Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@yahoo.ca

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 28, Chúa nhật 04.9.2005

 Các số báo đã phát hành                 MỤC LỤC

GlA ĐÌNH LÀ TRUỜNG HUẤN LUYỆN ĐẦU TlÊN CHO VlỆC TÔNG ĐỒ GlÁO DÂN   Vatican 2

Bản Tin của Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

ƠN BÌNH AN                                                                                           + Gm. GB. Bùi Tuần

SỨ MỆNH GIEO NHÂN !                                                                     Ông Nguyễn Đông Khê

CHIẾC ÁO BÀ BA                                                                   Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường

Những ước mơ về một xứ đạo ngày nay                                               Gs. Đỗ Hữu Nghiêm

HÃY SỐNG THÁNH THIỆN                                                                Phó tế JB. Nguyễn Định

Mệt mỏi chán chường                                                                               Nhà Văn Quyên Di

Con kênh đào "Thứ Tha"                     Chuyện ngắn giả tưởng của Gs. Nguyễn Văn Thành

Già và Trẻ                                                                                   Chuyện Phiếm của Gã Siêu

 

GlA ĐÌNH LÀ TRUỜNG HUẤN LUYỆN ĐẦU TlÊN CHO VlỆC TÔNG ĐỒ GlÁO DÂN

Việc huấn luyện làm tông đồ phải khởi sự ngay từ lúc bắt đầu việc giáo dục các trẻ em. Nhưng đặc biệt phải tập cho các thanh thiếu niên biêt làm tông đồ và thấm nhuần tinh thần này. Việc huấn luyện này còn phải được tiếp tục trong suốt đời các em, tuỳ theo đòi hỏi cúa những nhiệm vụ mới mà các em lãnh nhận. Vậy những ai có trách nhiệm trong việc giáo dục Ki-tô giáo hẳn nhiên là phải coi trọng bổn phận huấn luyện tông đồ này.

Trong gia đình, bậc cha mẹ phải lo dạy cho con cái, ngay từ khi còn thơ ấu, nhận biết tình thương yêu của Thiên Chúa đối với hết mọi người, và dần dần, nhất là bằng gương sáng, phải dạy cho các em biết quan tâm đến những nhu cầu vật chất cũng như tinh thần của người khác. Như vậy toàn thể gia đình và đời sống chung của gia đình phải nên như trường huấn luyện đầu tiên cho việc tông đồ.

Hơn nữa, trẻ em cần phải được giáo dục sao để, vượt khỏi phạm vi gia đình, các em biết nghĩ tới các cộng đồng khác, như Giáo Hội và xã hội. Các em phải được tham dự vào đời sống cộng đổng giáo xứ thế nào, để các em ý thức được mình là một thành viên sống động và hoạt động của Dân Thiên Chúa. Các linh mục phải luôn nhớ đến việc huấn luyện tông đồ này, trong khi giảng dạy giáo lý, trong các bài giảng, trong việc coi sóc linh hồn, cũng như trong các hoạt động mục vụ khác.

(Trích Sắc lệnh Tông đồ giáo dân của Công Đồng Va-ti-ca-nô II, số 30).

VỀ MỤC LỤC

 

 

Bản Tin của Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

Kính thưa Quí vị,

Theo tin chúng tôi nhận được:

1. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam sẽ họp thường kỳ từ ngày  5.9 đến 9.9.2005 tại Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ Bãi Dâu, Vũng Tàu. Đây là kỳ họp quan trọng trong hoàn cảnh của GHVN. Con người chỉ có thể trở thành công cụ thiết thực của Thiên Chúa khi biết lắng nghe Tiếng Chúa hướng dẫn. Vì vậy Lời Cầu Nguyện của Cộng Đoàn Dân Chúa khắp nơi là vô cùng cần thiết. Kính mong tất cả chúng ta sẽ hết lòng kêu nài Lòng Thương Xót Chúa cho Quê Hương và GHVN, thông qua sự lãnh đạo của HĐGMVN.

2. Cơn bão Katrina đã gây hậu quả quá lớn cho nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ, đặc biệt là thành phố New Orleans. Nơi có khoảng vài chục ngàn người Việt Công giáo đang sinh sống. Trong đó, Cộng đoàn Đức Mẹ Lên Trời, một địa điểm truyền giáo do Lm. Trần Cao Tường làm Quản nhiệm. Cha Tường đã là Linh Hướng và giúp đỡ cho Chứng Nhân Đức Kitô hoạt động suốt hơn một năm qua. Hiện nay, chúng tôi không thể liên lạc được. Kính mong tất cả chúng ta cùng hiệp thông cầu nguyện cho nhau, trong tinh thần con cùng một Cha.

Xin chân thành cám ơn.

VỀ MỤC LỤC

 

ƠN BÌNH AN

 Họ đạo nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên nhận Đức Mẹ Maria, Nữ Vương Bình An, làm Bổn Mạng.

Sống lâu năm dưới sự che chở của Đức Mẹ, tôi xác tín điều này: Bình an là một ơn Chúa ban nhờ Đức Mẹ. Chúa ban ơn đó. Đức Mẹ cầu bầu cho ta ơn đó. Nhưng chúng ta phải biết đón nhận ơn đó, bằng sự cộng tác vào ơn đó.

Cộng tác bằng cách nào? Đó là đề tài tôi xin được chia sẻ. Chia sẻ của tôi là vài suy nghĩ rút ra từ Phúc Âm.

1/ Suy nghĩ thứ nhất là hãy sống như chim trời

Chúa phán: "Các con hãy xem chim trời. Chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho. Thế mà Cha trên trời vẫn nuôi chúng. Các con chẳng quý hơn các chim trời sao?" (Mt 6,26).

Suy gẫm Lời Chúa trên đây, tôi thấy ý Chúa có thể là thế này:

Chim trời không gieo, không gặt, không thu tích vào kho. Nhưng để sinh tồn, chúng tỏ ra rất chăm chỉ, rất hoạt động, rất lanh lẹ, rất tỉnh thức và cũng rất thông minh. Đó là điều chúng cộng tác với thiên nhiên, với môi trường, với thực tế một cách bình an. Tôi gọi sự cộng tác bình an đó là cách Cha trên trời nuôi chúng. Chúng ta cũng hãy sống như vậy. Nghĩa là chúng ta phải ráng chăm chỉ, hoạt động, lanh lẹ, thông minh trong việc chu toàn bổn phận mến Chúa yêu người, thì sẽ có hy vọng đón nhận được ơn bình an.

