THẰNG MỸ VÀNG

     

Riêng tặng những chàng độc thân bất đắc dĩ trong băng Thằng Mỹ Vàng thời 1975-1982.

 

Vào khoảng năm 1977 hay 1978 gì đó, từ những lăn lộn với những người độc thân "tại chỗ," tôi viết trên báo loạt bài "Thằng Mỹ Vàng," đặt mình vào tâm trạng của chính những người bị lãnh đá thảm nhất. Mấy anh em độc thân này tự tạo ra một nhóm bạn với nhau, lấy cái tên chẳng giống ai là Thằng Mỹ Vàng mà đặt cho nhóm. Dưới đây là hai đoạn trong loạt bài trên, với thứ ngôn ngữ cũng không giống ai, xin đọc với niềm thông cảm bỏ qua. Chưa bao giờ tôi được chuẩn bị để làm mục vụ với một hoàn cảnh khác thường như thế. Vậy mà người chăn chiên phải đi nhặt đá với Thằng Mỹ Vàng, như một tiếng gọi và một hướng đi mục vụ mới:

     “Khi con mạnh lại, con hãy củng cố đức tin anh em con.” (Luca 22:32)

 

HỒI 1

 

Thằng Mỹ Vàng thuộc dòng dõi 25 tháng 3, rồi sau này nhờ ơn mưa móc của "quốc vương" Thiệu mà anh dũng tiến vào lịch sử 26 tháng 3. Nghĩa là bố mẹ của Thằng Mỹ Vàng vốn là người cầy mà không có ruộng, bèn được trở thành người cầy có ruộng.

 

Bố tôi cầy sâu cuốc bẫm lam lũ nên mới đủ sức gửi tôi về Sài gòn cho được du học tại Võ Trường Toản gần cửa vào thảo cầm viên. Và tôi mèo mù vớ cá rán đã chớp được nhà tôi tại sở thú nhân dịp đi xem khỉ.

 

Cái truyện tình của tôi và nhà tôi nó lỉnh kỉnh lắm. Hồi học đệ ngũ (lớp 8 bây giờ), tôi khổ sở với mấy thằng Nam kỳ cùng lớp. Bọn chúng nó bám sát cho được lấy tôi làm một sự giải trí với cái biệt hiệu chúng gán cho tôi: Thằng Bắc Kỳ Chử Đồng Tử. Tôi đã có lần nổi đóa bợp tai chúng nó nổ đom đóm mắt mà chúng nó vưỡn cười khì khì thật đểu và còn nhái giọng Bắc: "Mẹ bố tiên sư mày bịch ông, ông về ông cáo mẹ mày cho mày khiếp."

 

Tôi xuân thu nhị kỳ chỉ có một cái quần ka-ki màu xanh Thanh Niên Cộng Hòa, ống rộng 20cm - mà hồi đó ống 20 là quê thấy mẹ. Chúng nó mang quần bó sát ống 16 không à. Nên tôi ra đường chả giống ai sốt. Nhưng chúng nó lại thiệt tình thích chơi với tôi, tập cho tôi ăn cà-rem. Lúc đầu lạnh buốt răng, lâu rồi thành quen. Thằng Tỷ và thằng Trạch phải nịnh tôi kịch liệt, vì cứ đến giờ toán đại số là chúng nó hắng giọng. Tôi bèn hiểu ý, nhấc cái cùi tay lên một tí. Thằng Bắc kỳ giỏi toán nhất lớp, nên chúng nó yên trí sao y bổn chánh. Thường là sau đó tôi được đãi một chầu nước đá nhận. Song có lần tôi trả thù chúng nó về sự nhạo báng tôi là Chử Đồng Tử. Tôi cũng cho chúng nó sao nguyên bổn. Nhưng chúng nó đâu có ngờ tôi có bổn đính chính vào phút chót. Thế là chúng nó hố to. Nên sau đó kéo dài một tuần lễ, giờ chơi nào tôi cũng phải giả vờ làm ông cụ thi sĩ non nhìn mây trôi, vì chúng nó trả thù tôi, lỉnh đi ăn nước đá nhận với nhau, mà tôi thì cóc có tiền.

