|
TRANG ĐẦU MỤC LỤC
|
|
Hàng Giáo phẩm cần hỗ
trợ cho hoạt động Tông đồ Giáo dân |
|
Việc tông đồ của
Giáo dân, cá nhân hay tập thể, phải được đặt vào đúng chỗ trong công
cuộc tông đồ của toàn thể Giáo hội; hơn nữa, điều cốt yếu của việc
tông đồ Kitô giáo là liên hệ với những người đã được Chúa Thánh Thần
đặt lên coi sóc Giáo hội của Thiên Chúa (x.Cv 20,28). Sự cộng tác giữa
các tổ chức tông đồ khác nhau cũng cần thiết không kém và phải được
Hàng Gíao phẩm điều hành thích đáng.
Quả thế, muốn phát
huy tinh thần hiệp nhất, để tình bác ái huynh đệ nổi bật trong mọi
hoạt động tông đồ của Giáo hội, để đạt được những mục đích chung, cũng
như để tránh những cạnh tranh nguy hại, thì cần phải có sự tôn trọng
lẫn nhau và phối hợp thích đáng giữa các tổ chức tông đồ trong Giáo
hội, miễn là đặc tính riêng của mỗi tổ chức vẫn được duy trì. Điều đó
rất cần thiết, khi có công tác đặc biệt naò trong Giáo hội đòi hỏi
phải có sự hoà hợp và cộng tác vào việc tông đồ giữa Hàng Giáo sĩ:
Dòng, Triều, Tu sĩ và Giáo dân.
Bổn phận của Hàng
Giáo phẩm là hỗ trợ cho hoạt động tông đồ của Giáo dân, đề ra những
nguyên tắc hành động và giúp đỡ về mặt thiêng liêng, phối hợp việc
tông đồ của họ để sinh ích chung cho cả Giáo hội, và cũng phải lo cho
giáo thuyết và chỉ thị của Giáo hội được tuân hành.
Có nhiều thể thức
liên lạc giữa việc tông đồ Giáo dân với Hàng Giáo phẩm, tuỳ theo hình
thức và mục tiêu của mỗi hoạt động tông đồ.
Trong Giáo hội, quả
thật có nhiều hoạt động tông đồ do Giáo dân có sáng kiến thành lập và
khôn khéo điều hành. Nhờ những sáng kiến như thế, trong nhiều hoàn
cảnh, Giáo hội có thể chu toàn sứ mệnh của mình cách tốt đẹp, và do đó
Hàng Giáo phẩm nhiều khi ca ngợi và giới thiệu các tổ chức đó.
Nhưng không một tổ
chức nào được mặc cho mình danh hiệu "Công Giáo", nếu không có
sự ưng thuận của Giáo quyền hợp pháp.
( Sắc lệnh Tông Đồ Giaó Dân,
Vatican 2, 23 & 24 - Lịch Công Giáo 2005 trang 95 & 96 )
VỀ MỤC
LỤC
|
|
Sứ điệp của ĐGH Gioan Phaolo 2 về Công Giáo Tiến Hành |
|
(Đại Hội Quốc Tế Công Giáo Tiến Hành tại Roma đã khai diễn từ ngày
31/8/04 đến 5/9/04 do hai tổ chức "Diễn Đàn Quốc Tế Công Giáo
Tiến
Hành" và "Công Giáo Tiến Hành Italia" phối hợp với Hội
Đồng Giáo Hoàng đặc trách Giáo Dân)
"Hãy
Ra Khơi! Hỡi anh chị em thuộc phong trào Công Giáo Tiến Hành.
Hãy can đảm trước tương lai! Đây là lời mời gọi mà tôi đã gởi đến
những đại biểu của Hội Nghị Toàn Quốc lần thứ XI của Phong Trào Công
Giáo Tiến Hành Italia, ngày 26 tháng 4 năm 2002. Tôi vui mừng nhận
thấy rằng phong trào đã quyết định lấy lời kêu gọi của tôi làm mục
tiêu dấn thân và làm khẩu hiệu cho Đại Hội Quốc Tế Công Giáo Tiến Hành,
được khai mạc tại Roma vào ngày 31 tháng 8 năm 2004 nầy, do sáng kiến
của Diễn Đàn Quốc Tế Công Giáo Tiến Hành và của Công Giáo Tiến Hành
Italia, trong sự cộng tác với Hội Đồng Giáo Hoàng về Giáo Dân.
Tôi muốn gởi những lời chào thân tình nhất của tôi đến tất cả những vị
lãnh đạo và những phụ tá của phong trào công giáo tiến hành của nhiều
quốc gia khác nhau đang họp tại Trung Tâm Hội Nghị "DOMUS PACIS" (Nhà
Hòa Bình), ở Roma. Một cách đặc biệt, tôi chân thành chào quý vị Hồng
Y và quý chư huynh trong hàng giám mục đã muốn tham dự vào biến cố
quan trọng nầy.
"Hãy cam đảm trước tương lai!" là một thái độ không phát sinh
từ một chọn lựa duy ý chí, nhưng được phát sinh và triển nở từ việc
nhớ lại hồng ân quý giá là Phong Trào Công Giáo Tiến Hành, ngay
từ lúc được thành lập. Theo vị tiền nhiệm muôn đời đáng ghi nhớ của
tôi là Đức Piô XI, do bởi "một linh ứng đầy quan phòng", Phong
Trào Công Giáo Tiến Hành đã là một lực quy tụ, tổ chức và thôi thúc
một khuynh hướng lúc đó "cổ võ sự tham dự của giáo dân",
một sự cổ võ đã được Công Đồng Vaticanô II xác nhận cách long trọng. Trong
phong trào Công Giáo Tiến Hành, hàng thế hệ các tín hữu đã được trưởng
thành trong ơn gọi riêng của họ, trên con đường huấn luyện Kitô làm
cho họ được ý thức trọn vẹn về chính sự đồng trách nhiệm của họ
trong việc xây dựng giáo hội, vừa thôi thúc họ hăng say dấn thân
hoạt động tông đồ trong tất cả mọi môi trường sinh sống. Nhân dịp
nầy, làm sao không nhắc lại rằng Sắc Lệnh của Công Đồng về việc Tông
Đồ Giáo Dân, đã nhìn nhận truyền thống đáng giá về việc tông đồ giáo
dân nầy vừa mạnh mẽ đề nghị nó trong Giáo Hội? (x. sắc lệnh
Apostolicam actuositatem, số 20). Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng Giám
Mục về Giáo Dân, và những phát biểu của tôi trong những dịp Hội Nghị
của Công Giáo Tiến Hành Italia, đã mạnh mẽ nhắc lại những đề nghị của
Công Đồng Vaticanô II, vừa cổ võ vượt qua vài hoàn cảnh khó khăn.
Ngày hôm nay, tôi muốn nhắc lại một lần nữa rằng: Giáo hội cần đến
Công Giáo Tiến Hành! Việc ghi nhớ nầy không nên được rút gọn về
việc chỉ nhớ về quá khứ cách đóng kín, nhưng phải trở nên một sự ý
thức về hồng ân quý giá mà Chúa Thánh Thần đã ban cho Giáo Hội;
đây là một
vào lúc bình minh của ngàn năm thứ ba có sức
khơi dậy những hoa trái mới của sự thánh thiện và việc tông đồ,
vừa mở rộng việc "thành lập" hiệp hội công giáo tiến hành
nơi nhiều
giáo hội địa phương tại những quốc gia khác nhau.
Đã đến lúc thực hiện việc hăng say dấn thân, được thể hiện trong những
thực tại đa diện của anh chị em. Có nhiều hướng hoạt động làm ta hy
vọng vào "thời ân sủng" của một mùa xuân mới của Tin
Mừng!
Trách nhiệm vĩ đại nầy của tất cả anh chị em cùng với những vị chủ
chăn của anh chị em, và là trách nhiệm của toàn thể giáo hội, (trách
nhiệm đó) đòi hỏi một quyết định khiêm tốn và can đảm "hãy bắt
đầu lại từ Chúa Kitô", trong ý thức mình được nâng đỡ bởi sức
mạnh có mặt khắp nơi của Chúa Thánh Thần. Trong trách vụ cao cả nầy,
ước chi
tất cả mọi tín hữu giáo dân đều dấn thân vào, với ý thức về ơn gọi
riêng của mình khi lãnh nhận bí tích rửa tội cũng như ý thức về ba sự
dấn thân --- tư tế, tiên tri và vương giả --- phát sinh từ đó. Tin
tưởng vào ân sủng của Thiên Chúa và được nâng đỡ bởi một ý thức sống
động mình thuộc về giáo hội, xét như là "nhà và là trường học của
sự hiệp thông", các giáo dân đề nghị lắng nghe những giáo huấn và
những chỉ dẫn của các vị chủ chăn, ngõ hầu họ trở nên những cộng tác viên
hữu hiệu, trong việc xây dựng những cộng đoàn giáo hội mà họ thuộc về.
Mọi người Kitô đều phải làm chứng cho thấy chính đời sống mình đã được
biến đổi bởi ân sủng như thế nào và được thôi thúc bởi đức bác ái ra
sao. "Điều nầy có thể được nếu những tín hữu giáo dân biết vượt qua
nơi chính mình khoảng cách giữa Tin Mừng và cuộc sống, vừa thiết lập
lại trong sinh hoạt hằng ngày tại gia đình, tại nơi làm việc và trong
xã hội, sự hiệp nhất của một nếp sống gặp được nơi Tin Mừng nguồn cảm
hứng và sức mạnh để được thể hiện trọn vẹn" (TH Giáo Dân số 34). Công
giáo tiến hành đã luôn luôn và ngày nay còn cần phải là <>trường
huấn luyện các tín hữu; các tín hữu nầy, một khi được soi sáng bởi học
thuyết xã hội của Giáo Hội, cần phải dấn thân nơi hàng đầu để bảo vệ
hồng ân thánh thiêng của sự sống, trong việc duy trì phẩm vị con người,
trong việc thực hiện sự tự do giáo dục, trong việc cổ võ ý nghĩa đích
thật của hôn nhân và gia đình, trong việc thi hành đức bác ái đối với
những anh chị em thiếu thốn nhất, trong việc đi tìm hòa bình và công
bằng, và trong việc áp dụng những nguyên tắc hỗ trợ và liên đới với
những thực tại xã hội khác nhau nhưng liên hệ với nhau.
Tôi biết rằng Đại Hội Quốc Tế của anh chị em, bắt đầu tại Roma, sẽ
tiếp tục bằng cuộc hành hương đến Loreto và sẽ đạt đến chóp đỉnh, vào
Chúa Nhật mùng 5 tháng 9 (năm 2004), nơi quảng trường Montorso, với
việc cử hành Thánh Thể; trong Thánh Lễ nầy, tôi được vui mừng khắc ghi
vào sổ Những Vị Chân Phước vài thành viên của Công Giáo Tiến hành đã
nêu gương sống Tin Mừng trong chính cuộc sống. Tôi chuẩn bị sẵn để
hành hương lần nữa đến Đền Thánh thân yêu của Đức Mẹ Loreto, trung tâm
quốc tế phổ biến đường lối tu đức thánh mẫu, nơi mà tôi sẽ dâng lên Mẹ
Maria lời cầu nguyện của tôi, ngõ hầu, với ơn Chúa Thánh Thần, anh chị
em có thể luôn sẵn sàng nói lên lời thưa "Xin Vâng" đáp lại thánh ý
Chúa, vừa làm cho mình trở thành những chứng nhân của Mầu Nhiệm Chúa
Kitô để cứu rỗi thế giới.
Với lời cầu chúc cho Đại Hội được nhiều hoa trái, và để có được một sự
hiện diện mỗi ngày một quyết liệt hơn của Công Giáo Tiến Hành trong
việc phục vụ Vương Quốc của Chúa Kitô, tôi xin ban cho tất cả Phép
Lành Tòa Thánh.
Từ Castel Gandolfo, ngày 10 tháng 8 năm 2004.
Gioan Phaolô II
( ấn ký)
Lm. Đặng Thế Dũng chuyển ngữ
VỀ MỤC
LỤC
|
Nhân loại nghĩ gì về THƯỢNG
ĐẾ?
|
|
Thượng Đế còn đưọc gọi là Đấng Tạo Hóa, Ông
Trời, Trời, Thiên, Thiên Chúa, Đấng Tối Thượng, Đấng Tối Cao, Đưc Chúa
Trời, mặc dù người Việt Nam chúng ta có nhiều cach gọi khac nhau, những
cũng chỉ nói đến một Đấng duy nhât đã dựng nên mọi loài mọi vật trên trời,
dưới đât, hữu hình và vô hình.
Dân Việt tin vào Trời. Ca dao,
tục ngữ,
hoặc những câu nói trong dân gian đầy dẫy, nói lên niềm tin đó:
Trời
sinh voi, sinh cỏ. Trời đánh còn tránh miếng ăn.
Trời
sinh, Trời dưỡng. Trời cao có mắt.
Trời
cho ai nấy hưởng; Trời gọi ai, nấy dạ
Sống nhờ ơn Trời, chêt về chầu Trời.
Trời cho không ai thấy, Trời lấy không ai hay.
Trời
nào có phụ ai đâu, hay làm thì giàu, có chí thì nên.
Trời
cho hơn lo làm. Chỉ có Trời cứu.
Mong
đèn Trời soi xét. Có Trời chứng giám.
Trời
cao đất rộng, em vọng lời nguyền:
Đất trời còn đó, em giữ truyền thủy chung.
Lưới Trời lồng lộng, thưa mà không lọt.
Thiên bât dung gian. (Trời không dung thứ kẻ gian ác)
Thiên sinh vạn vật, duy nhân tối linh (Trời sinh ra
mọi loài, con người là
khôn hơn hêt)
Đại
phú do Thiên, tiểu phú do cần (Giàu to là do Trời cho, giàu nhỏ là do
cần kiệm)
Mưu sự tại nhân,
thành sự tại Thiên. (Con người mưu kế, thành bại là do Trời định
đoạt)
Thuận Thiên giã tồn, nghịch Thiên giã vong (Theo
Trời thì sinh tồn, nghịch Trời thì diệt vong)
Ở hiền thì lại gặp lành, những người nhân đức Trời dành phúc cho.
Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân (Trời không
phụ bạc người có lòng tôt)
Duyên ba sinh Trời đã dành sẵn (duyên vợ
chồng là do Trời săp đặt)
Dù
ai nói ngược nói xuôi,
Ta
đây vẫn giữ Đạo Trời khăng khăng,
Dù
ai chác lợi mua danh,
Miễn
ta, ta được đạo lành thì thôi.
Ơn Trời mưa nắng phải thì,
Nơi
thì bừa cạn, nơi thì cầy sâu,
Công
lênh chẳng quản dài lâu,
Ngày
nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.
Lạy Trời mưa xuống,
Lấy nươc tôi uống,
Lấy ruộng tôi cầy,
Lấy đầy bat cơm,...
Nhờ Trời mưa thuận gió hòa,
Nào
cầy nào cấy trẻ gìa đua nhau;
Lạy Trời mưa thuận gió đều,
Cho
đồng lúa tốt, cho chìu lòng em.
Con
chim nó hót trên cành,
nếu Trời không có, có mình làm sao?
Con
chim nó hót trên cao,
nếu Trời không có, làm sao có mình?
Ngẫm
hay muôn sự tại Trời,
Trời
kia đã băt làm người có thân,
băt
phong trần phải phong trần,
cho
thanh cao mới được phần thanh cao. v.v.
Đưc Khổng Tử: "Duy Thiên vi
đại" (Chỉ có Trời là lớn)
"Nhân
tri nhân bất khả dĩ bất tri Thiên."
