Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@yahoo.ca

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 11, Chúa nhật 02.01.2005

    TRANG ĐẦU                              MỤC LỤC

Quĩ Cứu trợ nạn nhân sóng thần                                                          Vietcatholic Network

Hàng Giáo phẩm cần hỗ trợ cho hoạt động Tông đồ Giáo dân.    Sắc lệnh TĐGD,Vatican II

Sứ điệp của ĐGH Gioan Phaolo 2 về Công Giáo Tiến Hành               + ĐGH Gioan Phaolo 2

Nhân loại nghĩ gì về THƯỢNG  ĐẾ?                                                 Tác giả Nguyễn Hy Vọng

Mừng Giáng Sinh 2004                                                                    Trần Phùng Hoài Hương

Chánh án mặc áo thêu 10 điều răn Đức Chúa Trời                     Tác giả Nguyễn Long Thao

Lễ Thánh Gia Thất                                                                                 Lm. Roland Jacques

Tôi Rao Giảng                                                                   Nhà Văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

Kho Tàng từ Đông Phương                                                   Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường

Khiêm nhường để nhận biết Chúa                                               Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Tiểu luận: MẸ                                                                                                   Gs. Mạnh Bích

Tản mạn vài suy nghĩ                                                                    Tác giả Phùng Văn Phụng

Chuyện phiếm của Gã Siêu: Cần kiệm và lãng phí                                                   Gã Siêu

 

Quĩ Cứu trợ nạn nhân sóng thần

Kính thưa quý cha, quý tu sĩ nam nữ, và anh chị em
 

Niềm vui Giáng Sinh trên thế giới đã nhuốm buồn vì những tai họa do những cơn sóng thần, xuất phát từ trận động đất dữ dội dưới lòng biển Ấn Độ Dương tại khu vực quần đảo Sumatra của Indonesia, đánh vào bờ biển của 11 quốc gia Nam Á và Phi Châu.

Theo những báo cáo cập nhật mới nhất trong ngày 28/12/2004, đến nay con số người chết kiểm kê được đã lên đến 52,000 người. Con số này tăng hàng giờ theo tiến độ kiểm kê của các quốc gia. Bên cạnh đó, hàng triệu người lâm vào tình cảnh vô gia cư, thiếu thốn lương thực, các điều kiện vệ sinh và khủng hoảng tâm lý trầm trọng vì mất đi những người thân nhất trong những ngày mừng lễ Chúa Giáng Sinh và đón chào Năm Mới.

Ngay khi nhận được tin tức đau buồn này, trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật 26/12/2004, Đức Thánh Cha đã kêu gọi chúng ta cầu nguyện cho những người quá cố và gia đình các nạn nhân; đồng thời Ngài kêu gọi tín hữu khắp nơi hãy quảng đại giúp đỡ các nạn nhân vượt qua thảm họa này. Các tổ chức bác ái của Giáo Hội đã được tổng động viên vào công tác cứu trợ khẩn cấp và đang rất cần đến sự giúp đỡ quảng đại của quý cha, quý tu sĩ nam nữ, và anh chị em.

Trước lời kêu gọi của Đức Thánh Cha và các Vị Giám Mục các quốc gia liên hệ với thảm họa Sóng Thần, lẽ nào chúng ta có thể dửng dưng trước nỗi thống khổ điêu linh của nhân loại? Lẽ nào chúng ta có thể bình thản nhìn những ánh mắt thất thần và những khuôn mặt còn đượm nét kinh hoàng của những trẻ thơ lang thang trên các bãi biển khóc tìm mẹ cha?

Trước tình trạng này, LM Bùi Thượng Lưu (chủ nhiệm Dân Chúa Âu Châu), LM Nguyễn Hữu Quảng (chủ nhiệm Dân Chúa Úc Châu) và LM Trần Công Nghị (giám đốc VietCahtolic Network), chúng tôi đã bàn hỏi và quyết định xúc tiến thành lập ngay QŨI CỨU TRỢ cho các nạn nhân sóng thần thuộc các quốc gia bị thiên tai như Sri-Lanka, Ấn Độ, Nam Dương, Thái Lan, v.v... Số tiền thu được sẽ được gửi trực tiếp cho qũi Caritas Hội Đồng Giám Mục các quốc gia liên hệ.

Chúng tôi xin kêu gọi qúi đồng hương người Việt Nam (không phân biệt tôn giáo) đóng góp vào qũi cứu trợ. Qúi vị có thể đóng góp tùy vào sự thuận tiện của qúi vị cho các tổ chức được nêu ra dưới đây. Khi nhận được sự giúp đở của qúi vị, chúng tôi sẽ liệt kê danh sách và đăng tên tuổi trên VietCatholic Network.

Xin quý cha, quý tu sĩ nam nữ, và anh chị em ủng hộ công việc bác ái này của Giáo Hội qua các địa chỉ sau đây tùy theo nơi nào thuận tiện nhất cho quý cha, quý tu sĩ nam nữ, và anh chị em.

Tại Mỹ Châu:

VietCatholic Charity

Check xin đề : "VietCatholic Charity": và gửi về:

VietCatholic, P.O. Box 1408, Claremont, CA 91711, USA,

Account: Bank of America, VietCatholic Charity # 3091-02052-16164.

Email: conggiao@gmail.com

Tại Âu Châu:

Nguyệt san Dân Chúa Âu Châu

Konto DAN CHUA “SOS Songthan”: LB-BW Bank (Germany)

Konto-Nr. 1261910 BLZ 600 501 01

IBAN: DE 28 6005 0101 0001 2619 10

Email: danchuaauchau@t-online.de

Tại Úc Châu:

Nguyệt san Dân Chúa Úc Châu

Dan Chua Vietnamese Catholic Magazine,

National Bank account Number: 083373666711925

(Nếu muốn có giấy miễn thuế xin đề Don Bosco Mission)

Và gởi về địa chỉ Lm. Anthony Nguyễn Hữu Quảng

715 Sydney Rd. Brunswick, VIC 3056, AUSTRALIA

Email: quangsdb@yahoo.com

HAY GỬI VỀ CÁC TRƯƠNG MỤC CỦA TÒA THÁNH

Tại Âu Châu:

Ủy Ban Đồng Tâm của Tòa Thánh "Cor Unum"

Emergenza Asia

Conto corrente postale n. 603035

Pontificio Consiglio COR UNUM - 00120 Città del Vaticano,

hay: Asian Emergency

Bank Account no. 603035

Pontifical Council Cor Unum 00120, Vatican City

hay: Urgence Asie

Le compte courant postal n. 603035

Conseil pontifical Cor Unum - 00120 Cité du Vatican.

Trân trọng,

Lm Gioan Trần Công Nghị, VietCatholic Charity

Lm Stêphanô Bùi Thượng Lưu, Dân Chúa Âu Châu

Lm Anthony Nguyễn Hữu Quảng, Dân Chúa Úc Châu

VietCatholic Network

VỀ MỤC LỤC


 

Hàng Giáo phẩm cần hỗ trợ cho hoạt động Tông đồ Giáo dân 

 

Việc tông đồ của Giáo dân, cá nhân hay tập thể, phải được đặt vào đúng chỗ trong công cuộc tông đồ của toàn thể Giáo hội; hơn nữa, điều cốt yếu của việc tông đồ Kitô giáo là liên hệ với những người đã được Chúa Thánh Thần đặt lên coi sóc Giáo hội của Thiên Chúa (x.Cv 20,28). Sự cộng tác giữa các tổ chức tông đồ khác nhau cũng cần thiết không kém và phải được Hàng Gíao phẩm điều hành thích đáng.

Quả thế, muốn phát huy tinh thần hiệp nhất, để tình bác ái huynh đệ nổi bật trong mọi hoạt động tông đồ của Giáo hội, để đạt được những mục đích chung, cũng như để tránh những cạnh tranh nguy hại, thì cần phải có sự tôn trọng lẫn nhau và phối hợp thích đáng giữa các tổ chức tông đồ trong Giáo hội, miễn là đặc tính riêng của mỗi tổ chức vẫn được duy trì. Điều đó rất cần thiết, khi có công tác đặc biệt naò trong Giáo hội đòi hỏi phải có sự hoà hợp và cộng tác vào việc tông đồ giữa Hàng Giáo sĩ: Dòng, Triều, Tu sĩ và Giáo dân.

Bổn phận của Hàng Giáo phẩm là hỗ trợ cho hoạt động tông đồ của Giáo dân, đề ra những nguyên tắc hành động và giúp đỡ về mặt thiêng liêng, phối hợp việc tông đồ của họ để sinh ích chung cho cả Giáo hội, và cũng phải lo cho giáo thuyết và chỉ thị của Giáo hội được tuân hành.

Có nhiều thể thức liên lạc giữa việc tông đồ Giáo dân với Hàng Giáo phẩm, tuỳ theo hình thức và mục tiêu của mỗi hoạt động tông đồ.

Trong Giáo hội, quả thật có nhiều hoạt động tông đồ do Giáo dân có sáng kiến thành lập và khôn khéo điều hành. Nhờ những sáng kiến như thế, trong nhiều hoàn cảnh, Giáo hội có thể chu toàn sứ mệnh của mình cách tốt đẹp, và do đó Hàng Giáo phẩm nhiều khi ca ngợi và giới thiệu các tổ chức đó.

Nhưng không một tổ chức nào được mặc cho mình danh hiệu "Công Giáo", nếu không có sự ưng thuận của Giáo quyền hợp pháp.

( Sắc lệnh Tông Đồ Giaó Dân, Vatican 2, 23 & 24 - Lịch Công Giáo 2005 trang 95 & 96 )

VỀ MỤC LỤC


 

Sứ điệp của ĐGH Gioan Phaolo 2 về Công Giáo Tiến Hành

 

(Đại Hội Quốc Tế Công Giáo Tiến Hành tại Roma đã khai diễn từ ngày 31/8/04 đến 5/9/04 do hai tổ chức "Diễn Đàn Quốc Tế Công Giáo Tiến Hành" và "Công Giáo Tiến Hành Italia" phối hợp với Hội Đồng Giáo Hoàng đặc trách Giáo Dân)

 "Hãy Ra Khơi! Hỡi anh chị em thuộc phong trào Công Giáo Tiến Hành. Hãy can đảm trước tương lai! Đây là lời mời gọi mà tôi đã gởi đến những đại biểu của Hội Nghị Toàn Quốc lần thứ XI của Phong Trào Công Giáo Tiến Hành Italia, ngày 26 tháng 4 năm 2002. Tôi vui mừng nhận thấy rằng phong trào đã quyết định lấy lời kêu gọi của tôi làm mục tiêu dấn thân và làm khẩu hiệu cho Đại Hội Quốc Tế Công Giáo Tiến Hành, được khai mạc tại Roma vào ngày 31 tháng 8 năm 2004 nầy, do sáng kiến của Diễn Đàn Quốc Tế Công Giáo Tiến Hành và của Công Giáo Tiến Hành Italia, trong sự cộng tác với Hội Đồng Giáo Hoàng về Giáo Dân.

Tôi muốn gởi những lời chào thân tình nhất của tôi đến tất cả những vị lãnh đạo và những phụ tá của phong trào công giáo tiến hành của nhiều quốc gia khác nhau đang họp tại Trung Tâm Hội Nghị "DOMUS PACIS" (Nhà Hòa Bình), ở Roma. Một cách đặc biệt, tôi chân thành chào quý vị Hồng Y và quý chư huynh trong hàng giám mục đã muốn tham dự vào biến cố quan trọng nầy.

"Hãy cam đảm trước tương lai!" là một thái độ không phát sinh từ một chọn lựa duy ý chí, nhưng được phát sinh và triển nở từ việc nhớ lại hồng ân quý giá là Phong Trào Công Giáo Tiến Hành, ngay từ lúc được thành lập. Theo vị tiền nhiệm muôn đời đáng ghi nhớ của tôi là Đức Piô XI, do bởi "một linh ứng đầy quan phòng", Phong Trào Công Giáo Tiến Hành đã là một lực quy tụ, tổ chức và thôi thúc một khuynh hướng lúc đó "cổ võ sự tham dự của giáo dân", một sự cổ võ đã được Công Đồng Vaticanô II xác nhận cách long trọng. Trong phong trào Công Giáo Tiến Hành, hàng thế hệ các tín hữu đã được trưởng thành trong ơn gọi riêng của họ, trên con đường huấn luyện Kitô làm cho họ được ý thức trọn vẹn về chính sự đồng trách nhiệm của họ trong việc xây dựng giáo hội, vừa thôi thúc họ hăng say dấn thân hoạt động tông đồ trong tất cả mọi môi trường sinh sống. Nhân dịp nầy, làm sao không nhắc lại rằng Sắc Lệnh của Công Đồng về việc Tông Đồ Giáo Dân, đã nhìn nhận truyền thống đáng giá về việc tông đồ giáo dân nầy vừa mạnh mẽ đề nghị nó trong Giáo Hội? (x. sắc lệnh Apostolicam actuositatem, số 20). Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục về Giáo Dân, và những phát biểu của tôi trong những dịp Hội Nghị của Công Giáo Tiến Hành Italia, đã mạnh mẽ nhắc lại những đề nghị của Công Đồng Vaticanô II, vừa cổ võ vượt qua vài hoàn cảnh khó khăn.

Ngày hôm nay, tôi muốn nhắc lại một lần nữa rằng: Giáo hội cần đến Công Giáo Tiến Hành! Việc ghi nhớ nầy không nên được rút gọn về việc chỉ nhớ về quá khứ cách đóng kín, nhưng phải trở nên một sự ý thức về hồng ân quý giá mà Chúa Thánh Thần đã ban cho Giáo Hội; đây là một vào lúc bình minh của ngàn năm thứ ba có sức khơi dậy những hoa trái mới của sự thánh thiện và việc tông đồ, vừa mở rộng việc "thành lập" hiệp hội công giáo tiến hành nơi nhiều giáo hội địa phương tại những quốc gia khác nhau.

Đã đến lúc thực hiện việc hăng say dấn thân, được thể hiện trong những thực tại đa diện của anh chị em. Có nhiều hướng hoạt động làm ta hy vọng vào "thời ân sủng" của một mùa xuân mới của Tin Mừng! Trách nhiệm vĩ đại nầy của tất cả anh chị em cùng với những vị chủ chăn của anh chị em, và là trách nhiệm của toàn thể giáo hội, (trách nhiệm đó) đòi hỏi một quyết định khiêm tốn và can đảm "hãy bắt đầu lại từ Chúa Kitô", trong ý thức mình được nâng đỡ bởi sức mạnh có mặt khắp nơi của Chúa Thánh Thần. Trong trách vụ cao cả nầy, ước chi tất cả mọi tín hữu giáo dân đều dấn thân vào, với ý thức về ơn gọi riêng của mình khi lãnh nhận bí tích rửa tội cũng như ý thức về ba sự dấn thân --- tư tế, tiên tri và vương giả --- phát sinh từ đó. Tin tưởng vào ân sủng của Thiên Chúa và được nâng đỡ bởi một ý thức sống động mình thuộc về giáo hội, xét như là "nhà và là trường học của sự hiệp thông", các giáo dân đề nghị lắng nghe những giáo huấn và những chỉ dẫn của các vị chủ chăn, ngõ hầu họ trở nên những cộng tác viên hữu hiệu, trong việc xây dựng những cộng đoàn giáo hội mà họ thuộc về.

Mọi người Kitô đều phải làm chứng cho thấy chính đời sống mình đã được biến đổi bởi ân sủng như thế nào và được thôi thúc bởi đức bác ái ra sao. "Điều nầy có thể được nếu những tín hữu giáo dân biết vượt qua nơi chính mình khoảng cách giữa Tin Mừng và cuộc sống, vừa thiết lập lại trong sinh hoạt hằng ngày tại gia đình, tại nơi làm việc và trong xã hội, sự hiệp nhất của một nếp sống gặp được nơi Tin Mừng nguồn cảm hứng và sức mạnh để được thể hiện trọn vẹn" (TH Giáo Dân số 34). Công giáo tiến hành đã luôn luôn và ngày nay còn cần phải là <>trường huấn luyện các tín hữu; các tín hữu nầy, một khi được soi sáng bởi học thuyết xã hội của Giáo Hội, cần phải dấn thân nơi hàng đầu để bảo vệ hồng ân thánh thiêng của sự sống, trong việc duy trì phẩm vị con người, trong việc thực hiện sự tự do giáo dục, trong việc cổ võ ý nghĩa đích thật của hôn nhân và gia đình, trong việc thi hành đức bác ái đối với những anh chị em thiếu thốn nhất, trong việc đi tìm hòa bình và công bằng, và trong việc áp dụng những nguyên tắc hỗ trợ và liên đới với những thực tại xã hội khác nhau nhưng liên hệ với nhau.

