|
2 NHẶT ĐÁ VỚI THẰNG MỸ VÀNG
Lãnh đá nhiều thì thế nào cũng bị thương rồi. Cùng chung số phận với bao người tất tưởi tan tác ra đi vào năm 1975, là một linh mục mới ra lò, tôi cũng trải qua một cuộc đổi đời sầu thảm. Linh mục cũng xếp hàng xin từng bữa ăn trong các trại tỵ nạn như ở Subic Bay, Guam, Indian Town Gap, Fort Chaffee.... Linh mục cũng ghi tên đi làm công tác dọn vệ sinh cùng với các sĩ quan, giáo sư đại học hay người bình dân. Tất cả đều mang những con số ký danh như nhau, bằng nhau. Không còn thế đứng thế ngồi gì ráo trọi. Chẳng ai dám bảo ai trịch thượng hơn ai.
Đó là ”quán trọ trước cổng Thiên Đường” hay là ”lò thanh tẩy?” Câu hỏi được đặt ra trong tâm khảm linh mục là: tại sao tôi có mặt nơi đây? Một tình cờ dun dủi, một cuộc chạy trốn hay có một sứ mạng nào không? Linh mục trong cô đơn và đen tối hãi hùng luôn phải tìm cho mình câu trả lời và chỉ cho người khác lẽ sống.
TRÊN BỜ SÔNG MISSISSIPPI TÔI NGỒI TÔI KHÓC
Vào xứ Mỹ, nhiều linh mục cũng phải lo học tiếng Anh trẹo cả miệng mà cũng không nói xuôi, vì trước đây chỉ học tiếng Pháp, hoặc chỉ học chữ thôi chứ có dịp đâu mà nói. Rồi cũng đâu vào đó. Người coi xứ Mỹ, người coi xứ Việt. Đoàn chiên mới. Tâm lý mới. Đồng cỏ mới. Sự khó ngày nào đủ cho ngày đó. Một ngày như mọi ngày... không biết có ai trả lại đời tôi không?
Ngày xưa trong đoàn người đi lưu đầy bên Babylon, cũng có một tư tế được biết đến tên là Ezekiel. Ông cũng trải qua với dân tộc Do Thái những lúc xem ra mọi sự đã đổ vỡ, và cuộc sống xem ra hoàn toàn phi lý như vậy. Ngồi ở bờ sông Mississippi hay bờ sông Babylon, mình là người xa xứ làm sao có thể tổ chức được văn nghệ ca hát mua vui!
Bờ sông Ba-by-lon Ta ra ngồi nức nở Mà tưởng nhớ Si-on; Trên những cành dương liễu, Ta tạm gác cây đàn.
Bọn lính canh đòi ta hát xướng, Lũ cướp này mời gượng vui lên: “Hát đi, hát thử đi xem Si-on điệu thánh nhạc quen một bài”.
Làm sao ta hát nổi Nơi đất khách quê người? (Thánh vịnh 137)
Nhưng với Thị Kiến Phục Sinh, tư tế Ezekiel đã khơi dậy cho những kẻ lưu đầy khốn cùng nhất một niềm tin: dù qua đêm đen tăm tối giữa vùng mồ mả đầy xác chết, Thiên Chúa vẫn đang dẫn đầu hướng đi lịch sử của dân tộc. Thần Khí Chúa đang làm cho những gì rã rời nhất chỗi dậy thành một đoàn người sống lại.