(Người ta còn biêt nhau,
không thể mà không biết Trời được.)
"Nhân
hữu đạo, bảo thực, noãn y, dật cư nhi vô giáo, tắc cận ư cầm thú."
(Làm người phải có đạo,
nếu chỉ tìm ăn no mặc ấm, mà sống vô đạo, thì có hơn gì con vật.)
Thầy
Chu Tử:
"Thượng đế gỉa, Thiên chi Chúa tể gỉa."
(Vua trên hêt là Chúa trên
trời.)
Ông
Đỗ Trọng Thư:
"Thiên gỉa vạn vật chi tổ."
(Trời là gôc của vạn vật.)
Triêt gia Pascal:
"Nếu bạn muốn tin vào Thượng Đế, bạn phải qùy xuống"
Bác học Pasteur:
"Càng
nghiên cứu về khoa học, tôi càng tin vào Thượng Đế."
Bác
học Becquerel:
"Nhờ nghiên cứu khoa học, đã dẫn tôi đến Thượng Đế và tôi có đưc tin."
Bác
học Newton:
"Tôi đã thấy Thượng Đế qua viễn vọng kính."
Pasteur:
"Mĩa mai
cho lòng dạ con người, nếu chết là hêt hoặc chết là trở về với hư vô."
Văn hào Platon: "Những
ai có một chut trí khôn, đều phải kêu cầu Thượng Đế trươc khi băt đầu công
việc của họ, dù việc lớn hay việc nhỏ."
Bác
học Duclaux: "Nếu sự sống đầu tiên xuât
hiện trên mặt đât do sự tình cờ, nơi mà (vũ trụ này)
mọi sự đều có luật, thì sự xuât hiện kia, nó kỳ dị như hòn đá, tự nó bò
lên sườn núi."
Charles Dickens:
“Kinh Thánh Tân Ươc chính là cuốn sách tôt nhât đã
từng và sẽ được biêt đến trên thế giới.”
Isaac Newton:
“Kinh Thánh có nhiều biểu hiện chăc chắn về tính có
thực hơn bât cứ một
câu chuyện nào chống lại sách đó.”
Victor Hugo:
“Nươc Anh có hai cuốn sách, Kinh Thánh và Shakespears.
Nươc
Anh sinh ra Shakespeare, còn Kinh Thánh làm nên nươc Anh.”
Bác
học Albert
Einstein: “Khoa học không có tôn giáo là mù lòa, tôn giáo
thiếu khoa học
là qùe quặt.” ; “Thượng Đế không chơi trò may rủi.”
Giáo
sư James
Simpson, người phát minh ra phương pháp gây mê trong
phẩu thuật,
khi được hỏi về những phát minh của ông, đã trả lời:
“Phát minh quan trọng nhất của đời tôi là tìm được Chúa Cứu Thế Giêsu.”
Triêt gia Kant:
"Không
ai chứng minh một cách xác đáng là không có Thiên Chúa."
Bac
học Edison, đã ghi vào sổ vàng khi
ông đến viếng thap Eiffel: "Edison hêt sưc khâm
phục
và ca ngợi tât cả những nhà kỷ sư, trong đó gồm cả Thiên Chúa."
Pascal:
"Người không tin nói, nếu tôi có đưc tin, tôi
sẽ bỏ tà dâm. Nhưng tôi bảo anh, nếu anh bỏ tà dâm, anh sẽ có đưc tin."
Văn
hào Bossuet: "Những chân lý đời đời không thay
đổi (của luân lý) buộc ta phải tin rằng có một Đấng Tạo Hóa."
Triêt gia
Brunetter: "Đã từ lâu, tôi cố
gắng tìm kiếm một nền luân lý vô tôn giáo. Trươc hêt, tôi thấy rằng điều này khó
thực hiện, sau tôi thấy rằng qúa liều lĩnh, cuối cùng tôi thấy
rằng không thể được. Tôi một người thuộc nhóm Tự Do Tư Tưởng. Tôi băt đầu
nghiên cứu Thiên Chúa giáo. Tôi đã học hỏi rât lâu, suy nghĩ rât cẩn thận,
cuối cùng tôi phải nói rằng, chân lý ở phía chân trời đó."
Giáo
sĩ Moreux
giám đôc đài thiên văn Bourges: "Tôi liên
lạc với cac vị giám đôc thuộc
hêt mọi đài thiên văn trên thế giới, tât cả đều tin có Thiên Chúa."
Charles Nicolle,
người đoạt giải Nobel Y học, năm 1928: “May mắn thay trong tôn giáo có
những bí nhiệm. Nếu không tôi sẽ hoài nghi nó, vì cho rằng tôn giáo là do
trí loài người tạo ra. Bí nhiệm làm tôi vững tâm. Đó là dấu ấn của Thiên
Chúa.”
Alexis
Carrel, tiến sĩ y khoa, giáo sư đại học Lyon,
đoạt giải Nobel 1912. Ông là một nhà vô thần, nhưng sau khi chứng kiến phép
lạ nhãn tiền tại Lộ Đưc
(Lourdes, France). Marie Ferrand, từ một cô gái săp chêt, trở nên lành
mạnh tưc khăc, ông nói: “Thật là một chuyện không thể có nhưng có thực.
Qủa là bât ngờ, một phep lạ mới xẩy ra.” Không dám tin ở mình. Alexis
Carrel mời hai bác sĩ bạn đến chứng kiến và cả hai đều xac nhận cô đã hoàn
toàn bình phục. Alexis Carrel đã trở nên tín hữu Đạo Chúa, trước khi về
nhà Cha trên trời.
Văn hào Victor
Hugo: "Thượng
Đế là Đấng vô hình xac thực, chối Ngài là mù quáng điên rồ."
Thánh Augustin:
"Không
ai phủ nhận Thượng Đế, nếu họ không có lợi gì khi phải phủ nhận Ngài."
Thánh Lêô Cả: "Cảnh
vật thiên nhiên dạy mỗi người biêt tôn thờ Thiên Chúa."
Thánh vịnh 19:1:
"Tầng trời xưng tụng vinh quang Chúa, không trung giãi
tỏ sự nghiệp Ngài."
Triêt gia Platon: "Có
thể xây một thành trì trên chín từng mây, dễ hơn cai trị một dân không có tôn giáo."
Chateaubriand: "Tiêu hủy việc thờ tự của Phuc âm, thì mọi làng phải xây
nhiều nhà ngục và phải có nhiều lý hình."
Bác học T. Termier: "Cứ chung mà nói,
mọi
khoa học đều dọn trí khôn ta nhận biêt Thiên Chúa hiện hữu. Hơn mọi người
khac, nhà bac học dù chuyên về khoa nào cũng thế, bao giờ cũng dễ dàng
nhận thấy mọi vật đều biến chuyển, bị tạo, hỗn hạp, khuyêt điểm, có cùng
đich và rât phưc tạp. Do đó, hơn những người dôt nat khac, nhà khoa học dễ
có ý hướng về một Đấng bât di dịch, tự hữu, cần thiêt, hoàn toàn và là
Đấng duy nhât an bài mọi sự. Chính vì thế mà người ta bảo: khoa học dẫn
đến Thiên Chúa. Và cũng chính vì thế mà người ta có thể nói, vũ trụ vật lý
là bí tích của Thiên Chúa."
Giám mục Hulst sau 20
năm nghiên cứu cac vấn đề triêt học. Ngài có viêt năm 1885 rằng: Ngài đã
đọc và suy nghĩ rât nhiều về cac sach báo cac nhà vô thần tài giỏi nhât, có
tiếng nhât, những
nhà thực nghiệm, những nhà phiếm thần đủ cỡ đã viêt. Tât cả những cái đó,
không làm khuynh đảo lòng tin của Ngài, mà còn làm cho Ngài tin đến mưc độ
hiển nhiên, sự có một đấng Thượng Đế tuyệt đối, có ngôi vị và tạo dựng vạn
vật.
Bismarck,
một võ quan và cũng là chính
khach nổi tiếng của Đưc: "Người có trí khôn mà không nhìn biêt, hay
chẳng muốn nhìn biết có Thiên Chúa, thì anh không hiểu sao họ không chêt quach
đi, vì chán nản và bị khinh bỉ." (thư viêt cho vợ)
A. Eynieu
đã công bố bản thống kê : trong số 432 nhà bac học thuộc thế kỷ 19; 34
vị không biêt lập trường tôn giáo,
còn 398 phân chia như sau: 15 vị dửng dưng, 16 vị vô thần, 367 vị tin; như
vậy là 92% cac nhà bac học tin Thượng Đế.
Bac sĩ Dennert,
người Đưc cũng tuyên bố kêt qủa tìm tòi của ông để biêt quan niệm tôn giáo
của 300 nhà bac học, tìm hiểu trong những số lỗi lạc nhât thuộc 4 thế kỷ qua. "38
vị tôi không rõ
cac ông quan niệm thế nào, còn 262 vị, thì 20 vị dửng dưng, 242 ông tin.
Tưc cũng 92% tin có Thượng Đế."
Svetlana Staline,
con gái nhà độc tài đỏ Staline, sinh ra trong vô thần, huấn luyện trong vô
thần, bà đã trở nên tín hữu Thiên Chúa giáo.
Các bác học vô thần đã trở lại Thiên Chúa
giáo: Taraschi Nagai, Alexis Carrel, Bregson...
Ông Lục Trung
Tường, nhà ngoại giao Trung
hoa, từ nhỏ đã là môn sinh của sân Trình cửa Khổng, và chỉ biêt có đạo ông
bà tổ tiên, sau đã gặp Thiên Chúa giáo như gặp được kho báu, ông đã trở về
với Chúa. Ông nói: "Ơn cứu độ là chổ tập trung tât cả cac nẻo đường, là
chổ độc nhât mà đưc hiếu của loài người, được tiêp vào đưc hiếu thảo siêu
nhiên mà Đưc Giêsu Kitô đã dạy, và đã cho chúng ta hưởng thụ, để kêt hợp
tât cả nhân loại với Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên trời."
Ông Ngô Gia
Lễ, Tri phủ Kim sơn, Ninh bình,
Băc Việt. Vì tiêp xuc với tín hữu Thiên Chúa giáo, ông muốn tìm hiểu đạo
lý, đã đọc sach Phuc âm, đã nhận ra tính cach siêu việt của Đưc Giêsu Kitô,
Con Trời giáng thế. Ông nói: "Tôi đã đọc Phuc âm một cach thành kính. Tôi
nhận thấy Đưc Giêsu Kitô không phải chỉ là nhân vật khac thường, Ngài
chính là Con Thượng Đế đã đến để cứu đời. Tôi là một trong những kẻ được
Ngài tỏ mình ra trong Phuc âm."
Ông Trịnh Sùng Ngô, Giáo
sư triêt Đại học
Honolulu, nguyên Đại sứ Trung Hoa Dân Quôc tại Vatican. Sau khi trở lại
ông giup nhiều bạn hữu biêt đạo, ông đã đem hêt tâm trí vào việc dịch
Thánh Kinh ra tiếng Trung hoa. Ông nói: "Thiên Chúa giáo là đạo bởi
Trời.
Người ta lầm cho đó là đạo của Âu Châu. Đạo đó không phải của Âu châu hay
Á châu, không cũ, không mới. Sau nhiều năm lạc lõng, nay tôi được về với
Đưc Giêsu, để ở luôn với Ngài thật là vui sướng vô biên. Từ nay sự sống và
bản thể tôi được đặt vào lãnh vực đời đời. Gia nhập Hội Thánh Chúa, tôi đã
không thiệt gì, nhưng đã được hoàn toàn mãn nguyện."
Họa sĩ Nhật Foujita, dòng
dỏi tướng quân
Samourai, đã giup triều đình Mikado, từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ 12. Thân
sinh ông là sĩ quan câp tướng trong Bộ Tham Mưu Hoàng gia. Sau khi tôt
nghiệp trường mỹ thuật Đông Kinh, Foujita được gửi qua Âu châu, để tiêp
xuc với mỹ thuật Tây phương vào năm 1912. Đến Paris, Foujita được tiêp xuc
với cac nhà danh họa như Picasso, Van Gough, Renoir, Gauguin..v.v..được
quan sat những tac phẩm ở cac bảo tàng viện và cac Thánh đường. Oc thẩm mỹ
tế nhị làm cho ông chóng nổi tiếng. Năm 1919, 1920, 1923 ông đã trưng bày
nhiều tac phẩm gía trị. Năm 1924-30 ông chỉ huy trang trí Khu Nhật Bản ở Câu
Lạc Bộ Đồng Minh, được huy chương của hai nươc Phap và Bỉ. Năm 1931
ông qua Mỹ, năm 1933 qua Roma, về Nhật năm 1949, ông và cả gia đình lãnh
Phep Thánh Tẩy tại nhà thờ Reims. Ông đã mãn nguyện trở nên con Chúa. Ông
nói: "Sự nghiên cứu mỹ thuật Tây phương đã đưa tôi đến những sáng tac
của
Thiên Chúa giáo, làm cho tôi bươc vào một thế giới siêu phàm, ở đấy tôi
nhìn thấy Thượng Đế. Những kiến truc vĩ đại, những kiệt tac về điêu khăc,
hội họa của Thiên Chúa giáo làm cho tôi rung động tâm hồn, khiến tôi say
mê tìm hiểu đến thỏa mãn. Tôi hoàn toàn tin tưởng ở Thượng Đế và nhât
quyêt trở về với Ngài."
Ông Mashaba,
một học gỉa Ấn độ, sinh tại
Bihar. Ông được du học bên Anh nhiều năm, tuy có tài về hành chánh, ông
không nhận một công tac nào trong khối Liên hiệp Anh; sẵn có khuynh hướng
về thần bí học, ông đã sống độc thân để nghiên cứu về cac tôn giáo. Ông
nói: "Sở dĩ mỗi tôn giáo công dụng khac nhau, vì mỗi giáo tổ nhìn
thấy một
khía cạnh đau khổ của con người và tìm cach cứu giup theo khía cạnh đó.
Bởi thế có thứ kêu gọi từ bi quảng đại, có thứ chủ trương diệt dục hy sinh,
có thứ dùng hiếu thảo nhân nghĩa, có thứ giup tu thân cứu đời, công bằng
bac ái v.v..nhưng không tôn giáo nào đầy đủ như Thiên Chúa giáo, vì xây
dựng cho con người một cuộc sống có ý nghĩa cao thượng, bảo đảm cho một
tương lai hạnh phuc, và có nhiều đặc điểm mà cac tôn giáo khac không có,
như:
-
Vị
giáo tổ bởi Trời giáng thế và đã được Sấm ký báo trươc từ mấy ngàn năm
trong lịch sử hẳn hoi, khac hẳn với những giáo tổ khac, chỉ là người trần
tục.
- Có
từ Trời xuống lập đạo, thì đạo đó mới có khả năng đưa con người về Trời
được.
-
Đạo Trời thì như thuốc trường sinh, dùng thuôc này thì không cần thuôc nào
nữa; vì cac đạo khac chỉ xoa dịu, hay làm quên đau khổ trong thời hạn, còn
Đạo Trời chẳng những cứu khổ, còn ban cho con người sự sống đời đời, đó
mới thật là ươc vọng tối cao của mỗi người.
-
Đưc Giêsu đã chiến thắng sự chêt, đã sống lại và về Trời, bảo đảm cho cuộc
hành trình của tín hữu trên đường đời, là hy vọng vững chăc của người tín
hữu.
- Vì
mang săc thái siêu phàm và chứa đựng những gía trị cao thượng vượt mưc,
nên Đạo Trời thường bị ghen tị, hiểu lầm hay lấn áp, thế mà vẫn phat triển
điều hòa, vẫn vững bền giữa mọi gian lao thử thach, khiến cho nhiều người
trươc kia thờ ơ lãnh đạm, hay thù ghet, phải tìm hiểu cảm phục và do đó
nhiều khi trở nên tín hữu nhiệt thành.
