54

AVONDALE TẢNG ĐÁ XÂY ĐÀI TẠ ƠN

Trên bàn viết của mình vẫn còn một viên đá thật xù xì. Chuyển nhà tới mấy lần mà viên đá vẫn không bị lạc. Mình đã giữ và trân quí để ngay trước mặt như vậy từ năm 1991, trước lúc mình rời Versailles nơi mình đã gởi nhiều tâm huyết trẻ trung hăng say đầu đời linh mục để đi nhận họ đạo mới tại Avondale vào ngày 29 tháng 6 năm 1991, mà lúc đó chưa biết tương lai sẽ như thế nào.

LẠI LÊN ĐƯỜNG RA ĐI

Mình đã nhặt viên đá này tại nhà tĩnh tâm Ánh Sáng Chúa Kitô (Lumen Christi) ở Houma hồi giữa tháng 6 năm 1991. Trong một thánh lễ làm riêng, mình đã để viên đá đó chung trên đĩa thánh mà dâng cùng với bánh và rượu. Bánh và rượu thì đã trở thành thịt máu Chúa Kitô mà mình đã nhận lãnh để được biến thể. Còn viên đá đó thì cũng được thánh hóa để trở nên "bánh nuôi sống" đeo theo mình cho đến hôm nay. Mình xin bánh mà Chúa đã cho đá. Chúa kỳ cục vậy đấy, nhiều lúc xem ra Chúa cũng lắm "thủ đoạn" quá đi. Đang khi tổ phụ đức tin là Abraham bắt đầu ổn định ở Ur sau bao lao nhọc dựng xây, Chúa lại gọi lên đường đi lập một dân mới. Chúa dẫn Abraham vào sa mạc trống không, phía trước là cát bụi mù mịt. Ông không biết mình đi đâu, nhưng chỉ biết bước đi với Đấng mình tin tưởng đang gọi và dẫn mình đi. Dò từng bước mà đi.

Nhớ lại những ngày bỏ nước ra đi, mình cũng thấy mịt mù như vậy. Hình ảnh tổ phụ Gia-cóp hiện lên. Trong lúc chạy đi "tị nạn chính trị" mệt phờ râu Gia-cóp đã chẳng hiểu được chuyện gì xảy ra. Vừa sau khi mánh mung với sự chỉ điểm của mẹ để "phỗng tay trên" hết ơn lành Chúa ban qua bàn tay cầu phúc của bố, Gia-cóp đã phải vắt chân lên cổ mà chạy. Mà chạy đi đâu bây giờ? Đi Mỹ, đi Úc, đi Phi Luật Tân? Riêng Gia-cóp thì được mẹ chỉ cho chạy về phía Đông. Ơn lành gì mà lạ vậy? Ơn chạy à?! Chắc Gia-cóp vừa chạy vừa lẩm bẩm đòi vật nhau với Chúa dù có phải đi cà nhắc cũng đành. Kinh Thánh thuật lại rất rõ chuyện đêm đó:

"Gia-cóp ra khỏi Bét-sê-ba mà trẩy đi Ha-ran. Chàng đã tới một nơi kia và nghỉ đêm ở đó vì mặt trời đã lặn. Chàng lấy một hòn đá mà gối đầu và nằm ngủ ở chỗ ấy. Chàng mơ thấy một cái thang bác từ đất lên đến tận trời, có những thiên thần Chúa đi lên đi xuống trên đó, và Thiên Chúa đứng bên chàng phán rằng: "Cha là Chúa của Áp-ra-ham cha của con, Chúa của I-sa-ắc. Đất con đang nằm, Cha sẽ ban cho con và dòng giống con. Dòng giống con sẽ đông như cát bụi bành trướng ra đông tây nam bắc. Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ lấy tên con mà cầu chúc cho nhau. Và này Cha ở cùng con, Cha sẽ gìn giữ con khắp nơi con đi. Cha sẽ đem con về lại đất này, vì Cha sẽ không bỏ con, sao cho đến lúc Cha hoàn tất các điều Cha phán với con".