Tôi biết rằng Đại Hội Quốc Tế của anh chị em, bắt đầu tại Roma, sẽ tiếp tục bằng cuộc hành hương đến Loreto và sẽ đạt đến chóp đỉnh, vào Chúa Nhật mùng 5 tháng 9 (năm 2004), nơi quảng trường Montorso, với việc cử hành Thánh Thể; trong Thánh Lễ nầy, tôi được vui mừng khắc ghi vào sổ Những Vị Chân Phước vài thành viên của Công Giáo Tiến hành đã nêu gương sống Tin Mừng trong chính cuộc sống. Tôi chuẩn bị sẵn để hành hương lần nữa đến Đền Thánh thân yêu của Đức Mẹ Loreto, trung tâm quốc tế phổ biến đường lối tu đức thánh mẫu, nơi mà tôi sẽ dâng lên Mẹ Maria lời cầu nguyện của tôi, ngõ hầu, với ơn Chúa Thánh Thần, anh chị em có thể luôn sẵn sàng nói lên lời thưa "Xin Vâng" đáp lại thánh ý Chúa, vừa làm cho mình trở thành những chứng nhân của Mầu Nhiệm Chúa Kitô để cứu rỗi thế giới.

Với lời cầu chúc cho Đại Hội được nhiều hoa trái, và để có được một sự hiện diện mỗi ngày một quyết liệt hơn của Công Giáo Tiến Hành trong việc phục vụ Vương Quốc của Chúa Kitô, tôi xin ban cho tất cả Phép Lành Tòa Thánh.
 

Từ Castel Gandolfo, ngày 10 tháng 8 năm 2004.
      Gioan Phaolô II ( ấn ký)

Lm. Đặng Thế Dũng chuyển ngữ

VỀ MỤC LỤC


Nhân loại nghĩ gì về THƯỢNG  ĐẾ?

 

Thượng Đế còn đưọc gọi là Đấng Tạo Hóa, Ông Trời, Trời, Thiên, Thiên Chúa, Đấng Tối Thượng, Đấng Tối Cao, Đưc Chúa Trời, mặc dù người Việt Nam chúng ta có nhiều cach gọi khac nhau, những cũng chỉ nói đến một Đấng duy nhât đã dựng nên mọi loài mọi vật trên trời, dưới đât, hữu hình và vô hình.

 Dân Việt  tin vào Trời. Ca dao, tục ngữ, hoặc những câu nói trong dân gian  đầy dẫy, nói lên niềm tin đó:

 

Trời sinh voi, sinh cỏ. Trời đánh còn tránh miếng ăn.

 

Trời sinh, Trời dưỡng. Trời cao có mắt.

 

Trời cho ai nấy hưởng; Trời gọi ai, nấy dạ

 

Sống nhờ ơn Trời, chêt về chầu Trời.

 

Trời cho không ai thấy, Trời lấy không ai hay.

 

Trời nào có phụ ai đâu, hay làm thì giàu, có chí thì nên.

 

Trời cho hơn lo làm. Chỉ có Trời cứu.

 

Mong đèn Trời soi xét. Có Trời chứng giám.

 

Trời cao đất rộng, em vọng lời nguyền:

 

Đất trời còn đó, em giữ truyền thủy chung.

 

Lưới Trời lồng lộng, thưa mà không lọt.

 

Thiên bât dung gian. (Trời không dung thứ kẻ gian ác)

 

Thiên sinh vạn vật, duy nhân tối linh (Trời sinh ra mọi loài, con người là khôn hơn hêt)

 

Đại phú do Thiên, tiểu phú do cần (Giàu to là do Trời cho, giàu nhỏ là do cần kiệm)

 

Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên. (Con người mưu kế, thành bại là do Trời định đoạt)

 

Thuận Thiên giã tồn, nghịch Thiên giã vong (Theo Trời thì sinh tồn, nghịch Trời thì diệt vong)

 

Ở hiền thì lại gặp lành, những người nhân đức Trời dành phúc cho.

 

Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân (Trời không phụ bạc người có lòng tôt)

 

Duyên ba sinh Trời đã dành sẵn (duyên vợ chồng là do Trời săp đặt)

 

Dù ai nói ngược nói xuôi,

Ta đây vẫn giữ Đạo Trời khăng khăng,

Dù ai chác lợi mua danh,

Miễn ta, ta được đạo lành thì thôi.

 

Ơn Trời mưa nắng phải thì,

Nơi thì bừa cạn, nơi thì cầy sâu,

Công lênh chẳng quản dài lâu,

Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.

 

Lạy Trời mưa xuống,

Lấy nươc tôi uống,

Lấy ruộng tôi cầy,

Lấy đầy bat cơm,...

 

Nhờ Trời mưa thuận gió hòa,

Nào cầy nào cấy trẻ gìa đua nhau;

Lạy Trời mưa thuận gió đều,

Cho đồng lúa tốt, cho chìu lòng em.

 

Con chim nó hót trên cành,

nếu Trời không có, có mình làm sao?

Con chim nó hót trên cao,

nếu Trời không có, làm sao có mình?

 

Ngẫm hay muôn sự tại Trời,

Trời kia đã băt làm người có thân,

băt phong trần phải phong trần,

cho thanh cao mới được phần thanh cao. v.v.

 

Đưc Khổng Tử: "Duy Thiên vi đại" (Chỉ có Trời là lớn)

"Nhân tri nhân bất khả dĩ bất tri Thiên."

(Người ta còn biêt nhau, không thể mà không biết Trời được.)

 "Nhân hữu đạo, bảo thực, noãn y, dật cư nhi vô giáo, tắc cận ư cầm thú."

(Làm người phải có đạo, nếu chỉ tìm ăn no mặc ấm, mà sống vô đạo, thì có hơn gì con vật.)

 Thầy Chu Tử: "Thượng đế gỉa, Thiên chi Chúa tể gỉa."

(Vua trên hêt là Chúa trên trời.)

 Ông Đỗ Trọng Thư: "Thiên gỉa vạn vật chi tổ."

(Trời là gôc của vạn vật.)

 Triêt gia Pascal: "Nếu bạn muốn tin vào Thượng Đế, bạn phải qùy xuống"

 Bác học Pasteur: "Càng nghiên cứu về khoa học, tôi càng tin vào Thượng Đế."

 Bác học Becquerel: "Nhờ nghiên cứu khoa học, đã dẫn tôi đến Thượng Đế và tôi có đưc tin."

 Bác học Newton: "Tôi đã thấy Thượng Đế qua viễn vọng kính."

 Pasteur: "Mĩa mai cho lòng dạ con người, nếu chết là hêt hoặc chết là trở về với hư vô."

 Văn hào Platon: "Những ai có một chut trí khôn, đều phải kêu cầu Thượng Đế trươc khi băt đầu công việc của họ, dù việc lớn hay việc nhỏ."

 Bác học Duclaux: "Nếu sự sống đầu tiên xuât hiện trên mặt đât do sự tình cờ, nơi mà (vũ trụ này) mọi sự đều có luật, thì sự xuât hiện kia, nó kỳ dị như hòn đá, tự nó bò lên sườn núi."

 Charles Dickens: “Kinh Thánh Tân Ươc chính là cuốn sách tôt nhât đã từng và sẽ được biêt đến trên thế giới.”

 Isaac Newton: “Kinh Thánh có nhiều biểu hiện chăc chắn về tính có thực hơn bât cứ một câu chuyện nào chống lại sách đó.”

Victor Hugo: “Nươc Anh có hai cuốn sách, Kinh Thánh và Shakespears.

Nươc Anh sinh ra Shakespeare, còn Kinh Thánh làm nên nươc Anh.”

 Bác học Albert Einstein: “Khoa học không có tôn giáo là mù lòa, tôn giáo thiếu khoa học là qùe quặt.” ; “Thượng Đế không chơi trò may rủi.”

 Giáo sư James Simpson, người phát minh ra phương pháp gây mê trong phẩu thuật, khi được hỏi về những phát minh của ông, đã trả lời: “Phát minh quan trọng nhất của đời tôi là tìm được Chúa Cứu Thế Giêsu.”

 Triêt gia Kant: "Không ai chứng minh một cách xác đáng là không có Thiên Chúa."

 Bac học Edison, đã ghi vào sổ vàng khi ông đến viếng thap Eiffel: "Edison hêt sưc khâm phục và ca ngợi tât cả những nhà kỷ sư, trong đó gồm cả Thiên Chúa."

 Pascal: "Người không tin nói, nếu tôi có đưc tin, tôi sẽ bỏ tà dâm. Nhưng tôi bảo anh, nếu anh bỏ tà dâm, anh sẽ có đưc tin."

 Văn hào Bossuet: "Những chân lý đời đời không thay đổi (của luân lý) buộc ta phải tin rằng có một Đấng Tạo Hóa."

 Triêt gia Brunetter: "Đã từ lâu, tôi cố gắng tìm kiếm một nền luân lý vô tôn giáo. Trươc hêt, tôi thấy rằng điều này khó thực hiện, sau tôi thấy rằng qúa liều lĩnh, cuối cùng tôi thấy rằng không thể được. Tôi một người thuộc nhóm Tự Do Tư Tưởng. Tôi băt đầu nghiên cứu Thiên Chúa giáo. Tôi đã học hỏi rât lâu, suy nghĩ rât cẩn thận, cuối cùng tôi phải nói rằng, chân lý ở phía chân trời đó."

 Giáo sĩ Moreux giám đôc đài thiên văn Bourges: "Tôi liên lạc với cac vị giám đôc thuộc hêt mọi đài thiên văn trên thế giới, tât cả đều tin có Thiên Chúa."

 Charles Nicolle, người đoạt giải Nobel Y học, năm 1928: “May mắn thay trong tôn giáo có những bí nhiệm. Nếu không tôi sẽ hoài nghi nó, vì cho rằng tôn giáo là do trí loài người tạo ra. Bí nhiệm làm tôi vững tâm. Đó là dấu ấn của Thiên Chúa.”

 Alexis Carrel, tiến sĩ y khoa, giáo sư đại học Lyon, đoạt giải Nobel 1912. Ông là một nhà vô thần, nhưng sau khi chứng kiến phép lạ nhãn tiền tại Lộ Đưc (Lourdes, France). Marie Ferrand, từ một cô gái săp chêt, trở nên lành mạnh tưc khăc, ông nói: “Thật là một chuyện không thể có nhưng có thực. Qủa là bât ngờ, một phep lạ mới xẩy ra.” Không dám tin ở mình. Alexis Carrel mời hai bác sĩ bạn đến chứng kiến và cả hai đều xac nhận cô đã hoàn toàn bình phục. Alexis Carrel đã trở nên tín hữu Đạo Chúa, trước khi về nhà Cha trên trời.

 Văn hào Victor Hugo: "Thượng Đế là Đấng vô hình xac thực, chối Ngài là mù quáng điên rồ."

Thánh Augustin: "Không ai phủ nhận Thượng Đế, nếu họ không có lợi gì khi phải phủ nhận Ngài."

Thánh Lêô Cả: "Cảnh vật thiên nhiên dạy mỗi người biêt tôn thờ Thiên Chúa."

Thánh vịnh 19:1: "Tầng trời xưng tụng vinh quang Chúa, không trung giãi tỏ sự nghiệp Ngài."

Triêt gia Platon: "Có thể xây một thành trì trên chín từng mây, dễ hơn cai trị một dân không có tôn giáo."

Chateaubriand: "Tiêu hủy việc thờ tự của Phuc âm, thì mọi làng phải xây nhiều nhà ngục và phải có nhiều lý hình."

Bác học T. Termier: "Cứ chung mà nói, mọi khoa học đều dọn trí khôn ta nhận biêt Thiên Chúa hiện hữu. Hơn mọi người khac, nhà bac học dù chuyên về khoa nào cũng thế, bao giờ cũng dễ dàng nhận thấy mọi vật đều biến chuyển, bị tạo, hỗn hạp, khuyêt điểm, có cùng đich và rât phưc tạp. Do đó, hơn những người dôt nat khac, nhà khoa học dễ có ý hướng về một Đấng bât di dịch, tự hữu, cần thiêt, hoàn toàn và là Đấng duy nhât an bài mọi sự. Chính vì thế mà người ta bảo: khoa học dẫn đến Thiên Chúa. Và cũng chính vì thế mà người ta có thể nói, vũ trụ vật lý là bí tích của Thiên Chúa."

 Giám mục Hulst sau 20 năm nghiên cứu cac vấn đề triêt học. Ngài có viêt năm 1885 rằng: Ngài đã đọc và suy nghĩ rât nhiều về cac sach báo cac nhà vô thần tài giỏi nhât, có tiếng nhât, những nhà thực nghiệm, những nhà phiếm thần đủ cỡ đã viêt. Tât cả những cái đó, không làm khuynh đảo lòng tin của Ngài, mà còn làm cho Ngài tin đến mưc độ hiển nhiên, sự có một đấng Thượng Đế tuyệt đối, có ngôi vị và tạo dựng vạn vật.

 Bismarck, một võ quan và cũng là chính khach nổi tiếng của Đưc: "Người có trí khôn mà không nhìn biêt, hay chẳng muốn nhìn biết có Thiên Chúa, thì anh không hiểu sao họ không chêt quach đi, vì chán nản và bị khinh bỉ." (thư viêt cho vợ)

 A. Eynieu đã công bố bản thống kê : trong số 432 nhà bac học thuộc thế kỷ 19; 34 vị không biêt lập trường tôn giáo, còn 398 phân chia như sau: 15 vị dửng dưng, 16 vị vô thần, 367 vị tin; như vậy là 92% cac nhà bac học tin Thượng Đế.

 Bac sĩ Dennert, người Đưc cũng tuyên bố kêt qủa tìm tòi của ông để biêt quan niệm tôn giáo của 300 nhà bac học, tìm hiểu trong những số lỗi lạc nhât thuộc 4 thế kỷ qua. "38 vị tôi không rõ cac ông quan niệm thế nào, còn 262 vị, thì 20 vị dửng dưng, 242 ông tin. Tưc cũng 92% tin có Thượng Đế."

 Svetlana Staline, con gái nhà độc tài đỏ Staline, sinh ra trong vô thần, huấn luyện trong vô thần, bà đã trở nên tín hữu Thiên Chúa giáo.

 Các bác học vô thần đã trở lại Thiên Chúa giáo: Taraschi Nagai, Alexis Carrel, Bregson...

 Ông Lục Trung Tường, nhà ngoại giao Trung hoa, từ nhỏ đã là môn sinh của sân Trình cửa Khổng, và chỉ biêt có đạo ông bà tổ tiên, sau đã gặp Thiên Chúa giáo như gặp được kho báu, ông đã trở về với Chúa. Ông nói: "Ơn cứu độ là chổ tập trung tât cả cac nẻo đường, là chổ độc nhât mà đưc hiếu của loài người, được tiêp vào đưc hiếu thảo siêu nhiên mà Đưc Giêsu Kitô đã dạy, và đã cho chúng ta hưởng thụ, để kêt hợp tât cả nhân loại với Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên trời."

 Ông Ngô Gia Lễ, Tri phủ Kim sơn, Ninh bình, Băc Việt. Vì tiêp xuc với tín hữu Thiên Chúa giáo, ông muốn tìm hiểu đạo lý, đã đọc sach Phuc âm, đã nhận ra tính cach siêu việt của Đưc Giêsu Kitô, Con Trời giáng thế. Ông nói: "Tôi đã đọc Phuc âm một cach thành kính. Tôi nhận thấy Đưc Giêsu Kitô không phải chỉ là nhân vật khac thường, Ngài chính là Con Thượng Đế đã đến để cứu đời. Tôi là một trong những kẻ được Ngài tỏ mình ra trong Phuc âm."