Ông kêt luận bằng một ví dụ: trươc khi mặt
trời mọc, người ta đã thấy ánh sáng của Đạo Trời chiếu vào nhân loại,
trươc khi chính Con Trời giáng thế làm sáng tỏ hẳn Đạo Trời. Nay ngày của
cuộc đời đã đến lúc chính ngọ, thì không ai mà không được ánh sáng của Đạo
Trời soi tới.
J.J Rousseau
có ý mĩa mai những ai cho rằng câu chuyện về cuộc đời Chúa Giêsu là bịa
đặt, như sau: "Bịa đặt như thế thì không được;
đến nổi tac gỉa bịa đặt, (nếu có) chăc chắn còn lạ lùng hơn anh hùng trong
cuốn sach."
Các Tổng
Thống Hoa Kỳ:
-
George Washington: "Không thể có một chính
phủ đúng, khi chính phủ đó phủ nhận Thượng đế và Kinh thánh."
-
Abraham Lincoln: "Kinh Thánh là qùa
tặng qúy nhât mà Thượng đế đã ban cho
nhân loại."
-
Dwight Eisenhower: "Văn minh của chúng ta
được xây dựng trên nền tảng Kinh
Thánh."
-
Andrew Jackson: "Kinh Thánh phải là nền
tảng cho thể chế của chúng ta."
Một
nhà bac học Mỹ có ý mĩa mai và đánh gía những kẻ chủ trương vô thần như
sau:
- Trong con người có một số nươc đủ giặt một
cái khăn bàn.
- Máu chứa chât săt, đủ làm 7 cái đinh đóng
móng ngựa.
- Có một số chất vôi đủ quet một bức tường
nhỏ.
- Đôt ra than, có thể làm được 65 cây viêt
chì.
- Chât phôt phat đủ làm được hộp diêm.
- Và chât muối, hai hoặc ba muỗng nhỏ.
Bán
tât cả những cái đó được 95 xu, chưa nổi một Mỹ kim.
Sau
đây là hai câu chuyện minh chứng sự hiện hữu của Thượng Đế.
Cái chêt của
Voltaire.
Người ta coi ông là ông tổ của vô thần. Với
ngòi but thiên tài, ông cố hạ bệ Thiên Chúa. Huấn ngôn của ông là "Hãy
đánh đổ cái đứa quái gỡ" (ông ám chỉ Hội Thánh Chúa) Không một lời gian
dối nào mà ông tởm gớm, không một vu oan nào mà ông ghê sợ. Ông chiêu tập
một số anh em, lấy tên là nhóm Beelzebuth, mục đich để hạ bệ Thiên Chúa.
Có chịu cac phep bí tich cũng để chế nhạo Thiên Chúa. Năm 1753 ông đã lên
án Thiên Chúa: "20 năm nữa Thiên Chúa có thể về hưu, vì không còn ai
phục vụ Ngài." Đúng 20 năm sau, năm 1773, Voltaire đã tăt thở trong cái chêt
thê thảm. Ông trông thấy những hình ảnh làm ông run sợ, ông la lên: "Một
bàn tay đang kéo tôi đến với Thiên Chúa...Đây qủy muốn băt tôi...Tôi trông
thấy hỏa ngục."
Ông tru treo gầm thet như thú vật hung dữ.
Ông lấy móng tay cấu xé thịt mình ra từng miếng. Một bà gìa hay giup đỡ
người hâp hối, sau khi chứng kiến cái chêt của Voltaire, bà thường hay nói:
"Khi ấy tôi đang ở gần giường của Voltaire đang hâp hối, tôi không còn
muốn thấy một người vô đạo chêt nữa." Một người khac cũng đã nói: "Nếu
qủy
có thể chêt được, cũng không chêt dữ như Voltaire."
Hỏa
ngục.
Năm 1917, Đức Mẹ Maria đã hiện ra với ba trẻ
tại Fatima, nươc Bồ đào Nha, đã cho cac em trông thấy Hỏa ngục và các em
đã mô tả lại như sau:
"Đức Mẹ cho chúng con thấy một biển cả
lửa hồng dường như ở dưới mặt đât. Chìm ngập trong lửa này là qủy dữ và cac
linh hồn dưới hình thể con người, giống như những cục than hồng trong suốt,
đen đủi hoặc xám xịt. Họ nổi lên trong đám cháy, bị cac ngọn lửa nâng lên
cao, những ngọn lửa này phat ra từ thân hình họ cùng với một đám khói lớn.
Họ lại rơt xuống mọi phía, giống như những tia lửa trong một đám cháy lớn,
vô trọng lượng hoặc mât thăng bằng, và giữa những tiếng la het và rên rỉ
vì đau đớn và tuyệt vọng, làm kinh khiêp chúng con và làm chúng con run
lên vì sợ hãi. Cac qủy dữ có thể được phân biệt do cac hình thù gây kinh
hãi và ghê tởm, giống như những con vật khủng khiêp và chưa bao giờ thấy,
tât cả đều đen đủi và trong suôt. Thị kiến này kéo dài một luc. Làm sao
chúng con có thể bày tỏ lòng biêt ơn cho xứng với Mẹ yêu dấu trên trời của
chúng con, Đấng đã báo trươc cho chúng con trong lần hiện ra thứ nhât, khi
hứa rằng Ngài sẽ đem chúng con về trời. Bằng không, con nghĩ rằng chúng
con sẽ chêt điếng vì sợ hãi và kinh khiêp"
Hy vọng ít dòng
trình bày trên đây, giúp cho những ai còn ngờ vực sự hiện hữu của THƯỢNG
ĐẾ suy nghĩ.
Tác
giả NGUYỄN HY VỌNG
Chứng Nhân Đức Kitô chân thành cám ơn tác giả Nguyễn Hy Vọng và rất mong
được các độc giả gấn xa, cho dù chúng ta
không cùng tôn giáo, xin hãy "góp thêm" vào
cho bài viết trên đây ngày càng thêm phong phú bằng chính những kiến thức,
niềm tin, kinh nghiệm sống của mình về Thượng Đế, chúng tôi tin rằng đây
là một món quà quí báu cho tất cả những anh
chị em chúng ta chưa muốn tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa
Xin
chân thành cám ơn.
VỀ MỤC LỤC
|
|
MỪNG GIÁNG SINH 2004
|
MỪNG GIÁNG SINH 2004
Nhân loại reo vui Chúa Giáng trần
Cứu đời còn lắm cảnh tham sân
Chiến tranh diệt chủng mưu tàn
phá
Khủng bố sát nhân cứ lộng hành
Nhạc Thánh chào mừng quanh " Máng
Cỏ "
Bê Lem nghinh đón giữa Thiên Thần
Chúng Sanh đãnh Lễ Ngài Thiên Tử
Cầu Chúa Ngôi Hai hóa độ nhân
Trần Phùng Hoài Hương
( USA Giáng Sinh 2004 )
|
VỀ MỤC
LỤC
|
|
Chánh Án
mặc áo thêu Mười điều răn Đức Chúa Trời
|
MONTGOMERY, Alabama.17/12/04 - Nguồn tin của hãng thông tấn
AP cho biết vị chánh án tại hạt Covington miền nam tiểu bang
Alabama Hoa Kỳ đã bác lời yêu cầu của luật sư bào chữa xin hoãn
phiên xử vì phía trước ngực áo quan tòa có thêu hàng chữ 10 điều
răn Đức Chúa Trời. Hàng chữ này có màu vàng và lớn đủ để các người
ở gần ông có thể đọc được.
Trong ngày thứ Hai vừa qua, ông chánh án Ashley McKathan đã bước
vào phòng xử với bộ áo có thêu hàng chữ 10 điều răn Đức Chúa Trời.
Ông xử vụ say rượu trong lúc lái xe. Luật sư bào chữa cho vụ án là
ông Riley Powell phản đối quan tòa mặc bộ áo nói trên với lý do
làm sao lãng sự chú ý của thân chủ. Ông cũng nại ra lý do là trước
đây quan tòa không bao giờ mặc áo này.
Với hai lý do đó, luật sư xin quan tòa hoãn phiên xử. Nhưng tòa đã
bác lời yêu cầu của luật sư.
Trong khi đó quan tòa McKathan tuyên bố với thông tín viên AP rằng:
“Tôi tin 10 điều răn Đức Chúa Trời là biểu tượng cho sự thật và
người ta không thể tách luật pháp ra khỏi sự thật. 10 điều răn Đức
Chúa Trời có thể giúp quan tòa phân biệt phải, trái” Quan tòa
cũng nói ông không tin là 10 điều răn Đức Chúa Trời trên áo của
ông có ảnh hưởng đến những phán quyết của bồi thẩm đoàn.
Vụ này cũng giống như vụ ông Roy Moore đã bị truất phế khỏi chức
Bộ Trưởng Tư Pháp tiểu bang Alabama vì không chịu dời bỏ tấm bia
khắc 10 điều răn Đức Chúa Trời khỏi tòa nhà tư pháp của tiểu bang
Alabama. Cựu bộ Trưởng Moore tuyên bố ủng hộ quyết định của quan
tòa McKathan trong việc mặc áo có thêu 10 điều răn. Ông nói “Tôi
hoan hô quan tòa McKathan. Đã đến lúc nền tư pháp phải nhận ra căn
bản luân lý của luật pháp. Ông Moore cũng nói tôi đã bị thất bại
đối với vụ tấm bia 10 điều răn Đức Chúa Trời. Nhưng với trường hợp
của quan tòa McKathan, hy vọng vấn đề 10 điều răn sẽ được cứu xét
lại.
|
|
Nguyễn Long Thao
.
VietCatholic News (18/12/2004 )
VỀ
MỤC LỤC
|
Lễ Thánh gia
thất
|
|
Bài giảng lễ chủ
nhật 26 tháng 12 năm 2004
Lm. Roland Jacques
Hôm nay Giáo hội mừng lễ thánh gia thất ;
Giáo hội tôn vinh Chúa Giêsu bên cạnh mẹ Ngài, là Đức Mẹ Maria, và
Thánh Giuse.
Chữ ‘gia’ trong tiếng hán-nôm có nghĩa
là ‘nhà’. Lối ghép các tượng hình để viết ra thành chữ ‘gia’ ấy trong
chữ hán cho ta thấy bức tranh của một gia đình thôn quê ngày xưa :
bên trên có mái nhà, dưới có con heo được xem là thực phẩm nuôi cả gia
đình. Còn chữ ‘thất’ cũng có hình mái nhà ở trên, và dưới là chữ
‘thổ’ : thổ là đất để làm nền nhà, là quê hương nơi gia đình định cư
sinh sống.
Gần đây Đức Thánh Cha có đến thăm thánh
địa của Thánh Thất tại Lorêtô ở Ý : người ta nói từ xa xưa các thiên
thần đã dời nhà bằng đá của Chúa Giêsu tù Nazareht đến đây ; ngôi nhà
mà Chúa Giêsu đã cư ngụ, nơi mà thánh Giuse làm nghề thợ mộc, nơi mà
Mẹ Maria đã đi ra để gánh nước giếng trong làng về cho cà gia đình
thánh dùng hằng ngày.
Câu truyện Lorêtô ấy, ta có tin hay
không cũng không sao. Nhưng Bài Tin Mừng ngày lễ hôm nay, cũng như Bài
Tin Mừng của Lễ Đêm Giáng Sinh lại cho chúng ta biết đến một gia đình
không nhà, không cửa, không có gì thịnh soạn để ăn uống tiệc tùng
cả.
Trong cuộc sống đức tin của chúng ta, những người trong cộng đồng
người nói tiếng Việt đang sống trên xứ người, biết được tình cảnh lưu
lạc ấy lại là một điều rất qua trọng.
Hẳn nhiên, một số anh chị em chúng ta đã
xây dựng được nhà cửa đất vườn nơi đây, đã có cơ sở đề nghĩ đến tương
lai của mình. Nhưng có những kẻ khác lại canh cánh nhớ đến quê nhà,
nơi chôn nhau cắt rún, nơi có mồ mả tổ tiên. Nhớ quê, nhớ nhà,
nhớ bà con thân thích. Rồi còn những kẻ không nhà, nói đúng hơn là tạm
trú cho qua cơn túng cùng, và những kẻ ấy cũng có thể tối nay không có
gì lót bụng cho khỏi đói. Họ không chạy thoát sự tàn bạo của một vua
Hêrôđê, nhưng hẳn họ có những lý do để trốn tránh.
Anh chị em thân mến,
Nếu anh chị em nhận ra mình ở trong
những con người tôi nhắc đến đây, thì anh chị em là hình ảnh sống động
của Mẹ Maria và thánh Giuse đang chạy trốn qua Ai Cập . Anh chị em là
người nhà của Thánh Gia Thất ! Lễ hôm nay đúng là lễ mừng anh cị
em đấy ! Chúa Giêsu là anh cả, và Ngài sẽ không bao giờ bỏ quên quí
anh chị em trong bất cứ hoàn cảnh nào của cuộc sống. Ngài sẽ trìu mến
yêu thương và bảo bọc anh chị em. Nhưng Ngài cũng kêu gọi anh chị em
hãy lớn lên trong cuộc sống của mình, hãy trở nên những môn đệ thật sự,
vác thánh giá trên vai mình và bước đi theo Ngài.
Quí anh chị em hẳn thắc mắc không biết
văn hóa Việt Nam, một nền văn hóa mà anh chị em mến chuộng và hảnh
diện, nền văn hóa đó có giúp anh chị em hiểu Phúc Âm hay không ? Anh
chị em thân mến, Tại sao lại không ! Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô chỉ
đến để mang lại ánh sáng mới, một sự khôn ngoan mới hơn mà thôi !
Chữ ‘gia’ trong tiếng hán không cho
chúng ta hình ảnh hang lừa máng cỏ nơi Chúa sinh ra hay sao? Dưới má
nhà, anh chị em thấy có các loài vật – con heo, con bò hay con lừa tùy
theo mỗi tập tục, mỗi truyền thống. Nhưng đó là nơi mà Con Thiên Chúa
làm người đã chọn làm nơi cư ngụ trên dương gian khi mẹ Ngài
sinh Ngài ra đời.
Từ nay, gia đình Việt Nam nào, dù nghèo
đến mấy, thì cũng nhận ra nhà của Chúa nơi nhà mình. Còn quê hương,
quê cha đất tổ được diễn tả nơi chữ ‘thất’, thì mẫu gương Thánh Gia
Thất cho chúng ta thấy quê nhà là nơi mà chúng ta kết dệt nên những
quan hệ bạn bè và liên đới, là nơi mà tình thương yêu của Chúa dẫn lối
và đồng hành với cuộc sống chúng ta.
Thật đúng như thế, trong những giây phút
đen toi nhất, cha mẹ Chúa Giêsu đã là kẻ vô gia cư, và bơ vơ không
ngày mai – đó là tình cảnh mà các đấng đã sống ở máng cỏ Bêlem và trên
bước đường lưu lạc qua Ai Cập. Và đó thực là Thánh Gia Thất : Gia đình
ấy xây dựng vững chắc trên tình yêu Thiên Chúa ; chỉ có là tình yêu ấy
mới có thể thỏa lòng con người và dẫn lối chúng ta.
Nhưng làm sao gia đình ấy đem lại
mẫu mực cho những kẻ có nhà, có cửa, có cơm ngon áo đẹp, và có thể có
cả tiền bạc dự phòng cho những lúc khó khăn ? Tôi xin được kể cho anh
chị em một câu chuyện thật sự xảy ra, mà tôi đã từng chứng kiến khi
làm linh mục phục vụ cho những người Bồ Đào Nha di cư ở Pháp.
