà vào ánh sáng kỳ diệu của Người. Anh em xưa kia không phải là dân của Chúa, nhưng nay là dân của Người; xưa kia anh em không được xót thương, nhưng nay được thương xót.
Anh em thân mến, tôi khuyên anh em: như những người di cư tỵ nạn, hãy xa tránh những đam mê xác thịt hằng chống lại linh hồn. Anh em hãy sống lương thiện giữa dân ngoại, để dù người ta vu khống anh em như những người gây rối, nhưng khi thấy được việc lành của anh em, họ phải ngượi khen Thiên Chúa trong ngày Người đến viếng thăm.
ĐÁP CA (Tv. 100:2-5)
Đáp: Hãy vào trước thiên nhan với lòng hân hoan phấn khởi.
- Toàn thể địa cầu, hãy reo mừng Thiên Chúa, hãy phụng sự Thiên Chúa với niềm vui vẻ. Hãy vào trước thiên nhan với lòng hân hoan phấn khởi.
- Hãy biết rằng Chúa là Thiên Chúa, chính Người đã tạo tác thân ta, và ta thuộc về Người. Ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi.
- Ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi. Hãy bước vào cổng nhà Người với lời khen ngợi, vào hành lang với khúc ca vui. Hãy tán dương, hãy chúc tụng danh Người.
- Vì Thiên Chúa, Người thiện hảo, lòng từ bi Người tồn tại muôn đời, và lòng trung tín Người còn tới muôn muôn thế hệ. kttd02 (Gioan 1:35-42)
Bài trích Phúc âm theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Gioan đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông nhìn theo Chúa Giêsu đang đi mà nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa." Hai môn đệ nghe ông nói liền đi theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu ngoảnh mặt lại, thấy họ đi theo mình, thì nói với họ: "Các ngươi tìm gì"? Họ thưa với Người: "Rabbi, nghĩa là thưa Thầy, Thầy ở đâu?" Người đáp: "Hãy đến mà xem." Họ đã đến và xem chỗ Ngừơi ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy, lúc đó độ chừng bốn giờ chiều.
Anrê, em ông Simon Phêrô, một trong hai người đã nghe Gioan nói và đã đi theo Chúa Giêsu, đi gặp Simon anh mình trước hết và nói với anh: "Chúng tôi đã gặp Đấng Messia, nghĩa là Đấng Kitô." Và ông dẫn anh mình tới Chúa Giêsu. Chúa Giêsu nhìn Phêrô và nói: "Ngươi là Simon con ông Gioan, ngươi sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là Đá."
ĐÁP CA (TV 34: 2-7)
Các bạn hãy nếm thử và hãy nhìn coi cho biết Chúa thiện hảo nhường bao.
- Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện. Bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui.
- Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhận lời, và Người đã cứu tôi khỏi điều lo sợ.
- Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn. kttd04 (Gioan 5:1-15)
Hôm đó là ngày lễ của người Do Thái, Chúa Giêsu lên Giêrusalem. Tại Giêrusalem gần cửa Chiên có một cái hồ, tiếng Do Thái gọi là Bethesda, chung quanh có năm hành lang. Trong các hành lang này có rất nhiều người đau yếu, mù lòa, què quặt, bất toại, nằm la liệt. Trong số đó, có một người nằm đau liệt đã 38 năm. Chúa Giêsu thấy người ấy nằm đó và biết anh đã đau từ lâu, liền hỏi: "Anh có muốn được lành bệnh không?" Người đó thưa: "Thưa Ngài, tôi không được ai đem xuống hồ mỗi khi nước động. Khi tôi lết tới thì có người xuống trước tôi rồi." Chúa Giêsu nói: "Anh hãy đứng dậy vác chõng mà về." Tức khắc người ấy được lành bệnh. Anh ta vác chõng và đi. Nhưng hôm đó lại là ngày Sabbat, nên người Do Thái bảo người vừa được khỏi bệnh rằng: "Hôm nay là ngày Sabbat, anh không được phép vác chõng." Anh ta trả lời: Chính người chữa tôi lành bệnh bảo tôi: vác chõng mà đi." Họ hỏi: "Ai là người đã bảo anh: vác chõng mà đi"? Nhưng kẻ đã được chữa lành không biết Người là ai, vì Chúa Giêsu đã lánh vào đám đông tụ tập nơi đó. Sau đó, Chúa Giêsu gặp anh trong đền thờ, Người nói: "Này, anh đã được lành bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn khổ hơn trước." Anh ta đi nói cho người Do Thái biết: Chính Chúa Giêsu là người đã chữa anh ta lành bệnh. kttd05 (Gioan 4:4-18)
Khi ấy, Chúa Giêsu đến một thành gọi là Sy-kar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ bên bờ giếng, lúc đó vào khoảng giữa trưa.