KẺ NHẶT ĐÁ TRÊN ĐƯỜNG TỴ NẠN
Trên đường chạy đi tỵ nạn tránh ông anh Esau hung hăng dữ tợn, Gia-cóp đã chẳng có thể hiểu được tại sao nhiều chuyện xẩy ra ngược ngạo quá chừng. Gia-cóp cũng bị lãnh đá ốm đòn. Ông bố mới thay quyền Đức Giavê ”truyền chức” với những lời chúc lành cao độ, thế mà bây giờ phải bỏ nhà mà chạy trối chết sang đất Haran, đá văng vãi chặn vít khắp lối đi. Chán nản và mệt mỏi, dọc đường Gia-cóp đã nằm vật xuống đất Bethel mà ngủ, nhặt một hòn đá gối đầu. Trong cơn mơ, ông đã thấy một cái thang bắc lên trời, có các thiên thần đi lên đi xuống. Và Gia-cóp nghe rõ Chúa nói:
"Đất con đang nằm, Cha sẽ ban cho con và dòng giống con. Dòng giống con sẽ đông như cát bụi bành trướng ra đông tây nam bắc. Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ lấy tên con mà cầu chúc cho nhau. Và này Cha ở cùng con, Cha sẽ gìn giữ con khắp nơi con đi. Cha sẽ đem con về lại đất này, vì Cha sẽ không bỏ con, sao cho đến lúc Cha hoàn tất các điều Cha phán với con."
Gia-Cóp tỉnh dậy nói rằng: "Quả thật, có Chúa ở chỗ này mà tôi không biết". Và chàng kinh ngạc thốt lên: "Lạ lùng thay chỗ này. Đúng đây là nhà của Thiên Chúa và là cửa trời, chứ không thể khác được". Đến sáng, chàng dậy sớm, lấy viên đá mà chàng đã đặt làm gối đầu, dựng làm trụ đá và đổ dầu trên đầu trụ. (Khởi Nguyên 28:13-18)
ĐI NHẶT ĐÁ VỚI THẰNG MỸ VÀNG
Vì tôi là linh mục tỵ nạn, cũng bỏ nước nhà mà chạy sang Mỹ, liệu biến cố tan cửa nát nhà có phải là hòn đá để tôi có thể nhặt làm gối đầu giường không? Và hòn đá xu xi cứng cỏi đó liệu có thể trở thành bánh ăn hay là mốc ghi nơi tôi gặp Chúa trong cuộc đời không? Chỉ biết một điều: tôi đang bị thương nặng. Tôi phải phấn đấu nhiều lần mỗi khi lên công bố Tin Mừng của Chúa. Làm sao tôi có thể loan báo Tin Mừng đang khi mặt tôi nặng trĩu u sầu, và tôi cũng chưa tìm ra được câu trả lời cho bao nhiêu chuyện ”trời ơi đất hỡi” xẩy ra cho tôi và dân tộc tôi!
Sách Xuất hành kể lại truyện người tỵ nạn Môisen, sau khi phải rời bỏ đời sống bình lặng và quyền quí trong cung vua xứ Ai Cập, phải trốn chạy đi chăn chiên tại xứ lạ quê người mãi tận trong sa mạc hoang vu. Cuộc đổi đời quá đột ngột gây chấn động quá mạnh, làm sao không gây khủng hoảng?! Vì tôi là linh mục tỵ nạn, tôi cũng rên la như Nguyễn Du:
Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
“Môisen đã thành mục tử chăn dê cừu cho Yêthrô nhạc phụ của ông, là tư tế của Madian. Ông lùa đàn chiên vào tận cùng sa mạc mãi đến núi của Thiên Chúa là Horeb. Thần sứ của Giavê đã hiện ra với ông trong ngọn lửa giữa bụi gai. Ông nhìn kỹ lấy làm lạ là bụi gai bốc lửa nhưng không bị cháy. Môisen tự nhủ: ”Ta tạt qua nhìn quang cảnh kỳ lạ ấy mới được: làm sao bụi gai lại không bị cháy thiêu đi”. Giavê thấy ông tạt qua để nhìn xem thì gọi ông từ giữa bụi gai: ”Môisen! Môisen!”. Ông thưa ”Này con đây”. Và Chúa phán: ”Chớ lại gần! Hãy cởi giầy khỏi chân, vì chỗ ngươi đứng là nơi thánh đó!” Và Chúa phán: ”Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacob!” Môisen đã che mặt đi vì ông sợ không dám nhìn đến Thiên Chúa.” (Xuất Hành 3:1-6)
Quả là thầy thuốc bị thương. Vết thương ngày đêm âm ỷ khiến tôi giẫy giụa vật vã. Nhưng nhìn chung quanh, bao nhiêu người cũng đang quằn quại như vậy. Biết bao tan vỡ, chia ly, xa cách. Biết bao nước mắt, uất nghẹn, tức tưởi, nhục nhằn. Có rất nhiều người "độc thân tại chỗ," bỏ lại gia đình. Họ đang cần tôi, một người cũng bị thương như họ.