Tôi nhớ có một ngày nọ, một người cha
gia đình 11 đứa con – và là gia đình ít giáu có hơn cả trong họ đạo
của tôi – đã cho tôi một món tiền khá lớn. Ông ta kể lại lúc ông còn ở
quê nhà, gia đình ông là nông dân, mấy đứa con tinh nghịch vô ý làm
cháy ngôi nhà họ đang cư ngụ : họ trơ trụi không còn có gì nữa ! Thế
rồi họ phải bỏ quê ra đi, lội sông vượt biên giới, mấy người lính biên
phòng làm ngơ nhìn phía khác cho họ đi qua. Bé út còn đánh mất giày và
phải tiếp tục đi chân đất! Người cha ấy nói với tôi, tiền nầy giúp cho
kẻ vô gia cư. Còn chúng tôi, năm hết tháng tận, kỳ cùng chẳng giàu
cũng chẳng nghèo hơn đâu !
Anh
chị em thân mến,
Chúc
quí anh chị em một mùa Giáng Sinh vui tươi. Xin anh chị em mở rộng
lòng đón Chúa Giêsu. Trong hoàn cảnh bấp bênh của anh chị em hôm nay,
Ngài là người anh đồng hành với anh chị em, gìn giữ và dẫn dắt anh chị
em. Những anh chị em nào có điều kiện đón mừng các ngày lễ Giáng
Sinh và năm mới, Tết Tây, Tết Ta một cách sung túc, trang trọng, thì
Chúa Giêsu chính là người em đang cần đến bàn tay giúp đỡ của quí anh
chị em ; Chúa là người em đang cần một lời thăm hỏi chân tình,
một lời nguyện xin đầy tình huynh đệ.
Trong
Thánh lễ nầy, tất cả chúng ta nối kết lại với nhau thành một gia đình
duy nhất bên cạnh Chúa Giêsu, dưới cái nhìn của Mẹ Maria và Thánh
Giuse. Xin Chúa cho lời cầu nguyện và tình thương yêu của chúng ta làm
cho chúng ta trở nên một gia dình kitô giáo thật sự.
Gs. Nguyễn Đăng Trúc chuyển ngữ
VỀ MỤC
LỤC
TÔI RAO GIẢNG VI
TÔI RAO GIẢNG (VI)
Cuộc tĩnh
tâm mà tôi mới dự
Ðã làm tôi mệt lử, lao đao...
Hồn tôi lời Chúa quyện vào
Phía kia xác thịt ào ào tấn
công!
Nhưng rồi tôi cầu xin ơn
Chúa
Xin cho tôi tỉnh giữa cơn
mê
Bấy lâu tôi sống ê chề
Nay xin hồn xác hướng về
nẻo ngay!
Tôi sấp mình – Tôi ăn năn
quá!
Chúa Thánh Linh đánh động
lương tri
Xưa nay tôi chẳng ra gì
Giờ tôi phải sống cách chi
báo đền!
Dù xác thịt còn đeo mắc
nặng
Chú tâm tôi thinh lặng lắng
nghe
Những lời khuyên nhủ, nhắn
nhe
Bảo tôi chỗi dậy thoát li
gông cùm!
Những cuộc vui chóng qua
chóng hết
Chúng đọa đày tôi chết linh
hồn
Bạc tiền, nữ sắc, dâm bôn...
Một phường quỉ dữ cuốn hồn
tôi đi!
Tôi ăn năn vô cùng đau đớn
Tôi thật lòng xin Chúa thứ
tha
Ðời tôi đầy những xót xa
Lãng quên nhiệm vu - Chẳng
ra tông đồ!
Hứa từ nay khiêm nhường
rất mực
Quyết từ nay khiết tịnh
chăm lo
Khó nghèo - Tôi chỉ sống
cho
Một Ðấng Cứu thế - Kitô là
Ngài!
Tôi can đảm dứt đường tội
lỗi
Quá khó khăn nhưng cố sức
tôi
Cậy trông Ðức Mẹ nhận lời
Giúp tôi thoát hiểm quãng
đời gian nan!
Sẽ yêu thương mọi người,
mọi giới
Tôi quyết là Nhân chứng cho
Ngài
Ðời tôi - Hồn xác – Hình
hài
Tôi xin phó thác cho Ngài
từ đây!
Tôi giảng rao - Tôi rao
giảng mãi
Có Ngài - Tôi chẳng hãi sợ
chi
Từ lâu tôi đánh mất đi
Tôi vừa tìm lại một vì sao
Mai!
Little Saigon, CA ngày lễ
Giáng Sinh 2004
Nhà Văn Xuân Vũ TRẦN
ÐÌNH NGỌC
|
VỀ MỤC
LỤC
|
KHO TÀNG TỪ ĐÔNG
PHƯƠNG |
|
John Wu là một tác
giả người Hoa đã diễn tả thật khéo trong cuốn "Đông Gặp Tây" về ba
đạo sĩ theo dấu sao lạ tìm đến Bê-Lem dâng vàng, nhũ hương và mộc
dược cho Đấng Cứu Thế. Đó là kho tàng của Đông Phương dâng hiến
cho nhân loại.
Món
quà thứ nhất là vàng, so với quan niệm từ buổi sáng dấn thân vào
đời xây dựng bằng luân thường đạo lý "nhân nghĩa lễ trí tín" của
đạo Nho. Nhập thế là thái độ cần thiết tạo nên vàng bạc, góp phần
tô điểm làm giầu trần gian mang được ý nghĩa hiện hữu trong cuộc
nhân sinh trên mặt tinh cầu này.
Món quà thứ hai là
nhũ hương, sánh với ánh sáng ban chiều của Lão Trang xuất thế,
biết siêu thoát bay bổng lên như hương trầm, biết nhàn tản mà
hưởng được sinh thú sống trên đời chứ không chỉ hùng hục "lao động
vinh quang, làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm".
Món quà thứ ba là mộc
dược, kết tinh tư tưởng Ấn Độ, có thể ví với cái nhìn giác ngộ
trong đêm tối cuộc đời, thấy được mọi sự đều như bọt bèo phù du
trôi nổi trên dòng sông, có đó rồi lại mất đó, sắc sắc không không.
Mộc dược để ướp xác đời chóng qua chóng hết mà ngộ được lẽ vô
thường.
John Wu đã thấy được
cả ba ngón tay đều chỉ "mặt trăng", đều có thể là ngôi sao dẫn
đường. Ông đã theo dấu chỉ và bỗng nhận ra Đạo, đã trở thành một
người theo Đạo Chúa. Ông đã có công dịch Thánh Kinh ra tiếng Tàu
với màu sắc văn hóa hội nhập. Khởi đầu Phúc Âm Thánh Gioan, ông đã
dịch chữ Ngôi Lời (Logos trong triết lý Hy Lạp) là Đạo: "Từ nguyên
thủy đã có Đạo... Nhờ Đạo, vạn vật được tạo thành, và không có Đạo
thì chẳng có sự gì được tạo thành... Đạo đã trở nên người phàm và
cư ngụ giữa chúng ta." (Gioan 1:1-14).
ĐÔI NẠNG LÀM QUÀ
Vở nhạc kịch "Amahl
và Những Người Khách Ban Đêm" trên màn ảnh TiVi đã trở thành bất
hủ giống như bản Messia của Handel vậy. Nhiều người xem mà ít để ý
tới xuất xứ của vở kịch này do tác giả là Gian Carlo Menotti. Nhạc
cảnh thật xúc động không ngờ lại chính là câu truyện thực trong
cuộc đời của Gian Carlo Menotti, một người Mỹ gốc Ý.
Năm 1951 Gian Carlo
Menotti được đài truyền hình NBC ký hợp đồng cho một nhạc kịch dịp
lễ Giáng Sinh. Ông đã nhận một ngàn Mỹ kim tiền đặt cọc. Nhưng rồi
đến mùa thu mà ông cũng không sao có một đề tài nào cả. Ông thất
vọng đến gặp hãng NBC để trả tiền lại, nhưng hãng không chịu. Vì
thế ông phải đi lang thang tìm hứng.
Một hôm ông vào Bảo
Tàng Viện Nghệ Thuật ở New York thì tình cờ bị hút hồn bởi một bức
tranh vẽ "Ba Đạo Sĩ" của họa sĩ Hieronymus Bosch người Hà Lan vào
thế kỷ 15. Nhìn bức tranh, Gian Carlo bỗng dưng nhớ lại những ngày
thơ ấu tại quê xưa ở làng Cadegliano bắc Ý. Trẻ con Ý không có
thói quen chờ ông già Noel Santa chui theo ống khói xuống phát quà,
nhưng chờ Ba Vua mang quà từ phương Đông. Gian Carlo mỉm cười nhớ
lại lúc cùng em là Tullio ráng thức chờ Ba Vua mang quà tới, nhưng
trước khi gặp được Ba Vua thì hai anh em đã lăn ra ngủ rồi. Trong
giấc mơ Gian Carlo vui mừng thấy Ba Vua đến thật. Từ đàng xa có ba
người cỡi lạc đà rung điệu nhạc thánh thót hào hứng. Gian Carlo
thấy Ba Vua lội qua tuyết lạnh thăm nhiều nhà nghèo vùng bắc Ý
trước khi đi Bê Lem. Ba Vua tới một ngôi nhà xiêu vẹo nghèo nàn, ở
đó có một bà góa và một đứa bé trai tên là Amahl, và đã cho một
món quà lạ.
Không ngờ đó lại là
câu truyện thời thơ ấu của Gian Carlo. Lúc lên bốn tuổi, Gian
Carlo bị bại cả hai chân phải chống nạng. Bác sĩ bảo đó là một
loại bệnh không chữa được, nên phải mang tật suốt đời! Nhưng bà vú
nuôi rất thương đứa bé, đã nghĩ tới một nhà thờ trên núi miệt
Lugano có kính Đức Mẹ Cao Sơn (Madonna del Monte), nơi đã xảy ra
nhiều phép lạ. Bà hỏi Gian Carlo có tin Đức Mẹ chữa khỏi bại chân
không thì đứa bé gật đầu. Thế là bà đã dẫn Gian Carlo lên núi cầu
nguyện. Chính nơi đây, Gian Carlo đã nhận được món quà quí nhất
đời là được khỏi bại chân. Niềm tin của bà vú nuôi và của cậu bé
Gian Carlo đã là thuốc thần.
Hình ảnh một đứa bé
chống nạng đi lên núi, rồi nhận được món quà lạ, mang đôi nạng tới
làm quà dâng cho Chúa cùng với Ba Vua. Quả là một thần hứng tuyệt
vời.
VẼ
BẰNG ÁNH SÁNG
Tôi đang có thể đi
được, cử động được, đánh máy được, chẳng phải là món quà quá quí
hay sao? Cũng lạ và đầy hứng khởi như phép lạ nhận quà của Gian
Carlo Menotti. Đó là phép lạ đi trên mặt đất, nhận ra quà lạ mỗi
ngày, mỗi phút giây. Chỉ cần ánh sáng lóe lên trong mắt, trong tim.
Trong một lớp học
chụp hình, tôi đã sửng sốt nhận ra một điều rất đơn giản. Đó là
tập cảm nhận ánh sáng. Chụp hình là vẽ bằng ánh sáng. Chiếc máy
chụp như cây cọ, mà ánh sáng là chất sơn màu. Họa sĩ biết chọn màu
sơn thì nhà ảnh cũng biết lựa ánh sáng. Để ý một chút thì thấy ánh
sáng mang chất lạ lùng lắm. Màu ánh sáng chói chang ban trưa khác
với màu nhung mềm lúc trời mây. Màu tươi vui nhảy múa trên những
đọt lá trong nắng sớm khác với màu trầm ngâm suy tư lúc mặt trời
lặn. Màu ánh sáng xuyên qua những hạt mưa long lanh khác với màu
mơ mộng thơ thẩn trong sương mù. Ánh sáng lại tùy lúc mạnh hay yếu,
đậm hay nhạt, gợi lên những cảm giác và tâm tình khác nhau. Ánh
sáng cũng đến từ nhiều phía, diễn lên những chiều kích có khi thâm
sâu bền chặt, có khi hời hợt vội vàng. Ban đêm không có ánh sáng
thì mọi vật trở thành tối đen. Đúng là ánh sáng tô màu vạn vật, vẽ
lên bức tranh tuyệt tác mỗi phút giây.
Cũng với những bông
hoa súng đơn sơ dưới ao nước trong khu vườn ở Giverny phía tây bắc
Paris, họa sĩ Claude Monet đã vẽ được nhiều bức tranh tuyệt tác.
Cùng một bông súng mà mang nhiều tâm tình khác nhau tùy theo ánh
sáng ban sáng, ban trưa, hay ban chiều. Mà cũng tùy tâm tư bên
trong người vẽ nữa. Đó là cái nhìn của phái ấn tượng mà Monet là
một trong những người nổi nhất. Ông nói vẽ một cọng lá cũng giống
như vẽ một người đẹp làm mẫu. Cũng công trình như nhau, cũng thẩm
mỹ như nhau.
Ánh sáng đang tung
tăng chạy ùa vào phòng qua cửa sổ đây này. Tôi nhìn ánh sáng mà
cảm nhận độ mạnh, yếu, màu sắc, tâm tình, như nhìn một phép lạ,
như lần đầu tiên trong đời biết nhìn ra ánh sáng. Hào hứng quá
phải không? Và chắc chắn nhiều người cũng nhìn thấy như vậy khi đi
xuống phố, khi lái xe trên xa lộ. Và thế giới mỗi phút giây đều
mặc một bộ áo mới nhí nhảnh bơm sinh khí tạo nên chất sống động lạ
thường.
TIN VUI NHẬN ĐƯỢC QUÀ QUÍ
Ngày 19 tháng 3 năm
1627, Cha Đắc Lộ đã đặt chân tới Cửa Bạng, nơi dân chúng thường
làm nghề mò tìm ngọc trai dưới biển. Thấy thế, Ngài đã giới thiệu
một thứ quà quí hơn nhiều. Đó là ánh sáng niềm tin vào Đạo Chúa
Trời. Đây là lần đầu tiên danh xưng Đức Chúa Trời được Cha Đắc Lộ
dùng, rất gần gũi với văn hóa và tâm thức người Việt. Ngài đã
thuật lại buổi gặp gỡ đầu tiên trong cuốn Đắc Lộ, Lịch Sử Vương
Quốc Đàng Ngoài:
“Chúng tôi vừa cập
bến thì một số đông dân xứ này thấy chúng tôi đến gần liền lấy
thuyền của làng lân cận đến mừng chúng tôi, chất vấn chúng tôi xem
chúng tôi là những người nào, từ đâu mà tới và đem theo những hàng
hóa mới lạ nào. Tôi đáp nhân dịp này chúng tôi đến bán cho người
Đất Bắc một hạt trai quí mà không đắt, để cho người nghèo khó nhất
cũng có thể mua được miễn là có ý ngay lành. Thấy dân chúng tỏ ra
muốn xem, thì tôi cho họ hiểu là hạt trai này không thể coi bằng
con mắt thân thể nhưng bằng con mắt tinh thần biết phân biệt thật
giả. Nói tóm lại chúng tôi đến giảng dạy đạo thật có giá hơn hết
các hàng hóa của người An Độ, và một mình nó có thể mở đường tới
cõi phúc đích thực trường cửu”
“Khi nghe nói về điều
mà họ thường gọi là Đạo theo ngôn ngữ các nho sĩ, và Đàng theo
ngôn ngữ bình dân có nghĩa là đường lối, thì họ tò mò muốn tôi cho
biết đạo thật và đàng thật mà chúng tôi định rao giảng. Sau đó tôi
lấy đề tài thảo luận với họ về nguyên lý vạn vật, tôi quyết định
công bố dưới danh hiệu Chúa Trời Đất." ( Hồng Nhuệ dịch, trang
82-83).