Gia-cóp tỉnh dậy nói rằng: "Quả thật, có Chúa ở chỗ này mà mình không biết". Và chàng kinh ngạc thốt lên: "Lạ lùng thay chỗ này. Đúng đây là nhà của Thiên Chúa và là cửa trời, chứ không thể khác được". Đến sáng, chàng dậy sớm, lấy hòn đá mà chàng đã đặt làm gối đầu, dựng làm trụ đá và đổ dầu trên đầu trụ. Chàng đã gọi tên nơi ấy là Bê-ten thay cho tên Lút xưa kia.

Gia-cóp đã làm lời khấn rằng: "Nếu Thiên Chúa ở cùng mình và gìn giữ mình trên đường đang đi, nếu người cho mình có bánh ăn, áo mặc, nếu mình được trở về nhà cha mình bình an vô sự, thì Thiên Chúa sẽ là Chúa của mình. Và viên đá mình đã dựng làm trụ đá sẽ là nhà của Thiên Chúa. Và trên mọi điều Người ban cho mình, mình sẽ trích thập phân dâng Người". (Khởi Nguyên 28:10-22)

Người tin Đạo theo nghĩa căn bản nhất là tập mở mắt để nhận ra Chúa qua mỗi bước đi, qua mỗi chuyện lớn nhỏ trong cuộc sống, ngay cả qua những chuyện xem ra như chó chết chẳng ra làm sao, những chuyện phi lí trời ơi đất hỡi không sao hiểu nổi: Viên đá mà các thợ xây loại bỏ lại trở nên viên đá góc tường.

Điều gì xem ra mâu thuẫn nhưng lại thật lạ lùng vậy? Đây chính là sức mạnh kỳ lạ của niềm tin, có sức tác động biến đổi tất cả khi nhận ra Chúa đang hiện diện qua mọi biến cố của cuộc sống, ngay lúc này, ở đây, bên cạnh mình. Tiến trình biến đổi tổ phụ Gia-cóp đã thao luyện: nhặt lấy hòn đá đó, đặt làm gối đầu, nhìn đi ngắm lại (vẫn được gọi là chiêm niệm đấy), rồi bỗng nhận ra: "Lạ lùng thay chỗ này. Đúng đây là nhà của Thiên Chúa và là cửa trời, chứ không thể khác được". Đến sáng, chàng dậy sớm, lấy hòn đá mà chàng đã đặt làm gối đầu, dựng làm trụ đá và đổ dầu trên đầu trụ.

Đi được một quãng dài 25 năm, thiết tưởng là dịp ân sủng để nhìn lại chính cuộc sống của mình, đã lớn lên qua bao chặng đường, nhiều lúc xem ra đi xuống, đi vào tăm tối ngoằn ngoèo khúc khuỷu. Nhưng dù đi qua thung lũng tối, tôi không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng tôi. Và mình sẽ xức dầu các viên đá làm bàn thờ ghi ơn nơi đã gặp được Chúa, không loại bỏ một viên đá nào: đây là cửa Trời, là nhà Chúa, đây là đá góc tường.

TẢNG ĐÁ XÂY ĐÀI TẠ ƠN

Tháng này mình đã tình cờ nhặt được một viên đá mới ở ngoài đường trong lúc đang đi, như được vất ra đó. Mình lại đưa về phòng để cạnh viên đá xù xì cũ. Đá này bằng cẩm thạch nhẵn nhụi. Thì ra đây là viên đá ghi biến cố đoàn tụ gia đình với người mẹ đã nhiều năm xa cách.