 Ông Trịnh Sùng Ngô, Giáo sư triêt Đại học Honolulu, nguyên Đại sứ Trung Hoa Dân Quôc tại Vatican. Sau khi trở lại ông giup nhiều bạn hữu biêt đạo, ông đã đem hêt tâm trí vào việc dịch Thánh Kinh ra tiếng Trung hoa. Ông nói: "Thiên Chúa giáo là đạo bởi Trời. Người ta lầm cho đó là đạo của Âu Châu. Đạo đó không phải của Âu châu hay Á châu, không cũ, không mới. Sau nhiều năm lạc lõng, nay tôi được về với Đưc Giêsu, để ở luôn với Ngài thật là vui sướng vô biên. Từ nay sự sống và bản thể tôi được đặt vào lãnh vực đời đời. Gia nhập Hội Thánh Chúa, tôi đã không thiệt gì, nhưng đã được hoàn toàn mãn nguyện."

 Họa sĩ Nhật Foujita, dòng dỏi tướng quân Samourai, đã giup triều đình Mikado, từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ 12. Thân sinh ông là sĩ quan câp tướng trong Bộ Tham Mưu Hoàng gia. Sau khi tôt nghiệp trường mỹ thuật Đông Kinh, Foujita được gửi qua Âu châu, để tiêp xuc với mỹ thuật Tây phương vào năm 1912. Đến Paris, Foujita được tiêp xuc với cac nhà danh họa như Picasso, Van Gough, Renoir, Gauguin..v.v..được  quan sat những tac phẩm ở cac bảo tàng viện và cac Thánh đường. Oc thẩm mỹ tế nhị làm cho ông chóng nổi tiếng. Năm 1919, 1920, 1923 ông đã trưng bày nhiều tac phẩm gía trị. Năm 1924-30 ông chỉ huy trang trí Khu Nhật Bản ở Câu Lạc Bộ Đồng Minh, được huy chương của hai nươc Phap và Bỉ. Năm 1931 ông qua Mỹ, năm 1933 qua Roma, về Nhật năm 1949, ông và cả gia đình lãnh Phep Thánh Tẩy tại nhà thờ Reims. Ông đã mãn nguyện trở nên con Chúa. Ông nói: "Sự nghiên cứu mỹ thuật Tây phương đã đưa tôi đến những sáng tac của Thiên Chúa giáo, làm cho tôi bươc vào một thế giới siêu phàm, ở đấy tôi nhìn thấy Thượng Đế. Những kiến truc vĩ đại, những kiệt tac về điêu khăc, hội họa của  Thiên Chúa giáo làm cho tôi rung động tâm hồn, khiến tôi say mê tìm hiểu đến thỏa mãn. Tôi hoàn toàn tin tưởng ở Thượng Đế và nhât quyêt trở về với Ngài."

 Ông Mashaba, một học gỉa Ấn độ, sinh tại Bihar. Ông được du học bên Anh nhiều năm, tuy có tài về hành chánh, ông không nhận một công tac nào trong khối Liên hiệp Anh; sẵn có khuynh hướng về thần bí học, ông đã sống độc thân để nghiên cứu về cac tôn giáo. Ông nói: "Sở dĩ mỗi tôn giáo công dụng khac nhau, vì mỗi giáo tổ nhìn thấy một khía cạnh đau khổ của con người và tìm cach cứu giup theo khía cạnh đó. Bởi thế có thứ kêu gọi từ bi quảng đại, có thứ chủ trương diệt dục hy sinh, có thứ dùng hiếu thảo nhân nghĩa, có thứ giup tu thân cứu đời, công bằng bac ái v.v..nhưng không tôn giáo nào đầy đủ như Thiên Chúa giáo, vì xây dựng cho con người một cuộc sống có ý nghĩa cao thượng, bảo đảm cho một tương lai hạnh phuc, và có nhiều đặc điểm mà cac tôn giáo khac không có, như:
     

- Vị giáo tổ bởi Trời giáng thế và đã được Sấm ký báo trươc từ mấy ngàn năm trong lịch sử hẳn hoi, khac hẳn với những giáo tổ khac, chỉ là người trần tục.

- Có từ Trời xuống lập đạo, thì đạo đó mới có khả năng đưa con người về Trời được.

- Đạo Trời thì như thuốc trường sinh, dùng thuôc này thì không cần thuôc nào nữa; vì cac đạo khac chỉ xoa dịu, hay làm quên đau khổ trong thời hạn, còn Đạo Trời chẳng những cứu khổ, còn ban cho con người sự sống đời đời, đó mới thật là ươc vọng tối cao của mỗi người.

- Đưc Giêsu đã chiến thắng sự chêt, đã sống lại và về Trời, bảo đảm cho cuộc hành trình của tín hữu trên đường đời, là hy vọng vững chăc của người tín hữu.

- Vì mang săc thái siêu phàm và chứa đựng những gía trị cao thượng vượt mưc, nên Đạo Trời thường bị ghen tị, hiểu lầm hay lấn áp, thế mà vẫn phat triển điều hòa, vẫn vững bền giữa mọi gian lao thử thach, khiến cho nhiều người trươc kia thờ ơ lãnh đạm, hay thù ghet, phải tìm hiểu cảm phục và do đó nhiều khi trở nên tín hữu nhiệt thành.

Ông kêt luận bằng một ví dụ: trươc khi mặt trời mọc, người ta đã thấy ánh sáng của Đạo Trời chiếu vào nhân loại, trươc khi chính Con Trời giáng thế làm sáng tỏ hẳn Đạo Trời. Nay ngày của cuộc đời đã đến lúc chính ngọ, thì không ai mà không được ánh sáng của Đạo Trời soi tới.

 J.J Rousseau có ý mĩa mai những ai cho rằng câu chuyện về cuộc đời Chúa Giêsu là bịa đặt, như sau: "Bịa đặt như thế thì không được; đến nổi tac gỉa bịa đặt, (nếu có) chăc chắn còn lạ lùng hơn anh hùng trong cuốn sach."

 Các Tổng Thống Hoa Kỳ:

- George Washington: "Không thể có một chính phủ đúng, khi chính phủ đó phủ nhận Thượng đế và Kinh thánh."

- Abraham Lincoln: "Kinh Thánh là qùa tặng qúy nhât mà Thượng đế đã ban cho nhân loại."

- Dwight Eisenhower: "Văn minh của chúng ta được xây dựng trên nền tảng Kinh Thánh."

- Andrew Jackson: "Kinh Thánh phải là nền tảng cho thể chế của chúng ta."

 Một nhà bac học Mỹ có ý mĩa mai và đánh gía những kẻ chủ trương vô thần như sau:

- Trong con người có một số nươc đủ giặt một cái khăn bàn.

- Máu chứa chât săt, đủ làm 7 cái đinh đóng móng ngựa.

- Có một số chất vôi đủ quet một bức tường nhỏ.

- Đôt ra than, có thể làm được 65 cây viêt chì.

- Chât phôt phat đủ làm được hộp diêm.

- Và chât muối, hai hoặc ba muỗng nhỏ.

Bán tât cả những cái đó được 95 xu, chưa nổi một Mỹ kim.

Sau đây là hai câu chuyện minh chứng sự hiện hữu của Thượng Đế.

 Cái chêt của Voltaire.

Người ta coi ông là ông tổ của vô thần. Với ngòi but thiên tài, ông cố hạ bệ Thiên Chúa. Huấn ngôn của ông là "Hãy đánh đổ cái đứa quái gỡ" (ông ám chỉ Hội Thánh Chúa) Không một lời gian dối nào mà ông tởm gớm, không một vu oan nào mà ông ghê sợ. Ông chiêu tập một số anh em, lấy tên là nhóm Beelzebuth, mục đich để hạ bệ Thiên Chúa. Có chịu cac phep bí tich cũng để chế nhạo Thiên Chúa. Năm 1753 ông đã lên án Thiên Chúa: "20 năm nữa Thiên Chúa có thể về hưu, vì không còn ai phục vụ Ngài." Đúng 20 năm sau, năm 1773, Voltaire đã tăt thở trong cái chêt thê thảm. Ông trông thấy những hình ảnh làm ông run sợ, ông la lên: "Một bàn tay đang kéo tôi đến với Thiên Chúa...Đây qủy muốn băt tôi...Tôi trông thấy hỏa ngục."

Ông tru treo gầm thet như thú vật hung dữ. Ông lấy móng tay cấu xé thịt mình ra từng miếng. Một bà gìa hay giup đỡ người hâp hối, sau khi chứng kiến cái chêt của Voltaire, bà thường hay nói: "Khi ấy tôi đang ở gần giường của Voltaire đang hâp hối, tôi không còn muốn thấy một người vô đạo chêt nữa." Một người khac cũng đã nói: "Nếu qủy có thể chêt được, cũng không chêt dữ như Voltaire."

 Hỏa ngục.

Năm 1917, Đức Mẹ Maria đã hiện ra với ba trẻ tại Fatima, nươc Bồ đào Nha, đã cho cac em trông thấy Hỏa ngục và các em đã mô tả lại như sau:

"Đức Mẹ cho chúng con thấy một biển cả lửa hồng dường như ở dưới mặt đât. Chìm ngập trong lửa này là qủy dữ và cac linh hồn dưới hình thể con người, giống như những cục than hồng trong suốt, đen đủi hoặc xám xịt. Họ nổi lên trong đám cháy, bị cac ngọn lửa nâng lên cao, những ngọn lửa này phat ra từ thân hình họ cùng với một đám khói lớn. Họ lại rơt xuống mọi phía, giống như những tia lửa trong một đám cháy lớn, vô trọng lượng hoặc mât thăng bằng, và giữa những tiếng la het và rên rỉ vì đau đớn và tuyệt vọng, làm kinh khiêp chúng con và làm chúng con run lên vì sợ hãi. Cac qủy dữ có thể được phân biệt do cac hình thù gây kinh hãi và ghê tởm, giống như những con vật khủng khiêp và chưa bao giờ thấy, tât cả đều đen đủi và trong suôt. Thị kiến này kéo dài một luc. Làm sao chúng con có thể bày tỏ lòng biêt ơn cho xứng với Mẹ yêu dấu trên trời của chúng con, Đấng đã báo trươc cho chúng con trong lần hiện ra thứ nhât, khi hứa rằng Ngài sẽ đem chúng con về trời. Bằng không, con nghĩ rằng chúng con sẽ chêt điếng vì sợ hãi và kinh khiêp"

 Hy vọng ít dòng trình bày trên đây, giúp cho những ai còn ngờ vực sự hiện hữu của THƯỢNG ĐẾ suy nghĩ.

 Tác giả NGUYỄN HY VỌNG

Chứng Nhân Đức Kitô chân thành cám ơn tác giả Nguyễn Hy Vọng và rất mong được các độc giả gấn xa, cho dù chúng ta không cùng tôn giáo, xin hãy "góp thêm" vào cho bài viết trên đây ngày càng thêm phong phú bằng chính những kiến thức, niềm tin, kinh nghiệm sống của mình về Thượng Đế, chúng tôi tin rằng đây là một món quà quí báu cho tất cả những anh chị em chúng ta chưa muốn tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa

Xin chân thành cám ơn.

VỀ MỤC LỤC


MỪNG  GIÁNG  SINH  2004

 

 

MỪNG  GIÁNG  SINH  2004

 

Nhân loại reo vui Chúa Giáng trần

Cứu đời còn lắm cảnh tham sân

Chiến tranh diệt chủng mưu tàn phá

Khủng bố sát nhân cứ lộng hành

Nhạc Thánh chào mừng quanh " Máng Cỏ "

Bê Lem nghinh đón giữa Thiên Thần

Chúng Sanh đãnh Lễ Ngài Thiên Tử

Cầu Chúa Ngôi Hai hóa độ nhân

 

Trần Phùng Hoài Hương

( USA Giáng Sinh 2004 )

 

VỀ MỤC LỤC


 

Chánh Án mặc áo thêu Mười điều răn Đức Chúa Trời

MONTGOMERY, Alabama.17/12/04 - Nguồn tin của hãng thông tấn AP cho biết vị chánh án tại hạt Covington miền nam tiểu bang Alabama Hoa Kỳ đã bác lời yêu cầu của luật sư bào chữa xin hoãn phiên xử vì phía trước ngực áo quan tòa có thêu hàng chữ 10 điều răn Đức Chúa Trời. Hàng chữ này có màu vàng và lớn đủ để các người ở gần ông có thể đọc được.

Trong ngày thứ Hai vừa qua, ông chánh án Ashley McKathan đã bước vào phòng xử với bộ áo có thêu hàng chữ 10 điều răn Đức Chúa Trời. Ông xử vụ say rượu trong lúc lái xe. Luật sư bào chữa cho vụ án là ông Riley Powell phản đối quan tòa mặc bộ áo nói trên với lý do làm sao lãng sự chú ý của thân chủ. Ông cũng nại ra lý do là trước đây quan tòa không bao giờ mặc áo này.

Với hai lý do đó, luật sư xin quan tòa hoãn phiên xử. Nhưng tòa đã bác lời yêu cầu của luật sư.

Trong khi đó quan tòa McKathan tuyên bố với thông tín viên AP rằng: “Tôi tin 10 điều răn Đức Chúa Trời là biểu tượng cho sự thật và người ta không thể tách luật pháp ra khỏi sự thật. 10 điều răn Đức Chúa Trời có thể giúp quan tòa phân biệt phải, trái” Quan tòa cũng nói ông không tin là 10 điều răn Đức Chúa Trời trên áo của ông có ảnh hưởng đến những phán quyết của bồi thẩm đoàn.

Vụ này cũng giống như vụ ông Roy Moore đã bị truất phế khỏi chức Bộ Trưởng Tư Pháp tiểu bang Alabama vì không chịu dời bỏ tấm bia khắc 10 điều răn Đức Chúa Trời khỏi tòa nhà tư pháp của tiểu bang Alabama. Cựu bộ Trưởng Moore tuyên bố ủng hộ quyết định của quan tòa McKathan trong việc mặc áo có thêu 10 điều răn. Ông nói “Tôi hoan hô quan tòa McKathan. Đã đến lúc nền tư pháp phải nhận ra căn bản luân lý của luật pháp. Ông Moore cũng nói tôi đã bị thất bại đối với vụ tấm bia 10 điều răn Đức Chúa Trời. Nhưng với trường hợp của quan tòa McKathan, hy vọng vấn đề 10 điều răn sẽ được cứu xét lại.

 

Nguyễn Long Thao . VietCatholic News (18/12/2004 )

VỀ MỤC LỤC


Lễ Thánh gia thất

 

Bài giảng lễ chủ nhật 26 tháng 12 năm 2004

Lm. Roland Jacques

Hôm nay Giáo hội mừng lễ thánh gia thất ; Giáo hội tôn vinh Chúa Giêsu bên cạnh mẹ Ngài, là Đức Mẹ Maria,  và Thánh Giuse.

Chữ ‘gia’ trong tiếng hán-nôm có nghĩa là ‘nhà’. Lối ghép các tượng hình để viết ra thành chữ ‘gia’ ấy trong chữ hán cho ta  thấy bức tranh của một gia đình thôn quê ngày xưa : bên trên có mái nhà, dưới có con heo được xem là thực phẩm nuôi cả gia đình. Còn chữ ‘thất’ cũng có hình mái nhà ở trên, và dưới là chữ ‘thổ’ : thổ là đất để làm nền nhà, là quê hương nơi gia đình định cư sinh sống.

Gần đây Đức Thánh Cha có đến thăm thánh địa của Thánh Thất tại Lorêtô ở Ý : người ta nói từ xa xưa các thiên thần đã dời nhà bằng đá của Chúa Giêsu tù Nazareht đến đây ; ngôi nhà mà Chúa Giêsu đã cư ngụ, nơi mà thánh Giuse làm nghề thợ mộc, nơi mà Mẹ Maria đã đi ra để gánh nước giếng trong làng về cho cà gia đình thánh dùng hằng ngày.