 

Đến năm đệ tứ (lớp chín) thì tôi thấy người khang khác. Thì ra thằng Trạch và thằng Tỷ khám phá ra tôi đeo em nữ sinh của trường Trưng Vương gần bên. Hồi đó ông cụ Diệm bị mấy tay Ringo hảo hán đô la cho mặc sơ mi gỗ gửi tầu ngầm rồi, nên chánh quờn cá đối bằng đầu chả còn cái thể thống gì. Trường tôi nghỉ học liên miên cho được đi biểu tình. Song đối với tôi, ông Khánh Râu có vững hay không đâu có ăn cái giải gì. Cho nên cứ mỗi lần những đứa khác đi biểu tình là thằng Trạch, giáo sư ái tình của tôi, nháy tôi phú lỉnh ra sở thú. Việc đầu tiên là tôi phải khổ công thức tới 2 giờ sáng cho được sao chép tất cả những bài thơ ái tình. Tôi chịu theo làm đệ tử giáo sư ái tình Trạch cả nửa năm như vậy mà em Liên của tôi cứ gặm cóc và tầm giuộc ngâm nước đường như điên, chả thèm coi thơ phú đầy tình yêu ra cái thá gì. Mệt lử cò bựa nhất là cái màn tan học mỗi ngày. Em Liên của tôi có xe gắn máy Velo Solex, mà tôi thì anh dũng đạp xe đạp không có thắng mà theo. Ấy vậy mà tôi cũng khám phá ra nhà em ở đường Kỳ Đồng.

 

Nhà em là một cửa tiệm lớn bán dụng cụ học sinh. Tôi tự nhiên thấy nhột. Nhưng cũng từ đó tôi đổi lộ trình về nhà trọ ở Chí Hòa bằng cách rẽ vô lối Kỳ Đồng. Hôm nào mà em Liên không đi học là tôi phát điên cái đầu. Nhưng sức mấy tôi dám mò vô cái tiệm của ba em mà mua đồ. Cứ đạp xe đến gần nhà em thì chân tay tôi bủn rủn, trong người tôi lên cơn sốt nặng. Nhiều lần tôi định dừng xe để "ông làm ơn bán cho cháu bảng công thức toán đại số," nhưng rồi lại thấy đã đạp xe quá nhà nàng cả mấy chục thước.

 

Tôi tin "định mệnh đã an bài" ghê lắm. Một điều tôi khám phá ra là bọn con gái chúng nó gian dễ sợ. Con trai trồng cây si là chúng nó biết liền, nhưng cứ tỉnh bơ. Cuối năm đó, giáo sư ái tình Trạch rớt trung học, và tôi, thằng khù khờ, tự nhiên được vài chữ chúc mừng của "người ta" qua một lần mượn sách truyện ở tiệm ba nàng, mà nàng đã lén kẹp vào cuốn sách khi tôi trả tiền cọc mượn sách.

 

Truyện tình nào cũng lẩm cẩm hết. Ấy vậy mà tôi đã lẩm cẩm bước vào, bước vào sau ba năm với nhiều thủ tục quá ư lỉnh kỉnh. Và tôi yêu nàng ra rít. Vậy mà bây giờ tôi để nàng lại Sài gòn với một đấng nhi đồng.

 

"Em yêu dấu, có bao giờ anh nghĩ xa em đâu!" Kỳ mới sang đây tôi bèn đưa tấm hình nàng tặng tôi hồi chưa cưới đi chụp lại phóng lớn treo trên tường.