PHÚT CẢM NHẬN QUÀ QUÍ
Mỗi người trong cuộc
sống cũng đang mò mẫm đi tìm ngọc quí, và bỗng khám phá ra những
món quà kinh ngạc như John Wu, như Gian Carlo Menotti, như Claude
Monet, như nhà ảnh vẽ bằng ánh sáng kỳ diệu, như ba nhà tầm đạo từ
phương Đông:
"Trông thấy ngôi sao,
họ mừng rỡ vô cùng. Họ vào nhà thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà
Maria, liền sấp mình bái lạy Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ
hương, và mộc dược mà dâng tiến." (Mt 2:10-11)
Tất cả đều là những
ngôi sao lạ dẫn đường để thấy được kho tàng giầu có sung túc là
chính Chúa Giêsu. Ngài là quà tặng trân quí nhất, vượt trên cả bạc
vàng, nhũ hương, mộc dược. Vì Ngài mới là Đạo đúng chiều kích,
đã nhập thể làm người, nhập thế để giải thoát mang đến cho cuộc
hiện hữu một ý nghĩa đích thực, và siêu thoát để con người biết
hướng về quê hương hằng thể. "Thầy là đường, là sự thật và sự sống.
Thầy đến để cho anh em được sống sung mãn."
Vì thế mà giờ đây tôi
cần tĩnh lặng, mở rộng tâm ra mà lãnh nhận món quà quá quí này.
Tất cả kho tàng giầu có đây rồi, phép lạ đây rồi, sửng sốt quá!
“Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng, có
người tìm gặp thì liền chôn giấu lại, rồi về vui mừng bán mọi sự
mình có mà mua lấy thửa ruộng ấy” (Mt 13:44)
Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường
VỀ
MỤC LỤC
|
KHIÊM NHƯỜNG ĐỂ NHẬN
BIẾT CHÚA
LỄ HIỂN LINH
|
|
Chu kỳ
Giáng Sinh gồm Mùa Vọng và Mùa Giáng Sinh. Phụng Vụ cử hành
việc Thiên Chúa tỏ mình cho nhân loại. Hai biến cố quan trọng
cũng là hai lễ lớn của chu kỳ là Lễ Giáng Sinh và Lễ Hiển Linh.
Lễ Giáng Sinh, Thiên Chúa tỏ mình cho dân Do-thái. Lễ Hiển
Linh, Thiên Chúa tỏ mình cho dân ngoại.
Gaspar,
Melchior và Balthasar là ba nhà Đạo Sĩ nổi tiếng ở Đông Phương
được mệnh danh là con của các vì sao sáng, huyền phái của khoa
học vũ trụ. Họ đã theo ngôi sao lạ đến Bê-lem, xứ Giu-đê để
thờ lạy Đấng Cứu Thế. Họ đã dâng cho Hài Nhi vàng, nhũ hương
và mộc dược.
Chúng ta
cùng dừng lại nơi Hang đá Bê-lem có Hài Nhi Giê-su để suy niệm
về sự lạ lùng của cuộc gặp gỡ kỳ diệu giữa các Mục Đồng, các
Đạo Sĩ với Đấng Cứu Thế. Chỉ có các Mục Đồng, các Đạo Sĩ tìm
gặp được Chúa. Có các Thiên thần, có một ngôi sao rực rỡ trong
ánh sáng thần linh chiếu sáng cho họ. Đức Cha Fulton Sheen,
nhà giảng thuyết lừng danh đã gọi họ những người đơn sơ và
những người thông thái.
Khi các Mục
Đồng canh giũ chiên ở ngọn đồi Bê-lem, họ bỡ ngỡ vì vẻ đẹp của
Thiên Thần: Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin
mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một
Đấng cứu độ đã sinh ra cho anh em trong thành của vua Đa-vít,
Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa ( Lc 2, 10 – 12 ). Còn các Đạo Sĩ
ở bên kia xứ Ma-đi-an và Ba-tư nghiên cứu bầu trời đã thấy một
ngôi sao chiếu sáng như chiếc đèn của nhà tạm vũ trụ, điện thờ
của Thiên Chúa. Họ theo ánh sao tìm đến Hang đá tìm gặp Hài
Nhi.
Như những
cánh bướm bị thu hút bởi ngọn lửa, các Mục Đồng và các Đạo Sĩ
tiến đến ngai vàng chỉ là một Hang đá, đến với Thiên Chúa chỉ
là một Hài Nhi. Thiên Chúa Hài Nhi ngước nhìn từ Máng cỏ chỉ
thấy hai hạng người tìm gặp Ngài và chỉ duy họ tìm gặp Ngài
cho đến tận cùng thời gian. Đó là các Mục Đồng và các Đạo Sĩ,
những người đơn sơ và những người thông thái.
Các Mục
Đồng là những người đơn sơ. Họ chẳng biết gì tới chính trị,
văn chương, nghệ thuật. Họ chỉ biết hai điều quan trong là
Thiên Chúa ở trên họ và họ ở giữa đoàn chiên. Đêm hôm đó bầu
trời rộng mở để loan báo Tin mừng. Thiên Thần cho biết Đấng họ
nóng lòng chờ đợi vừa sinh ra trong Hang đá Bê-lem nhỏ bé. Họ
đã tìm và gặp Đấng Chăn Chiên của họ
Các Đạo Sĩ
tìm gặp Đấng Cứu Thế là những người thông thái. Họ không là
những vua chúa. Họ không phải là những người nghiên cứu nông
cạn mà là những bậc thầy hoàng vương, những nhà tinh thông về
vũ trụ và họ đã khám phá ra một ngôi sao lạ. Đối với khoa học
và tôn giáo họ được liệt vào hàng đầu trong nước của họ. Các
vua chúa bàn hỏi với họ trước khi xuất chinh. Các nông dân hỏi
ý kiến họ trước khi trồng tỉa. Hàng ngàn người đã thấy ngôi
sao, nhưng sự uyên bác của ba Đạo Sĩ làm cho họ lên đường khám
phá.
Chính nhà
bác học Newton đã thốt lên khi quan sát vũ trụ: Tôi thấy Thiên
Chúa đi qua kính viễn vọng của tôi. Đối với kẻ kiêu ngạo, tự
phụ, ngôi sao chỉ là ngôi sao, nhưng đối với người thông thái
đó là một dấu chỉ thời đại, một tác phẩm của Thiên Chúa. Thế
nên các Đạo Sĩ đã đi theo ánh sáng ngôi sao với bao gian lao,
đầy mạo hiểm. Đến nơi, mặc phẩm phục và quỳ trên nệm rơm, các
Đạo Sĩ chiêm ngắm một trẻ sơ sinh chưa thể hỏi han hay đối đáp
được điều gì. Họ tiến dâng Ngài tặng phẩm và tâm hồn để chứng
tỏ sự thần phục của thế gian. Tặng phẩm là vàng, nhũ hương,
mộc dược. Vàng, vì Hài Nhi sẽ là vua. Nhũ hương, vì Ngài sẽ là
Tư Tế. Mộc dược, vì Ngài sẽ chết như mọi người. Các Đạo Sĩ đã
tìm gặp được Đấng Khôn Ngoan.
Chỉ có các
Mục Đồng và các Đạo Sĩ đã tìm gặp được Đấng Cứu Thế. Trong khi
đó các người nổi nang trong đạo Do thái không gặp được Ngài.
Bởi lẽ: Các Luật sĩ chỉ thao thức về lề luật. Các Thượng tế
chỉ nhạy bén về đền thờ. Các Kỳ lão chỉ lo lắng về truyền
thống. Hêrôđê cũng là con người tìm tòi, ông đã cặn kẽ điều
tra nơi Hài Nhi ở, không phải để đến thờ lạy mà tìm cách hủy
diệt. Loại người nào cũng tự mãn trong những cơ chế phức tạp
cứng nhắc ( Đức Cha Bùi Tuần ).
Thời nay
cũng thế, đầy dẫy những triết gia, những nhà khoa học, những
người vô thần theo thuyết bất khả tri... nhưng không ai trong
họ đã nhìn thấy một thiên thần hay ánh sáng một ngôi sao. Dòng
dõi của những Hê-rô-đê kiêu ngạo cho tới thời nay đã không tìm
thấy Thiên Chúa vì họ muốn dùng lý trí để nắm bắt siêu việt.
Họ quá phức tạp nên không hiểu lời xác quyết đơn sơ của các
Mục Đồng, quá đầy kiến thức khoa học để lãnh hội chân lý do
các Đạo Sĩ đem đến. Dòng dõi này che đậy tính kiêu ngạo và đi
tới chỗ coi Giáo Hội là một thể chế đã lỗi thời cần loại bỏ.
Điều kiện
tiên quyết để gặp được Thiên Chúa, đó là lòng khiêm nhường,
chung cho cả người đơn sơ lẫn người thông thái. Những tâm hồn
đơn sơ như các Mục Đồng mới gặp được Thiên Chúa bởi họ ý thức
mình không biết gì cả. Những người thông thái đích thực như
các Đạo Sĩ gặp được Thiên Chúa bởi vì họ ý thức mình không
biết gì cả.
Chúa Giê-su
không sinh ra ở giữa trời, nơi người ta có thể đứng thẳng.
Ngài đã Giáng sinh trong Hang đá, nơi người ta phải cúi mình
để đi vào. Đó là một cử chỉ khiêm nhường. Các Mục Đồng và các
Đạo Sĩ đủ đơn sơ để nghiêng mình xuống. Khi làm như vậy, họ
thấy mình ở trong Hang đá. Tại đó, một người nữ diễm lệ, đầu
đội mặt trời, chân đạp mặt trăng và đôi tay ẵm lấy Hài Nhi,
Đấng dùng những ngón tay bé nhỏ của mình nâng đỡ trái đất. Khi
các Mục Đồng và các Đạo Sĩ quỳ gối, có lẽ các Đạo Sĩ ghen với
các Mục Đồng vì con đường của các Mục Đồng ngắn hơn, họ tìm
thấy sự khôn ngoan là chính Thiên Chúa mau hơn.
Bước vào
ngàn năm mới, Thiên Chúa vẫn không ngừng lôi kéo cả nhân loại
đến với Con Một của Ngài là Đức Giê-su Ki-tô. Ngài vẫn không
ngừng cho những ánh sao dẫn đường. Không phải là ánh sao trên
trời cao mà là ánh sáng Ngài gieo vào lòng người. Mỗi người
cần phải trung thành với ánh sáng đó, dấn bước trên hành trình
đức tin đầy mạo hiểm của mình.
Các Thượng
Tế, các Kinh Sư thông hiểu Thánh Kinh, họ cắt nghĩa cho
Hê-rô-đê rất hay nhưng họ vẫn ngồi yên tại chỗ. Họ tìm Đấng
Thiên Sai trong Thánh Kinh, nhưng không nhận ra Người trong
thực tế vì Người không phù hợp với những quan điểm cố định của
họ. Những tâm hồn đơn sơ như các Mục Đồng, những tâm hồn cởi
mở khao khát chân lý như các Đạo Sĩ lại được hạnh phúc nhận
biết Người.
Thiên Chúa
vẫn tiếp tục tỏ mình cho thế giới qua các dấu chỉ tự nhiên của
trời đất, của lịch sử, qua Thánh Kinh, qua Giáo Hội, qua các
Bí Tích, qua cuộc sống hàng ngày. Để gặp Ngài, chúng ta cần có
lòng khiêm nhường. Nhờ sự gặp gỡ này, mỗi người sẽ trở nên ánh
sao dẫn lối cho nhiều người nhận biết và yêu mến Chúa.
|
|
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
VỀ
MỤC LỤC |
|
|
|
MẸ |
|
Tôi
vừa đọc trong quyển Cổ học tinh hoa một câu chuyện có tựa
đề là : « Phải giữ tấm lòng trong sạch ». Tấm lòng trong sạch
này của một người phụ nữ, một người mẹ Tàu, đời xưa. Chuyện như
thế này :
Quân nuớc Tề kéo sang đánh
nước Lỗ. Khi đến chỗ giáp giới, trông thấy một người đàn bà một
tay bồng một đứa bé, một tay dắt một đứa nữa. Người đàn bà thấy
quân kéo tới vội vàng bỏ đứa đang bồng trên tay xuống, mà bồng đứa
đang dắt rồi chạy trốn vào trong núi. Đứa bé kia chạy theo khóc,
người đàn bà cứ chạy không ngoảnh lại.
Một viên tướng nưóc Tề
cho bắt đến hỏi :
- Đứa bé nàng bế trên
tay là con ai ? Còn đưa nàng bỏ liều là con ai ?
Người đàn bàn thưa :
- Đứa tôi bế là con anh
cả tôi, đứa bỏ lại là con tôi. Tôi thấy quân lính kéo đến, sức tôi
không thể bảo toàn được cả hai đứa cho nên tôi đành phải bỏ con
tôi lại.
Viên tướng nuớc Tề lại
hỏi :
- Mẹ mà dứt tình yêu
thương với con thì đau xót lắm. Nay bà bỏ con mình lại mà chạy lấy
con anh là cớ làm sao ?
Người đàn bà thưa :
-
Con tôi là tình
riêng, con anh tôi là nghĩa công . Con đẻ tuy đau xót
thật nhưng đối với việc nghĩa lý thì tính làm sao. Cho nên tôi đành
bỏ liều con tôi mà làm việc « nghĩa ». Tôi không thể nào chịu tiếng
vô nghĩa mà vác mặt sống ở với nước tôi được.
Viên tướng nước Tề dừng
quân lại, sai người tâu với vua Tề rằng :
- Nước Lỗ chưa thể đánh
bại được. Quân ta mới đến chỗ cương giới, đã thấy con mụ đàn bà xó
rừng còn biết làm điều nghĩa, chẳng chịu đem tình riêng mà
hại nghĩa công, huống chi là những bậc quan lại, sĩ phu
trong nước. Xin kéo quân về.
Vua Tề cho là phải.
Chuyện ấy là chuyện đời
xưa của Tàu, xẩy ra trong thời chiến tranh hỗn loạn, đạo lý thường
bị dao động, suy đồi. Người đời sau kể lại để suy gẫm về cái tinh
hoa của đạo lý Trung Hoa nhưng cái lối đề cập đến tam cương ngũ
thường của Khổng giáo ấy làm cho tôi thấy hơi... khó chịu. Tôi
không đồng ý với lối dùng « tình nghĩa mẹ con » để tôn vinh « điều
nghĩa » như vậy. Tôi thấy có một cái gì đấy không ổn. Còn đối đạo
lý Việt Nam thì không hợp tí nào cả.
Không ổn vì đem « tình mẹ
con » ra để nói chuyện cương thường theo khuôn phép tôn quân phong
kiến. « Điều nghĩa » trong câu chuyện kể trên nằm trong khuôn phép
tư duy của sĩ phu, quan lại liên quan mật thiết với tinh thần tôn
quân. Điều nghĩa ấy có lẽ chưa phải là « điều nghĩa » trong tâm lý
người dân thường Á Đông. Không ổn vì « tình mẹ con » là một thứ
tình cảm thiêng liêng, riêng biệt, không nên xem thường, không thể
nào đem « đặt thành vấn đề » trong một trường hợp đặc biệt phong
kiến tôn quân như vậy.