2/ Suy nghĩ thứ hai là hãy sống như hoa huệ ngoài đồng

Chúa phán: "Các con hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng... Chúng không làm lụng, không kéo sợi. Thế mà, Thầy bảo cho các con biết: Ngay cả vua Salomon được vinh quang tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy" (Mt 6,28).

Suy gẫm Lời Chúa phán trên đây, tôi thấy ý Chúa có thể là thế này:

Cây huệ, để có thể nở hoa, nó cũng phải kiên trì vất vả khiêm tốn. Như việc nó phải bám vào đất, đâm rễ sâu rộng xuống đất. Nó phải hút lấy từng chút dinh dưỡng từ đất, từ nước, từ ánh sáng, từ sương. Nó phải chịu mưa, chịu gió, chịu nắng, chịu bão. Nó phải chờ đợi lớn lên từng phút, từng giờ. Tất cả những việc đó là cách nó cộng tác với thiên nhiên, với môi trường, với thực tế một cách bình an. Tôi gọi sự cộng tác bình an đó là cách Cha trên trời nuôi nó. Chúng ta cũng hãy sống như vậy. Nghĩa là chúng ta phải ráng chịu khó, kiên trì khiêm tốn, trong việc chu toàn bổn phận mến Chúa yêu người, thì sẽ có hy vọng đón nhận được ơn bình an.

3/ Suy nghĩ thứ ba là hãy ưu tiên tìm Nước Chúa

Chúa phán: "Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công bình của Người, còn tất cả những thứ khác, Người sẽ ban cho sau" (Mt, 6,33).

Suy gẫm Lời Chúa phán trên, tôi thấy sự cộng tác quan trọng nhất Chúa đòi, là sự ưu tiên tìm Chúa, ưu tiên tìm thực thi ý Chúa, ưu tiên sống đạo đức, ưu tiên sống đời sống nội tâm. Cộng tác như thế là cách đón nhận được ơn bình an.

Nhìn vào Đức Mẹ, chúng ta thấy Đức Mẹ đã cộng tác hết sức mình với ơn bình an của Chúa, bằng đủ mọi cách mà Chúa muốn.

Giờ đây, chúng ta hiểu: Ơn bình an mà chúng ta lãnh nhận, sẽ được cảm nhận, không phải như một sự an nhàn, nhưng như một cuộc phấn đấu sáng suốt trong sự trung thành phó thác theo con đường Chúa muốn ta đi, để phượng thờ Chúa và phục vụ con người.

Cuộc chiến đấu ấy, tuy gay go, nhưng vì diễn ra trong ơn nghĩa Chúa, nên sẽ đem lại sự bình an sâu sắc cho ta.

Chúng ta hiện nay đang sống trong một thế giới bị đe doạ bởi nhiều bất ổn, bất an. Chúng ta yếu đuối. Chính chúng ta cũng dễ tự tạo cho mình nhiều bất ổn, bất an. Thí dụ: dại dột để vòng xoáy khát vọng trần thế đẩy đưa . Nhưng chúng ta được may mắn có Đức Mẹ. Mẹ rất thương con cái Mẹ. Mẹ sẽ cầu bầu cho chúng ta ơn bình an. Còn chúng ta, chúng ta đừng quên cộng tác vào ơn bình an. Cộng tác không những bằng cầu nguyện sám hối, mà còn bằng những việc đã nói trên và những việc khác Chúa soi cho, cả bằng việc vác những thánh giá Chúa trao.

Xin tạ ơn Mẹ, vì ơn bình an trong hiện tại. Xin Mẹ cầu bầu cho chúng ta được ơn bình an trong tương lai và mãi mãi.

+ Gm. GB. BÙI TUẦN

VỀ MỤC LỤC

 

SỨ MỆNH GIEO NHÂN !

1 Tôi vừa làm công quả ở một ngôi chùa Việt Nam tại thành phố tôi cư ngụ. Công việc đơn giản chỉ là phụ làm bếp trong việc sắt cà rốt, củ cải, rửa đồ dùng trong bếp, cắt dây buộc cho người khác bó giò chay … Đến giờ cơm trưa, tôi được chùa đãi phở chay lần đầu, với bát phở thơm ngon, có rau húng quế, ngò gai, giá, tương đen và tương ớt đầy đủ cả, ngọai trừ thịt heo và thịt bò được biến chế từ củ cải. Điều đáng nói ở đây không phải là những gì tôi vừa kể trên, mà là những câu chuyện mạn đàm và về một vài đọan văn trong một cuốn sách tôi mua được ở chùa có liên quan đến người công giáo.

2 Mấy hôm trước tôi khoe với một người bạn tôi sẽ đến chùa làm bếp vào Chủ Nhật, người ấy liền nêu thắc mắc: “Ủa, người công giáo sao lại đến chùa làm việc thiện nguyện ?” Tôi chỉ cười và thầm nghĩ thắc mắc ấy có lẽ cũng là não trạng chung của hầu hết người công giáo. Tôi không trách bạn tôi hay bất kì ai, đã gieo vào đầu óc tín đồ theo đạo Chúa ý tưởng phân biệt nọ! Tôi nghĩ việc tôi đến chùa làm việc là cơ hội giúp tôi tẩy xóa thành kiến tiêu cực hẹp hòi ấy, và việc làm nhỏ bé này phù hợp với khả năng tầm thường và phương tiện của riêng mình. Từ lâu tôi vẫn nghĩ Thiên Chúa Chí Thiện Chí Nhân không thể nào chỉ giới hạn tình thương vô thủy vô chung của Ngài cho một thiểu số người theo một thứ đạo riêng biệt. Thiên Chúa yêu thương “con người” cách nhưng không, và chỉ có như thế mới thể hiện trọn vẹn “Thiên Chúa là Yêu Thương” (1Ga 4:8). Ngài muốn con người cũng phải yêu thương “con người” như cách thế Ngài yêu thương họ vì đạo Chúa là đạo “mến Chúa yêu người”. Nói khác đi theo đạo Chúa là “sống đạo làm người”, là “đạo tâm”, là đạo thực hành theo lương tâm con người, là cốt lõi và cũng là đích điểm cho tất cả mọi thứ đạo qui về một Ông Trời là vị Cha Chung của muôn lòai thụ tạo. Tôi ghi nhận được nhiều điều trong một ngày làm công quả.