Vào khoảng năm 1977 hay 1978 gì đó, từ những lăn lộn với những người độc thân bất đắc dĩ, tôi viết trên báo loạt bài "Thằng Mỹ Vàng," đặt mình vào tâm trạng của chính những người bị lãnh đá thảm nhất. Mấy anh em độc thân này tự tạo ra một nhóm bạn với nhau, lấy cái tên chẳng giống ai là Thằng Mỹ Vàng mà đặt cho nhóm. (Ở phụ chương cuối sách có in lại hai hồi trong loạt bài này.) Chưa bao giờ tôi được chuẩn bị để làm mục vụ với một hoàn cảnh khác thường như thế. Vừa bị lãnh đá vừa phải đi giúp những người bị thương tích. Đá gây bầm dập. Đá chận đường! Vậy là người chăn chiên phải đi nhặt đá với Thằng Mỹ Vàng, như một tiếng gọi và một hướng đi mục vụ mới:
“Khi con mạnh lại, con hãy củng cố đức tin anh em con” (Luca 22:32)
ĐÁ GHI MỐC BỜ CÕI MỚI
Vì tôi là linh mục tỵ nạn, nhiều lần tôi đã đi vào sa mạc tĩnh lặng, đi vào vùng tối của nội tâm để tìm cho ra con người linh mục là ai trong hoàn cảnh mới này! Nhưng hình như càng đi vào, tôi càng cảm thấy tăm tối hơn. Có cái gì ray rứt trong tôi mà không sao diễn tả được. Cho đến một lúc nào đó, từ thẳm sâu nhất trong lòng tôi bật lên một đốm lửa, thật sáng, làm tôi ngỡ ngàng. Cái hướng đi và lý tưởng bỗng dưng mở tới. Tôi không được phép trốn chạy chính mình nữa với cái cung điệu thảm thương ”những điều trông thấy mà đau đớn lòng,” nhưng tôi bắt đầu đổi lời thành:
Trải qua một cuộc đổi đời Những điều trông thấy gọi mời khắc ghi.
Tôi phải tìm ra được ý nghĩa của cuộc ra đi. Tất cả là những hòn đá nằm rải rác đó đây, có thể cản ngăn bước tiến của tôi và làm cho tôi vấp ngã. Thì ra Đức Chúa Trời muốn dùng những nấc đá này để dẫn tôi vào sa mạc. Ngài muốn tôi bị tước đoạt. Một mình vào vùng tĩnh lặng để đối diện với ơn gọi đích thực của đời mình:
“Ta thấy rõ nỗi khổ của dân Ta bên Ai Cập, và Ta đã nghe tiếng chúng kêu lên trước mặt đốc công, quả Ta đã biết các nỗi khổ đau của chúng. Nên Ta muốn giải thoát chúng khỏi tay Ai Cập và dẫn chúng ra khỏi xứ đấy, lên xứ vừa đẹp vừa rộng, lên xứ chan hòa sữa mật, lên chỗ của người Canaan, Hi-tit, Amori. Pe-ri-di, Hi-vi và Giê-bu-si. Bây giờ, này tiếng oán than của con cái Israel đã thấu đến Ta, và Ta đã thấy việc người Ai Cập hành hạ chúng. Vậy bây giờ ngươi hãy đi! Ta sai ngươi đến với Pharaon. Ngươi hãy đem dân của Ta, con cái Israel ra khỏi Ai Cập.