Cũng là những hòn đá mình góp lại cùng với cộng đoàn để xây trụ đá lớn ghi ơn, chính là Thánh Đài Đức Mẹ được khánh thành vào ngày 15 tháng 8 năm 1997, do Đức Tổng Giám Mục Philip Hannan làm phép. Mình đã góp ý để xây thánh đài Đức Mẹ theo một hình ảnh bám sát trong đời: từ những tảng đá lớn là chính Chúa Núi Đá Độ Trì chảy ra 7 mạch suối ơn Chúa Thánh Thần. Dòng nước này càng tác động đời mình từ ngày mình đi hành hương ở Lộ Đức và Fatima vào năm 1987. Mạch nước suối Lộ Đức thì vẫn còn tiếp tục chảy từ núi đá thuyên chữa bao người. Còn ở Fatima thì mình thấy dòng thác nước chảy từ ngay giữa bức sau bàn thánh nhà thờ chính tòa. Đó là bức tranh lớn vẽ hình Đức Mẹ đang tuôn tràn ơn phúc. Nhìn kỹ hơn thì thấy từ tà áo cho đến thân hình Đức Mẹ là một thác nước đang cuồn cuộn chảy xuống. Từ những tảng đá này mà Môi-sen đã được Chúa bảo lấy gậy chăn chiên đập vào, thì mạch nước chảy tràn trề hồi phục đám dân đang chết khát trên sa mạc.

Cũng chính là những tảng đá ghi mốc biên cương mới của Đất Việt. Đời linh mục của mình chỉ sau hơn hai mươi ngày chịu chức đã gắn liền với lớp người tan tác nổi trôi trong cơn ly loạn, như tư tế Ezekiel với dân Do Thái trong cảnh lưu đầy. Giấc mơ góp phần tạo dựng một mảnh đất mới cho người mình từ năm 1975 nay đã thành hình sau bao lam lũ. Vậy là biên cương nước mình mở rộng sang tới đây rồi. Văn thư thành lập giáo xứ xác định rõ ràng biên giới xứ Việt. Nước Mỹ đúng là hiệp chủng quốc. Mỗi sắc dân đến đây đều mang theo những nét văn hóa giầu có đặc sắc riêng góp phần làm đẹp đất nước mới. Một thế hệ đang dần qua đi. Thế hệ mới bắt đầu tiếp nối, vẫn mãi mãi hãnh diện về gia tài của mình.

CHUYỂN ĐÁ EPHATA PHÙ ĐỔNG

New Orleans được biết đến nhiều vì những làng Việt còn mang nhiều chất Việt. Avondale là một làng nhỏ bé nằm phía tây của Tây ngạn sông Mississippi, gần hãng đóng tầu Avondale nổi tiếng thế giới. Avondale cũng hãnh diện vì có nghĩa trang nơi an nghỉ của linh mục nhạc sư Ngô Duy Linh và nhạc sư Hải Linh. Cả hai đã từng sinh hoạt và phục vụ cộng đoàn nhỏ này. Tiếng nhạc ngũ cung vẫn còn vang vọng bài ca tôn vinh tán tụng quê hương. Avondale vẫn tiếp tục âm thầm dựng xây thành một ngôi làng như một mảnh đất quê hương mở rộng sang Mỹ, với nhà thờ riêng, trường học và hội trường riêng, và với những sinh hoạt mang nét đặc sắc dân mình chứ không cam chịu than hoài "biết đâu nguồn cội!"

Bây giờ là thời điểm chuyển đá cho thế hệ trẻ. Qua những khóa tĩnh huấn, nhóm Phù Đổng thành hình, hãnh diện nhận ra hòn đá của chính mình để tiếp nối vun trồng đắp xây. Cũng vẫn một giấc mơ ngàn ngàn dặm ra đi mang theo chiếc lông thiên nga để có thể ngóc đầu lên, vươn lên như Phù Đổng Thiên Vương.

Thế hệ mới cũng phải đối diện với một thách đố mới. Mỗi bước đi lại nhặt một hòn đá làm gối đầu suy đi ngắm lại. Mình phải đi tìm Chúa hay mình sực nhận ra rằng Chúa đã đến tìm mình qua những bậc đá. Đó là bài linh thao số 235 trong bửu bối của sư phụ I-Nhã:

“Nhìn thấy Chúa hiện diện trong tạo vật như thế nào: trong mọi vật bằng cách ban cho được hiện hữu, trong thảo mộc bằng cách ban cho được sức sống, trong thú vật bằng cách ban cho được cảm giác, trong loài người bằng cách ban cho được suy nghĩ; và Chúa cũng ngự như vậy trong mình bằng cách ban cho được hiện hữu, sức sống, cảm giác, trí khôn. Cũng vậy, hãy nhìn xem Chúa đã làm cho mình nên đền thờ của Ngài như thế nào, vì Ngài đã tạo dựng nên mình giống Ngài và theo hình ảnh Ngài.”