3 Hai phụ nữ trung niên trao đổi kinh nghiệm về việc nấu các món ăn. Chị S. nói có lần chị đem đồ chay do chính chị nấu đến sở làm. Đến giờ ăn trưa, chị đem món ăn ra chia sẻ với chị bạn Việt Nam theo thông lệ hai người vẫn quen làm hàng ngày. Chị S. thuật lại: “Chị biết không, người công giáo thiệt kì cục, khi biết tôi mang theo đồ chay, chị bạn tôi từ chối không muốn ăn, nói đồ chay là đồ cúng người có đạo không được phép ăn.”

4 Chị L. đem con đến chùa học Việt ngữ, tiện thể chị ghé vào bếp phụ sắt cà rốt và củ cải trắng. Chị trao đổi:

“Khi nào tôi vui thì đi shopping, khi tôi buồn thì đến chùa !”

“Ủa, sao vậy? Bữa nay chị đến chùa là vui hay buồn?”

“Không vui mà cũng không buồn. Vì phải đem con đến đây học Việt ngữ. Đưa được thằng nhỏ đi học Việt ngữ là cả một vấn đề! Tôi đưa nó đến một nhà thờ công giáo, người ta đòi đóng 250 đồng tiền học, cộng với 100 đồng tiền “ngọai đạo” là 350 đồng cho một năm. Tôi hỏi tại sao tôi phải đóng thêm tiền “ngọai đạo” thì họ nói luật lệ như vậy đó. Tức quá tôi hỏi: vậy khi nhà thờ bán vé số và mở hội chợ gây quĩ có cấm người ngọai đạo tham gia không? Họ nín thinh không trả lời! Tôi nói tôi muốn gặp ông cha, nhưng họ không cho gặp. Thế rồi, tôi xách thằng nhỏ sang một nhà thờ công giáo khác, gặp một bà phước có chân trong chương trình dạy Việt ngữ. Họ cũng đòi hỏi tôi phải đóng thêm tiền ngọai đạo ngòai giá qui định bình thường. Tôi hỏi tại sao tôi phải đóng thêm tiền ngọai đạo ? Bà phước giải thích tiền đó “không gọi là tiền ngọai đạo”, mà là theo “luật lệ”, người nào không thuộc về giáo xứ thì phải đóng thêm khỏan tiền đó. Tôi nói tôi muốn gặp ông cha. Bà phước nói cha bận, nếu chị muốn gặp cha thì xin gọi điện thọai hẹn giờ đến gặp. Tức quá, tôi xách con tôi về, hỏi thăm người này người nọ thì biết được cũng có lớp Việt ngữ tổ chức ở chùa. Chạy đến chùa, thì nhà chùa nhận thằng nhỏ vô học liền. Tháng đóng 10 đồng khỏe re: 5 đồng cho bài vở, 5 đồng tiền điện nước ...”

5 Anh chị K. là hai người trong số những người học lớp dưỡng sinh “Việt pháp công” tổ chức ngay tại chùa. Anh nói anh chị ấy đến trễ là vì vào sáng sớm hai anh chị dắt nhau đi nghe mục sư Tin Lành John Osteen của nhà thờ Lakewood Church giảng tại Convention Center. Anh K. nói: “Tôi và bà xã tôi theo đạo Phật, nhưng chúng tôi không mang đầu óc hẹp hòi. Chúng tôi học hỏi được rất nhiều điều hay từ các tôn giáo khác. Chúng tôi thường xuyên theo dõi các bài giảng của các mục sư. Ông John Osteen là nhà giảng thuyết Tin Lành mà chúng tôi ưa thích. Ông đã biết đánh động thính giả bằng cách khơi dậy nơi họ khả năng đổi mới, thực hành thiện ích ngay tại gia đình mình, ở nơi đây và ngay lúc này. Chẳng hạn như ông ta đề cập đến chuyện hút thuốc lá. Nhiều người họ biết đấy là thói xấu có hại cho sức khỏe, nhưng họ quen hút thuốc lá là vì thân phụ họ hút, ông nội họ hút, cụ nội họ hút … Ông mục sư nói: nếu người hút thuốc lá không tự mình dứt bỏ việc hút thuốc lá, thì họ tiếp tục là kẻ “gieo nhân xấu” để con cháu và dòng giống của họ sau này cứ phải lãnh “hậu quả xấu” từ việc hút thuốc lá.”

6 Vào cuối ngày, một Phật tử mời tôi thỉnh sách “Tâm Lý Đạo Đức” của Tỳ Kheo T.C.Q. xuất bản từ Việt Nam về đọc. Mang sách về nhà, tôi cắm đầu cắm cổ đọc một hơi, và dưới đây là vài trích đọan liên quan đến người công giáo trong sách này.