Câu truyện Lorêtô ấy, ta có tin hay không cũng không sao. Nhưng Bài Tin Mừng ngày lễ hôm nay, cũng như Bài Tin Mừng của Lễ Đêm Giáng Sinh lại cho chúng ta biết đến một gia đình không nhà, không cửa, không có gì  thịnh soạn để ăn uống tiệc tùng cả. Trong cuộc sống đức tin của chúng ta, những người trong cộng đồng người nói tiếng Việt đang sống trên xứ người, biết được tình cảnh lưu lạc ấy lại là một điều rất qua trọng.

Hẳn nhiên, một số anh chị em chúng ta đã xây dựng được nhà cửa đất vườn nơi đây, đã có cơ sở đề nghĩ đến tương lai của mình. Nhưng có những kẻ khác lại canh cánh nhớ đến quê nhà, nơi chôn nhau cắt rún, nơi có mồ mả tổ tiên. Nhớ quê, nhớ nhà,  nhớ bà con thân thích. Rồi còn những kẻ không nhà, nói đúng hơn là tạm trú cho qua cơn túng cùng, và những kẻ ấy cũng có thể tối nay không có gì lót bụng cho khỏi đói. Họ không chạy thoát sự tàn bạo của một vua Hêrôđê, nhưng hẳn họ có những lý do để trốn tránh.

Anh chị em thân mến,

Nếu anh chị em nhận ra mình ở trong những con người tôi nhắc đến đây, thì anh chị em là hình ảnh sống động của Mẹ Maria và thánh Giuse đang chạy trốn qua Ai Cập . Anh chị em là người nhà của Thánh Gia Thất ! Lễ hôm nay đúng  là lễ mừng anh cị em đấy ! Chúa Giêsu là anh cả, và Ngài sẽ không bao giờ bỏ quên quí anh chị em trong bất cứ hoàn cảnh nào của cuộc sống. Ngài sẽ trìu mến yêu thương và bảo bọc anh chị em. Nhưng Ngài cũng kêu gọi anh chị em hãy lớn lên trong cuộc sống của mình, hãy trở nên những môn đệ thật sự, vác thánh giá trên vai mình và bước đi theo Ngài.

Quí anh chị em hẳn thắc mắc không biết văn hóa Việt Nam, một nền văn hóa mà anh chị em mến chuộng và hảnh diện, nền văn hóa đó có giúp anh chị em hiểu Phúc Âm hay không ? Anh chị em thân mến, Tại sao lại không ! Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô chỉ đến để mang lại ánh sáng mới, một sự khôn ngoan mới hơn mà thôi !

Chữ ‘gia’ trong tiếng hán không cho chúng ta hình ảnh hang lừa máng cỏ nơi Chúa sinh ra hay sao? Dưới má nhà, anh chị em thấy có các loài vật – con heo, con bò hay con lừa tùy theo mỗi tập tục, mỗi truyền thống. Nhưng đó là nơi mà Con Thiên Chúa làm người đã  chọn làm nơi cư ngụ trên dương gian khi mẹ Ngài sinh Ngài ra đời.

Từ nay, gia đình Việt Nam nào, dù nghèo đến mấy, thì cũng nhận ra nhà của Chúa nơi nhà mình. Còn quê hương, quê cha đất tổ được diễn tả nơi chữ ‘thất’, thì mẫu gương Thánh Gia Thất cho chúng ta thấy quê nhà là nơi mà chúng ta kết dệt nên những quan hệ bạn bè và liên đới, là nơi mà tình thương yêu của Chúa dẫn lối và đồng hành với cuộc sống chúng ta.

Thật đúng như thế, trong những giây phút đen toi nhất, cha mẹ Chúa Giêsu đã là kẻ vô gia cư, và bơ vơ không ngày mai – đó là tình cảnh mà các đấng đã sống ở máng cỏ Bêlem và trên bước đường lưu lạc qua Ai Cập. Và đó thực là Thánh Gia Thất : Gia đình ấy xây dựng vững chắc trên tình yêu Thiên Chúa ; chỉ có là tình yêu ấy mới có thể thỏa lòng con người và dẫn lối chúng ta.

Nhưng  làm sao gia đình ấy đem lại mẫu mực cho những kẻ có nhà, có cửa, có cơm ngon áo đẹp, và có thể có cả tiền bạc dự phòng cho những lúc khó khăn ? Tôi xin được kể cho anh chị em một câu chuyện thật sự xảy ra, mà tôi đã từng chứng kiến khi làm linh mục phục vụ cho những người Bồ Đào Nha di cư ở Pháp.

Tôi nhớ có một ngày nọ, một người cha gia đình 11 đứa con – và là gia đình ít giáu có hơn cả trong họ đạo của tôi – đã cho tôi một món tiền khá lớn. Ông ta kể lại lúc ông còn ở quê nhà, gia đình ông là nông dân, mấy đứa con tinh nghịch vô ý làm cháy ngôi nhà họ đang cư ngụ : họ trơ trụi không còn có gì nữa ! Thế rồi họ phải bỏ quê ra đi, lội sông vượt biên giới, mấy người lính biên phòng làm ngơ nhìn phía khác cho họ đi qua. Bé út còn đánh mất giày và phải tiếp tục đi chân đất! Người cha ấy nói với tôi, tiền nầy giúp cho kẻ vô gia cư. Còn chúng tôi, năm hết tháng tận, kỳ cùng chẳng giàu cũng chẳng nghèo hơn đâu !

Anh chị em thân mến,

Chúc quí anh chị em một mùa Giáng Sinh vui tươi. Xin anh chị em mở rộng lòng đón Chúa Giêsu. Trong hoàn cảnh bấp bênh của anh chị em hôm nay, Ngài là người anh đồng hành với anh chị em, gìn giữ và dẫn dắt anh chị em.  Những anh chị em nào có điều kiện đón mừng các ngày lễ Giáng Sinh và năm mới, Tết Tây, Tết Ta một cách sung túc, trang trọng, thì Chúa Giêsu chính là người em đang cần đến bàn tay giúp đỡ của quí anh chị em ; Chúa là người em đang cần một lời thăm hỏi chân  tình, một lời nguyện xin đầy tình huynh đệ.

Trong Thánh lễ nầy, tất cả chúng ta nối kết lại với nhau thành một gia đình duy nhất bên cạnh Chúa Giêsu, dưới cái nhìn của Mẹ Maria và Thánh Giuse. Xin Chúa cho lời cầu nguyện và tình thương yêu của chúng ta làm cho chúng ta trở nên một gia dình kitô giáo thật sự.

Gs. Nguyễn Đăng Trúc chuyển ngữ

VỀ MỤC LỤC


TÔI RAO GIẢNG VI

 

TÔI RAO GIẢNG (VI)

 

Cuộc tĩnh tâm mà tôi mới dự

Ðã làm tôi mệt lử, lao đao...

Hồn tôi lời Chúa quyện vào

Phía kia xác thịt ào ào tấn công!

 

 Nhưng rồi tôi cầu xin ơn Chúa

Xin cho tôi tỉnh giữa cơn mê

Bấy lâu tôi sống ê chề

Nay xin hồn xác hướng về nẻo ngay!

 

 Tôi sấp mình – Tôi ăn năn quá!

Chúa Thánh Linh đánh động lương tri

Xưa nay tôi chẳng ra gì

Giờ tôi phải sống cách chi báo đền!

 

 Dù xác thịt còn đeo mắc nặng

Chú tâm tôi thinh lặng lắng nghe

Những lời khuyên nhủ, nhắn nhe

Bảo tôi chỗi dậy thoát li gông cùm!

 

 Những cuộc vui chóng qua chóng hết

Chúng đọa đày tôi chết linh hồn

Bạc tiền, nữ sắc, dâm bôn...

Một phường quỉ dữ cuốn hồn tôi đi!

 

 Tôi ăn năn vô cùng đau đớn

Tôi thật lòng xin Chúa thứ tha

Ðời tôi đầy những xót xa

Lãng quên nhiệm vu - Chẳng ra tông đồ!

 

 Hứa từ nay khiêm nhường rất mực

Quyết từ nay khiết tịnh chăm lo

Khó nghèo - Tôi chỉ sống cho

Một Ðấng Cứu thế - Kitô là Ngài!

 

 Tôi can đảm dứt đường tội lỗi

Quá khó khăn nhưng cố sức tôi

Cậy trông Ðức Mẹ nhận lời

Giúp tôi thoát hiểm quãng đời gian nan!

 

 Sẽ yêu thương mọi người, mọi  giới

Tôi quyết là Nhân chứng cho Ngài

Ðời tôi - Hồn xác – Hình hài

Tôi xin phó thác cho Ngài từ đây!

 

 Tôi giảng rao - Tôi rao giảng mãi

Có Ngài -  Tôi chẳng hãi sợ chi

Từ lâu tôi đánh mất đi

Tôi vừa tìm lại một vì sao Mai!

 

Little Saigon, CA ngày lễ Giáng Sinh 2004

Nhà Văn Xuân Vũ  TRẦN ÐÌNH NGỌC

 

VỀ MỤC LỤC


 

KHO TÀNG TỪ ĐÔNG PHƯƠNG

 

John Wu là một tác giả người Hoa đã diễn tả thật khéo trong cuốn "Đông Gặp Tây" về ba đạo sĩ theo dấu sao lạ tìm đến Bê-Lem dâng vàng, nhũ hương và mộc dược cho Đấng Cứu Thế. Đó là kho tàng của Đông Phương dâng hiến cho nhân loại.

 Món quà thứ nhất là vàng, so với quan niệm từ buổi sáng dấn thân vào đời xây dựng bằng luân thường đạo lý "nhân nghĩa lễ trí tín" của đạo Nho. Nhập thế là thái độ cần thiết tạo nên vàng bạc, góp phần tô điểm làm giầu trần gian mang được ý nghĩa hiện hữu trong cuộc nhân sinh trên mặt tinh cầu này.

Món quà thứ hai là nhũ hương, sánh với ánh sáng ban chiều của Lão Trang xuất thế, biết siêu thoát bay bổng lên như hương trầm, biết nhàn tản mà hưởng được sinh thú sống trên đời chứ không chỉ hùng hục "lao động vinh quang, làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm".

Món quà thứ ba là mộc dược, kết tinh tư tưởng Ấn Độ, có thể ví với cái nhìn giác ngộ trong đêm tối cuộc đời, thấy được mọi sự đều như bọt bèo phù du trôi nổi trên dòng sông, có đó rồi lại mất đó, sắc sắc không không. Mộc dược để ướp xác đời chóng qua chóng hết mà ngộ được lẽ vô thường.

John Wu đã thấy được cả ba ngón tay đều chỉ "mặt trăng", đều có thể là ngôi sao dẫn đường. Ông đã theo dấu chỉ và bỗng nhận ra Đạo, đã trở thành một người theo Đạo Chúa. Ông đã có công dịch Thánh Kinh ra tiếng Tàu với màu sắc văn hóa hội nhập. Khởi đầu Phúc Âm Thánh Gioan, ông đã dịch chữ Ngôi Lời (Logos trong triết lý Hy Lạp) là Đạo: "Từ nguyên thủy đã có Đạo... Nhờ Đạo, vạn vật được tạo thành, và không có Đạo thì chẳng có sự gì được tạo thành... Đạo đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta." (Gioan 1:1-14).

ĐÔI NẠNG LÀM QUÀ

Vở nhạc kịch "Amahl và Những Người Khách Ban Đêm" trên màn ảnh TiVi đã trở thành bất hủ giống như bản Messia của Handel vậy. Nhiều người xem mà ít để ý tới xuất xứ của vở kịch này do tác giả là Gian Carlo Menotti. Nhạc cảnh thật xúc động không ngờ lại chính là câu truyện thực trong cuộc đời của Gian Carlo Menotti, một người Mỹ gốc Ý.

Năm 1951 Gian Carlo Menotti được đài truyền hình NBC ký hợp đồng cho một nhạc kịch dịp lễ Giáng Sinh. Ông đã nhận một ngàn Mỹ kim tiền đặt cọc. Nhưng rồi đến mùa thu mà ông cũng không sao có một đề tài nào cả. Ông thất vọng đến gặp hãng NBC để trả tiền lại, nhưng hãng không chịu. Vì thế ông phải đi lang thang tìm hứng.

Một hôm ông vào Bảo Tàng Viện Nghệ Thuật ở New York thì tình cờ bị hút hồn bởi một bức tranh vẽ "Ba Đạo Sĩ" của họa sĩ Hieronymus Bosch người Hà Lan vào thế kỷ 15. Nhìn bức tranh, Gian Carlo bỗng dưng nhớ lại những ngày thơ ấu tại quê xưa ở làng Cadegliano bắc Ý. Trẻ con Ý không có thói quen chờ ông già Noel Santa chui theo ống khói xuống phát quà, nhưng chờ Ba Vua mang quà từ phương Đông. Gian Carlo mỉm cười nhớ lại lúc cùng em là Tullio ráng thức chờ Ba Vua mang quà tới, nhưng trước khi gặp được Ba Vua thì hai anh em đã lăn ra ngủ rồi. Trong giấc mơ Gian Carlo vui mừng thấy Ba Vua đến thật. Từ đàng xa có ba người cỡi lạc đà rung điệu nhạc thánh thót hào hứng. Gian Carlo thấy Ba Vua lội qua tuyết lạnh thăm nhiều nhà nghèo vùng bắc Ý trước khi đi Bê Lem. Ba Vua tới một ngôi nhà xiêu vẹo nghèo nàn, ở đó có một bà góa và một đứa bé trai tên là Amahl, và đã cho một món quà lạ.

Không ngờ đó lại là câu truyện thời thơ ấu của Gian Carlo. Lúc lên bốn tuổi, Gian Carlo bị bại cả hai chân phải chống nạng. Bác sĩ bảo đó là một loại bệnh không chữa được, nên phải mang tật suốt đời! Nhưng bà vú nuôi rất thương đứa bé, đã nghĩ tới một nhà thờ trên núi miệt Lugano có kính Đức Mẹ Cao Sơn (Madonna del Monte), nơi đã xảy ra nhiều phép lạ. Bà hỏi Gian Carlo có tin Đức Mẹ chữa khỏi bại chân không thì đứa bé gật đầu. Thế là bà đã dẫn Gian Carlo lên núi cầu nguyện. Chính nơi đây, Gian Carlo đã nhận được món quà quí nhất đời là được khỏi bại chân. Niềm tin của bà vú nuôi và của cậu bé Gian Carlo đã là thuốc thần.

Hình ảnh một đứa bé chống nạng đi lên núi, rồi nhận được món quà lạ, mang đôi nạng tới làm quà dâng cho Chúa cùng với Ba Vua. Quả là một thần hứng tuyệt vời.

VẼ BẰNG ÁNH SÁNG

Tôi đang có thể đi được, cử động được, đánh máy được, chẳng phải là món quà quá quí hay sao? Cũng lạ và đầy hứng khởi như phép lạ nhận quà của Gian Carlo Menotti. Đó là phép lạ đi trên mặt đất, nhận ra quà lạ mỗi ngày, mỗi phút giây. Chỉ cần ánh sáng lóe lên trong mắt, trong tim.

Trong một lớp học chụp hình, tôi đã sửng sốt nhận ra một điều rất đơn giản. Đó là tập cảm nhận ánh sáng. Chụp hình là vẽ bằng ánh sáng. Chiếc máy chụp như cây cọ, mà ánh sáng là chất sơn màu. Họa sĩ biết chọn màu sơn thì nhà ảnh cũng biết lựa ánh sáng. Để ý một chút thì thấy ánh sáng mang chất lạ lùng lắm. Màu ánh sáng chói chang ban trưa khác với màu nhung mềm lúc trời mây. Màu tươi vui nhảy múa trên những đọt lá trong nắng sớm khác với màu trầm ngâm suy tư lúc mặt trời lặn. Màu ánh sáng xuyên qua những hạt mưa long lanh khác với màu mơ mộng thơ thẩn trong sương mù. Ánh sáng lại tùy lúc mạnh hay yếu, đậm hay nhạt, gợi lên những cảm giác và tâm tình khác nhau. Ánh sáng cũng đến từ nhiều phía, diễn lên những chiều kích có khi thâm sâu bền chặt, có khi hời hợt vội vàng. Ban đêm không có ánh sáng thì mọi vật trở thành tối đen. Đúng là ánh sáng tô màu vạn vật, vẽ lên bức tranh tuyệt tác mỗi phút giây.