Đối với đạo lý Việt Nam,
chuyện « chẳng chịu đem tình riêng mà hại nghĩa công » này không
thuận hợp tí nào cả. Đạo lý Việt Nam, dù có chịu ảnh hưởng Tàu
thật đấy, nhưng không bao giờ đặt « tình mẹ con » vào những tình
huống như vậy để tôn vinh « việc nghĩa ». Khi nói đến « điều nghĩa »,
người Việt Nam có nói đến tình nhà nợ nước, có nói đến tình sâu
nghĩa nặng. Trong vấn đề « tình nhà nợ nước », ta có nói đến tình
nhà chứ không động đến tình mẹ con. Trong vấn đề « tình sâu nghĩa
nặng », có tình vợ chồng với nguồn ân bể ái, tình nghĩa mặn nồng
chứ không động đến nghĩa mẹ. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy
ra. Cái « nghĩa mẹ » ấy nằm trong « đạo » trời đất của
Việt Nam ta. Nó nằm trong những điều kiện tất yếu để bảo tồn giống
người. Không có cái « nghĩa mẹ » ấy thì đứa con chết lập tức. Đứa
con không biết đến « nghĩa mẹ » thì sẽ đi đến chỗ tuyệt vong. Đấy
là lẽ uyên nguyên trong đạo lý Việt Nam.
Đem so sánh chuyện tình
riêng và nghĩa công trong đạo lý Tàu với đạo đức Việt
Nam có liên quan đến « tình mẹ con », tôi xin mời quí Vị nghiệm
xét cái bản sắc của « tình mẹ Việt Nam » qua chuyện Hoàng Sầm do
tiền bối Lãng Nhân kể lại trong tập « Giai thoại Làng Nho »
Thời Mạc Đăng Dung. Nguyễn
doãn Dịch làm tới chức thượng thư, cáo lão về trí sĩ. Theo lệ,
quan địa phương các xã cho dân phu đi đón rước. Hoàng Sầm, nhà
nghèo, mồ côi cha, sinh sống bằng nghề cày thuê cuốc mướn, là
dân phu « được » chỉ định việc khiêng võng cho cô gái út của quan
Thượng.
« Trong lúc khiêng
phải gò lưng rụt cổ, Sầm vô tình nhìn vào trong võng, thấy tiểu
thư là một giai nhân kiều diễm, lòng thấy nao nao... Khi đám rước
về tới làng, quan thượng cho mọi người giải tán, Sầm lủi thủi về
nhà, nỗi riêng tự dưng canh cánh. Rồi từ đó biếng ăn mất ngủ, chẳng
bao lâu đã phải nằm liệt giường.
Bà mẹ thấy con ốm nặng
tưởng bị ma làm nên sắm lễ cúng giải nhưng bệnh tình Sầm không
thuyên giảm chút nào. Bà mẹ rất lấy làm lo. Sầm bèn thú thực là vì
tương tư cô con gái quan Thương mà thành bệnh, chỉ có làm thế nào
lấy được cô ấy thì mới mong khỏi.
Nghe sự lạ lùng, nghĩ
con nói mê, bà mẹ lúc đầu còn ừ ào cho qua chuyện, nhưng sau đó,
luôn mấy hôm, hễ mở mắt lúc nào, Sầm lại hỏi mẹ xem đã đem trầu
cau đi chưa. Thấy mẹ nấn ná mãi, Sầm liền vùng dậy, trèo lên cây
cau, cắt một buồng đem xuống, khẩn khoản xin mẹ đưa sang nhà quan
Thượng dạm hỏi.
- Con ơi, đũa mốc chực
chòi mâm son, không được đâu, chẳng bõ mua cười vói làng xóm.
Bà mẹ kiếm lời an ủi
thêm nhưng Sầm vẫn nằng nặc nài nỉ :
- Việc vợ chồng là hệ
trọng, mẹ đi thì mới xong được. Con tin tưởng thế nào quan
Thượng cũng ưng cho.
Vừa thương con, vừa
thực thà, bà cụ phải chiều lòng, kệ nệ tay xách buồng cau sang
nhà quan Thượng. Tới nơi, cứ đứng rụt rè ở ngoài cổng suốt buổi
không dám tiến bước. Mãi quá trưa, người nhà thấy lạ chạy ra hỏi,
bà mới ấp úng nói là có việc xin trình. Cụ Thượng cho gọi vào. Bà
đặt buồng cau trên án, vái chào và ngập ngừng kể rõ nguồn cơn :
- Chúng tôi phận hèn,
khi nào dám làm chuyện vượt bực như thế này. Chỉ vì chồng không
may mất sớm, được một mụn con, nay nó lại dở hơi.
Nhưng thương quá phải chiều ý, xin Cụ-Lớn soi xét.
Tưởng thế nào quan
Thương cũng quở mắng, không ngờ nghe xong, quan lại vui vẻ nói :
- Không hề chi. Con gái
ta gả cho con trai bà cũng đưọc nhưng cốt nhất con bà phải là người
có học. Vậy bà hãy dẫn nó sang đây để ta coi xem thế nào đã.
Bà cụ vái tạ lui về.
Hôm sau đưa Sầm sang. Ngồi trên sập trong mành trông ra, thấy Sầm
mặc áo ngắn, đóng khố, người đen xấu song hai mắt sáng như sao,
lại ra vẻ hiên ngang, cụ thượng có thiện cảm ngay. Nhưng đến khi
hỏi đến sức học thì chữ nhất Sầm cũng chưa biết. Cụ Thượng liền
bảo :
- Con gái một quan đại
thần khó có thể sánh đôi cùng một tên dốt nát. Vậy anh hãy về, cố
gắng học tập, lập được công danh rồi trở lại đây ta sẽ chu toàn.
Sầm sụp lạy thưa « Kính
vâng lời dạy ».
Sầm hết lòng học tập,
ba năm sau đỗ thủ khoa kỳ Thi Hương, đến khoa Mậu Tuất (1538) đỗ
Thám Hoa (mới 27 tuổi). Quan Thượng, như đã hứa, chấp nhận
Sầm làm con rể ».
Ở đây, thiết tưởng không
phải chỗ để bàn về cái « siêu đẳng tuyệt cú » của áng văn này của
vị tiền bối thâm nho Lãng Nhân. Với câu chuyện Hoàng Sầm, kỹ thuật
diễn đạt tinh hoa của Việt Nho quả thật là xuất sắc khó có người
sánh kịp. Chỉ cần mấy giòng nhận định ngắn gọn về « đầu óc » của
bà mẹ và mấy câu đối đáp giữa một « người mẹ » và một « người cha »,
vị túc nho Lãng Nhân đã giải cho chúng ta hiểu được cái uyên thâm
của đạo lý Việt Nam. Trước cái « tin tưởng » của con mình (Hoàng
Sầm tin rằng việc được chỉ định khiêng võng cho « nàng » tiểu thư
là duyên số đã đưa hai sinh linh lại gần nhau, là sợi tơ hồng của
ông Tơ bà Nguyệt trói buộc hai con người với nhau), bà mẹ « vừa
thương con, vừa thực thà » chỉ biết làm theo đòi
hỏi của nó. Câu nói để bộc bạch tình thương con « thương quá phải
chiều ý » của người-mẹ (bà mẹ quê thường dân) làm cho người-cha
(vị thượng thư) xúc động. Ông rất cảm kích bởi cái hoàn cảnh « chồng
không may mất sớm, nó lại dở hơi » của người đàn bà tầm thường
kia. Bà chính là người mẹ Việt Nam biết hành động theo nghĩa cương
thường « phu tử tòng tử, chồng chết theo con » của Việt Nho. Chữ
tòng của bà có cái ý nghĩa đơn thuần chất phác làm theo
« tiếng nói của tình mẹ thương con » hay nói cho rắc rối hơn, làm
theo « tiếng gọi của lương tâm ».
Về phần bà-mẹ đã vậy, còn
về phía ông-con Hoàng Sầm thì sao? Trong cái « nghĩa mẹ » Việt Nam,
có « lòng biết ơn mẹ » của người con. Đấy là tình nghĩa Việt
Nam. Việt Nam ta luôn luôn ghép tình và nghĩa
với nhau. Tất cả đạo lý, đạo đức Việt Nam được xây dựng trên hai
nguyên tắc « tình » và « nghĩa » này. Cho nên Hoàng Sầm, vì thương
mẹ đã không sợ « mua cười với làng xóm » hoặc « quan Thượng
quở mắng », « hết lòng học tập » ba năm sau
đỗ thủ khoa kỳ thi cử nhân (thi hương), bảy năm sau đỗ thám hoa (thi
hội).
Nhưng cái đẹp, cái hay của
bài này vẫn chưa nói lên được trọn vẹn, sâu sắc « tình mẹ con »
thuần túy, chính thống Việt Nam bằng bài hát dân gian « Con cò mà
đi ăn đêm ». Bài ca dao đã được đem giảng dạy cho lớp tuổi đồng
ấu, trong quyển Quốc văn Giáo khoa thư để gọi là vỡ lòng, khai trí
cho tuổi ấu thơ. Bài ấy vỏn vẹn có mấy câu này :
Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
« Ông ơi, Ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng
xáo nước đục đau lòng cò con.
Về phương diện văn chương,
tưởng không có bài thơ lục bát nào tuyệt hảo đến vậy. Lời đã đẹp
mà ý thì quá hay vì nó vừa thi vị, vừa chất chứa đầy đủ ý nghĩa
đạo đức, triết lý cổ truyền Việt Nam. Người đàn bà đơn côi (ở đây
được biểu tượng bằng hình ảnh « con cò ») trong cái tâm cảnh phải
thay chồng nuôi con, giữa những hệ lụy, gian truân, thử thách của
cuộc đời (trong bài này được tóm gọn trong ba chữ « đi ăn đêm »
gợi lên trong tâm trí người nghe lắm xót xa, bi thảm) được đem
dùng làm tiền đề. Nếu không may, số phận run rủi, xô đẩy Bà rơi
xuống hố lầm lỗi – xa rời nghĩa mẹ - thì Bà sẽ gọi Ông (Trời) giải
cứu. Giải nỗi oan khiên, cứu khỏi ô nhục. Bà sẵn sàng chịu mọi sự
trừng phạt - dù sự lỗi lầm mà bà đã phạm phải là do sự yếu mềm tự
nhiên hoặc vì hoàn cảnh trớ trêu - nhưng Bà xin Ông (Trời) hãy
thương xót đàn con của Bà. Thân của Bà không đáng kể, chỉ có đàn
con của Bà là quan trọng.
Đấy là nghĩa mẹ.
Nó « như nước trong nguồn chảy ra » mãi mãi, vô tận, không lúc nào
vơi cạn, không bao giờ bị một trở ngại nào ngăn chặn ; « nước » ấy
là « nước mắt chảy xuôi xuống » của các bậc mẹ cha ; nước ấy vừa
là nguồn sống tinh thần bất diệt kết nối người-mẹ với người-con,
vừa là mối tình cảm trong suốt, đậm đà, triền miên nhất giữa hai
con-người. Đấy là tình mẹ con Việt Nam, thứ tình cảm
thiêng liêng trói buộc người phụ nữ Việt Nam vào cái sinh linh mà
mình đã chịu trách nhiệm nuôi nấng sau khi đã đưa nó vào cuộc sống
giữa Trời.
« Nghĩa mẹ » ấy được nuôi
dưỡng từ lúc mầm sống của người con bắt đầu sinh động cho đến khi
đứa con đã thành nhân. Nhiệm vụ thiêng liêng « chín tháng mười
ngày mang nặng đẻ đau » phải được chu toàn vì « nghĩa mẹ» phải được
thể hiện bằng sự ước muốn « mẹ tròn con vuông » và được biểu lộ bằng
những qui luật của việc thai giáo :
Khi thai mới có, mẹ phải
giữ giang
Ăn chớ ăn phàm, nói chớ
nói tục
Sách hay mẹ đọc, truyện
hay mẹ xem...
Ngoài sự tâm niệm ấy,
trong mọi sinh hoạt hằng ngày, bà-mẹ cũng phải nhớ nằm lòng bổn
phận của mình đối với cái bào thai :
Chớ vin cao cũng
đừng mang nặng...
Đừng ăn đồ cay đắng
canh riêu
Đừng ăn ít, chớ ăn
nhiều
Nuôi từ trong dạ
khỏi điều lo sau...
Nhưng chưa đủ. Khi hình
ảnh người-con đã hiện thực, « nghĩa mẹ » còn nặng nề hơn :
Con thơ dại sớm hôm
săn sóc
Cặn kẽ từng sợi tóc
đường tơ...
Nuôi con rút ruột
con tằm
Ấp ôm bú mớm tháng
ngày đầy vơi
Nghĩ đến cái « nghĩa mẹ
» bao la, cao dày như vậy, tất nhiên người–con Việt Nam phải tự
nguyện « thờ Mẹ kính Cha » để tròn « đạo con ».
Tiếp theo, để làm sáng
tỏ ý nghĩa chữ « Mẹ » trong tâm linh người Việt, xin được bàn rộng
thêm.
Ý thức « Mẹ » gọi lên
nghĩa vụ sinh sản của người-nữ để tiếp nối giòng giống của Sự Vật
và Con Người. Chữ Mẹ được nhắc đến trong bất cứ tín ngưỡng nào :
- Thần đạo Nhật tôn
vinh Thái dương thần nữ để củng cố lòng tự hào dân tộc
- vũ trụ quan của Tàu
dùng bà Nữ Oa « đội đá vá trời » để nói đến vai trò người-nữ bên
cạnh bào huynh Phục Hi trong công cuộc tạo dựng giang sơn, cơ đồ
- Ấn độ có Nữ thần
Shiva chủ động việc sinh hóa của con-người
- Ai cập có bà Isis (có
vùng gọi là Osiris hoặc Seth)
- phương Tây có Đức Mẹ
Maria v.v.
Tất cả các tín ngưỡng
ấy đều muốn xác định nguồn gốc và sự sinh sản của giống người bằng
hình ảnh của Người-Mẹ.
Đức Hồng-y de Cabrières
nhận định rằng : « Cái nôi đích thực của Con-Người là trái tim của
Bà-Mẹ - le vrai berceau de l’Homme, c’est le coeur de
la Mère
». Trong Đạo giáo,
Lão-tử cũng xem Đạo (nguồn gốc của Sự Vật) là huyền tẫn, người-nữ
tạo sinh mầu nhiệm.
Về tâm linh, Việt Nam ta
cũng nghĩ gần như vậy. Chữ « Mẹ » được đem vào tâm linh bằng huyền
thoại Bà Âu-Cơ. Bà là Tiên, Bà là bạn đời, bạn đường của Lạc Long
quân (?), điều ấy không quan trọng. Điều cần hiểu, cần nhớ là Bà
Âu Cơ « sinh ra một bọc có trăm trứng ». Trăm trứng ấy đến đời bây
giờ sinh sôi ra thành cả trăm triệu người. Trăm trứng ấy nằm trong
một cái bọc, cho nên tất cả người Việt chúng ta xem nhau là « đồng
bào ». Huyền thoại Bà Âu Cơ nhắc nhở cho chúng ta nhớ rằng dân tộc
Việt có một Bà Mẹ. Bà Âu Cơ là Mẹ Việt Nam, là quốc mẫu. Tư duy
cận đại đã truy xét nhân dạng đích thực của Bà và Bà có thể được đứng
vào hàng khai quốc công thần của dân tộc Việt Nam.
Nhưng vấn đề đặt ra trong
bài này không hẳn như vậy. Chúng ta đang nghiệm xét « tình mẹ
con ». Vậy chữ Mẹ trong tâm lý người Việt có ý nghĩa gì ?