Có một ngừơi đàn bà xứ Samaria đến kín nước,Chúa Giêsu bảo: "Xin chị cho tôi uống nước." (Lúc ấy các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: "Sao thế! Ông là người Do Thái mà lại xin nước uống với tôi là người Samaria à?" Chúa Giêsu đáp: "Nếu chị nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với chị: xin cho tôi nước uống, thì chắc chị sẽ xin Người, và Người sẽ cho chị nước hằng sống." Ngừơi đàn bà nói: "Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này, và chính người đã uống giếng nước này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?" Chúa Giêsu trả lời:
"Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta cho thì sẽ không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho sẽ thành một dòng suối vọt lên trong lòng phát sinh sức sống vĩnh cửu."
Người đàn bà thưa: "Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó, để tôi chẳng còn khát và khỏi phải đến đây xách nước nữa." Chúa Giêsu bảo "Chị hãy đi gọi chồng chị rồi lại đây." Người đàn bà đáp: "Tôi không có chồng." Chúa Giêsu nói tiếp: "Chị nói không có chồng là phải, vì chị đã có tới năm chồng, và người đàn ông đang chung sống với chị không phải là chồng chị, chị đã nói đúng đó." Người đàn bà nói: "Ngài là một tiên tri.". Gioan 3:14-21
Khi ấy, Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô rằng: "Như Môisen đã treo con rắn lên ở sa mạc thế nào, thì con người cũng sẽ phải treo lên như vậy, để tất cả những ai tin ở Người, sẽ không bị hủy diệt, nhưng được sự sống đời đời. Vì Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình, để tất cả những ai tin Con Ngài thì không phải hư mất, nhưng được sự sống đời đời. Vì Thiên Chúa không sai Con của Ngài giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con Ngài mà được cứu độ. Ai tin người con ấy thì không bị luận phạt. Ai không tin thì đã bị luận phạt rồi, vì không tin vào danh Con Một Thiên Chúa. Và đây là án phạt: là sự sáng đã đến thế gian, và người đời đã yêu sự tối tăm hơn sự sáng, vì hành động của họ xấu xa. Thật vậy, ai hành động xấu xa thì ghét sự sáng và không đến cùng sự sáng, sợ những việc làm của mình bị khiển trách. Nhưng ai hành động trong sự thật thì đến cùng sự sáng, để hành động của họ được sáng tỏ là họ đã lam trong Thiên Chúa."
kttd03 Gia Đình. Luca 2:41-52.
Hằng năm Cha Mẹ Chúa Giêsu có thói quen lên Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua. Lúc bấy giờ Chúa Giêsu lên mười hai tuổi, cha mẹ Người đã lên Giêrusalem, theo tục lệ mừng ngày lễ Vượt Qua. Và khi những ngày lễ đã hoàn tất, hai ông bà ra về. Trẻ Giêsu đã ở lại Giêrusalem mà cha mẹ Người không hay biết, tưởng rằng Người ở trong nhóm các khách đồng hành. Hai ông bà đi được một ngày đàng, mới tìm kiếm Người trong nhóm bà con và những kẻ quen biết, nhưng không gặp thấy Người, nên hai ông bà trở lại Giêrusalem để tìm Người.
Sau ba ngày, hai ông bà gặp thấy Người trong đền thờ, đang ngồi giữa các thầy tiến sĩ, nghe và hỏi các ông. Tất cả những ai nghe Người nói, đều ngạc nhiên trước sự hiểu biết và những câu Người đáp lại. Nhìn thấy Người, hai ông bà đã ngạc nhiên, và Mẹ Người bảo Người rằng: "Con ơi, Sao con làm cho chúng ta như thế? Kìa cha con và mẹ đây đã đau khổ tìm con." Người thưa với hai ông bà rằng: "Mà tại sao cha mẹ tìm con? Cha mẹ không biết rằng con phải lo công việc của cha con ư?" Nhưng hai ông bà không hiểu lời Người nói.