Tối nay tôi đau bụng quá cỡ. Tôi bị mấy lần thế này rồi. Mấy thằng bạn trêu tôi rằng: "Bà thánh vật. Ai bảo mày đi kiếm chác, bà thánh ghen đấy." Lúc đầu tôi văng tục, nhưng ngẫm nghĩ, tôi đâm phục chúng nó. Thì ra bà-thánh-nhà-tôi ghen thật. Mỗi lần tôi đi nọ nọ kia kia về là y kỳ nhà tôi như nguýt tôi. Có lần tôi bực quá, tháo ảnh nhà tôi xuống nhét vào tủ, chửi thề: "Mẹ kiếp, thì anh đã bảo em rồi, anh vẫn yêu em mà, nhưng chỉ vì anh là đàn ông...". Và sau đó y kỳ là tôi lên cơn đau dạ dày. Tôi kêu la inh ỏi. Cuối cùng tôi lại phải treo ảnh nhà tôi lên.

 

Tôi vốn khô đạo, nhưng vẫn còn giữ thói "dân Bắc kỳ di dư Bùi Chu ta" mà mò tới nhà thờ. Cũng bày ra khấn xin Đức Bà Hằng Cứu Giúp ra phết. Nhưng tôi mắc cở, đâu dám tới gần bàn thờ Đức Bà mà đốt nến, sợ mấy thằng bạn nó cười. Tôi bèn lấy can đảm bằng cách nốc một dây bia, rồi lén lút mò tới gặp cố đạo. Nhưng tôi rất ngán cố đạo. Nếu biết tôi nọ nọ kia kia thì thế nào cũng đưa Chúa Bà ra khuyên tôi nhặng xị ngậu, và tôi hết đường làm ăn. Vì thế tôi bèn mở màn:

 

- Thưa đàn anh cố đạo, Thằng Mỹ Vàng nhớ vợ quá! Đàn em...

Tôi đang định nói vài nhời để đàn anh cảm động chơi, nhưng đàn anh cố đạo đã biết tỏng rồi, chặn họng ngay:

 

- Ừ, đúng rồi, lâu lắm sao cậu không ghé chơi. Còn làm ở chỗ cũ không? Sao cậu không phôn cho mình gì cả vậy?

 

Tôi nghĩ, đàn anh cố đạo này khôn thấy mẹ. Ông còn trẻ, lại có cái mác du học trước đây. Chưa chi đã cậu với mình làm ra như thân tình lắm. Ừ thì cũng được đi. Tôi công nhận đàn anh rất hợp thời, rất bình dân, nhưng đàn anh hiểu và thông cảm là một chuyện, chứ đàn anh đâu có qua cầu như tôi: có vợ yêu dấu, bây giờ xa vợ. Cái sự thể nó thê thảm lắm. Phải là những đêm không ngủ thấy mình lạc lõng như thây ma. Phải là những lúc đi làm, ở sở bị Mẽo coi rẻ, mà về nhà thì chả có một hột cơm nóng mà ăn. Nghĩ vậy, tôi bèn làm ra vẻ bất mãn:

 

- Thưa đàn anh cố đạo, Thằng Mỹ Vàng xuống tinh thần không phanh, lâu nay chán đời nên đâm ra bê tha... đôi khi cũng "trao đổi văn hóa" tí chút cho khuây khỏa. Chán mớ đời. Đàn anh làm ơn chỉ cho Thằng Mỹ Vàng cách nào chết sớm hơn được một chút không?

 

Thấy tôi làm dữ, đàn anh bèn gãi đầu, đang định nói cho tôi nghe về sự đau khổ của Chúa Cứu Thế và phúc thật tám mối, tôi bèn tấn luôn:

 

- Thưa đàn anh, Thằng Mỹ Vàng có lếu láo, đàn anh nghe rồi bỏ qua cho. Nhưng có lần Thằng Mỹ Vàng nghĩ: xưa Chúa Giêsu chịu đau khổ quá cỡ thợ mộc, song le khi chết thì chỉ là độc thân thôi, đâu có vợ con như Thằng Mỹ Vàng. Cùng lắm chỉ có Mẹ Maria thì đã giao quách cho ông Gioan rồi. Thấy nhẹ nhõm ghê. Trong phúc thật tám mối, thì đâu có mối nào Chúa bảo: phúc cho những thằng có vợ mà để vợ lại cho tụi bộ đội sài sể ở Việt Nam, để được rom tóp đi từng ngày từng đêm như Thằng Mỹ Vàng đâu?