Và bỗng dưng con mắt mình mở lớn kinh ngạc như Đức Maria: Chúa đã làm cho tôi muôn việc kỳ diệu; hay như tâm tình Nhã Ca trong Kinh Thánh, thấy Chúa là người tình đang hớn hở chạy tới gặp mình qua những nấc đá cao thấp mỗi ngày:

Người yêu đang tới đây rồi

Nhảy băng qua núi qua đồi như nai.

CẢM ƠN HOA ĐÃ VÌ TA NỞ

Hằng ngày đi đến nhà thờ, mình thật may mắn được lái xe qua con đường quê thật đẹp vùng Avondale ngoại ô thành phố New Orleans. Con đường Ni-Cô (Nicolle) này mới làm sau khi mình về cộng đoàn vào năm 1991, đi từ công viên Segnette Westwego vào.  Mỗi mùa đều có nét đẹp riêng. Ban sáng thì mình hét lên sung sướng "quá đã" khi nhìn nắng mới lên nhảy múa trên những rặng cây xanh mượt đầy sức sống. Buổi chiều xuống, mặt trời vẽ lên bức tranh muôn màu lung linh huyền ảo. Và đặc biệt vào những buổi sang xuân, hai bên bờ đất trơ trụi mùa đông bỗng vàng lên bạt ngàn hoa cỏ dại, kiêu hãnh khoe áo mới dưới những cây thông vẫn xanh lá bốn mùa. Vùng Avondale và Westwego còn mang nhiều nét “văn minh miệt vườn country club” êm ả, với những đàn bò đang gặm cỏ một cách an nhàn, thỉnh thoảng hai ba con tụ lại thỏ thẻ chuyện tâm tình gì xem ra da diết lắm.

Mình như đang đi giữa vùng đất thần tiên thơ mộng quá chừng. Mà cũng thật gần tầm tay với. Cả một thảm hoa vàng trải dài mênh mông. "Động hoa vàng" là đây rồi chứ sao phải mất công mơ tưởng mãi đâu đâu để phải hát nghêu ngao:

Rằng xưa có gã từ quan,

lên non tìm động hoa vàng ngủ say.

Mình lái xe chậm lại một chút chứ không hối hả như mọi khi, để chiêm ngưỡng vẻ hút hồn của đất trời hòa nhập, nhất là vào những lúc mặt trời đang lăm le đòi đi ngủ, nhoẻn miệng cười toát ra một sắc đẹp quyến rũ vô cùng. Mình bỗng bật miệng lên lời thơ của Tô Thùy Yên:

Ta về cúi mái đầu sương điểm

Nghe nặng từ tâm lượng đất trời.

Cảm ơn hoa đã vì ta nở,

Thế giới vui từ mỗi lẻ loi.

Tim mình bỗng đánh nhịp bản hoan ca mùa xuân sau những ngày lạnh thu mình lại ẩn dưới những cành trơ trụi tiêu sơ. Mình đọc tiếp lời thơ trên:

Ta về một bóng trên đường lớn

Thơ chẳng ai đề vạt áo phai

Sao bỗng nghe đâu mềm phế phủ

Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay.

Vĩnh biệt ta mười năm chết dấp

Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu

Mười năm mặt sạm soi khe nước

Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.

PHÉP MẦU CỦA SA MẠC

Chắc là anh chàng Tô Thùy Yên này bị đầy đọa vùi dập mười năm. Đời như đã bỏ. Lỡ vận. Lỡ thời. Nỗi buồn dài bằng tiếng thở dài, mênh mang, mênh mang. U uất thâm gan tím mật. Mười năm coi như mình đã chết dấp, đã được cải tạo thành vượn cổ sơ.