Bấy giờ Người theo hai ông bà trở về Nazaret, và Người vâng phục hai ông bà. Maria mẹ Người thì ghi nhớ những việc đó trong lòng. Còn Chúa Giêsu thì phát triển trong sự khôn ngoan, tuổi tác và ân sủng, trước mặt Thiên Chúa và người ta. kttd06. ĐĐTN. Cây nho và cành nho (Gioan 15:1-8.
Khi ấy Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Thầy là cây nho thật, và cha Thầy là người trồng nho. Cành nào trong Thầy không sinh trái thì Người chặt đi, còn cành nào sinh trái thì Người tỉa sạch để nó sai trái hơn. Các con đã được tỉa sạch nhờ lời Thầy đã nói với các con. Các con ở trong Thầy và Thầy ở trong các con. Cũng như cành nho tự nó không sinh trái được, nếu không dính liền với cây nho, các còn cũng vậy, nếu không ở trong Thày. Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, kẻ ấy sẽ sinh nhiều trái, vì không có Thầy chúng con không làm gì được. Ai không ở trong Thầy thì bị vất ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo, người ta sẽ thu lại quăng vào lửa cho nó cháy đi. Nếu các con ở trong Thầy, và lời Thầy ở trong các con, thì các con muốn gì, cứ xin, và sẽ được. Đây là điều làm cha Thầy được vinh hiển là các con sinh nhiều trái, và như thế các con trở nên môn đệ Thầy."kttd07. Rửa Chân. Gioan 13:1-15.
Trước ngày lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết đã đến giờ mình bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, thì đã yêu thương họ đến cùng.
Sau bữa ăn tối, ma quỉ gieo vào lòng Giuđa Iscariô, con Simon, ý định nộp Người. Người biết rằng Chúa Cha đã trao phó mọi sự trong tay mình, và vì Người bởi Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về cùng Thiên Chúa. Người chỗi dậy, cởi áo, lấy khăn thắt lưng, rồi đổ nước vào chậu, Người liền rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.
Vậy Người đến chỗ Simon Phêrô, ông này thưa Người rằng: "Lạy Thầy, Thầy định rửa chân cho con ư?" Chúa Giêsu đáp: "Việc Thày làm bây giờ con chưa hiểu, nhưng sau sẽ hiểu." Phêrô thưa lại "Không đời nào Thầy sẽ rửa chân cho con." Chúa Giêsu bảo: "Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy." Phêrô liền thưa: "Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa. Chúa Giêsu nói: "Kẻ mới tắm rồi chỉ cần rửa chân, vì cả mình đã sạch. Tuy các con đã sạch, nhưng không phải hết thảy đâu." Vì Người biết ai sẽ nộp Thầy nên mới nói: "Không phải tất cả các con đều sạch đâu."
Sau khi đã rửa chân cho các ông, Người mặc áo lại, và khi đã trở về chỗ cũ, Người nói: "Các con có hiểu biết việc Thầy vừa làm cho các con chăng? Các con gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm, vì đúng thật Thầy như vậy. Vậy nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Vì Thầy đã làm gương cho các con, để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con. Matthêô 1: 18 - 25
Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: Mẹ Người là Maria đính-hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ-thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giuse bạn của bà là người công-chính, không muốn tố cáo bà, nên định-tâm bỏ bà cách kín-đáo. Nhưng đang khi định-tâm như vậy, thì Thiên-Thhần hiện đến cùng ông trong giấc mơ và bảo: "Hỡi Giuse con vua Đavít, đừng ngại nhận Maria về nhà làm bạn mình: vì Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần. Bà sẽ hạ-sinh một con trai mà ông đặt tên là Giêsu: vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội. Tất cả sự kiện nầy đã được thực hiện để làm trọn lời Chúa dùng miệng tiên tri phán xưa rằng: "Nầy đây một trinh-nữ sẽ thụ thai, hạ-sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta". Khi tỉnh dậy, Giuse đã thực hiện như lời Thiên-Thần Chúa truyền; ông tiếp nhận bạn mình, nhưng không ăn ở với nhau cho đến khi Maria sinh con trai đầu lòng, thì Giuse đặt tên con trẻ là Giêsu.