Cũng với những bông hoa súng đơn sơ dưới ao nước trong khu vườn ở Giverny phía tây bắc Paris, họa sĩ Claude Monet đã vẽ được nhiều bức tranh tuyệt tác. Cùng một bông súng mà mang nhiều tâm tình khác nhau tùy theo ánh sáng ban sáng, ban trưa, hay ban chiều. Mà cũng tùy tâm tư bên trong người vẽ nữa. Đó là cái nhìn của phái ấn tượng mà Monet là một trong những người nổi nhất. Ông nói vẽ một cọng lá cũng giống như vẽ một người đẹp làm mẫu. Cũng công trình như nhau, cũng thẩm mỹ như nhau.

Ánh sáng đang tung tăng chạy ùa vào phòng qua cửa sổ đây này. Tôi nhìn ánh sáng mà cảm nhận độ mạnh, yếu, màu sắc, tâm tình, như nhìn một phép lạ, như lần đầu tiên trong đời biết nhìn ra ánh sáng. Hào hứng quá phải không? Và chắc chắn nhiều người cũng nhìn thấy như vậy khi đi xuống phố, khi lái xe trên xa lộ. Và thế giới mỗi phút giây đều mặc một bộ áo mới nhí nhảnh bơm sinh khí tạo nên chất sống động lạ thường.

TIN VUI NHẬN ĐƯỢC QUÀ QUÍ

Ngày 19 tháng 3 năm 1627, Cha Đắc Lộ đã đặt chân tới Cửa Bạng, nơi dân chúng thường làm nghề mò tìm ngọc trai dưới biển. Thấy thế, Ngài đã giới thiệu một thứ quà quí hơn nhiều. Đó là ánh sáng niềm tin vào Đạo Chúa Trời. Đây là lần đầu tiên danh xưng Đức Chúa Trời được Cha Đắc Lộ dùng, rất gần gũi với văn hóa và tâm thức người Việt. Ngài đã thuật lại buổi gặp gỡ đầu tiên trong cuốn Đắc Lộ, Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài:

“Chúng tôi vừa cập bến thì một số đông dân xứ này thấy chúng tôi đến gần liền lấy thuyền của làng lân cận đến mừng chúng tôi, chất vấn chúng tôi xem chúng tôi là những người nào, từ đâu mà tới và đem theo những hàng hóa mới lạ nào. Tôi đáp nhân dịp này chúng tôi đến bán cho người Đất Bắc một hạt trai quí mà không đắt, để cho người nghèo khó nhất cũng có thể mua được miễn là có ý ngay lành. Thấy dân chúng tỏ ra muốn xem, thì tôi cho họ hiểu là hạt trai này không thể coi bằng con mắt thân thể nhưng bằng con mắt tinh thần biết phân biệt thật giả. Nói tóm lại chúng tôi đến giảng dạy đạo thật có giá hơn hết các hàng hóa của người An Độ, và một mình nó có thể mở đường tới cõi phúc đích thực trường cửu”

“Khi nghe nói về điều mà họ thường gọi là Đạo theo ngôn ngữ các nho sĩ, và Đàng theo ngôn ngữ bình dân có nghĩa là đường lối, thì họ tò mò muốn tôi cho biết đạo thật và đàng thật mà chúng tôi định rao giảng. Sau đó tôi lấy đề tài thảo luận với họ về nguyên lý vạn vật, tôi quyết định công bố dưới danh hiệu Chúa Trời Đất." ( Hồng Nhuệ dịch, trang 82-83).

PHÚT CẢM NHẬN QUÀ QUÍ

Mỗi người trong cuộc sống cũng đang mò mẫm đi tìm ngọc quí, và bỗng khám phá ra những món quà kinh ngạc như John Wu, như Gian Carlo Menotti, như Claude Monet, như nhà ảnh vẽ bằng ánh sáng kỳ diệu, như ba nhà tầm đạo từ phương Đông:

"Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. Họ vào nhà thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình bái lạy Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương, và mộc dược mà dâng tiến." (Mt 2:10-11)

Tất cả đều là những ngôi sao lạ dẫn đường để thấy được kho tàng giầu có sung túc là chính Chúa Giêsu. Ngài là quà tặng trân quí nhất, vượt trên cả bạc vàng, nhũ hương, mộc dược.  Vì  Ngài mới là Đạo đúng chiều kích, đã nhập thể làm người, nhập thế để giải thoát mang đến cho cuộc hiện hữu một ý nghĩa đích thực, và siêu thoát để con người biết hướng về quê hương hằng thể. "Thầy là đường, là sự thật và sự sống. Thầy đến để cho anh em được sống sung mãn."

Vì thế mà giờ đây tôi cần tĩnh lặng, mở rộng tâm ra mà lãnh nhận món quà quá quí này. Tất cả kho tàng giầu có đây rồi, phép lạ đây rồi, sửng sốt quá! “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng, có người tìm gặp thì liền chôn giấu lại, rồi về vui mừng bán mọi sự mình có mà mua lấy thửa ruộng ấy” (Mt 13:44)

Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường

VỀ MỤC LỤC


 

KHIÊM NHƯỜNG ĐỂ NHẬN BIẾT CHÚA

LỄ HIỂN LINH

 

Chu kỳ Giáng Sinh gồm Mùa Vọng và Mùa Giáng Sinh. Phụng Vụ cử hành việc Thiên Chúa tỏ mình cho nhân loại. Hai biến cố quan trọng cũng là hai lễ lớn của chu kỳ là Lễ Giáng Sinh và Lễ Hiển Linh. Lễ Giáng Sinh, Thiên Chúa tỏ mình cho dân Do-thái. Lễ Hiển Linh, Thiên Chúa tỏ mình cho dân ngoại.

Gaspar, Melchior và Balthasar là ba nhà Đạo Sĩ nổi tiếng ở Đông Phương được mệnh danh là con của các vì sao sáng, huyền phái của khoa học vũ trụ. Họ đã theo ngôi sao lạ đến Bê-lem, xứ Giu-đê để thờ lạy Đấng Cứu Thế. Họ đã dâng cho Hài Nhi vàng, nhũ hương và mộc dược.

Chúng ta cùng dừng lại nơi Hang đá Bê-lem có Hài Nhi Giê-su để suy niệm về sự lạ lùng của cuộc gặp gỡ kỳ diệu giữa các Mục Đồng, các Đạo Sĩ với Đấng Cứu Thế. Chỉ có các Mục Đồng, các Đạo Sĩ tìm gặp được Chúa. Có các Thiên thần, có một ngôi sao rực rỡ trong ánh sáng thần linh chiếu sáng cho họ. Đức Cha Fulton Sheen, nhà giảng thuyết lừng danh đã gọi họ những người đơn sơ và những người thông thái.

Khi các Mục Đồng canh giũ chiên ở ngọn đồi Bê-lem, họ bỡ ngỡ vì vẻ đẹp của Thiên Thần: Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng cứu độ đã sinh ra cho anh em trong thành của vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa ( Lc 2, 10 – 12 ). Còn các Đạo Sĩ ở bên kia xứ Ma-đi-an và Ba-tư nghiên cứu bầu trời đã thấy một ngôi sao chiếu sáng như chiếc đèn của nhà tạm vũ trụ, điện thờ của Thiên Chúa. Họ theo ánh sao tìm đến Hang đá tìm gặp Hài Nhi.

Như những cánh bướm bị thu hút bởi ngọn lửa, các Mục Đồng và các Đạo Sĩ tiến đến ngai vàng chỉ là một Hang đá, đến với Thiên Chúa chỉ là một Hài Nhi. Thiên Chúa Hài Nhi ngước nhìn từ Máng cỏ chỉ thấy hai hạng người tìm gặp Ngài và chỉ duy họ tìm gặp Ngài cho đến tận cùng thời gian. Đó là các Mục Đồng và các Đạo Sĩ, những người đơn sơ và những người thông thái.

Các Mục Đồng là những người đơn sơ. Họ chẳng biết gì tới chính trị, văn chương, nghệ thuật. Họ chỉ biết hai điều quan trong là Thiên Chúa ở trên họ và họ ở giữa đoàn chiên. Đêm hôm đó bầu trời rộng mở để loan báo Tin mừng. Thiên Thần cho biết Đấng họ nóng lòng chờ đợi vừa sinh ra trong Hang đá Bê-lem nhỏ bé. Họ đã tìm và gặp Đấng Chăn Chiên của họ

Các Đạo Sĩ tìm gặp Đấng Cứu Thế là những người thông thái. Họ không là những vua chúa. Họ không phải là những người nghiên cứu nông cạn mà là những bậc thầy hoàng vương, những nhà tinh thông về vũ trụ và họ đã khám phá ra một ngôi sao lạ. Đối với khoa học và tôn giáo họ được liệt vào hàng đầu trong nước của họ. Các vua chúa bàn hỏi với họ trước khi xuất chinh. Các nông dân hỏi ý kiến họ trước khi trồng tỉa. Hàng ngàn người đã thấy ngôi sao, nhưng sự uyên bác của ba Đạo Sĩ làm cho họ lên đường khám phá.

Chính nhà bác học Newton đã thốt lên khi quan sát vũ trụ: Tôi thấy Thiên Chúa đi qua kính viễn vọng của tôi. Đối với kẻ kiêu ngạo, tự phụ, ngôi sao chỉ là ngôi sao, nhưng đối với người thông thái đó là một dấu chỉ thời đại, một tác phẩm của Thiên Chúa. Thế nên các Đạo Sĩ đã đi theo ánh sáng ngôi sao với bao gian lao, đầy mạo hiểm. Đến nơi, mặc phẩm phục và quỳ trên nệm rơm, các Đạo Sĩ chiêm ngắm một trẻ sơ sinh chưa thể hỏi han hay đối đáp được điều gì. Họ tiến dâng Ngài tặng phẩm và tâm hồn để chứng tỏ sự thần phục của thế gian. Tặng phẩm là vàng, nhũ hương, mộc dược. Vàng, vì Hài Nhi sẽ là vua. Nhũ hương, vì Ngài sẽ là Tư Tế. Mộc dược, vì Ngài sẽ chết như mọi người. Các Đạo Sĩ đã tìm gặp được Đấng Khôn Ngoan.

Chỉ có các Mục Đồng và các Đạo Sĩ đã tìm gặp được Đấng Cứu Thế. Trong khi đó các người nổi nang trong đạo Do thái không gặp được Ngài. Bởi lẽ: Các Luật sĩ chỉ thao thức về lề luật. Các Thượng tế chỉ nhạy bén về đền thờ. Các Kỳ lão chỉ lo lắng về truyền thống. Hêrôđê cũng là con người tìm tòi, ông đã cặn kẽ điều tra nơi Hài Nhi ở, không phải để đến thờ lạy mà tìm cách hủy diệt. Loại người nào cũng tự mãn trong những cơ chế phức tạp cứng nhắc ( Đức Cha Bùi Tuần ).

Thời nay cũng thế, đầy dẫy những triết gia, những nhà khoa học, những người vô thần theo thuyết bất khả tri... nhưng không ai trong họ đã nhìn thấy một thiên thần hay ánh sáng một ngôi sao. Dòng dõi của những Hê-rô-đê kiêu ngạo cho tới thời nay đã không tìm thấy Thiên Chúa vì họ muốn dùng lý trí để nắm bắt siêu việt. Họ quá phức tạp nên không hiểu lời xác quyết đơn sơ của các Mục Đồng, quá đầy kiến thức khoa học để lãnh hội chân lý do các Đạo Sĩ đem đến. Dòng dõi này che đậy tính kiêu ngạo và đi tới chỗ coi Giáo Hội là một thể chế đã lỗi thời cần loại bỏ.

Điều kiện tiên quyết để gặp được Thiên Chúa, đó là lòng khiêm nhường, chung cho cả người đơn sơ lẫn người thông thái. Những tâm hồn đơn sơ như các Mục Đồng mới gặp được Thiên Chúa bởi họ ý thức mình không biết gì cả. Những người thông thái đích thực như các Đạo Sĩ gặp được Thiên Chúa bởi vì họ ý thức mình không biết gì cả.

Chúa Giê-su không sinh ra ở giữa trời, nơi người ta có thể đứng thẳng. Ngài đã Giáng sinh trong Hang đá, nơi người ta phải cúi mình để đi vào. Đó là một cử chỉ khiêm nhường. Các Mục Đồng và các Đạo Sĩ đủ đơn sơ để nghiêng mình xuống. Khi làm như vậy, họ thấy mình ở trong Hang đá. Tại đó, một người nữ diễm lệ, đầu đội mặt trời, chân đạp mặt trăng và đôi tay ẵm lấy Hài Nhi, Đấng dùng những ngón tay bé nhỏ của mình nâng đỡ trái đất. Khi các Mục Đồng và các Đạo Sĩ quỳ gối, có lẽ các Đạo Sĩ ghen với các Mục Đồng vì con đường của các Mục Đồng ngắn hơn, họ tìm thấy sự khôn ngoan là chính Thiên Chúa mau hơn.

Bước vào ngàn năm mới, Thiên Chúa vẫn không ngừng lôi kéo cả nhân loại đến với Con Một của Ngài là Đức Giê-su Ki-tô. Ngài vẫn không ngừng cho những ánh sao dẫn đường. Không phải là ánh sao trên trời cao mà là ánh sáng Ngài gieo vào lòng người. Mỗi người cần phải trung thành với ánh sáng đó, dấn bước trên hành trình đức tin đầy mạo hiểm của mình.

Các Thượng Tế, các Kinh Sư thông hiểu Thánh Kinh, họ cắt nghĩa cho Hê-rô-đê rất hay nhưng họ vẫn ngồi yên tại chỗ. Họ tìm Đấng Thiên Sai trong Thánh Kinh, nhưng không nhận ra Người trong thực tế vì Người không phù hợp với những quan điểm cố định của họ. Những tâm hồn đơn sơ như các Mục Đồng, những tâm hồn cởi mở khao khát chân lý như các Đạo Sĩ lại được hạnh phúc nhận biết Người.

Thiên Chúa vẫn tiếp tục tỏ mình cho thế giới qua các dấu chỉ tự nhiên của trời đất, của lịch sử, qua Thánh Kinh, qua Giáo Hội, qua các Bí Tích, qua cuộc sống hàng ngày. Để gặp Ngài, chúng ta cần có lòng khiêm nhường. Nhờ sự gặp gỡ này, mỗi người sẽ trở nên ánh sao dẫn lối cho nhiều người nhận biết và yêu mến Chúa.

 

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

VỀ MỤC LỤC


 

MẸ

 

 Tôi vừa đọc trong quyển Cổ học tinh hoa một câu chuyện có tựa đề là : « Phải giữ tấm lòng trong sạch ». Tấm lòng trong sạch này của một người phụ nữ, một người mẹ Tàu, đời xưa. Chuyện như thế này : 

Quân nuớc Tề kéo sang đánh nước Lỗ. Khi đến chỗ giáp giới, trông thấy một người đàn bà một tay bồng một đứa bé, một tay dắt một đứa nữa. Người đàn bà thấy quân kéo tới vội vàng bỏ đứa đang bồng trên tay xuống, mà bồng đứa đang dắt rồi chạy trốn vào trong núi. Đứa bé kia chạy theo khóc, người đàn bà cứ chạy không ngoảnh lại.

 

Một viên tướng nưóc Tề cho bắt đến hỏi :

 

- Đứa bé nàng bế trên tay là con ai ? Còn đưa nàng bỏ liều là con ai ?

 

Người đàn bàn thưa :

 

- Đứa tôi bế là con anh cả tôi, đứa bỏ lại là con tôi. Tôi thấy quân lính kéo đến, sức tôi không thể bảo toàn được cả hai đứa cho nên tôi đành phải bỏ con tôi lại.