Vậy mà mình bỗng lấy lại được nhịp đời bật nụ non khi nhìn hoa nở. Nó nở thì nở chứ có mắc mớ gì mà dám bảo là đã vì ta nở? Nhưng mình thấy rõ là nó vì mình mà nở. Ai muốn nói sao, kệ. Mặt trời đang rạng lên trong tâm ta. Một bình minh mới như bình minh đầu tiên thuở hoang sơ nổ ra từ tiếng “big bang”.

Thiên nhiên quả là người mẹ hiền có phép mầu hóa giải những oan khiên, những phiền muộn. Mẹ có nhịp ru của mẹ, qua bốn mùa đong đưa ru nhịp đời trong nôi đại dương dòng sinh lực vẫn tuôn chảy. Nhìn nụ hoa vừa nở, mọi tàn lụi đời mình bỗng mở lối thênh thang. Một nhịp mới bắt đầu. Tự nhiên lắm. Tự nhiên như dòng nước chảy, như áng mây trôi, như dòng hơi thở bơm sinh khí mỗi giây. Mọi sự vẫn thanh thản tuôn chảy như vậy, biết để khoảng trống cho gió trời nhảy múa thổi vi vu. Chỉ có con người là cố ghì lại cái nhịp đã lỡ một cách tội nghiệp.

Mình có dịp đi vào tĩnh lặng. Để cho mọi nhịp lỡ và loạn chảy đi. Buông xả tất cả. Dòng thác Sinh Khí đang tuôn đổ lực sống mới mỗi phút giây. Mở tâm ra mà lãnh nhận. Hòa nhập nên một với dòng nhịp đó thì sẽ được tất cả. Lòng sẽ an tĩnh lại, thân xác sẽ được hồi phục, trí sẽ tỉnh táo.

Để đi vào sa mạc trống, hòa nhập vào thiên nhiên có sẵn ngay bên cạnh, mình trích một đoạn tâm tình của Phan Đỗ Quyên trong Thế Kỷ 21 số 81 trang 83, như một “linh thao” thoáng nhẹ:

“Khu vườn nhà em có một cây khuynh diệp cổ thụ uy nghi lắm... Cây khuynh diệp to lớn, bệ vệ, uy nghi như một vì vua, tỏa sự hiện diện cả một góc vườn. Nhưng sự hiện diện này lại thoáng lắm, nhẹ nhàng lắm. Những cành lá thon trắng như những ngón tay của người thiếu nữ dạo trên phím đàn, tàn lá thưa không rậm rạp như vài nốt nhạc nhiều dấu nghỉ, đã tạo cho cây cái phong thái thoáng nhẹ này.

Hình như cây muốn bước những bước nhẹ nhàng, kín đáo vào lòng em. Cây không muốn áp đặt sự hiện diện của mình như một khối đặc nặng. Cây để nhiều khoảng trống cho mặt trời chiếu qua, cho gió thổi đùa. Và cho hồn em dạo chơi và mộng mơ trong những khoảng trống không đó. Em yêu cây như yêu một bức tranh thủy mạc của thiền sư Trung Hoa. Em yêu khoảng trống của cây như em yêu những khoảng trống mênh mông trong tranh. Ôi những khoảng trống đầy ắp, những khoảng trống tự do mời gọi em lắng nghe, mời gọi em thưởng thức sự im lặng, và thả hồn sáng tạo chung với người nghệ sĩ.

Mỗi lần đi bộ ra vườn cây, em đều đứng lại và nói: Cám ơn cây đã vì ta hiện diện. Cám ơn cây đã vì ta thoáng nhẹ.”

Cảm ơn cành cây đã vì ta tàn lụi. Cảm ơn hoa đã vì ta nở. Và cảm ơn người đã đưa ta vào sa mạc trống không, với Đức Giêsu trong sa mạc bốn mươi ngày.

Ta không tự mình buông xả dễ dàng đâu. Thì đây đã có sẵn thập giá như “ỷ thiên kiếm” chém chặt cho lòng ta phải trống trơn. Cảm ơn những khổ đau đã dạy ta lớn lên. Cảm ơn hạt cây chịu thối mục để hoa bỗng nở tràn. Hoa trong vườn. Hoa trong tâm ta.

Lm. Dũng lạc Trần Cao Tường