TÔNG ĐỒ CÔNG VỤ 2: 42 - 47
Những người này chăm chỉ nghe các tông đồ giảng dạy, siêng năng cùng nhau dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện. Ai nấy đều kính sợ, vì các tông đồ làm nhiều sự lạ. Các tính hữu sống hợp nhất và để mọi của làm của chung. Họ bán ruộng đất, gia sản, lấy tiền phân chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu. Hàng ngày, họ cùng nhau đi viếng Đền thờ, họ bẻ bánh ở tư gia và ăn uống đơn sơ, vui vẻ. Họ ngợi khen Thiên Chúa và được dân chúng yêu mến. Nhờ ơn Chúa mỗi ngày số người được cứu rỗi một thêm đông.KINH THÁNH.
Thao Luyện 1
A. Bài trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông Đồ. (1 Phêrô 2:2-5;9-12)
Anh em thân mến, như trẻ sơ sinh, anh em hãy thèm khát sữa thiêng liêng trong sạch, để nhờ đó anh em được lớn lên trong ơn cứu độ, khi anh em nếm được Chúa ngon ngọt dường nào. Anh em hãy tiến đến viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng được Chúa tuyển chọn và tôn vinh. Anh em như những viên đá sống động, hãy để Chúa xây dựng anh em nên tòa nhà thiêng liêng, nên chức vụ linh mục thánh, để hiến dâng những của lễ thiêng liêng xứng đáng được Thiên Chúa chấp nhận nhờ Đức Giêsu Kitô.
Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả cao sang, là dân tộc thánh thiện, dân riêng của Chúa, để rao giảng quyền năng của Đấng đã gọi anh em ra khỏi tối tăm mà vào ánh sáng kỳ diệu của Người. Anh em xưa kia không phải là dân của Chúa, nhưng nay là dân của Người; xưa kia anh em không được xót thương, nhưng nay được thương xót.
Anh em thân mến, tôi khuyên anh em: như những người di cư tỵ nạn, hãy xa tránh những đam mê xác thịt hằng chống lại linh hồn. Anh em hãy sống lương thiện giữa dân ngoại, để dù người ta vu khống anh em như những người gây rối, nhưng khi thấy được việc lành của anh em, họ phải ngượi khen Thiên Chúa trong ngày Người đến viếng thăm.
B. Bài Trích Sách Tiên Tri Isaia (Isaia 40:9-11;29-31)
Hãy trèo lên trên khắp núi đồi, hỡi Sion, người loan tin mừng. Hãy gióng tiếng cho mạnh, hỡi Giêrusalem, người loan tin mừng. Cứ gióng tiếng lên, đừng sợ. Hãy bảo các thành Giuđa: Kìa Thiên Chúa các ngươi thờ. Kìa Đức Giavê, người đến uy hùng, cánh tay người làm người thống trị. Kìa, công của người theo bên, và đàng trước Người, sản nghiệp Người đa làm ra. Như mục tử, Người chăn đàn chiên của Người. Cánh tay Người thâu họp chúng lại. Người bồng chiên con và dìu chiên mẹ nuôi con đi.
Thao Luyện 2
Bài trích Phúc âm theo Thánh Gioan. (Gioan 1:35-42)
Khi ấy, Gioan đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông nhìn theo Chúa Giêsu đang đi mà nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa." Hai môn đệ nghe ông nói liền đi theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu ngoảnh mặt lại, thấy họ đi theo mình, thì nói với họ: "Các ngươi tìm gì"? Họ thưa với Người: "Rabbi, nghĩa là thưa Thầy, Thầy ở đâu?" Người đáp: "Hãy đến mà xem." Họ đã đến và xem chỗ Ngừơi ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy, lúc đó độ chừng bốn giờ chiều.
Anrê, em ông Simon Phêrô, một trong hai người đã nghe Gioan nói và đã đi theo Chúa Giêsu, đi gặp Simon anh mình trước hết và nói với anh: "Chúng tôi đã gặp Đấng Messia, nghĩa là Đấng Kitô." Và ông dẫn anh mình tới Chúa Giêsu. Chúa Giêsu nhìn Phêrô và nói: "Ngươi là Simon con ông Gioan, ngươi sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là Đá."