 

Thấy rôi ra giọng quẫn trí, đàn anh cố đạo cảm động ra mặt. Đàn anh quay đi chỗ khác một chút. Tôi hiểu đàn anh có ý tránh một xúc động, có thể là một giọt nước mắt chăng? Rồi đàn anh bỗng quay lại nhìn tôi rất nghiêm nghị. Ánh mắt tóe lửa. Tôi tự nhiên thấy run. Vì với con mắt đó, tôi hiểu rằng đàn anh cố đạo đã nhìn thấy cảm nghĩ của tôi. Và tôi tưởng đàn anh sẽ cho tôi một bài giảng thuyết dài dòng để cho tôi được vùng dậy. Nhưng không, con mắt đàn anh chợt âm u xa vắng, miệng đàn anh lắp bắp:

 

- Nghiệp tai, nghiệp tai.

 

Tôi tự nhiên mường tượng đến cảnh Tạ Tốn đối thoại với nhà sư Không Kiến của Thiếu Lâm Tự trong Cô Gái Đồ Long. Đó là lời của nhà sư khi thấy cảnh oái oăm của Tạ Tốn đã bị đánh mù mắt nhưng vẫn đeo đẳng thù hận trả vay và bể dâu trùng điệp...

 

(Quí vị chớ có sốt ruột. Cuộc đọ sức đến phút gay cấn. Muốn biết Thằng Mỹ Vàng có xin được phép cố đạo để đi lấy vợ không, xin đọc hồi sau sẽ rõ)

 

HỒI 2

THẰNG MỸ VÀNG LẬP HỘI ĐỘC THÂN

 

"Sư cái Thằng Mỹ Vàng chứ, đọc mày ông thấy tim gan phèo phổi lộn xà ngầu khốn lịn trần ai. Bởi vì tim sự của mày sao mà giống ông như vậy."

 

"Yêu cầu ông Thằng Mỹ Vàng mở rộng mục Thằng Mỹ Vàng cho tụi tui góp với. Ông là cái thằng ích kỷ. Thằng Mỹ Vàng đâu phải chỉ riêng ông."

 

Ấy, đại để các lời chửi bới Thằng Mỹ Vàng dịp tết vừa qua nhặng cụ xị như vậy. Kêu là mày, là thằng, là ông, lung tung hết. Bỗng nhiên xuất hiện nhiều Thằng Mỹ Vàng. Cảnh thằng nào cũng thê lương hết. Có thằng chạy hốt hoảng bế xách theo được hai đứa con, vợ bị tàu Mỹ cắt dây bỏ lại chả biết sống chết ra sao. Thằng Mỹ Vàng bèn vẽ phóng một bức gà trống nuôi con: Thằng bố Mỹ Vàng, tay bế một nhóc tì, lại có một đấng nhi đồng khác đứng trước. Nhoai nhóc như làm vậy đấy. Phải tưởng tượng thằng nhóc tì đang khóc thét lên, kêu má má ơi, mũi rãi chảy tùm lum, chắc là đấng nhi đồng đang nhăn nhó vì vừa tương ướt quần nữa.

 

Như vậy là Thằng Mỹ Vàng đã cương quyết đứng ra lập hội Thằng Mỹ Vàng. Chiều 30 tết, Thằng Mỹ Vàng say mèm. Uống để quên đời, uống để quên con mụ vợ ở Việt Nam. Uống nữa. Trong cơn say, Thằng Mỹ Vàng phôn đi khắp các thằng bạn gọi chúng nó đến nhậu tiết canh vịt: "Tau mới tóm được hai con vịt xỉa mười tiền."