Thày T.C.Q. nói: “Chúng ta hãy nhìn các tôn giáo bạn, trẻ vừa sinh ra là đã được nhà thờ làm lễ rửa tội để làm tín đồ dù đứa bé chưa biết gì. Lớn lên lập gia đình phải vào nhà thờ làm lễ, nghĩa là bảo đảm người hôn phối cũng phải theo đạo. Nếu lấy người ngòai đem về càng có công với Chúa. Vì thương chiều con cái họ cũng xuôi theo sự lựa chọn tình yêu của tuổi trẻ mà không hề có một điều kiện công bằng hơn cho truyền thống đạo giáo của gia đình…” (trang 18-19)

Tác giả đưa ra nhận xét về lối sống của hàng giáo sĩ công giáo:“… Ông Voltaire, người Pháp, đã từng phê bình những tu sĩ Thiên Chúa Giáo… Ông nói: “Vì tôn giáo mà cung điện đã được dựng lên cho giáo sĩ.” Ông không nói là nhà thờ mà gọi nơi thờ tự đó là cung điện. Chúng ta thường thấy, nhà thờ bên đạo Thiên Chúa rất lớn, rất cao, khuôn viên rộng mênh mông. Những giáo sĩ đạo Thiên Chúa sống trong những nhà thờ lớn như vậy nên ông cho rằng nhờ có danh nghĩa Thiên Chúa giáo mà những tu sĩ được ở trong cung điện, sa hoa hơn, sang trọng hơn, sung sướng hơn những người thường. Trong khi đó, đúng ra người tu hành phải sống bằng hoặc khổ hơn những người thường.” (Trang 327-328)

Tác giả dùng câu chuyện này để khuyên các tu sĩ Phật giáo không nên tích lũy tài sản: “Thiên Chúa Giáo có một vị Thánh tên là Don Bosco. Ông theo một dòng tu chuyên về giáo dục. Lúc ông đi tu, mẹ ông nói: Một ngày nào mà mẹ biết trong túi con có đến 10 franc thì mẹ không nhìn mặt con nữa.

Ông là người rất thương mẹ. Vì vậy, trong suốt thời gian tu hành, ông không bao giờ dám giữ tiền vì sợ mẹ biết, mẹ sẽ từ bỏ. Khi có tiền, ông liền mang cho người khác. Vậy mà tiền tiền cứ mỗi lúc một phát sinh. Ông càng lớn lên, đạo đức càng tăng trưởng. Vì một khi đã có hạnh bố thí thì các công hạnh khác cứ thế mở ra. Ông vốn chuyên về giáo dục nên thường đưa những đứa trẻ lang thang, hư hỏng về nuôi nấng, dạy dỗ. Công lao của ông rất lớn. Một lần ông có ý định xây một ngôi trường lớn để những đứa trẻ ấy có chỗ học hành đàng hòang. Tất nhiên đó mới chỉ là ý định thôi vì ông không có sẵn tiền. Điều kì lạ là ý định chỉ mới nảy sinh, ông đã được một người đưa đến một xe tiền. Đó chính là cái phước có được do sự tích cực bố thí của ông. Cứ thế, suốt cả cuộc đời lo cho chúng sinh và giáo dục cho mọi người những điều tốt đẹp, ông đã được phát thần thông. Ông có trực giác có thể đóan trước được nhiều việc. Sau này, con chiên đến xưng tội chỉ quỳ trước ông, chưa cần nói điều gì, ông đã biết tất cả. Khi ông qua đời, tòa thánh Vatican đã phong Thánh cho ông, mở thành dòng Don Bosco đến bây giờ. Như vậy, nhờ phước bố thí mà ông đã được thù thắng.” (Trang 176)

Tác giả còn đưa ra lời khuyên thật thú vị trong việc cầu nguyện: “Có hai cực đoan mà người tu chân chính phải tránh. Một là, cho tự sức mình là đủ, rồi đi đến chỗ chủ quan kiêu mạn; hai là lúc nào cũng cầu xin lệ thuộc vào thần thánh mà không biết nỗ lực tinh cần, rồi đi vào mê tín bạc nhược.”

Rồi tác giả đi đến giải pháp dung hòa: “trung đạo đúng nghĩa là vừa nỗ lực bản thân nhưng vẫn khiêm hạ nương nhờ công đức của Phật. Và trung đạo luôn luôn đem lại kết quả tốt đẹp… Người ngọai đạo cầu xin Thần Thánh để được hưởng quả, ví dụ như cầu được giàu sang, đỗ đạt, may mắn. Còn người đệ tử Phật cầu nguyện cho Phật gia hộ cho mình gieo nhân, ví dụ như cầu cho có cơ hội để giúp người, để đắp đường, để khuyên bảo người khó bảo. Đây là chỗ khác nhau giữa người tin Thần Thánh mà không tin nhân quả, với người tin Phật và tin nhân quả.” (Trang 64)

7 Vào thời buổi văn minh tiến bộ này, vẫn còn có người công giáo mang thành kiến sai lầm về người khác đạo, và mang não trạng tự tôn mặc cảm! Lỗi ấy bởi ai? Do tổ chức và giáo dục sai lầm? Do thờ ơ thiếu hiểu biết về đạo? Do dửng dưng không biết đến những canh tân đổi mới sau Công đồng Vatican II ?

8 Luật lệ được thiết lập để phục vụ con người một cách công bình và ngăn ngừa mọi trường hợp lạm dụng. Tổ chức lớp Việt ngữ là một sinh họat phục vụ nhân sinh, duy trì văn hóa Việt. Thứ tự ưu tiên dành cho con em của giáo dân trong danh sách những người đóng góp thường xuyên cho giáo xứ là điều hợp tình hợp lí theo lẽ công bình. Tuy nhiên, khi danh sách dành cho thứ tự ưu tiên đã hết, mà vẫn còn chỗ để nhận thêm con em của người không thuộc về giáo xứ, thì việc đòi hỏi đóng thêm tiền học là áp dụng luật lệ một cách máy móc, có lợi cho giáo xứ về tiền bạc, nhưng hết sức bất lợi cho việc truyền bá Tin Mừng!

9 Ngôn sứ Mi-kha dạy: “Hỡi người, bạn đã được nói cho hay điều nào là tốt, điều nào Đức Chúa đòi hỏi bạn: đó chính là thực thi công bình, quí yêu nhân nghĩa và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của bạn.” (Mk 6:8). Lời Chúa trong Thánh Kinh là lương thực và là kim chỉ nam cho tòan nhân lọai, không chỉ giới hạn cho một dân riêng hay cho một tôn giáo nào! Tập thể hay cá nhân lòai người, khi tuân hành theo tiếng lương tâm, theo hòan cảnh và điều kiện riêng, nếu đã chọn cho mình một vị thế, một con đường, một tôn giáo … và họ nghĩ rằng tôn giáo ấy đúng nhất, hay nhất, hòan hào nhất. Thiết tưởng khi khiêm tốn sống hết mình theo lời giảng dạy tốt lành của tôn giáo họ theo, mọi người sẽ qui về một mối vì chỉ có một Ông Trời, tòan thể nhân lọai sẽ biết sống hòa thuận yêu thương nhau, đang khi vẫn giữ được bản sắc dân tộc và tôn giáo của riêng mình như lời thày Mạnh Tử: “Quân tử hòa nhi bất đồng.”