ĐÁP CA (TV 34: 2-7)
Các bạn hãy nếm thử và hãy nhìn coi cho biết Chúa thiện hảo nhường bao.
- Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện. Bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui.
- Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhận lời, và Người đã cứu tôi khỏi điều lo sợ.
- Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn. Thao Luyện 3
Phúc âm theo Thánh Luca. (Luca 2:41-52)
Hằng năm Cha Mẹ Chúa Giêsu có thói quen lên Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua. Lúc bấy giờ Chúa Giêsu lên mười hai tuổi, cha mẹ Người đã lên Giêrusalem, theo tục lệ mừng ngày lễ Vượt Qua. Và khi những ngày lễ đã hoàn tất, hai ông bà ra về. Trẻ Giêsu đã ở lại Giêrusalem mà cha mẹ Người không hay biết, tưởng rằng Người ở trong nhóm các khách đồng hành. Hai ông bà đi được một ngày đàng, mới tìm kiếm Người trong nhóm bà con và những kẻ quen biết, nhưng không gặp thấy Người, nên hai ông bà trở lại Giêrusalem để tìm Người.
Sau ba ngày, hai ông bà gặp thấy Người trong đền thờ, đang ngồi giữa các thầy tiến sĩ, nghe và hỏi các ông. Tất cả những ai nghe Người nói, đều ngạc nhiên trước sự hiểu biết và những câu Người đáp lại. Nhìn thấy Người, hai ông bà đã ngạc nhiên, và Mẹ Người bảo Người rằng: "Con ơi, Sao con làm cho chúng ta như thế? Kìa cha con và mẹ đây đã đau khổ tìm con." Người thưa với hai ông bà rằng: "Mà tại sao cha mẹ tìm con? Cha mẹ không biết rằng con phải lo công việc của cha con ư?" Nhưng hai ông bà không hiểu lời Người nói.
Bấy giờ Người theo hai ông bà trở về Nazaret, và Người vâng phục hai ông bà. Maria mẹ Người thì ghi nhớ những việc đó trong lòng. Còn Chúa Giêsu thì phát triển trong sự khôn ngoan, tuổi tác và ân sủng, trước mặt Thiên Chúa và người ta.
Thao Luyện 4
Phúc âm theo Thánh Gioan. (Gioan 4:4-18)
Khi ấy, Chúa Giêsu đến một thành gọi là Sy-kar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ bên bờ giếng, lúc đó vào khoảng giữa trưa.
Có một ngừơi đàn bà xứ Samaria đến kín nước,Chúa Giêsu bảo: "Xin chị cho tôi uống nước." (Lúc ấy các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: "Sao thế! Ông là người Do Thái mà lại xin nước uống với tôi là người Samaria à?" Chúa Giêsu đáp: "Nếu chị nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với chị: xin cho tôi nước uống, thì chắc chị sẽ xin Người, và Người sẽ cho chị nước hằng sống." Ngừơi đàn bà nói: "Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này, và chính người đã uống giếng nước này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?" Chúa Giêsu trả lời:
"Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta cho thì sẽ không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho sẽ thành một dòng suối vọt lên trong lòng phát sinh sức sống vĩnh cửu."
Người đàn bà thưa: "Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó, để tôi chẳng còn khát và khỏi phải đến đây xách nước nữa." Chúa Giêsu bảo "Chị hãy đi gọi chồng chị rồi lại đây." Người đàn bà đáp: "Tôi không có chồng." Chúa Giêsu nói tiếp: "Chị nói không có chồng là phải, vì chị đã có tới năm chồng, và người đàn ông đang chung sống với chị không phải là chồng chị, chị đã nói đúng đó." Người đàn bà nói: "Ngài là một tiên tri.".