Hình ảnh của Bà Âu Cơ với
danh hiệu « Mẹ Việt Nam » trong con tim, trong tâm hồn của người
Việt Nam biểu tượng cho cái gì, cho việc gì ? Như trên đã
nói :
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Nghĩa mẹ là lý đương
nhiên hoàn toàn thuận hợp với Đạo Trời. Nếu ý thức Lão-giáo xem
Cội Nguồn của Sự Sống (Đạo = con đường = sự sinh biến của sự vật)
là huyền tẫn, trong khi văn chương Khổng-giáo gọi bà-mẹ là Từ Mẫu
và lý thuyết Phật giáo tôn Đức Phật Quan Âm lên hàng một Đức Mẹ Từ
Bi Cứu Khổ Cứu Nạn thì giữa vùng tâm linh, trong tâm tưởng của người
Việt Nam, chữ « Mẹ » được nói đến một cách thường xuyên, được
quyện vào từng câu ngạn ngữ, từng lời ca dao, từng bài đồng dao dưới
dạng « nghĩa mẹ ».
Và trong tinh thần này, « nghĩa
mẹ » trở thành vấn đề « tình mẹ con ». Tình mẹ con là một thứ tình
cảm thiêng liêng ràng buộc, gắn bó bà-mẹ vào người-con. Nghĩa mẹ
là vấn đề nhiệm vụ của người-mẹ đối với cái sinh linh mà
mình có trách nhiệm đưa vào cuộc sống giữa Trời, cho nên nghĩa mẹ
đặt vấn đề tiếng gọi lương tâm của người-con.
Do đấy ca dao Việt Nam
hát :
Một lòng « thờ mẹ »
kính cha
Cho tròn chữ hi ếu
mới l à đạo con
Do đấy đạo lý của ta
xác định rằng cái « nghĩa mẹ » nó vừa bao trùm trọn khắp đời sống
của ta vừa đưa ta về với đạo Trời huyền nhiệm.
Ngoài ra, hơn nữa những
chữ thờ mẹ kính cha và đạo con còn làm chúng ta liên
tưởng đến Mẹ Việt Nam, đến vị Quốc tổ Hùng vương, đến Đất Nước
Việt Nam. Vậy đối với Mẹ Việt Nam, ta có nên tỏ lòng tôn thờ không ?
Đối với Tổ quốc Việt Nam, ta cần phải tôn quí không? Đối với giống
giòng của ta, ta có nên trân trọng không? Câu trả lời có sẵn trong
lòng, trong tâm khảm của bất cứ người Việt Nam nào còn muốn tôn
vinh giòng giống của mình.
Gs.
Mạnh Bích.
Belleville, Paris tiết mãn thu
(13-12-2004
)
VỀ
MỤC LỤC
|
|
Tản mạn vài suy nghĩ.
|
|
Chần chờ mãi mới viết thơ về thăm
anh chị em như một nhu cầu tâm sự của người bạn đồng nghiệp cũ của
trường Trung Học Lương văn Can.
Hôm nay tuổi đời đã trên 60, đã qua
tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh” đã suy nghĩ và đang chờ đón tương
lai chung cuộc trong một thời gian ngắn ngủi trước mặt. Tôi cứ nói
đùa với bạn rằng cuộc đời mình trung bình có bảy khúc, bảy đoạn
đường, mà mình đã xài hết sáu khúc rồi, đã đi được sáu đoạn đường
rồi, chỉ còn có một đoạn đường ngắn nữa mà thôi là mình sẽ tới bến,
tới bờ. Ai ai cũng trúng số độc đắc một lần trong đời. Ðó là gặp
gỡ sự chết. Không thể nào tránh khỏi. (1)
Bây giờ ngồi ngẫm nghĩ lại, chỉ làm
việc tại trường Lương văn Can có 5 năm từ 1970 đến 1975 mà đến hôm
nay vẫn còn lưu luyến trong tâm tư, trong tình cảm bạn hữu, đồng
nghiệp, thầy trò có lẽ nhờ đầu tàu Thầy Bằng, Thầy Hưng trong thời
gian làm việc đã đối xử với đồng nghiệp, đối xử với học trò bằng
một tấm lòng thương yêu.
Khi sống xa quê hương mới thấy tình
cảm gắn bó chừng nào với cha mẹ, anh chị em, bạn bè, bà con
làng xóm. Ở xứ Mỹ không thấy ngày Tết linh thiêng của Việt Nam,
những ngày Tết Việt Nam nếu rơi vào giữa tuần thì vẫn phải đi làm
cho nên không có chúc Tết đưọc ai hết và cũng không có đến
từng nhà nhau để thăm viếng nhau. Nếu có quí nhau lắm chỉ còn cách
gọi điện thoại thăm hỏi sức khỏe nhau mà thôi. Chỗ nào có cộng
đồng Việt Nam đông đảo có tổ chức hội chợ để ca hát, sổ xố, có các
trò chơi: thảy đầu vịt, đố thơ gọi là thả thơ…thì cũng tạm gọi là
thấy không khí Tết Việt Nam một chút.
Tuy nhiên người Việt Nam chúng ta có
nền văn hóa riêng biệt, đặt tinh thần đoàn kết gia đình là chính,
hảnh diện nước Viêt Nam có lịch sử lâu đời, có vua Hùng dựng nước,
có Bà Trưng, Bà Triệu, có Ðinh, Lê, Lý, Trần, Quang Trung v. v
nên đi đâu người mình vẫn hảnh diện là người Viêt Nam. Các trẻ em
sinh ở nước ngoài dầu bất cứ quốc gia nào cũng thường không mất
gốc, không chối bỏ nguồn gốc của dân tộc mình. Ði đâu hỏi
chúng nó, những đứa trẻ 7, 8 tuổi con là người nước nào, chúng nó
trả lời “con là người Việt Nam.” Tốt nghiệp Ðại Học xong nếu không
rành tiếng Viêt lại phải đến các trung tâm Việt Ngữ để học lại
tiếng Việt hầu có thể nói cho rành tiếng Việt.
Cha mẹ Việt Nam thường lo âu cho
con cháu không rành tiếng Việt nên khi đứa trẻ được 5, 6 tuổi cha
mẹ đã cho chúng nó học thêm tiếng Việt vào ngày Chúa Nhật ở các
trung tâm Việt Ngữ hay ở các nhà thờ, các nhà chùa.
Ða số các học sinh Viêt Nam khi thi
tốt nghiệp trường Trung Học đều được xếp hạng: hạng nhất hay hạng
nhì toàn trường. Trong khoảng 40 trường Trung Học thì học sinh
Việt Nam cũng chiếm được phần danh dự hạng nhất hay hạng nhì hơn
10 trường rồi. Người Việt nổi tiếng là học giỏi và con ngoan
trong gia đình. Trong công ăn việc làm người Việt rất chịu khó cần
cù và cũng có một số thành đạt trong thương trường, cho nên họ gọi
người Việt Nam là “Do Thái da vàng”.
Ngưòi Việt Nam hấp thụ nền văn hóa
Khổng Mạnh, thờ cúng tổ tiên, thân nhân mất đi nhưng vẫn gần gủi
với gia tộc bằng cúng giỗ như là một liên kết nối liền giữa người
sống và người chết.
Họ đặt nặng tình nghĩa gia
tộc, tình nghĩa anh chị em, bà con, thân thuộc, làng xóm, láng
giềng là chính yếu.
Người Việt Nam lấy chữ tình cảm làm
trọng mà sống và cư xử với nhau.
Năm nay đã đến tuổi “ lục
thập” ngồi ngẫm nghĩ lại cuộc đời “ba chìm bảy nổi chín cái long
đong” mà mình thấy trải qua quá nhiều khó khăn, tận cùng của
sự khó khăn, đau khổ là thấy hạnh phúc, là thấy niềm vui.
Trong Kinh dịch quẻ 63 là quẻ Kí Tế
là đã vượt qua, đã nên, đã thành (2) Tưởng rằng đã xong, tiếp liền
theo quẻ Kí Tế lại là quẻ Vị Tế : chưa qua sông, chưa xong, chưa
hết.(3) Ông Nguyễn Hiến Lê viết : “ như vậy là việc trời đất cũng
như việc của loài người, không bao giờ xong, cái gì tới chung rồi
lại tiếp theo là tới thủy.”(4). Trong đau khổ sẽ có niềm vui. Do
đó nên cần sống lạc quan, luôn luôn hy vọng ở tương lai.
Xin thành thật cám ơn Trời,
cám ơn Thượng Ðế để cho mình còn sống đến ngày hôm nay trong
khi có nhiều bà con, anh em, bè bạn hay những người thân yêu trẻ
tuổi hơn đã ra đi về bên kia thế giới, hoặc đang bịnh hoạn đủ thứ
bịnh đau ung thư, đau bướu, đau gan, đau dạ dày hoặc cuộc
đời quá cơ cực, sống hôm nay không dám nghĩ đến ngày mai, âu
lo đủ thứ chuyện, hay gia đình ly tán, mỗi người một nơi.
Cho nên nhìn lại quảng đời đã qua,
cảm nghiệm rằng đời mình quá có phước cần phải cảm tạ ơn Trời và
cám ơn người. Cám ơn những điều như ý và cả những điều bất như ý,
cám ơn những người thương yêu mình và ngay cả những người
không ưa mình.
Sau hơn ba mươi năm, tinh thần
thương yêu, quí mến nhau của Thầy trò, bạn bè, thân hữu của trường
Lương van Can vẫn như cũ, một điều hiếm thấy trong thế
kỹ 21 này, thế kỹ đặt nặng tiền tài, hơn thua tài sản, hơn thua
về vật chất nhưng mà gia đình Luơng văn Can vẫn đặt nặng về
tinh thần thương yêu nhau làm chính.
Xin cám ơn mọi người đã trao cho
nhau tình cảm thân thương, biết đến nhau và vẫn thường xuyên liên
lạc thăm hỏi nhau dầu ở xa nhau nửa vòng trái đất, dầu ở phương
trời nào Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á, hay Châu Úc của miền Nam Bán
Cầu, dầu ở khắp nơi trên thế giới vẫn rất gần nhau nhờ phương tiện
hiện đại là thơ điện tử ( lên mạng hay E.Mail) mà có chuyện vui,
chuyện buồn gì trong chốc lát là các anh chị em trong đại gia đình
Lương Văn Can đều chia xẻ được với nhau hết.
Dầu ở bất cứ nơi nào trên thế giới
người ta cần tiền để sống, nhưng không phải sống chỉ vì tiền bạc,
tài sản. Rất nhiều người chỉ lo kiếm tiền buôn bán, làm ăn mỗi
ngày trên 16 giờ, sau một thời gian rất giàu có nhưng rồi không có
thì giờ chăm sóc con của mình lúc còn nhỏ, không kiểm soát được
việc học hành của chúng nó, để đến khi phát giác ra được thì chỉ
còn cách phải hàng tháng đi thăm nuôi con trong tù vì hư hỏng trộm
cắp, cướp giựt, nghiện ngập, buôn bán ma túy v.v. .
Trân trọng những tình cảm thân yêu
của mọi người trong Ðai Gia đình Lương văn Can. Cho nên điều sau
cùng quan trọng trong đời sống của mình rõ ràng không phải có
nhiều tiền, có chức vụ cao, đậu nhìều bằng Ðại học, dĩ nhiên những
điều trên rất quí, nhưng đứng bên trên những sự thành công đó thì
có lẽ cần những tấm lòng
thương yêu nhau mới quí giá hơn nhiều.
Bà Me Teresa thành Calcutta đã chẳng có nói “
không
phải là các bạn đã làm được bao nhiêu công tác mà chính là các bạn
đã để bao nhiêu tâm hồn, tình yêu thương vào mỗi công tác đó.”
(1)
Thật ra có câu
Bát thập cổ lai hy. Ít ai sống
nổi tám mươi.
Ðức Khổng tử bảo:
- Tam
thập nhi lập ba mươi tuổi bắt đầu lập thân
- Tứ
thập nhi bất hoặc : Bốn mươi tuổi không còn nghi ngờ gì
nữa.
- Ngũ
thập tri thiên mệnh : Lúc 50 tuổi mới biết được mệnh
trời.
-
Lục thập nhi thuận nhĩ : Sáu
mươi tuổi dễ nghe, dễ hiểu hơn.
- Thất
thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ : Bảy mươi tuổi lòng
còn ham muốn nhưng không để ra ngoài khuôn khổ đạo lý
(2) và (3 ) Sách “Kinh Dịch Ðạo của
người quân tử ‘’ cuả Nguyễn Hiến Lê trang 432 và trang 436
( 4) sách đd trang 439
Tác
giả
Phùng văn Phụng
VỀ
MỤC LỤC
|
|
|
CẦN KIỆM VÀ LÃNG PHÍ
Chuyện phiếm của Gã Siêu. |
|
Muốn phát triển, phải cần
kiệm, đó là qui luật của muôn đời. Nhìn ra thế giới, gã nhận thấy
thiên hạ đã sống qui luật này một cách rất y là nghiêm ngặt và chặt
chẽ.
Thực vậy, ở bên Mỹ, trong
các trường tiểu học, người ta đã dạy cho con nít biết:
- Muốn có một đồng thì
phải bắt đầu từ một xu, còn muốn có một triệu thì phải bắt đầu từ một
đồng.
Thảo nào mà nước Mỹ luôn
đứng đầu sổ trong lãnh vực phát triển kinh tế.
Ở bên Nhật cũng vậy.
Trong các gia đình, người ta luôn nhắc nhở con cái sống theo phương
châm :
- Mua gì ăn nấy.
Đồng thời :
- Ăn đâu hết nấy.
Chứ không để thừa mứa,
cho heo và cho chó vét cù, hay xơi tới xơi lui mà vẫn cứ còn tồn…kho.
Người ta chẳng bao giờ
chiều theo ý thích của con nít, đòi gì được nấy, vì đó chỉ là một cách
thương hại, nghĩa là thương trẻ, nhưng lại làm hại trẻ nhiều hơn.
Thảo nào mà dân Phù tang,
con cháu Thiên hoàng, đã trở thành một cường quốc giàu mạnh nhất tại Á
châu, làm cho nhiều nước phương Tây cứ đứng nhìn mà phát…thèm.
Ở bên Israel cũng rứa.
Vào các nhà hàng, khách sạn, người ta không thấy đồ ăn thức uống để dư.
Ngay tại các bến xe, bến tàu đều có những khẩu hiệu đại khái :
- Hãy tiết kiệm điện. Hãy
tiết kiệm nước…
Còn tại các công sở và xí
nghiệp, để trừ khử thói lề mề, người ta trừ phắt vào lương cho những
ai đến làm việc chậm trễ.
Thảo nào mà dân Do thái,
mới lục đục kéo nhau về lập quốc từ năm 1945, sau thế giới đại chiến
lần thứ hai, thế mà ngày nay đất nước này đã trở nên giàu có và phát
triển, thậm chí thu nhập bình quân đầu người lên tới 17.000 mỹ kim một
năm, khiến những người Việt nam, khố rách áo ôm như gã, sông trên quê
hương yêu dấu và thân thương này, có nằm mơ cũng chẳng thấy được như
vậy.
Đã nói chuyện bên Tây,
thì cũng phải nói chuyện bên Tàu, một anh hàng xóm khổng lồ nằm sát
cạnh chúng ta.
Hoàn cảnh kinh tế không
khá hơn chúng ta bao nhiêu. Thế nhưng, trong những năm tháng gần đây,
đã vươn mình để trở thành giàu mạnh. Hàng hóa Trung quốc tràn ngập thị
trường, dù không bền lắm, nhưng được cái giá rẻ bèo, hợp với túi tiền
của bàn dân thiên hạ.
Tại đây, người ta đang ra
sức tiết kiệm, chống lãng phí và tham nhũng.