10 “Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo”, yếu tố lôi cuốn thiên hạ có cảm tình với đạo, mến đạo và theo đạo không tựa trên các thành tích bên ngòai như cơ sở, đền đài, lăng tẩm, không tựa trên tổ chức và hệ thống triết lí giáo lí chặt chẽ, mà chính là tựa trên “Con Người”. Một giáo hội đầy quyền lực và giàu mạnh bề ngòai, thường có bộ mặt khó thương vì ngôn hành không hiệp nhất, khiến thế nhân không khẩu phục tâm phục, và sinh lòng ganh ghét tị hiềm. Một giáo hội biết tuân thủ sống theo lời giảng dạy của Đấng sáng lập, có các vị lãnh đạo và tín đồ giàu lòng vị tha bác ái, thì thiên hạ dễ có cảm tình và thích lại gần giáo hội đó. Vùng đất chung của mọi tôn giáo phải là “Yêu Thương”, và yếu tố đánh động và lôi cuốn thiên hạ có cảm tình với đạo, tìm đến với đạo, là chính lời nói và gương bày từ người có đạo.

11 Thánh Thomas Aquinô đã dạy: “Mọi điều chân thật do bất cứ ai nói ra, đều phát xuất từ Chúa Thánh Thần.” (Tổng Luận Thần Học I-II, q. 109).

12 “Lạy Trời, xin dạy cho con biết lắng nghe, để con tìm gặp Ngài trong sứ mệnh gieo nhân giữa lòng nhân lọai. A-men”

Ông Nguyễn Đông-Khê   Mùa Hè 2005

VỀ MỤC LỤC

 

CHIẾC ÁO BÀ BA

 Không ngờ mà chiếc áo bà ba dễ thương của miền Nam mình lại có gốc từ Cái Mơn, Vĩnh Long, quê của học giả Petrus Trương Vĩnh Ký và Thánh Phan  Văn Minh. Cả hai đều rất thông minh, được gửi đi du học tại Penang Mã Lai. Vì thế mà có sự liên hệ giữa Cái Mơn và Mã Lai. Chính mối liên hệ này đã đem cho Miệt Vườn nhiều loại cây ăn trái mới như sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, và một kiểu ăn mặc đã trở thành rất phổ thông là cái khăn rằn và chiếc áo bà ba.

 Sơn Nam trong cuốn Văn Minh Miệt Vườn đã cho biết chiếc áo bà ba cũng như chiếc khăn rằn thực ra phát xuất từ dân Bà Ba, là những người Mã Lai lai Tầu. Họ thường làm nghề lập rẫy mía nên mặc loại áo ngắn cho dễ làm việc. Dân Mã Lai ảnh hưởng văn minh Hồi giáo nên chiếc khăn rằn của họ cũng phát xuất từ vùng Trung Đông địa bàn của Hồi giáo. Thì ra chiếc khăn rằn ông Arafat quấn trên đầu không khác chiếc khăn rằn của mình bao nhiêu.

 Miền Nam là nơi giao lưu nhiều nếp văn hóa, ít câu nệ vào khuôn phép Nho Tàu, nhưng mở rộng đón nhận và  dung hóa nhiều nét đẹp khác nhau thành của mình, đúng như Sơn Nam nhận xét:

 "Miệt Vườn là nơi gặp gỡ nhiều luồng văn hóa, nhiều nếp sống khác nhau, nào Miên, Quảng Đông, Triều Châu và nếp sống mới do ngơừi Pháp du nhập. Người Miệt Vườn đã khéo dung hòa lẫn nhau mà sống, không tỏ ra quá khích, sao cho nếp sống tôn giáo hoặc quan điểm chính trị của mình không làm hại trực tiếp đến quyền lợi của bà con lân cận." (Văn Minh Miệt Vườn, Nhà Xuất Bản Văn Hóa, trang 202)

Thánh Phan Văn Minh là một trong những người giữ vai trò quan trọng trong cuộc giao lưu này. Không lạ gì mà trong sân trường chủng viện Penang bên Mã Lai vẫn còn tượng thánh Phan Văn Minh. Người Công giáo Mã Lai cũng rất sùng mộ thánh Phan Văn Minh. Chuyện xẩy ra thực, là một hôm một linh mục người Việt đang đứng ở công trường Mê-du bên Nam Tư nơi vẫn được nói là có Đức Mẹ hiện ra, thì một người đàn bà người Mã Lai chạy tới hỏi xem có phải là người Việt không. Rồi bà ta sung sướng nói cho linh mục ấy biết rằng chính bà đã được phép lạ khỏi bệnh ung thư do cầu khấn với Thánh Phan Văn Minh đã từng du học bên Mã Lai.

THÁNH PHILIPPHÊ PHAN VĂN MINH.

Thánh Phan văn Minh sinh năm 1815 tại Cái Mơn tỉnh Vĩnh Long, con Ông Đaminh Phan văn Đức và Bà Anna Tiếu. ông Bà Đức làm trùm họ và có tất cả 14 người con. Phan văn Minh là con thứ 12. Cha mẹ chết sớm nên cậu Minh phải ở với chị cả. Năm 13 tuổi cậu được Đức Cha Taberd gửi vào chủng viện Lái Thiêu. Rồi khi lên Đại Chủng Viện thì được gửi sang Penang là chủng viện của vùng Đông Nam Á thời đó. Thầy về nước và chịu chức linh mục tại Huế năm 1846 lúc 31 tuổi. Ngài là một linh mục thông minh. Tên tuổi Ngài gắn liền với cuốn tự điển Việt-Latinh cùng với Đức Cha Taberd.