Thao Luyện 5
Phúc âm theo Thánh Gioan. (Gioan 3:14-21)
Khi ấy, Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô rằng: "Như Môisen đã treo con rắn lên ở sa mạc thế nào, thì con người cũng sẽ phải treo lên như vậy, để tất cả những ai tin ở Người, sẽ không bị hủy diệt, nhưng được sự sống đời đời. Vì Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình, để tất cả những ai tin Con Ngài thì không phải hư mất, nhưng được sự sống đời đời. Vì Thiên Chúa không sai Con của Ngài giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con Ngài mà được cứu độ. Ai tin người con ấy thì không bị luận phạt. Ai không tin thì đã bị luận phạt rồi, vì không tin vào danh Con Một Thiên Chúa. Và đây là án phạt: là sự sáng đã đến thế gian, và người đời đã yêu sự tối tăm hơn sự sáng, vì hành động của họ xấu xa. Thật vậy, ai hành động xấu xa thì ghét sự sáng và không đến cùng sự sáng, sợ những việc làm của mình bị khiển trách. Nhưng ai hành động trong sự thật thì đến cùng sự sáng, để hành động của họ được sáng tỏ là họ đã làm trong Thiên Chúa."
Thao Luyện 6
Phúc âm theo thánh MatCô (Marcô 16:15-20)
Khi ấy Chúa Giêsu hiện ra với mười một môn đệ và phán:
"Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật. Ai tin và chịu Phép Rửa thì sẽ được cứu độ; ai không tin sẽ bị luận phạt. Và đây là phép lạ đi theo những người đã tin: nhân danh Thầy họ sẽ trừ quỉ, nói các thứ tiếng mới lạ, cầm rắn trong tay, và nếu uống phải chất độc, thì cũng không bị hại; họ đặt tay trên những người bệnh, và bệnh nhân sẽ được lành mạnh".
Vậy sau khi nói với các môn đệ, Chúa Giêsu lên trời, và ngự bên hữu Thiên Chúa. Phần các ông, các ông đi rao giảng khắp mọi nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và củng cố lời giảng dạy bằng những phép lạ kèm theo.
Thao Luyện 7
Bài 1: Trích Sách Tông Đồ Công Vụ. (TĐCV 2:42-47)
Họ hăng hái tham gia các buổi giáo huấn của các Tông Đồ, và tham dự đời sống chung, cùng nhau bẻ bánh và cầu nguyện. Mọi người đều kính sợ vì có nhiều dấu kỳ phép lạ do các Tông Đồ đã làm.
Những người tin theo đều chia sẻ mọi sự làm của chung. Họ bán hết của cải và ruộng đất để phân phát cho mọi người tùy theo nhu cầu của mỗi người. Hằng ngày họ cùng nhau họp tại đền thờ, còn ở nhà thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau với tinh thần vui tươi chân thành. Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân mến phục. Càng ngày Chúa càng làm tăng số những kẻ được chọn lựa gia nhập.
Bài 2: Phúc âm theo Thánh Gioan. (Gioan 13:1-15)
Trước ngày lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết đã đến giờ mình bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, thì đã yêu thương họ đến cùng.
Sau bữa ăn tối, ma quỉ gieo vào lòng Giuđa Iscariô, con Simon, ý định nộp Người. Người biết rằng Chúa Cha đã trao phó mọi sự trong tay mình, và vì Người bởi Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về cùng Thiên Chúa. Người chỗi dậy, cởi áo, lấy khăn thắt lưng, rồi đổ nước vào chậu, Người liền rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.
Vậy Người đến chỗ Simon Phêrô, ông này thưa Người rằng: "Lạy Thầy, Thầy định rửa chân cho con ư?" Chúa Giêsu đáp: "Việc Thày làm bây giờ con chưa hiểu, nhưng sau sẽ hiểu." Phêrô thưa lại "Không đời nào Thầy sẽ rửa chân cho con." Chúa Giêsu bảo: "Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy." Phêrô liền thưa: "Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa. Chúa Giêsu nói: "Kẻ mới tắm rồi chỉ cần rửa chân, vì cả mình đã sạch. Tuy các con đã sạch, nhưng không phải hết thảy đâu." Vì Người biết ai sẽ nộp Thầy nên mới nói: "Không phải tất cả các con đều sạch đâu."
Sau khi đã rửa chân cho các ông, Người mặc áo lại, và khi đã trở về chỗ cũ, Người nói: "Các con có hiểu biết việc Thầy vừa làm cho các con chăng? Các con gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm, vì đúng thật Thầy như vậy. Vậy nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Vì Thầy đã làm gương cho các con, để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con.
|