 

Viên tướng nuớc Tề lại hỏi :

 

- Mẹ mà dứt tình yêu thương với con thì đau xót lắm. Nay bà bỏ con mình lại mà chạy lấy con anh là cớ làm sao ?

     

Người đàn bà thưa :

     

- Con tôi là tình riêng, con anh tôi là nghĩa công . Con đẻ tuy đau xót thật nhưng đối với việc nghĩa lý thì tính làm sao. Cho nên tôi đành bỏ liều con tôi mà làm việc « nghĩa ». Tôi không thể nào chịu tiếng vô nghĩa mà vác mặt sống ở với nước tôi được.

 

Viên tướng nước Tề dừng quân lại, sai người tâu với vua Tề rằng :

      

- Nước Lỗ chưa thể đánh bại được. Quân ta mới đến chỗ cương giới, đã thấy con mụ đàn bà xó rừng còn biết làm điều nghĩa, chẳng chịu đem tình riêng mà hại nghĩa công, huống chi là những bậc quan lại, sĩ phu trong nước. Xin kéo quân về.

Vua Tề cho là phải.

Chuyện ấy là chuyện đời xưa của Tàu, xẩy ra trong thời chiến tranh hỗn loạn, đạo lý thường bị dao động, suy đồi. Người đời sau kể lại để suy gẫm về cái tinh hoa của đạo lý Trung Hoa nhưng cái lối đề cập đến tam cương ngũ thường của Khổng giáo ấy làm cho tôi thấy hơi... khó chịu. Tôi không đồng ý với lối dùng « tình nghĩa mẹ con » để tôn vinh « điều nghĩa » như vậy. Tôi thấy có một cái gì đấy không ổn. Còn đối đạo lý Việt Nam thì không hợp tí nào cả.

Không ổn vì đem « tình mẹ con » ra để nói chuyện cương thường theo khuôn phép tôn quân phong kiến. « Điều nghĩa » trong câu chuyện kể trên nằm trong khuôn phép tư duy của sĩ phu, quan lại liên quan mật thiết với tinh thần tôn quân. Điều nghĩa ấy có lẽ chưa phải là « điều nghĩa » trong tâm lý người dân thường Á Đông. Không ổn vì « tình mẹ con » là một thứ tình cảm thiêng liêng, riêng biệt, không nên xem thường, không thể nào đem « đặt thành vấn đề » trong một trường hợp đặc biệt phong kiến tôn quân như vậy.

Đối với đạo lý Việt Nam, chuyện « chẳng chịu đem tình riêng mà hại nghĩa công » này không thuận hợp tí nào cả. Đạo lý Việt Nam, dù có chịu ảnh hưởng Tàu thật đấy, nhưng không bao giờ đặt « tình mẹ con » vào những tình huống như vậy để tôn vinh « việc nghĩa ». Khi nói đến « điều nghĩa », người Việt Nam có nói đến tình nhà nợ nước, có nói đến tình sâu nghĩa nặng. Trong vấn đề « tình nhà nợ nước », ta có nói đến tình nhà chứ không động đến tình mẹ con. Trong vấn đề « tình sâu nghĩa nặng », có tình vợ chồng với nguồn ân bể ái, tình nghĩa mặn nồng chứ không động đến nghĩa mẹ. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Cái « nghĩa  mẹ » ấy  nằm trong « đạo » trời đất của Việt Nam ta. Nó nằm trong những điều kiện tất yếu để bảo tồn giống người. Không có cái « nghĩa mẹ » ấy thì đứa con chết lập tức. Đứa con không biết đến « nghĩa mẹ » thì sẽ đi đến chỗ tuyệt vong. Đấy là lẽ uyên nguyên trong đạo lý Việt Nam.

Đem so sánh chuyện tình riêngnghĩa công trong đạo lý Tàu với đạo đức Việt Nam có liên quan đến « tình mẹ con », tôi xin mời quí Vị nghiệm xét cái bản sắc của « tình mẹ Việt Nam » qua chuyện Hoàng Sầm do tiền bối Lãng Nhân kể lại trong tập « Giai thoại Làng Nho »

Thời Mạc Đăng Dung. Nguyễn doãn Dịch làm tới chức thượng thư, cáo lão về trí sĩ. Theo lệ, quan địa phương các xã cho dân phu đi đón rước. Hoàng Sầm, nhà nghèo, mồ côi cha, sinh sống bằng nghề cày thuê cuốc mướn, là  dân phu « được » chỉ định việc khiêng võng cho cô gái út của quan Thượng.

    

« Trong lúc khiêng phải gò lưng rụt cổ, Sầm vô tình nhìn vào trong võng, thấy tiểu thư là một giai nhân kiều diễm, lòng thấy nao nao... Khi đám rước về tới làng, quan thượng cho mọi người giải tán, Sầm lủi thủi về nhà, nỗi riêng tự dưng canh cánh. Rồi từ đó biếng ăn mất ngủ, chẳng bao lâu đã phải nằm liệt giường.

    

Bà mẹ thấy con ốm nặng tưởng bị ma làm nên sắm lễ cúng giải nhưng bệnh tình Sầm không thuyên giảm chút nào. Bà mẹ rất lấy làm lo. Sầm bèn thú thực là vì tương tư cô con gái quan Thương mà thành bệnh, chỉ có làm thế nào lấy được cô ấy thì mới mong khỏi.

    

 Nghe sự lạ lùng, nghĩ con nói mê, bà mẹ lúc đầu còn ừ ào cho qua chuyện, nhưng sau đó, luôn mấy hôm, hễ mở mắt lúc nào, Sầm lại hỏi mẹ xem đã đem trầu cau đi chưa. Thấy mẹ nấn ná mãi, Sầm liền vùng dậy, trèo lên cây cau, cắt một buồng đem xuống, khẩn khoản xin mẹ đưa sang nhà quan Thượng dạm hỏi.

    

- Con ơi, đũa mốc chực chòi mâm son, không được đâu, chẳng bõ mua cười vói làng xóm.

    

Bà mẹ kiếm lời an ủi thêm nhưng Sầm vẫn nằng nặc nài nỉ :

    

- Việc vợ chồng là hệ trọng, mẹ đi thì mới xong được. Con tin tưởng thế nào quan Thượng cũng ưng cho.

    

Vừa thương con, vừa thực thà, bà cụ phải chiều lòng, kệ nệ tay xách buồng cau sang nhà quan Thượng. Tới nơi, cứ đứng rụt rè ở ngoài cổng suốt buổi không dám tiến bước. Mãi quá trưa, người nhà thấy lạ chạy ra hỏi, bà mới ấp úng nói là có việc xin trình. Cụ Thượng cho gọi vào. Bà đặt buồng cau trên án, vái chào và ngập ngừng kể rõ nguồn cơn :

    

- Chúng tôi phận hèn, khi nào dám làm chuyện vượt bực như thế này. Chỉ vì chồng không may mất sớm, được một mụn con, nay nó lại dở hơi. Nhưng thương quá phải chiều ý, xin Cụ-Lớn soi xét.

    

Tưởng thế nào quan Thương cũng quở mắng, không ngờ nghe xong, quan lại vui vẻ nói :

    

- Không hề chi. Con gái ta gả cho con trai bà cũng đưọc nhưng cốt nhất con bà phải là người có học. Vậy bà hãy dẫn nó sang đây để ta coi xem thế nào đã.

    

Bà cụ vái tạ lui về. Hôm sau đưa Sầm sang. Ngồi trên sập trong mành trông ra, thấy Sầm mặc áo ngắn, đóng khố, người đen xấu song hai mắt sáng như sao, lại ra vẻ hiên ngang, cụ thượng có thiện cảm ngay. Nhưng đến khi hỏi đến sức học thì chữ nhất Sầm cũng chưa biết. Cụ Thượng liền bảo :

    

- Con gái một quan đại thần khó có thể sánh đôi cùng một tên dốt nát. Vậy anh hãy về, cố gắng học tập, lập được công danh rồi trở lại đây ta sẽ chu toàn.

    

Sầm sụp lạy thưa « Kính vâng lời dạy ».

    

Sầm hết lòng học tập, ba năm sau đỗ thủ khoa kỳ Thi Hương, đến khoa Mậu Tuất (1538) đỗ Thám Hoa (mới 27 tuổi). Quan Thượng, như đã hứa, chấp nhận Sầm làm con rể ». 

 

Ở đây, thiết tưởng không phải chỗ để bàn về cái « siêu đẳng tuyệt cú » của áng văn này của vị tiền bối thâm nho Lãng Nhân. Với câu chuyện Hoàng Sầm, kỹ thuật diễn đạt tinh hoa của Việt Nho quả thật là xuất sắc khó có người sánh kịp. Chỉ cần mấy giòng nhận định ngắn gọn về « đầu óc » của bà mẹ và mấy câu đối đáp giữa một « người mẹ » và một « người cha », vị túc nho Lãng Nhân đã giải cho chúng ta hiểu được cái uyên thâm của đạo lý Việt Nam. Trước cái « tin tưởng » của con mình (Hoàng Sầm tin rằng việc được chỉ định khiêng võng cho « nàng » tiểu thư là duyên số đã đưa hai sinh linh lại gần nhau, là sợi tơ hồng của ông Tơ bà Nguyệt trói buộc hai con người với nhau), bà mẹ « vừa thương con, vừa thực thà »  chỉ biết làm theo đòi hỏi của nó. Câu nói để bộc bạch tình thương con « thương quá phải chiều ý » của người-mẹ (bà mẹ quê thường dân) làm cho người-cha (vị thượng thư) xúc động. Ông rất cảm kích bởi cái hoàn cảnh « chồng không may mất sớm, nó lại dở hơi » của người đàn bà tầm thường kia. Bà chính là người mẹ Việt Nam biết hành động theo nghĩa cương thường « phu tử tòng tử, chồng chết theo con » của Việt Nho. Chữ tòng của bà có cái ý nghĩa đơn thuần chất phác làm theo « tiếng nói của tình mẹ thương con » hay nói cho rắc rối hơn, làm theo « tiếng gọi của lương tâm ».

Về phần bà-mẹ đã vậy, còn về phía ông-con Hoàng Sầm thì sao? Trong cái « nghĩa mẹ » Việt Nam, có « lòng biết ơn mẹ » của người con. Đấy là tình nghĩa Việt Nam. Việt Nam ta luôn luôn ghép tình nghĩa với nhau. Tất cả đạo lý, đạo đức Việt Nam được xây dựng trên hai nguyên tắc « tình » và « nghĩa » này. Cho nên Hoàng Sầm, vì thương mẹ đã không sợ « mua cười với làng xóm » hoặc « quan Thượng quở mắng », « hết lòng học tập » ba năm sau đỗ thủ khoa kỳ thi cử nhân (thi hương), bảy năm sau đỗ thám hoa (thi hội).

Nhưng cái đẹp, cái hay của bài này vẫn chưa nói lên được trọn vẹn, sâu sắc « tình mẹ con » thuần túy, chính thống Việt Nam bằng bài hát dân gian « Con cò mà đi ăn đêm ». Bài ca dao đã được đem giảng dạy cho lớp tuổi đồng ấu, trong quyển Quốc văn Giáo khoa thư để gọi là vỡ lòng, khai trí cho tuổi ấu thơ. Bài ấy vỏn vẹn có mấy câu này :

Con đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

« Ông ơi, Ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

Về phương diện văn chương, tưởng không có bài thơ lục bát nào tuyệt hảo đến vậy. Lời đã đẹp mà ý thì quá hay vì nó vừa thi vị, vừa chất chứa đầy đủ ý nghĩa đạo đức, triết lý cổ truyền Việt Nam. Người đàn bà đơn côi (ở đây được biểu tượng bằng hình ảnh « con cò ») trong cái tâm cảnh phải thay chồng nuôi con, giữa những hệ lụy, gian truân, thử thách của cuộc đời  (trong bài này được tóm gọn trong ba chữ « đi ăn đêm » gợi lên trong tâm trí người nghe lắm xót xa, bi thảm) được đem dùng làm tiền đề. Nếu không may, số phận run rủi, xô đẩy Bà rơi xuống hố lầm lỗi – xa rời nghĩa mẹ - thì Bà sẽ gọi Ông (Trời) giải cứu. Giải nỗi oan khiên, cứu khỏi ô nhục. Bà sẵn sàng chịu mọi sự trừng phạt - dù sự lỗi lầm mà bà đã phạm phải là do sự yếu mềm tự nhiên hoặc vì hoàn cảnh trớ trêu - nhưng Bà xin Ông (Trời) hãy thương xót đàn con của Bà. Thân của Bà không đáng kể, chỉ có đàn con của Bà là quan trọng.

Đấy là nghĩa mẹ. Nó « như nước trong nguồn chảy ra » mãi mãi, vô tận, không lúc nào vơi cạn, không bao giờ bị một trở ngại nào ngăn chặn ; « nước » ấy là « nước mắt chảy xuôi xuống » của các bậc mẹ cha ; nước ấy vừa là nguồn sống tinh thần bất diệt kết nối người-mẹ với người-con, vừa là mối tình cảm trong suốt, đậm đà, triền miên nhất giữa hai con-người. Đấy là tình mẹ con Việt Nam, thứ tình cảm thiêng liêng trói buộc người phụ nữ Việt Nam vào cái sinh linh mà mình đã chịu trách nhiệm nuôi nấng sau khi đã đưa nó vào cuộc sống giữa Trời.

« Nghĩa mẹ » ấy được nuôi dưỡng từ lúc mầm sống của người con bắt đầu sinh động cho đến khi đứa con đã thành nhân. Nhiệm vụ thiêng liêng « chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau » phải được chu toàn vì « nghĩa mẹ» phải được thể hiện bằng sự ước muốn « mẹ tròn con vuông » và được biểu lộ bằng những qui luật của việc thai giáo :

Khi thai mới có, mẹ phải giữ giang

Ăn chớ ăn phàm, nói chớ nói tục

Sách hay mẹ đọc, truyện hay mẹ xem...

Ngoài sự tâm niệm ấy, trong mọi sinh hoạt hằng ngày, bà-mẹ cũng phải nhớ nằm lòng bổn phận của mình đối với cái bào thai :

Chớ vin cao cũng đừng mang nặng...

Đừng ăn đồ cay đắng canh riêu

Đừng ăn ít, chớ ăn nhiều

Nuôi từ trong dạ khỏi điều lo sau...

Nhưng chưa đủ. Khi hình ảnh người-con đã hiện thực, « nghĩa mẹ » còn nặng nề hơn :

Con thơ dại sớm hôm săn sóc

Cặn kẽ từng sợi tóc đường tơ...

Nuôi con rút ruột con tằm

Ấp ôm bú mớm tháng ngày đầy vơi

Nghĩ đến cái « nghĩa mẹ » bao la, cao dày như vậy, tất nhiên người–con Việt Nam phải tự nguyện « thờ Mẹ kính Cha » để tròn « đạo con ».

Tiếp theo, để làm sáng tỏ ý nghĩa chữ « Mẹ » trong tâm linh người Việt, xin được bàn rộng thêm.

 Ý thức « Mẹ » gọi lên nghĩa vụ sinh sản của người-nữ để tiếp nối giòng giống của Sự Vật và Con Người. Chữ Mẹ được nhắc đến trong bất cứ tín ngưỡng nào : 

- Thần đạo Nhật tôn vinh Thái dương thần nữ để củng cố lòng tự hào dân tộc

- vũ trụ quan của Tàu dùng bà Nữ Oa « đội đá vá trời » để nói đến vai trò người-nữ bên cạnh bào huynh Phục Hi trong công cuộc tạo dựng giang sơn, cơ đồ 

- Ấn độ có Nữ thần Shiva chủ động việc sinh hóa của con-người

- Ai cập có bà Isis (có vùng gọi là Osiris hoặc Seth)

- phương Tây có Đức Mẹ Maria v.v.

Tất cả các tín ngưỡng ấy đều muốn xác định nguồn gốc và sự sinh sản của giống người bằng hình ảnh của Người-Mẹ.

Đức Hồng-y de Cabrières nhận định rằng : « Cái nôi đích thực của Con-Người là trái tim của Bà-Mẹ - le vrai berceau de l’Homme, c’est le coeur de la Mère ». Trong Đạo giáo, Lão-tử cũng xem Đạo (nguồn gốc của Sự Vật) là huyền tẫn, người-nữ tạo sinh mầu nhiệm.