 

Gọi thằng T., nó văng tục tứ tung, tục nếp nghe một hồi đã thấy no rồi. Hỏi nó sao vậy mày, nó bảo thằng nhóc lên cơn đau răng, nó đi làm, phú thác thằng nhóc cho con mụ Cờ Bông ở nhà làm bế-bi sít-tờ. Con mụ sồn sồn tóc vàng này tên Ca-thy, đeo nó từ một tháng nay vì nó bô trai, dầu mà tiếng Anh ba xí ba tú, nhưng mà phát ngôn bằng chân tay thì rất nhậy, nên con mụ Cờ Bông này mê nó. Nó bèn chớp cơ hội mà hứa anh dũng sẽ lấy mụ. Mụ ta đã hai thằng chồng rồi mà cả hai đều "guốc bay". Bi giờ được thằng Mít nịnh kịch liệt, cảm động quá chừng, bèn khen thằng Mít "du guốt, mi ô-kê", và chịu ở nhà giữ thằng nhóc tì, và cũng hứa nhặng lên rằng "Ai lao du. Du húc xà bần, mi oai phở" (I love you, you husband, me wife). Thằng T. chửi thầm: "Mẹ mày chứ, mày đã đủ sức "lao" hai thằng rồi, bây giờ mày "lao" tao bộ mấy thuở?! Tao chỉ cần mày chịu giữ thằng nhóc cho tao đi làm."

 

Nhưng thằng T. tính lầm. Mối tình Mít-Mẽo bền vững keo sơn được đúng... một tháng. Cho đến ngày 29 sắp sửa tết thì con nhà T. bấm đốt ngón chân thấy trong "ác cao" nhà băng chỉ còn mấy choạc. Bỏ mẹ con nhà T. rồi, đào đâu ra mà trả tiền thuê nhà tháng tới! Thì ra một tháng ở với con mụ Cờ Bông, thằng T. khám phá ra rằng, ngoài một sự là "liền bà", nó chả hề biết nấu một món nào sốt. Chiều nào cũng âu yếm thằng T. nịnh nó ra rét-tô-rần. Và chiều nay khi thấy thằng nhóc khóc quá, con mụ Cờ Bông ỡm ờ mấy bản hát của Neil Diamond, lấy tay xoa xoa vào má thằng nhóc, nó càng khóc lớn hơn. Con mụ bèn viết vài chữ "guốc bay" thằng T, quẳng thằng nhóc xuống sàn nhà rồi cút mất.

 

Thằng T. đi làm về thấy thằng nhóc khóc mệt quá đã lăn ra sàn mà ngủ, miệng há hốc, mặt mũi nhem nhuốc đầy nước mắt nước rãi. Thằng T. chết lặng người đi một hồi lâu, hai mí mắt đã ướt lúc nào không hay. Nó bỗng dưng nhớ vợ quá chừng, và nó đâm thù tất cả các giống liền bà trừ vợ nó.

Thế là Thằng Mỹ Vàng phải vất vả chân lấm tay bùn lắm mới kêu được ba thằng bạn tới, có cả thằng T. xách theo nhóc tì. Lại có cái khoản đàn anh cố đạo. Thằng Mỹ Vàng phải đưa tất cả các cảnh thê lương như của thằng T. để gãi chỗ ngứa đàn anh. Cố đạo xúc động thấy rõ, nhận lời tới nhậu tiết canh vịt, "cho nó khuây khỏa nỗi nhớ nhà ấy mà."

 

Bữa ăn 30 tết được mô tả là thịnh soạn. Thằng T. vừa thí thằng nhóc vừa rửa rau. Cố đạo cũng giúp xếp bát đĩa. Thằng Mỹ Vàng đánh tiết canh. Xào xáo vậy mà cũng ngon ra phết. Rượu vào lời ra. Thằng Mỹ Vàng bèn gạ chuyện:

Đàn anh cố đạo thử nghĩ coi. Hỏi tổ tông loài người là ai? Thưa tổ tông loài người ta là ông A-dong và bà E-và. Hỏi thử nếu Chúa dựng nên ông A-dong và bà E-và ở Việt Nam, mà bà E-và bị kẹt lại, còn ông A-dong thì chạy có một mình sang Mẽo, như vậy liệu ông A-dong có chịu đi nhà thờ hằng ngày mà chầu Chúa không?