Trong thời kỳ bắt đạo, Đức Cha phải trốn ẩn nên đã ủy thác cho cha Minh được quyền ban phép thêm sức. Ngài đã phải vất vả đi nhiều họ đạo giúp giáo dân thêm mạnh mẽ trong đức tin. Cha Minh có lòng sùng kính Đức Mẹ cách đặc biệt, và luôn cổ võ ơn gọi đi tu tiếp nối công việc tông đồ của Chúa. Cha nuôi con thiêng liêng cho đi tu và khuyên phải siêng năng cầu nguyện cùng Đức Mẹ và ra sức luyện tập các nhân đức hầu đáng được Chúa gọi: "Hãy siên gnăng cầu nguyện cùng Đức Mẹ và ra sức luyện tập các nhân đức hầu Chúa gọi nối tiếp công việc của cha."

Năm 1852 khi Cha Lựu đang bị lùng bắt tại Mặc Bắc thì Cha Minh được sai đến thay thế. Quan quân vây bắt Cha Lựu không được thì bắt luôn cha Minh. Họ đã điều tra để bắt thêm người, nhưng Cha Minh đã trả lời rất khôn ngoan để khỏi làm liên lụy ai. Trong tù, Cha bị tra tấn đánh đập, nhưng nhất quyết không bước qua thánh giá. Nên cuối cùng Cha đã bị án xử chém và vất đầu xuống sông cho dân chúng sợ.

NGƯỜI CON CỦA ĐỨC MẸ

Ngày 3.7.1853 Cha Minh bị điệu ra pháp trường, mặc áo dài và cầm tràng hạt trong tay vừa đi vừa làn chuỗi. Cha xin được nửa giờ cầu nguyện, rồi trối lại cỗ tràng hạt cho ông Phương đang theo giúp Cha. Ngài cầu nguyện lớn tiếng: ”Lạy Mẹ, xin cầu cho con trong giờ lâm chung nguy hiểm này. Lạy Chúa xin thương đến con cùng. Xin Chúa ban cho con mạnh sức chịu cho sáng danh Chúa”.

Vị chủ chiên trước khi lìa đoàn chiên đã không trối lại kho vàng kho bạc nào, cũng không cấp bằng ân thưởng chi cả, mà trao lại chính người Mẹ đã cả đời yêu thương săn sóc. Cũng như Chúa Giêsu lúc trước khi tắt thở trên Thánh Giá đã trao cho môn đệ Gioan: ”Này là Mẹ của con”, Ngài đã trối lại cho con chiên báu vật ngài quí trọng trên đời là tràng chuỗi Mân Côi, là 15 bí quyết của người Mẹ đã bước đi trên cuộc hành trình đức tin qua 15 chặng để đạt nguồn sung mãn đầy ơn phúc của Chúa. Đó là bản tóm lược Kinh Thánh để sống Lời Chúa, sống 15 truyện tiêu biểu của Phúc Âm, cũng chính là 15 truyện tiêu biểu diễn tả 15 bước của cuộc hành trình đời sống của mỗi người.

Đáng lẽ theo bản án thì đầu cha phải bị vất xuống sông, nhưng sau  khi chém xong, ông Phương đã xin chuộc đầu Cha khâu lại với xác và rước về táng tại Cái Mơn trong nền nhà thờ cũ. Chúa đã cho vị tử đạo làm nhiều dấu lạ là những đồ vật liên quan đến Ngài bỗng dưng tỏa sáng.

Cha Thánh Minh tử đạo lúc 38 tuổi, là vị tiên khởi tử đạo xuất thân từ chủng viện Penang. Tại sân trường và trong nhà nguyện vẫn còn tượng Ngài.

 1. HỌC HỎI

- Lòng sùng kính Đức Mẹ của cha thánh Minh đã tỏ lộ bằng chuyện gì?

- Cha Thánh Minh đã có ý trối lại gì cho giáo dân khi trao cho ông trùm Phương cỗ tràng hạt?

2. THỰC HÀNH

- Hãy hình dung bạn đang được cha thánh Minh trao cho cỗ tràng hạt của Ngài với lời trối: ”Này là mẹ của con”. Và từ nay, mỗi khi lần chuỗi, bạn hãy mang tâm tình đang nhận Mẹ Maria là mẹ thật của mình.

 Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường      www.dunglac.net

VỀ MỤC LỤC

 

NHNG ƯC MƠ V MT X ĐO NGÀY NAY.

Tầm quan trọng của cộng đoàn giáo xứ

Nơi sinh hoạt cụ thể hằng ngày của một tín hữu trong mọi giao tế và phụng vụ, mục vụ, thậm chí hoạt động xã hội với cộng đoàn Dân Chúa cơ bản đều diễn ra trong giáo xứ. Tinh thần Tin Mừng cơ bản thể hiện ở nỗ lực nhập thể dấn thân khiêm tốn trong các hoạt động đối với nhau (cha xứ, Hội Đồng Mục Vụ và các thành viên giáo xứ) và đối với người ngoài đạo mà mình tiếp xúc.

Nhân cách được trui rèn huấn luyện trong quá trình công tác trong áp dụng niềm tin bằng hành động: chúng ta mạnh dạn hơn, tự tin hơn, có kỹ năng sinh hoạt và tổ chức tập thể, biết cách giáo tế, ứng xử trưởng thành hơn và nhất là biết sở đoản sở trường của nhau khi làm việc chung hợp tác với nhau, tin cậy cầu nguyện nhiều hơn, nhạy cảm với mọi hình thức đòi hỏi của đức bác ái theo tinh thần của Thư Thánh Phaolô nói về đặc điểm của đức ái được cảm h1óa bởi Tin Mừng. Chúng ta có những bạn bè mới và học hỏi được nhiều điều hay, giúp nhau tiến lên và bỏ bớt những nết xấu của chúng ta.

Tinh thần sống đạo khởi đầu từ cộng đồng xứ đạo và tác động đến cá nhân, gia đình, xã hội một cách hỗ tương. Tốt nhất là tạo điểu kiện cho ai cũng có thể gánh vác trách nhiệm trong HĐMV, hay càng nhiều người càng tốt thay phiên nhau mà làm việc.  Có như thế, chúng ta mới trưởng thành trong mọi việc và cảm thông những khó khăn trong trách nhiệm ở HĐMV. Không phải ra khỏi giáo xứ mới thể hiện đạo đức trong phạm vi đoàn thể, qua các cuộc hành hương, sinh hoạt liên giáo xứ, liên đoàn thể, hay ra khỏi nước với sinh hoạt hằng ngày.