Về tâm linh, Việt Nam ta cũng nghĩ gần như vậy. Chữ « Mẹ » được đem vào tâm linh bằng huyền thoại Bà Âu-Cơ. Bà là Tiên, Bà là bạn đời, bạn đường của Lạc Long quân (?), điều ấy không quan trọng. Điều cần hiểu, cần nhớ là Bà Âu Cơ « sinh ra một bọc có trăm trứng ». Trăm trứng ấy đến đời bây giờ sinh sôi ra thành cả trăm triệu người. Trăm trứng ấy nằm trong một cái bọc, cho nên tất cả người Việt chúng ta xem nhau là « đồng bào ». Huyền thoại Bà Âu Cơ nhắc nhở cho chúng ta nhớ rằng dân tộc Việt có một Bà Mẹ. Bà Âu Cơ là Mẹ Việt Nam, là quốc mẫu. Tư duy cận đại đã truy xét nhân dạng đích thực của Bà và Bà có thể được đứng vào hàng khai quốc công thần của dân tộc Việt Nam.

Nhưng vấn đề đặt ra trong bài này không hẳn như vậy. Chúng ta đang nghiệm xét « tình mẹ con ». Vậy chữ Mẹ trong tâm lý người Việt có ý nghĩa gì ?

Hình ảnh của Bà Âu Cơ với danh hiệu « Mẹ Việt Nam » trong con tim, trong tâm hồn của người Việt Nam biểu tượng cho cái gì, cho việc gì ?  Như trên đã nói : Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Nghĩa mẹ là lý đương nhiên hoàn toàn thuận hợp với Đạo Trời. Nếu ý thức Lão-giáo xem Cội Nguồn của Sự Sống (Đạo = con đường = sự sinh biến của sự vật) là huyền tẫn, trong khi văn chương Khổng-giáo gọi bà-mẹ là Từ Mẫu và lý thuyết Phật giáo tôn Đức Phật Quan Âm lên hàng một Đức Mẹ Từ Bi Cứu Khổ Cứu Nạn thì giữa vùng tâm linh, trong tâm tưởng của người Việt Nam, chữ « Mẹ » được nói đến một cách thường xuyên, được quyện vào từng câu ngạn ngữ, từng lời ca dao, từng bài đồng dao dưới dạng « nghĩa mẹ ».

Và trong tinh thần này, « nghĩa mẹ » trở thành vấn đề « tình mẹ con ». Tình mẹ con là một thứ tình cảm thiêng liêng ràng buộc, gắn bó bà-mẹ vào người-con. Nghĩa mẹ là vấn đề nhiệm vụ của người-mẹ đối với cái sinh linh mà mình có trách nhiệm đưa vào cuộc sống giữa Trời, cho nên nghĩa mẹ đặt vấn đề tiếng gọi lương tâm của người-con.

Do đấy ca dao Việt Nam hát :

Một lòng « thờ mẹ »  kính cha

Cho tròn chữ hi ếu mới l à đạo con

Do đấy đạo lý của ta xác định rằng cái « nghĩa mẹ » nó vừa bao trùm trọn khắp đời sống của ta vừa đưa ta về với đạo Trời huyền nhiệm.

Ngoài ra, hơn nữa những chữ thờ mẹ kính chađạo con còn làm chúng ta liên tưởng đến Mẹ Việt Nam, đến vị Quốc tổ Hùng vương, đến Đất Nước Việt Nam. Vậy đối với Mẹ Việt Nam, ta có nên tỏ lòng tôn thờ không ? Đối với Tổ quốc Việt Nam, ta cần phải tôn quí không? Đối với giống giòng của ta, ta có nên trân trọng không? Câu trả lời có sẵn trong lòng, trong tâm khảm của bất cứ người Việt Nam nào còn muốn tôn vinh giòng giống của mình.

 Gs. Mạnh Bích. Belleville, Paris tiết mãn thu (13-12-2004 )

VỀ MỤC LỤC


 

Tản mạn vài suy nghĩ.

 

 Chần chờ mãi mới viết thơ về thăm anh chị em như một nhu cầu tâm sự của người bạn đồng nghiệp cũ của trường Trung Học Lương văn Can.

Hôm nay tuổi đời đã trên 60, đã qua tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh” đã suy nghĩ và đang chờ đón tương lai chung cuộc trong một thời gian ngắn ngủi trước mặt. Tôi cứ nói đùa với bạn rằng cuộc đời mình trung bình có bảy khúc, bảy đoạn đường, mà mình đã xài hết sáu khúc rồi, đã đi được sáu đoạn đường rồi, chỉ còn có một đoạn đường ngắn nữa mà thôi là mình sẽ tới bến, tới bờ. Ai ai cũng trúng số độc đắc một lần trong đời. Ðó là gặp gỡ sự chết. Không thể nào tránh khỏi. (1)

 Bây giờ ngồi ngẫm nghĩ lại, chỉ làm việc tại trường Lương văn Can có 5 năm từ 1970 đến 1975 mà đến hôm nay vẫn còn lưu luyến trong tâm tư, trong tình cảm bạn hữu, đồng nghiệp, thầy trò có lẽ nhờ đầu tàu Thầy Bằng, Thầy Hưng trong thời gian làm việc đã đối xử với đồng nghiệp, đối xử với học trò bằng một tấm lòng thương yêu.

 Khi sống xa quê hương mới thấy tình cảm gắn bó chừng nào với cha mẹ, anh  chị em, bạn bè, bà con làng xóm. Ở xứ Mỹ không thấy ngày Tết linh thiêng của Việt Nam, những ngày Tết Việt Nam nếu rơi vào giữa tuần thì vẫn phải đi làm cho nên không có chúc Tết đưọc ai hết và cũng không  có đến từng nhà nhau để thăm viếng nhau. Nếu có quí nhau lắm chỉ còn cách gọi điện thoại thăm hỏi sức khỏe nhau mà thôi. Chỗ nào có cộng đồng Việt Nam đông đảo có tổ chức hội chợ để ca hát, sổ xố, có các trò chơi: thảy đầu vịt, đố thơ gọi là thả thơ…thì cũng tạm gọi là thấy không khí Tết Việt Nam một chút.

Tuy nhiên người Việt Nam chúng ta có nền văn hóa riêng biệt, đặt tinh thần đoàn kết gia đình là chính, hảnh diện nước Viêt Nam có lịch sử lâu đời, có vua Hùng dựng nước, có Bà Trưng, Bà Triệu, có Ðinh, Lê, Lý, Trần, Quang Trung v. v  nên đi đâu người mình vẫn hảnh diện là người Viêt Nam. Các trẻ em sinh ở nước ngoài dầu bất cứ quốc gia nào cũng thường không mất gốc, không chối bỏ  nguồn gốc của dân tộc mình. Ði đâu hỏi chúng nó, những đứa trẻ 7, 8 tuổi con là người nước nào, chúng nó trả lời “con là người Việt Nam.” Tốt nghiệp Ðại Học xong nếu không rành tiếng Viêt lại phải đến các trung tâm Việt Ngữ để học lại tiếng Việt hầu có thể nói cho rành tiếng Việt.

 Cha mẹ Việt Nam thường lo âu cho con cháu không rành tiếng Việt nên khi đứa trẻ được 5, 6 tuổi cha mẹ đã cho chúng nó học thêm tiếng Việt vào ngày Chúa Nhật ở các trung tâm Việt Ngữ hay ở các nhà thờ, các nhà chùa.

 Ða số các học sinh Viêt Nam khi thi tốt nghiệp trường Trung Học đều được xếp hạng: hạng nhất hay hạng nhì toàn trường. Trong khoảng 40 trường Trung Học thì học sinh Việt Nam cũng chiếm được phần danh dự hạng nhất hay hạng nhì hơn 10 trường rồi.  Người Việt nổi tiếng là học giỏi và con ngoan trong gia đình. Trong công ăn việc làm người Việt rất chịu khó cần cù và cũng có một số thành đạt trong thương trường, cho nên họ gọi người Việt Nam là “Do Thái da vàng”.

 Ngưòi Việt Nam hấp thụ nền văn hóa Khổng Mạnh, thờ cúng tổ tiên, thân nhân mất đi nhưng vẫn gần gủi với gia tộc bằng cúng giỗ như là một liên kết nối liền giữa người sống và người chết.

 Họ  đặt nặng tình nghĩa gia tộc, tình nghĩa anh chị em, bà con, thân thuộc, làng xóm, láng giềng là chính yếu.

 Người Việt Nam lấy chữ tình cảm làm trọng mà sống và cư xử với nhau.

 Năm nay đã  đến tuổi “ lục thập” ngồi ngẫm nghĩ lại cuộc đời “ba chìm bảy nổi chín cái long đong” mà mình thấy trải qua  quá nhiều khó khăn, tận cùng của sự khó khăn, đau khổ là thấy hạnh phúc, là thấy niềm vui.

 Trong Kinh dịch quẻ 63 là quẻ Kí Tế là đã vượt qua, đã nên, đã thành (2) Tưởng rằng đã xong, tiếp liền theo quẻ Kí Tế lại là quẻ Vị Tế : chưa qua sông, chưa xong, chưa hết.(3) Ông Nguyễn Hiến Lê viết : “ như vậy là việc trời đất cũng như việc của loài người, không bao giờ xong, cái gì tới chung rồi lại tiếp theo là tới thủy.”(4). Trong đau khổ sẽ có niềm vui. Do đó nên cần sống lạc quan, luôn luôn hy vọng ở tương lai.

 Xin thành thật cám ơn  Trời, cám ơn Thượng Ðế  để cho mình còn sống đến ngày hôm nay trong khi có nhiều bà con, anh em, bè bạn hay những người thân yêu trẻ tuổi hơn đã ra đi về bên kia thế giới, hoặc đang bịnh hoạn đủ thứ bịnh đau ung thư, đau bướu, đau gan, đau dạ dày  hoặc cuộc đời quá cơ cực, sống hôm nay không dám nghĩ đến ngày mai,  âu lo đủ thứ chuyện, hay gia đình ly tán, mỗi người một nơi.

 Cho nên nhìn lại quảng đời đã qua, cảm nghiệm rằng đời mình quá có phước cần phải cảm tạ ơn Trời và cám ơn người. Cám ơn những điều như ý và cả những điều bất như ý, cám ơn  những người thương yêu mình và ngay cả những người không ưa mình.

 Sau hơn ba mươi năm, tinh thần thương yêu, quí mến nhau của Thầy trò, bạn bè, thân hữu của trường Lương van Can vẫn như  cũ, một điều hiếm thấy trong  thế kỹ 21 này, thế kỹ đặt nặng tiền tài, hơn thua tài sản, hơn thua  về vật chất  nhưng mà gia đình Luơng văn Can vẫn đặt nặng về tinh thần thương yêu nhau làm chính.

 Xin cám ơn mọi người đã trao cho nhau tình cảm thân thương, biết đến nhau và vẫn thường xuyên liên lạc thăm hỏi nhau dầu ở xa nhau nửa vòng trái đất, dầu ở phương trời nào Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á, hay Châu Úc của miền Nam Bán Cầu, dầu ở khắp nơi trên thế giới vẫn rất gần nhau nhờ phương tiện hiện đại là thơ điện tử ( lên mạng hay E.Mail) mà có chuyện vui, chuyện buồn gì trong chốc lát là các anh chị em trong đại gia đình Lương Văn Can đều chia xẻ  được với nhau hết.

Dầu ở bất cứ nơi nào trên thế giới người ta cần tiền để sống, nhưng không phải sống chỉ vì tiền bạc, tài sản. Rất nhiều người chỉ lo kiếm tiền buôn bán, làm ăn mỗi ngày trên 16 giờ, sau một thời gian rất giàu có nhưng rồi không có thì giờ chăm sóc con của mình lúc còn nhỏ, không kiểm soát được việc học hành của chúng nó, để đến khi phát giác ra được thì chỉ còn cách phải hàng tháng đi thăm nuôi con trong tù vì hư hỏng trộm cắp, cướp giựt, nghiện ngập, buôn bán ma túy v.v. .

Trân trọng những tình cảm thân yêu của mọi người trong Ðai Gia đình Lương văn Can. Cho nên điều sau cùng quan trọng trong đời sống của mình rõ ràng không phải có nhiều tiền, có chức vụ cao, đậu nhìều bằng Ðại học, dĩ nhiên những điều trên rất quí, nhưng đứng bên trên những sự thành công đó thì có lẽ cần những tấm lòng thương yêu nhau mới quí giá hơn nhiều.

         Bà Me Teresa thành Calcutta đã chẳng có nói không phải là các bạn đã làm được bao nhiêu công tác mà chính là các bạn đã để  bao nhiêu tâm hồn, tình yêu thương vào mỗi công tác đó.”

 

 (1)   Thật ra có câu Bát thập cổ lai hy. Ít ai sống nổi tám mươi.

Ðức Khổng tử bảo:

Tam thập nhi lập ba mươi tuổi bắt đầu lập thân

Tứ thập nhi bất hoặc : Bốn mươi tuổi không còn nghi ngờ gì nữa.

-  Ngũ thập tri thiên mệnh : Lúc 50 tuổi mới biết được mệnh trời.

-  Lục thập nhi thuận nhĩ : Sáu mươi tuổi dễ nghe, dễ hiểu hơn.

Thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ : Bảy mươi tuổi lòng còn ham muốn nhưng không để ra ngoài khuôn khổ đạo lý

(2) và (3 ) Sách “Kinh Dịch Ðạo của người quân tử ‘’ cuả Nguyễn Hiến Lê trang 432 và trang 436

( 4) sách đd trang 439

 Tác giả Phùng văn Phụng

VỀ MỤC LỤC


 

CẦN KIỆM VÀ LÃNG PHÍ

Chuyện phiếm của Gã Siêu.

 

Muốn phát triển, phải cần kiệm, đó là qui luật của muôn đời. Nhìn ra thế giới, gã nhận thấy thiên hạ đã sống qui luật này một cách rất y là nghiêm ngặt và chặt chẽ.

Thực vậy, ở bên Mỹ, trong các trường tiểu học, người ta đã dạy cho con nít biết:

- Muốn có một đồng thì phải bắt đầu từ một xu, còn muốn có một triệu thì phải bắt đầu từ một đồng.

Thảo nào mà nước Mỹ luôn đứng đầu sổ trong lãnh vực phát triển kinh tế.

Ở bên Nhật cũng vậy. Trong các gia đình, người ta luôn nhắc nhở con cái sống theo phương châm :

- Mua gì ăn nấy.

Đồng thời :

- Ăn đâu hết nấy. 

Chứ không để thừa mứa, cho heo và cho chó vét cù, hay xơi tới xơi lui mà vẫn cứ còn tồn…kho.

Người ta chẳng bao giờ chiều theo ý thích của con nít, đòi gì được nấy, vì đó chỉ là một cách thương hại, nghĩa là thương trẻ, nhưng lại làm hại trẻ nhiều hơn.

Thảo nào mà dân Phù tang, con cháu Thiên hoàng, đã trở thành một cường quốc giàu mạnh nhất tại Á châu, làm cho nhiều nước phương Tây cứ đứng nhìn mà phát…thèm.

Ở bên Israel cũng rứa. Vào các nhà hàng, khách sạn, người ta không thấy đồ ăn thức uống để dư. Ngay tại các bến xe, bến tàu đều có những khẩu hiệu đại khái :

- Hãy tiết kiệm điện. Hãy tiết kiệm nước…

Còn tại các công sở và xí nghiệp, để trừ khử thói lề mề, người ta trừ phắt vào lương cho những ai đến làm việc chậm trễ.

Thảo nào mà dân Do thái, mới lục đục kéo nhau về lập quốc từ năm 1945, sau thế giới đại chiến lần thứ hai, thế mà ngày nay đất nước này đã trở nên giàu có và phát triển, thậm chí thu nhập bình quân đầu người lên tới 17.000 mỹ kim một năm, khiến những người Việt nam, khố rách áo ôm như gã, sông trên quê hương yêu dấu và thân thương này, có nằm mơ cũng chẳng  thấy được như vậy.