 

Biết Thằng Mỹ Vàng hay lí luận vòng vo tam quốc diễn nghĩa rồi thế nào cũng có lời bàn của Mao Tôn Cương để bào chữa cho cái màn trao đổi văn nghệ của mình, nên đàn anh cố đạo lảng truyện ngay. Cố đạo nói chuyện thật dí dỏm, bật cười và cảm động, nghe ngọt ghê.

 

Thằng Mỹ Vàng phải đưa tay nhéo thằng nhóc để thằng nhóc khóc thét lên. Đàn anh chứng kiến cảnh bố con thằng T. nhoai nhóc như vậy ắt thế nào cũng đệ đơn xin Đức Cố Phaolồ Sáu cho nó lấy quách vợ khác cho rồi, nhưng chớ dính vào mụ Cờ Bông nữa mà khốn con ạ. Cố đạo chớp mắt mấy cái liền, cái chớp mắt diễn tả vô vàn tâm tư. Có thể là đàn anh thấm thía nỗi cô đơn kinh hoàng; có thể đàn anh xót xa nỗi trớ trêu một cuộc sống xô bồ bây giờ. Nhưng đàn  anh làm gì được với cảnh huống này, thưa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Bồ Tát.

Thế là tôi đã thành công trong việc lập hội Thằng Mỹ Vàng. Đàn anh cố đạo nhận làm cố vấn, vì cũng là dân độc thân mà. Nội qui căn bản: vài tuần phải có một chầu tiết canh. Phần linh tinh, đàn anh khuyên hội nên thu thập sách báo tốt mà đọc. Tôi ù ù càng cạc ợm ờ cho xuôi. Mà đúng thật, khi đàn anh cố đạo đã ra về thì thằng T. cắn cấu tôi thậm tệ: "Mẹ kiếp, tao tưởng mày thuyết phục nổi ổng, chứ như thế này thì nghĩa trang đìu hiu rồi còn gì!"

 

Thế là ăn xong chẳng thằng nào chịu rửa chén cả. Thằng T. say quá mửa thốc mửa tháo đầy nhà. Thằng Mỹ Vàng phải lấy nước lạnh tạt vào mặt cho nó tỉnh dậy. Rồi Thằng Mỹ Vàng nốc hết chai sương mù mịt  Mạc-tin còn lại, và chợp chờn ngủ mẹ nó lúc nào đâu có hay. Tụi nó về hồi nào cũng không biết gì luôn. Sáng hôm sau tỉnh dậy, ôi là cảnh hoang tàn, bát đĩa cái bể cái lăn quay, Thằng Mỹ Vàng phải cởi phanh áo, để trần xi có mỗi cái quần xà lỏn để lo công tác "làm đẹp thành phố." Và cái ý tưởng lập hội cũng đi đoong luôn.

Ừ, tôi nhớ ra rồi, chả dại gì mà tôi đi khà khịa cố đạo. Tự nhiên tôi thấy nhột, chắc cố đạo biết tôi đang chàng ràng rồi. Nhưng tôi đâu có ngu để mất dịp may hiếm có. Tôi bèn tháo ảnh nhà tôi xuống, lau cẩn thận, gói lại cất đi. Tôi không dám nhìn ảnh nhà tôi. Sợ mất can đảm lắm. Chiều nay tôi trở lại thăm nàng tôi mới quen.

 

Nàng tên Trang. Hai con rồi mà còn duyên quá đỗi. Gái một con trông mòn một con mắt, đàng này hai con thì chắc mòn luôn hai con mắt phát mù mất thôi! Đẹp thì không đẹp lắm, nhưng tôi chú ý ngay tới cái nét trầm buồn của nàng. Nét buồn thật gợi cảm, có thể gãi thần kinh tôi. Chồng nàng mặc sơ-mi gỗ ở "An Lộc kiêu hùng." Bây giờ nàng qua đây thắt chỉ cổ tay nuôi con, hai đứa bé dễ thương ra rít. Tôi tự coi có bổn phận giúp đỡ nàng, bảo vệ nàng. Thời buổi này, "thiếu phụ cô đơn" cỡ nàng hấp dẫn lắm, ứa chàng ve vãn.