Không nên có mặc cảm hay cố gắng dẹp bỏ mặc cảm tự tôn hay tự ti, chúng ta mới hoc hỏi được ở nhau thực sự, ở người khác rất nhiều điều. Tự cao tự đại, tự ti khiêm tốn giả tạo, không tự xét mình một cách tinh vi và đa diện, nghiêm túc, trong các quan hệ với chính mình, với tha nhân và với Chúa, đều có hại cho sự phát triển lành mạnh của nhân cách. Mình có thế nào, minh cố sống như thể, không thể sống hai mặt trong sinh hoạt lành mạnh được.

Nguy hiểm nhất là chính Linh mục chính xứ lôi kéo (có thể gây chia rẽ và dị ứng đối với người khác, nhât là những người tích cực) và chỉ làm việc với một số ít người nào dễ bảo, dễ sai khiến, kiểu gọi dạ bảo vâng tối mặt, và lúc nào cũng đồng hóa Linh Mục với Chúa một cách dễ dãi (Cha là đại diện của Chúa, nên không bao giờ sai lầm! Lúc nào cũng xoắn xuýt cha cha con con, và bài giảng nào cha giảng cũng hay, việc gì cha làm cũng hay!…) Nhưng thường những người đó lại có nhận thức hạn chế trong việc đánh giá sự việc, con người và trách nhiệm bổn phận của mình, trong hiểu biết sâu xa về giáo lý, tuy có thể rất có nhiệt tình. Thấy khó khăn trong sinh hoạt mục vụ, thì dễ chụp mũ cho người khác trong cộng đoàn là phá rối, kết bè đảng, thậm chí CS! Nhưng không phân tích các nguyên nhân và cách thức giải quyết bằng lòng tin cậy mến và tâm tình cầu nguyện kết hợp với Chúa làm nguồn cậy trông và phù giúp!

Từ hiện trạng của cộng đoàn cụ thể

1/ Tôi ở Mỹ đã được gần hai năm. Tôi sống trong một xứ đạo cụ thể và tham dự chia sẻ chan hòa với mọi người sinh hoạt đa dạng của công đồng giáo xứ. Không thể nói đến một giáo xứ chung chung mà không có một hình ảnh giáo xứ cụ thể, dù có thể có ngộ nhận, hay đụng chạm cách nào đó với những người trong cuộc (cha xứ và anh chị em đồng đạo, đồng xứ). Đã qua đi những tình cảm ấn tương ban đầu như một cô dâu mới về nhà chồng. Thấy cái gì cũng đẹp, cũng hay… cũng khen. Tất cả là màu hồng! Cô dâu ấy về nhà chồng không phải chỉ làm dâu một bố mẹ chồng nhưng làm dâu cha xứ, và cả cộng đoàn cả trăm họ, bá nhân bá tính, người có học thức nhiều học thức ít, trình độ sống đạo và hiểu đạo khác nhau, .... Nhân số của Giáo xứ tôi chỉ khoảng chung quanh con số 300 người. Lịch sinh hoạt chính yếu của cộng đoàn chúng tôi diễn ra theo chu kỳ phụng vụ phối hợp với chu kỳ các biến cố của văn hóa truyền thống quê hương và nước Mỹ nơi chúng tôi sinh sống:

Ngày Tết Dương lịch truyền thống phương Tây

Ngày Tết Âm Lịch truyền thống Việt Nam

Ngày Lễ Phục Sinh

Ngày Lễ Thánh Tâm Đức Giêsu, Quan Thầy Giáo Xứ

Ngày Quốc Lễ 4/7/2005 của Hoa Kỳ

Cuộc Picnic chung hằng năm của cộng đoàn vào mùa hè

Ngày Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam vào tháng 11 mỗi năm

Ngày Thanksgiving Day

Ngày Lễ Giáng Sinh

Cuộc cung nghinh Đức Mẹ vào đầu tháng Tám mỗi năm ở Carthage MO.

Vài nét lịch sử của cộng đoàn Việt Nam tôi sống

Cộng đoàn Công giáo Việt Nam chúng tôi mới trải nghiệm một lịch sử rất ngắn. \Không kể đời các linh mục người Mỹ đi trước, từ thế kỷ 19,  từ khi hình thành cộng đoàn Việt Nam, có tất cả ba linh mục Việt Nam, từ khoảng 1997 đến nay:

Một linh mục, gốc giáo phận Thanh Hóa, gia nhập GP Đà Lạt, nay quản nhiệm Giáo Xứ Việt Nam ở Cincinnati

Một linh mục, gốc giáo phận Bùi Chu, sang Mỹ coi một số giáo xứ trước khi đến đây chỉ phục vụ khoảng ba tháng trong Giáo xứ này, rồi thôi vì lý do sức khỏe

Một Linh Mục, gốc GP Bắc Ninh, gia nhập Tu Hội Tận Hiến, phục vụ tại giáo xứ này từ ba năm nay.

Cơ cấu hiện nay của cộng đoàn

Linh Mục Quản Nhiệm

Hội đồng Mục Vụ (có phân công các chức vụ, nhưng chưa rõ trách nhiệm cũa mỗi người trong thực tế, chưa có nội quy ổn định)

Ban Phụng Vụ (chỉ có một người ?)

Ban Thừa Tác Viên Thánh Thể (9 gnười)

Ban Lễ Sinh (6 em nam nữ)

Ban Giáo Lý (có “giáo lý viên” phụ trách, nhưng chưa được huấn luyện)

Ca Đoàn (Ca trưởng, ca đoàn trưởng, các ca viên và nhạc cụ viên)

Đoàn Thể Legio Mariae (chỉ cầu nguyện, không có công tác và báo cáo công tác định kỳ theo tinh thần Legio)

Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể (đang xây dựng)

Ban Ẩm Thực

Những ước mơ về một cộng đoàn lý tưởng

Cơ sở vất chất của cộng đoàn:

Một ngôi nhà thờ cổ kính, khang trang và đầy đủ phương tiện (nhà xứ và các phòng phụ thuộc, hai lầu làm phòng áo thánh, phòng cha xứ, nhà đề xe, sân đâu xe nhỏ, tầng hầm nhà thờ làm phòng sinh hoạt đa năng, có hệ thống máy lạnh, máy điện, bãi đất xây dựng tượng đài Đức Mẹ Fatima ở phía phải bên ngoài nhà thờ, khi đi vào cửa chính trước nhà thờ. Nhà xứ hư hại hiện không xử dụng được.