Môisen mới thưa với Thiên Chúa: ”Tôi là ai mà dám gặp Pharaon, và dẫn con cái Israel ra khỏi Ai Cập?” Chúa phán: ”Ta sẽ ở với ngươi. Và này là những dấu chứng thực là Ta đã sai ngươi: khi ngươi đã dẫn dân ra khỏi Ai Cập...các ngươi sẽ thờ Thiên Chúa trên núi này”. (Xuất Hành 3:7-12) Người chăn chiên thấy rõ hướng đi. Những biến cố rời rã của đời sống chợt tìm ra chất keo mầu nhiệm gắn liền lại thành bản hòa tấu cuộc đời, kết thành cầu vồng với đủ màu sắc.
Như một tiếng gọi lên đường, tháng 8 năm 1975, tôi rời thị thành New York xuống miền Nam đi "kinh tế mới." Sau nhiều cục đá văng vãi của những năm đầu đời linh mục trong hoàn cảnh mục vụ "chẳng giống ai," giáo xứ Việt tại New Orleans thành hình, các họ đạo trở thành pháp lý với văn thư thành lập ghi rõ biên giới. Vậy là mình cũng đang góp phần mở rộng bờ cõi rồi đây. Khi cùng xây dựng nhà thờ, hội trường, đài Đức Mẹ, hình ảnh Gia-cóp bỗng hiện ra trong đầu người Việt ở đây: "Đất con đang nằm, Versailles, Avondale hay ở Westbank, Cha sẽ ban cho con và dòng giống con. Dòng giống con sẽ đông như cát bụi bành trướng ra đông tây nam bắc... Và này Cha ở cùng con, Cha sẽ gìn giữ con khắp nơi con đi...vì Cha sẽ không bỏ con, sao cho đến lúc Cha hoàn tất các điều Cha phán với con."
BẢN HÒA TẤU CỦA BEETHOVEN
Bản hòa tấu số 6 với tựa đề là ”Người Chăn Chiên”, diễn tả tài tình cuộc đời của một mục đồng dẫn chiên ra bờ cỏ. Cũng đúng là cuộc đời của một linh mục, người chăn chiên.
Buổi sáng trời trong vắt với điệu nhạc chan chứa ánh mặt trời thảnh thơi vươn cao, đầy cảm hứng ngút ngàn. Dòng suối chảy róc rách đầy thơ mộng. Tiếng chim hót líu lo hoan lạc. Tiếng reo vui của các mục đồng tụ họp. Mọi sự đang diễn tiến phấn khởi tưng bừng như vậy thì bỗng dưng trời đổ mưa, sấm sét bão táp hãi hùng. Mọi người lo sợ cho mùa màng bị tàn phá. Nhưng rồi cơn bão dịu dần, trời sáng lại, điệu nhạc khúc này diễn tả tuyệt vời tâm tình tin tưởng với lời ca tạ ơn của người chăn chiên.
Người nghe thấy mắt mình chớp chớp cảm động vì thấy giống đời mình quá, và tự nhiên có cảm tưởng như đang mọc cánh vươn cao hòa vào cõi thinh không vời vợi, thanh thoát khỏi những ràng buộc tẹp nhẹp bên dưới, thoát khỏi vòng hệ lụy cuộc đời để vươn tới một đích cao hơn, như tâm tình lời thơ Tagore: Lúc Người ban lệnh cất lời ca, tôi thấy tim mình như rạn nứt, vì hãnh diện vô cùng.
Ngước nhìn mặt, mắt tôi ứa lệ. Trong tôi điệu đục khàn bỗng dưng biến thành hòa khúc dịu êm. Như chim háo hức băng qua biển cả, lòng đê mê giang cánh bay xa. Tôi biết lời mình ca làm người vui thích, và cũng hiểu chỉ khi khoac áo ca công mới đến trước Người. Lời tôi ca vươn cánh rộng dài bay đến vuốt nhẹ bàn chân trước kia dám nào ước mơ chạm tới. Say nhừ vì nguồn vui ca hát, quên bẵng thân mình, tôi gọi Người là Bạn, Thượng Đế của lòng tôi.
Lm.Dũng lạc Trần Cao Tường
|