Tác giả Nguyễn văn Hùng,
trong một chuyến đi công tác, đã “mục kích sở thị” thái độ và những
việc làm tiết kiệm của người Tàu, đã kể lại như sau :
“Trong thời gian làm việc
tại thành phố Nam ninh, thủ phủ của tỉnh Quảng tây, chúng tôi được ông
Trương Sinh, tổng giám đốc một công ty lớn của tỉnh này, hai lần mời
cơm tại nhà hàng. Tôi đặc biệt để ý đến những cử chỉ khá là lạ của vị
chủ nhà.
“Đó là sau mỗi bữa tiệc,
ông tổng giám đốc này đều trút toàn bộ thức ăn thừa vào các bao ny
lông để mang về trước những con mắt ngỡ ngàng của quí khách. Nhận thấy
những ánh nắt khang khác ấy, ông Sinh vui vẻ giải thích :
- Cũng như Việt nam,Trung
quốc còn nghèo, nên đặc biệt coi trọng yêu cầu tiết kiệm, ngay từ việc
nhỏ nhất. Ở Trung quốc, tiết kiệm thực sự là quốc sách.
“Đất nước Trung quốc rộng
lớn nên xây dựng và phát triển được là nhờ biết tiết kiệm, và tôi để ý
thấy trong cái nhà hàng sang trọng này, chẳng riêng gì ông Sinh, mà
còn có rất nhiều thực khách cũng làm như thế…”
Thấy người mà nhớ tới ta.
Nhìn người mà gẫm đến thân. Té ra quí vị Tây Tàu Nhật trên đây cũng
chả làm được điều gì mới mẻ và khác lạ với những điều cha ông chúng ta
đã từng dạy bảo.
Thực vậy, từ ngàn xưa cần
kiệm vốn là một nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam, bởi vì các
cụ ta đã phán :
- Tiểu phú do cần, đại
phú do mưu. Có nghĩa là giàu nhỏ thì phải cần kiệm, còn giàu lớn thì
phải mưu trí.
Đồng thời, các cụ ta còn
căn dặn con cháu :
- Được mùa chớ phụ ngô
khoai,
Đến khi thất bát, lấy ai
bạn cùng.
Ngoài ra, các cụ luôn chú
trọng và hô hào mọi người :
- Tích cốc phòng cơ, tích
y phòng hàn. Có nghĩa là hãy tích lũy lúa thóc phòng khi đói kém, hãy
tích lũy áo quần phòng khi lạnh giá.
Viết đến câu này, gã bỗng
nhớ tới câu chuyện ngụ ngôn của Lã Phụng Tiên về nàng ve và chị kiến,
đã được Nguyễn văn Vĩnh dịch thành thơ, mà gã chỉ còn nhớ lõm bõ, đại
khái như thế này:
Ve sầu kê ve ve.
Ca hát suốt mùa hè,
Đến khi gió bấc thổi,
Nguồn cơn thật bối rối.
Đang khi đó, chị kiến cần
cù tích lũy lương thực trong kho, nên chẳng sợ gì mưa to và gió lớn.
Thế nhưng, ngày nay lớp
hậu sinh chúng ta, thay vì khả úy, thì nhiều lúc lại khả ố, nghĩa là
đáng lẽ lớp đàn em đến sau phải tốt hơn thì lại xấu hơn lớp đàn anh đi
trước.
Sở dĩ như vậy vì nhiều
người trong chúng ta đang sống theo khẩu hiệu :
- Bóc ngắn cắn dài.
Chúng ta làm ra được một
đồng nhưng lại tiêu xài những hai đồng, nên công nợ cứ chồng chất và
liên tục phát triển, khiến chúng ta không tài nào ngóc đầu lên nổi.
Chúng ta thích chơi trội
theo kiểu :
- Vung tay quá trán.
Hay :
- Con nhà lính, tính nhà
quan.
Chúng ta đã xài thì phải
xài cho sộp, xài cho xịn, xài cho sang. Mà sộp xịn sang chính là con
đường ngắn nhất để rơi tõm vào cảnh lãng phí.
Và lãng phí cũng chính là
con đường ngắn nhất làm nghèo gia đình và đất nước.
Dĩ nhiên ở đây, gã không
hể cổ võ cho tính hà tiện keo kiệt, theo kiểu :
- Vắt cù chày ra nước.
Hay :
- Đãi cứt sáo lấy hạt đa.
Bởi vì từ lâu lắm rồi, gã
vẫn nhớ lời khuyên chí lý của một bậc đáng kính :
- Con ơi, đối với những
chuyện cần thiết và hữu ích thì tiền vạn, tiền triệu con cũng đừng
tiếc xót. Còn đối với với những chuyện lãng phí, thì một đồng một cắc
cũng không, con nhé.
Trên báo “Tuổi trẻ Chủ
nhật”, tác giả Phạm đình Nghiệp đã đưa ra một vài trường hợp lãng phí
điển hình.
Trước hết, đó là việc
lãng phí sức người, được thể hiện dưới nhiều dạng vẻ khác nhau : thất
nghiệp, lao động trái ngành, chéo nghề được đào tạo, sử dụng nhân lực
bất hợp lý, nhân tài không được trọng dụng, chảy máu chất xám…
Tiếp đến là việc lãng phí
tài sản, tiền bạc của dân và của nước. Người ta sẵn sàng tiêu phí hàng
chục triệu đồng “của chùa” cho một đêm liên hoan gặp gỡ hay chia tay
nào đó.
Việt Nam chúng ta là một
đất nước có thu nhập quốc dân tính theo đầu người vào loại thấp nhất,
nhưng đã “hội tụ” được đủ mặt các loại bia ngon nhất.
Trong nhiều cuộc “bù khú”
nhậu nhẹt, người ta thi nhau không phải uống bia, mà là “gội bia”,
“tắm bia” với hàng chục, thậm chí hàng trăm lít.
Chắc chắn lúc đó ít ai
nghĩ đến một điều sơ đẳng sau đây :
- Mỗi lon bia bình quân
trị giá 5 ký thóc. Ấy thế mà người nông dân “một nắng hai sương “ ở
đồng bằng sông Hồng, giỏi lắm một ngày cũng chỉ làm ra được số thóc
tương đương trị giá của một lon bia!
Hằng ngày chúng ta đã
chứng kiến biết bao nhiêu cảnh lãng phí tiền bạc, làm nghèo cho dân
cho nước. Cơ quan nào, xí nghiệp nào cũng cố xây cho mình những cơ sở
bề thế và lộng lẫy.
Hễ có chức một tí là vội
sắm cho mình những chiếc xe đời mới đất tiền, trang bị cho mình điện
thoại di động, đúng với “mô đen” thời thượng mà nghênh ngang với đời.
Mới đây, trên báo “Tuổi
trẻ cười”, có một bài mang tựa đề “hình như là lãng phí”, tác giả đưa
ra một sự kiện…rất bình thường nhưng lại rất xót xa. Đó là bộ giáo dục
năm nào cũng đổi mới, năm nào cũng cải cách, nên năm nào số sách giáo
khoa mới in ra cũng được tha hồ đem bán ký.
Tác giả viết :
“Ai ngờ đâu, tôi bỗng trở
thành người thu gom giấy phế liệu để kiếm sống và đến nay tôi đã cân
cả tấn sách giáo khoa còn thơm mùi giấy mới. Ở đủ mọi lớp, thuộc đủ
loại môn học.
“Vốn dòng họ “tiếc”, mỗi
khi gặp loại sách mới này (mà gặp hoài), tôi đều lấy mẫu về cho con
tôi, nhưng chúng lại bảo :
- Không phải loại sách
của trường con.
(Dù đúng cấp, đúng lớp
của chúng). Nhìn lại bìa thì thấy là của bộ Giáo dục và năm xuất bản
mới cách đó một hai năm mà thôi!!!
“Tôi nhớ ngày xưa, khi
anh tôi vào lớp 12, tôi vẫn xài sách lớp 7 của ảnh để lại. Và khi tôi
lên lớp 12, tôi vẫn xài sách ảnh đã xài mà không có trở ngại gì và vẫn
“anh dũng” thi đậu, cha mẹ vui mừng khỏe re…Ôi sao mà dễ dàng tiện lợi
và đỡ tốn kém quá cho cho mẹ và lớp học sinh thập niên 60, 70.
“Tôi đã qua cảnh ba ngày
ròng đi tìm một cuốn sách học cho đứa cháu mới lớp 4. Nhiều lần nhịn
ăn nhịn uống để dành tiền mua sách học cho con và bây giờ đứng trước
hằng trăm ký sách giáo khoa chưa có tay người lật mà đành cân ký làm
giấy gói đồ, hỏi sao không xót cho học sinh, phụ huynh đất nước ?
“Tôi cũng rất ngạc nhiên
phát hiện ra chỉ một môn học ở lớp 3, lớp 4 mà có đến ba, bốn thứ sách.
Nào là quyển bài giải, bài mẫu … rồi quyển cho giáo viên … tất cả còn
mới nguyên mà đem cân ký, không biết vì lý do gì và có lãng phí không
?
“Năm nào đọc báo cũng
thấy bộ giáo dục than thiếu tiền, thiếu giấy in, thiếu sách cho học
sinh đến độ có những cuộc phỏng vấn tùm lum về vấn đề này. Ấy thế mà
năm nào tôi cũng có dịp cân hết trăm ký lô này đến trăm ký lô khác
sách giáo khoa … lòng tôi không khỏi cảm thấy bùi ngùi”.
Trên đây là những chuyện
lãng phí của quí vị có chức, tai to mặt lớn. Còn trong phạm vi cá nhân,
gã cũng nghiệm ra còn có nhiều loại lãng phí khác nữa, mà chính bản
thân gã cũng đã từng mắc phải. Gã chỉ xin đưa ra một thí dụ điển hình
mà thôi, đó là lãng phí thời gian.
Người Tây thì bảo :
- Le temps, c’ est l’
argent. Thời giờ là bạc.
Còn người Tàu thì nói :
- Nhất thốn quang âm nhất
thốn kim. Một tấc thời gian là một tấc vàng.
Thế nhưng, lắm lúc người
ta đã không ý thức được sự quí giá của thời gian nên đã lãng phí nó
một cách lãng xẹt.
Nơi gã đang cắm dùi là
một thị trấn chỉ nhỏ bằng chiếc móng tay, thế mà có đến mấy chục quán
cà phê. Đường nào cũng có, góc phố nào cũng có. Bất kể sáng, trưa,
chiều và tối, hễ đặt chân ra đường hay xuống phố, đều thấy quí vị
thanh niên ngồi thiền ở trong những quán ấy.
Đáng lẽ ra :
- Đâu cần thanh niên có,
đâu khó có thanh niên.
Thế nhưng, quí vị này lại
chẳng biết làm gì cả, ngoài việc giết thời giờ trong quán, nhấm nháp
vị đắng cà phê và đốt những điếu thuốc, lim dim thả hồn theo khói, ra
dáng siêu nhân hay người cõi trên chi đó.
Tiếp đến là quán nhậu.
Mỗi bữa nhậu kéo dài hai ba tiếng đồng hồ, quả là lãng phí.
Hồi xưa thấy một kẻ say
xỉn ngoài đường phố quả là chuyện họa hiếm, còn hôm nay lại là chuyện
thường ngày ở huyện.
Gã có một người bạn. Tên
người bạn ấy là Văn. Vì có tí tuổi, nên gã thường gọi người bạn ấy là
‘’cụ Văn’’.
Cụ Văn của gã là người
rất năng nổ, rất bận rộn. Công việc hàng trăm thứ bà giằng đè xuống
trên đôi vai ọp ẹp của cụ ấy, đến nỗi có lần cụ ấy đã phải tâm sự ‘’mí’’
gã :
- Giá như Đức Chúa Trời
cho phép mình đi xin thời giờ của những kẻ nhàn rỗi, cất vào tủ lạnh
để rồi lúc nào cần thì lôi ra xài chơi. Nhưng Đức Chúa Trời cũng công
bằng vô cùng, mỗi ngày chỉ có 24 tiếng đồng hồ, muốn kéo dài thêm cũng
chẳng được.
Trước nỗi búc xúc của cụ
ấy, gã chỉ biết cười ruồi mà an ủi :
- Ôi dào, đã ăn cơm Chúa
thì phải múa tối ngày là cái chắc và việc nhà Đức Chúa Trời thì có bao
giờ mà thiếu. Nhưng Đức Chúa Trời lại rất lòng lành. Ngài đâu có đòi
chúng ta phải làm ông ba bị, sáu tay mười hai con mắt để ôm mọi thứ
vào mình. Thôi mờ, thư giãn đi một tí cho đời còn thấy màu hồng.
Chả biết lời phát biểu
của gã có bị kết án là lãng phí thời gian hay không và nhất là có xúc
phạm đến nhiệt tình hăng say của cụ ấy hay không thì để gã hỏi lại cụ
ấy cái đã. Vậy xin hạ hồi phân giải.
Riêng bản thân thì một
ngày gã đã tiêu xài biết bao nhiêu phút giây cho việc ăn uống, ngủ
nghỉ, giải trí… Còn thời giờ làm việc một cách nghiêm văn chỉnh thì
chỉ được tẻo tẹo mà thôi. Không hiểu mai này khi tính sổ cuộc đời với
Đức Chúa Trời thì sẽ phải nói sao đây ?
Ai có kế gì hay thì làm
ơn làm phước ‘’méc’’ giùm cho gã biết với nhé. Bảo đảm sẽ hậu tạ.
Còn bây giờ, gã sẽ đưa ra
bản thống kê rất khoa học của một kẻ thích đùa tại Đại học Tổng hợp
Milan để tất cả cùng cười… mí nhau.
Bản thống kê về các thành
phần dân số nước Ý, trong đó có một kết luận rất độc đáo về số người
thực sự lao động ở nước này. Dưới đây là nguyên văn bản thống kê :
Tổng số dân trên toàn
nước Ý là 52.000.000 người.
Trừ đi số người trên 65
tuổi là 11.750.000 người, còn lại số người có thể lao động là
40.250.000 người.
Trừ đi số người dưới 18
tuổi là 14.120.000 người, còn lại số người có thể lao động là
26.130.000 người.
Trừ đi số phụ nữ không đi
làm là 17.315.000 người, còn lại số người có thể lao động là
8.815.000 người.
Trừ đi số sinh viên phải
nuôi học là 275.000 người, còn lại số người có thể lao động là
8.540.000 người.
Trừ đi số người làm ở các
cơ quan không sản xuất là 3.830.000 người, còn lại số người có thể sản
xuất là : 4.710.000 người.
Trừ đi số người thất
nghiệp, cùng với số người hoạt động đảng phái chính trị là1.380.000
người, còn lại số người có thể lao động là 3.330.000 người.
Trừ đi số quân nhân tại
ngũ là 780.000 người, còn lại số người có thể lao động là 2.550.000
người.
Trừ đi số người đau ốm,
tâm thần, lưu manh, chào hàng, vô công rồi nghề là 1.310.000 người,
còn lại số người có thể lao động là 1.240.000 người.
Trừ đi số người mù chữ,
nghệ sĩ, tòa án… là 880.000 người, còn lại số người có thể lao động là
360.000 người.
Trừ đi số tu sĩ, triết
gia, thày bói là 240.000 người.
Trừ đi số nghệ sĩ, tù
nhân là 119.000 người.
Vậy số người thực sự lao
động còn lại tại nước Ý là 1 người.
Khẩu phục tâm phục, gã
xin chào thua và tôn tác giả bản thống kê này lên hàng sư phụ.
Còn bạn, bạn nghĩ sao ?
Liệu có lãng phí lắm không ?
Gã
Siêu
VỀ MỤC
LỤC
TRANG ĐẦU
|
|
************* |
|