Đã nói chuyện bên Tây, thì cũng phải nói chuyện bên Tàu, một anh hàng xóm khổng lồ nằm sát cạnh chúng ta.

Hoàn cảnh kinh tế không khá hơn chúng ta bao nhiêu. Thế nhưng, trong những năm tháng gần đây, đã vươn mình để trở thành giàu mạnh. Hàng hóa Trung quốc tràn ngập thị trường, dù không bền lắm, nhưng được cái giá rẻ bèo, hợp với túi tiền của bàn dân thiên hạ.

Tại đây, người ta đang ra sức tiết kiệm, chống lãng phí và tham nhũng.

Tác giả Nguyễn văn Hùng, trong một chuyến đi công tác, đã “mục kích sở thị” thái độ và những việc làm tiết kiệm của người Tàu, đã kể lại như sau :

“Trong thời gian làm việc tại thành phố Nam ninh, thủ phủ của tỉnh Quảng tây, chúng tôi được ông Trương Sinh, tổng giám đốc một công ty lớn của tỉnh này, hai lần mời cơm tại nhà hàng. Tôi đặc biệt để ý đến những cử chỉ khá là lạ của vị chủ nhà.

“Đó là sau mỗi bữa tiệc, ông tổng giám đốc này đều trút toàn bộ thức ăn thừa vào các bao ny lông để mang về trước những con mắt ngỡ ngàng của quí khách. Nhận thấy những ánh nắt khang khác ấy, ông Sinh vui vẻ giải thích :

- Cũng như Việt nam,Trung quốc còn nghèo, nên đặc biệt coi trọng yêu cầu tiết kiệm, ngay từ việc nhỏ nhất. Ở Trung quốc, tiết kiệm thực sự là quốc sách.

“Đất nước Trung quốc rộng lớn nên xây dựng và phát triển được là nhờ biết tiết kiệm, và tôi để ý thấy trong cái nhà hàng sang trọng này, chẳng riêng gì ông Sinh, mà còn có rất nhiều thực khách cũng làm như thế…”

Thấy người mà nhớ tới ta. Nhìn người mà gẫm đến thân. Té ra quí vị Tây Tàu Nhật trên đây cũng chả làm được điều gì mới mẻ và khác lạ với những điều cha ông chúng ta đã từng dạy bảo.

Thực vậy, từ ngàn xưa cần kiệm vốn là một nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam, bởi vì các cụ ta đã phán :

- Tiểu phú do cần, đại phú do mưu. Có nghĩa là giàu nhỏ thì phải cần kiệm, còn giàu lớn thì phải mưu trí.

Đồng thời, các cụ ta còn căn dặn con cháu :

- Được mùa chớ phụ ngô khoai,

Đến khi thất bát, lấy ai bạn cùng.

Ngoài ra, các cụ luôn chú trọng và hô hào mọi người :

- Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn. Có nghĩa là hãy tích lũy lúa thóc phòng khi đói kém, hãy tích lũy áo quần phòng khi lạnh giá.

Viết đến câu này, gã bỗng nhớ tới câu chuyện ngụ ngôn của Lã Phụng Tiên về nàng ve và chị kiến, đã được Nguyễn văn Vĩnh dịch thành thơ, mà gã chỉ còn nhớ lõm bõ, đại khái như thế này:

Ve sầu kê ve ve.

Ca hát suốt mùa hè,

Đến khi gió bấc thổi,

Nguồn cơn thật bối rối.

Đang khi đó, chị kiến cần cù tích lũy lương thực trong kho, nên chẳng sợ gì mưa to và gió lớn.

Thế nhưng, ngày nay lớp hậu sinh chúng ta, thay vì khả úy, thì nhiều lúc lại khả ố, nghĩa là đáng lẽ lớp đàn em đến sau phải tốt hơn thì lại xấu hơn lớp đàn anh đi trước.

Sở dĩ như vậy vì nhiều người trong chúng ta đang sống theo khẩu hiệu :

- Bóc ngắn cắn dài.

Chúng ta làm ra được một đồng nhưng lại tiêu xài những hai đồng, nên công nợ cứ chồng chất và liên tục phát triển, khiến chúng ta không tài nào ngóc đầu lên nổi.

Chúng ta thích chơi trội theo kiểu :

- Vung tay quá trán.

Hay : 

- Con nhà lính, tính nhà quan.

Chúng ta đã xài thì phải xài cho sộp, xài cho xịn, xài cho sang. Mà sộp xịn sang chính là con đường ngắn nhất để rơi tõm vào cảnh lãng phí.

Và lãng phí cũng chính là con đường ngắn nhất làm nghèo gia đình và đất nước.

Dĩ nhiên ở đây, gã không hể cổ võ cho tính hà tiện keo kiệt, theo kiểu :

- Vắt cù chày ra nước.

Hay :

- Đãi cứt sáo lấy hạt đa.

Bởi vì từ lâu lắm rồi, gã vẫn nhớ lời khuyên chí lý của một bậc đáng kính :

- Con ơi, đối với những chuyện cần thiết và hữu ích thì tiền vạn, tiền triệu con cũng đừng tiếc xót. Còn đối với với những chuyện lãng phí, thì một đồng một cắc cũng không, con nhé.

Trên báo “Tuổi trẻ Chủ nhật”, tác giả Phạm đình Nghiệp đã đưa ra một vài trường hợp lãng phí điển hình.

Trước hết, đó là việc lãng phí sức người, được thể hiện dưới nhiều dạng vẻ khác nhau : thất nghiệp, lao động trái ngành, chéo nghề được đào tạo, sử dụng nhân lực bất hợp lý, nhân tài không được trọng dụng, chảy máu chất xám…

Tiếp đến là việc lãng phí tài sản, tiền bạc của dân và của nước. Người ta sẵn sàng tiêu phí hàng chục triệu đồng “của chùa” cho một đêm liên hoan gặp gỡ hay chia tay nào đó.

Việt Nam chúng ta là một đất nước có thu nhập quốc dân tính theo đầu người vào loại thấp nhất, nhưng đã “hội tụ” được đủ mặt các loại bia ngon nhất.

Trong nhiều cuộc “bù khú” nhậu nhẹt, người ta thi nhau không phải uống bia, mà là “gội bia”, “tắm bia” với hàng chục, thậm chí hàng trăm lít.

Chắc chắn lúc đó ít ai nghĩ  đến một điều sơ đẳng sau đây :

- Mỗi lon bia bình quân trị giá 5 ký thóc. Ấy thế mà người nông dân “một nắng hai sương “ ở đồng bằng sông Hồng, giỏi lắm một ngày cũng chỉ làm ra được số thóc tương đương trị giá của một lon bia!

Hằng ngày chúng ta đã chứng kiến biết bao nhiêu cảnh lãng phí tiền bạc, làm nghèo cho dân cho nước. Cơ quan nào, xí nghiệp nào cũng cố xây cho mình những cơ sở bề thế và lộng lẫy.

Hễ có chức một tí là vội sắm cho mình những chiếc xe đời mới đất tiền, trang bị cho mình điện thoại di động, đúng với “mô đen” thời thượng mà nghênh ngang với đời.

Mới đây, trên báo “Tuổi trẻ cười”, có một bài mang tựa đề “hình như là lãng phí”, tác giả đưa ra một sự kiện…rất bình thường nhưng lại rất xót xa. Đó là bộ giáo dục năm nào cũng đổi mới, năm nào cũng cải cách, nên năm nào số sách giáo khoa mới in ra cũng được tha hồ đem bán ký.

Tác giả viết :

“Ai ngờ đâu, tôi bỗng trở thành người thu gom giấy phế liệu để kiếm sống  và đến nay tôi đã cân cả tấn sách giáo khoa còn thơm mùi giấy mới. Ở đủ mọi lớp, thuộc đủ loại môn học.

“Vốn dòng họ “tiếc”, mỗi khi gặp loại sách mới này (mà gặp hoài), tôi đều lấy mẫu về cho con tôi, nhưng chúng lại bảo :

- Không phải loại sách của trường con.

(Dù đúng cấp, đúng lớp của chúng). Nhìn lại bìa thì thấy là của bộ Giáo dục và năm xuất bản mới cách đó một hai năm mà thôi!!!

“Tôi nhớ ngày xưa, khi anh tôi vào lớp 12, tôi vẫn xài sách lớp 7 của ảnh để lại. Và khi tôi lên lớp 12, tôi vẫn xài sách ảnh đã xài mà không có trở ngại gì và vẫn “anh dũng” thi đậu, cha mẹ vui mừng khỏe re…Ôi sao mà dễ dàng tiện lợi và đỡ tốn kém quá cho cho mẹ và lớp học sinh thập niên 60, 70.

“Tôi đã qua cảnh ba ngày ròng đi tìm một cuốn sách học cho đứa cháu mới lớp 4. Nhiều lần nhịn ăn nhịn uống để dành tiền mua sách học cho con và bây giờ đứng trước hằng trăm ký sách giáo khoa chưa có tay người lật mà đành cân ký làm giấy gói đồ, hỏi sao không xót cho học sinh, phụ huynh đất nước ?

“Tôi cũng rất ngạc nhiên phát hiện ra chỉ một môn học ở lớp 3, lớp 4 mà có đến ba, bốn thứ sách. Nào là quyển bài giải, bài mẫu … rồi quyển cho giáo viên … tất cả còn mới nguyên mà đem cân ký, không biết vì lý do gì và có lãng phí không ?

“Năm nào đọc báo cũng thấy bộ giáo dục than thiếu tiền, thiếu giấy in, thiếu sách cho học sinh đến độ có những cuộc phỏng vấn tùm lum về vấn đề này. Ấy thế mà năm nào tôi cũng có dịp cân hết trăm ký lô này đến trăm ký lô khác sách giáo khoa … lòng tôi không khỏi cảm thấy bùi ngùi”.

Trên đây là những chuyện lãng phí của quí vị có chức, tai to mặt lớn. Còn trong phạm vi cá nhân, gã cũng nghiệm ra còn có nhiều loại lãng phí khác nữa, mà chính bản thân gã cũng đã từng mắc phải. Gã chỉ xin đưa ra một thí dụ điển hình mà thôi, đó là lãng phí thời gian.

Người Tây thì bảo :

- Le temps, c’ est  l’ argent. Thời giờ là bạc.

Còn người Tàu thì nói :

- Nhất thốn quang âm nhất thốn kim. Một tấc thời gian là một tấc vàng.

Thế nhưng, lắm lúc người ta đã không ý thức được sự quí giá của thời gian nên đã lãng phí nó một cách lãng xẹt.

Nơi gã đang cắm dùi là một thị trấn chỉ nhỏ bằng chiếc móng tay, thế mà có đến mấy chục quán cà phê. Đường nào cũng có, góc phố nào cũng có. Bất kể sáng, trưa, chiều và tối, hễ đặt chân ra đường hay xuống phố, đều thấy quí vị thanh niên ngồi thiền ở trong những quán ấy.

Đáng lẽ ra :

- Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên.

Thế nhưng, quí vị này lại chẳng biết làm gì cả, ngoài việc giết thời giờ trong quán, nhấm nháp vị đắng cà phê và đốt những điếu thuốc, lim dim thả hồn theo khói, ra dáng siêu nhân hay người cõi trên chi đó.

Tiếp đến là quán nhậu. Mỗi bữa nhậu kéo dài hai ba tiếng đồng hồ, quả là lãng phí.

Hồi xưa thấy một kẻ say xỉn ngoài đường phố quả là chuyện họa hiếm, còn hôm nay lại là chuyện thường ngày ở huyện.

Gã có một người bạn. Tên người bạn ấy là Văn. Vì có tí tuổi, nên gã thường gọi người bạn ấy là ‘’cụ Văn’’.

Cụ Văn của gã là người rất năng nổ, rất bận rộn. Công việc hàng trăm thứ bà giằng đè xuống trên đôi vai ọp ẹp của cụ ấy, đến nỗi có lần cụ ấy đã phải tâm sự ‘’mí’’ gã :

- Giá như Đức Chúa Trời cho phép mình đi xin thời giờ của những kẻ nhàn rỗi, cất vào tủ lạnh để rồi lúc nào cần thì lôi ra xài chơi. Nhưng Đức Chúa Trời cũng công bằng vô cùng, mỗi ngày chỉ có 24 tiếng đồng hồ, muốn kéo dài thêm cũng chẳng được.

Trước nỗi búc xúc của cụ ấy, gã chỉ biết cười ruồi mà an ủi :

- Ôi dào, đã ăn cơm Chúa thì phải múa tối ngày là cái chắc và việc nhà Đức Chúa Trời thì có bao giờ mà thiếu. Nhưng Đức Chúa Trời lại rất lòng lành. Ngài đâu có đòi chúng ta phải làm ông ba bị, sáu tay mười hai con mắt để ôm mọi thứ vào mình. Thôi mờ, thư giãn đi một tí cho đời còn thấy màu hồng.

Chả biết lời phát biểu của gã có bị kết án là lãng phí thời gian hay không và nhất là có xúc phạm đến nhiệt tình hăng say của cụ ấy hay không thì để gã hỏi lại cụ ấy cái đã. Vậy xin hạ hồi phân giải.

Riêng bản thân thì một ngày gã đã tiêu xài biết bao nhiêu phút giây cho việc ăn uống, ngủ nghỉ, giải trí… Còn thời giờ làm việc một cách nghiêm văn chỉnh thì chỉ được tẻo tẹo mà thôi. Không hiểu mai này khi tính sổ cuộc đời với Đức Chúa Trời thì sẽ phải nói sao đây ?

Ai có kế gì hay thì làm ơn làm phước ‘’méc’’ giùm cho gã biết với nhé. Bảo đảm sẽ hậu tạ.

Còn bây giờ, gã sẽ đưa ra bản thống kê rất khoa học của một kẻ thích đùa tại Đại học Tổng hợp Milan để tất cả cùng cười… mí nhau.

Bản thống kê về các thành phần dân số nước Ý, trong đó có một kết luận rất độc đáo về số người thực sự lao động ở nước này. Dưới đây là nguyên văn bản thống kê :

Tổng số dân trên toàn nước Ý là  52.000.000 người.

Trừ đi số người trên 65 tuổi là 11.750.000 người, còn lại số người có thể lao động là  40.250.000 người.

Trừ đi số người dưới 18 tuổi là 14.120.000 người, còn lại số người có thể lao động là 26.130.000 người.

Trừ đi số phụ nữ không đi làm là  17.315.000 người, còn lại số người có thể lao động là 8.815.000 người.

Trừ đi số sinh viên phải nuôi học là  275.000 người, còn lại số người  có thể lao động là 8.540.000 người.

Trừ đi số người làm ở các cơ quan không sản xuất là 3.830.000 người, còn lại số người có thể sản xuất là : 4.710.000 người.

Trừ đi số người thất nghiệp, cùng với số người hoạt động đảng phái chính trị là1.380.000 người, còn lại số người có thể lao động là 3.330.000 người.

Trừ đi số quân nhân tại ngũ là 780.000 người, còn lại số người có thể lao động là  2.550.000 người.

Trừ đi số người đau ốm, tâm thần, lưu manh, chào hàng, vô công rồi nghề là 1.310.000 người, còn lại số người có thể lao động là 1.240.000 người.

Trừ đi số người mù chữ, nghệ sĩ, tòa án… là 880.000 người, còn lại số người có thể lao động là 360.000 người.

Trừ đi số tu sĩ, triết gia, thày bói là 240.000 người.

Trừ đi số nghệ sĩ, tù nhân là 119.000 người.

Vậy số người thực sự lao động còn lại tại nước Ý là 1 người.

Khẩu phục tâm phục, gã xin chào thua và tôn tác giả bản thống kê này lên hàng sư phụ.

Còn bạn, bạn nghĩ sao ? Liệu có lãng phí lắm không ?

 Gã Siêu

VỀ MỤC LỤC

TRANG ĐẦU


Nguyeän xin Thieân Chuùa chuùc phuùc vaø traû coâng boäi haäu cho heát thaûy nhöõng ai ñang noã löïc chaép caùnh cho GHVN bay leân

*************