 

Nhưng kẹt cho tôi là nàng ở trong một cộng đoàn người Việt đông đảo, nơi có con mắt cố đạo trông nom làm lễ thường xuyên. Lạng quạng có ngày bị con của Chúa cho ốm đòn chiến địa hoàng hôn liền. Tôi tự nhủ: thì cũng chưa có gì sốt cả. Tôi nhớ con tôi, nay có hai lỏi tì côi cút, tôi ghé chăm sóc chúng nó một cách kín đáo, sợ cố đạo biết ổng sẽ hiểu lầm tôi, cho là tôi đang gạ gẫm góp gạo thổi cơm chung, ổng chỉ nói "vài nhời" là bỏ mẹ tôi rồi. Nàng lại là con gái nhà lành. Thiềng thử tôi phải e dè lắm, phải từ từ mới được, phải có chiến thuật néo kíu sự thương xót của nàng trước hết, nên tôi phải đi một đường cải lương rất thuộc lòng từ sách vở đâu đây:

 

- Trang biết hông, anh là nhà nghệ sĩ phiêu bạt sông hồ, lấy trăng gió làm nhà, nước mây làm bạn, lắng tai nghe con giun con dế đùn những điệu ca sầu tủi để dệt những áng văn chương dâng hiến cuộc đời.

 

Đáng lẽ chữ "cuộc đời" phải ngân ra và xuống giọng cho hợp với đèn đỏ. Tôi phải véo đùi lấy bình tĩnh, đừng có thêm thắt mùi mẫm, chệnh choạng nhỡ ra nàng biết tôi đóng kịch thì hỏng bét.

 

Nàng nhìn tôi chớp mắt. Tôi biết nàng đã bén mồi rồi đây. Tôi bồi thêm một quả cải lương nữa là vồ lấy thằng lỏi tì vuốt vuốt mái tóc nó, kể lể tâm sự, rằng đấng nhi đồng của tôi giờ ở Việt Nam cũng bằng thằng lỏi tì này, không biết có cháo mà ăn hay đang gặm ngô gặm sắn, lao động tốt với mẹ nó. Tôi đã có kế hoạch sẵn là nói đến đây thế nào cũng phải vận động các cơ tuyến cho mắt tôi có chút ươn ướt để người ta thấy mắt mình sâu hun hút "chất chứa bao nhiêu đớn đau ê chề."

 

Thú thực, tôi có dư bản lãnh để câu nàng, góa phụ cô đơn. Trong vụ này phải tỉnh lắm mới được, phải tùy cơ ứng biến. Thằng con trai nào khi tán gái cũng đều có một chiến thuật tương tự. Đại khái là đêm nào nó cũng gáy khò khò, khi ngủ thì miệng há hốc chảy cả nước rãi ra gối, chả có chút nào thơ mộng cả, thế mà sáng hôm sau gặp em là hắn sà vào, cái bản mặt tự nhiên âm u, ca rằng: anh trằn trọc suốt đêm trường không ngủ được, dậy chong đèn viết thư cho em và nhớ em, hỡi em yêu dấu.

 

Sau cái vụ gặp Trang, tôi phát hoảng. Nàng mà bám tôi thì cũng bỏ mẹ tôi. Mà tôi thì du dự, nửa muốn bước thêm nửa muốn lui. Tôi yên trí, lần này không thấy tôi lên cơn đau bụng như mọi khi, bởi vì trước khi lau ảnh nhà tôi nhét vào tủ, tôi nhớ có gửi một cái hôn "hàm thụ." Vụ này lam lũ lắm đây. Và nhà tôi -em Liên răng khểnh- không biết có còn kiếm ra giờ đọc lại những lá thư tình đầu đời hai đứa yêu nhau không, hay cũng có thằng bộ đội khỉ gió nào "nghệ sĩ phiêu bạt sông hồ" đến tán nhăng tán cuội, và biết đâu nàng chẳng chớp mắt. Nghĩ vậy, tôi đâm lo, sợ "quả báo!"

 

(còn tiếp dài dài)            THẰNG MỸ VÀNG 1978