Cộng đoàn đang ở đâu

Mỗi người đều rất bận rộn với trách nhiệm cụ thể hằng ngày để theo đuổi công việc chính thức ở sở làm, ở tiệm buôn, tiệm nails của khá nhiều người đang ở tuối phải lao động, lo nuôi sống gia đình, trả tiền học cho con cái, tiền bill cụ thề về điện nước, và các công cuộc chăm sóc cho nơi cư trú, tiền cho con cái ăn học. Tôi không có điều kiện thực hiện một khảo sát xã hội học để nắm rõ tình hình chung của cộng đoàn về nhiều mặt như trình độc hiểu đạo và sống đạo, học vấn, nghề nghiệp, thu nhập trung bình, thuận lợi và bất thuận lợi, hoàn cảnh gia đình quan hệ xã hội, …) , không phải để tò mò nhưng biết để phục vụ và cảm thông và yêu mến lẫn nhau một cách có cơ sở, có nhận thức.

Cộng đoàn hiện có những người cao niên đang làm việc hay đã yếu đuối đến tuổi về hưu, trong đó có những người hưởng đầy đủ các tiêu chuẩn hưu dưỡng hay an sinh xã hội, có những người đang chờ để có an sinh xã hội, có nhiều người Việt không Công giáo trong vùng nhưng chưa nắm rõ địa chỉ, hay có vẻ chưa có nhiệt tâm tìm kiếm và quan hệ đối với con người cụ thể đó trong ý thức truyền giáo. Cũng chưa giao phó cho một đoàn thể nào phụ trách làm trách nhiệm truyền giáo với những con người đó.

Cộng đoàn mới chỉ tổ chức đoàn thể cho ba giới: Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể, mới và đang được xây dựng. Legio Mariae, cho những người thường là cao niên, chỉ qui tụ để đọc kinh, nhưng chưa có điều kiện hay chưa đủ quyết tâm, khi có thể được, làm công tác đi thăm viếng các gia đình. Đó là hoạt động có ý nghĩa chính yếu của Legio, làm công tác thăm viếng cụ thể tại các gia đình và cá nhân, cùng cần báo cáo lại để chia sẻ không phải là chiếu lệ và khoe khoang, nhưng nhằm khuyến khích trong tình hiệp thông, khiêm tốn và bác ái cho mọi người thành viên học hỏi.

Cộng đoàn đang có lớp giáo lý cho các thiếu nhi và có thể chưa tổ chức qui tụ và chia hết các thiếu nhi đến độ tuổi học gíáo lý cơ bản để phân loại sắp lớp phù hợp theo các tiêu chuẩn hợp tình hợp lý. Nhưng chưa có những chương trình bối dưỡng nâng cao cho chính các giáo lý viên. Nhiêm vụ của giáo lý viên không phải chỉ là có kiến thức ở trình độ như hồi nhỏ đi học giáo lý, nhưng cần cập nhật hóa về tư cách sống thực hành giáo lý cho chính mình và trau giồi kiến thức giáo lý hiện nay trong bối cảnh xã hội. Chưa có nỗ lực tổ chức giáo lý cho những người thuộc các lứa tuổi khác nhau theo giới và trình độ. Giáo dân chỉ được học hiểu giáo lý tối thiểu qua hình thức giảng huấn trong nhà thờ thường vào ngày chủ nhật, dựa trên bài Tin Mừng hôm đó theo chu kỳ năm phụng vụ.

Cộng đoàn đã tụ tập và tổ chức một số bạn trẻ ở lứa tuổi thanh niên để ca hát ngợi khen, cảm tạ Chúa và Đức Mẹ, các Thánh, làm thành ca đoàn trong các buổi lễ phụng vụ hay phục vụ một số sinh hoạt văn hóa xã hội khác. Tổ chức ca đoàn tương đối chặt chẽ và có tinh thần dấn thân, có kỷ luật.

Chúng ta có một số người gia nhập đạo, nhưng không phải chủ yếu do nỗ lực truyền giáo mà qua đường hôn nhân. Tuy có dây giáo lý cho nhưng người này, nhưng chưa có` một giáo trình cụ thể mẫu mực dù là tạm thời để các giáo lý viên căn cứ vào đó mà linh động giúp đỡ cho mỗi người học giáo lý cụ thể.

Như thế, những bộ phận chính đáp ứng cho nhu cầu phụng vụ là đã có, nhưng các tổ chức cơ bản giúp đi vào chiều sâu của đời sống đạo và các mặt sinh hoạt khác chưa xúc tiến, vì cộng đoàn còn quá mới mẻ.

Chúng ta mong tiến đến đâu

Cộng đoàn Việt Nam này, qua vận động tích cực của mọi người trong cộng đoàn, được TGP Cincinnati trao cho quản lý toàn thể nhà thờ này. Đây là một Nhà Thờ thuộc loại cổ, bị bỏ hoang nhiều năm, có dự định dùng làm cơ sở cho Hội Bác Ái Vinh Sơn của Mỹ dùng làm nơi trú ngụ cho những người vô gia cư. Đây là một điểm son trong hoạt động tích cực của công đoàn, nhât là nếu đem so sánh với các cộng đoàn anh em khác gốc châu Á, Thái Bình Dương hay châu Mỹ Latinh, châu Phi, như Hoa, Hàn, Phi, Ấn, Nhật, hay Mễ, …

Sau thời gian ba năm nhận trách nhiệm, Linh Mục quản nhiệm hiện nay đã có nhiều cố gắng động viên HĐMV và mọi thành viên cộng đoàn giáo xứ lo cải thiện tu bổ ngôi nhà thờ này. Tu bổ một cách có tiết kiệm là công việc thường xuyên phải làm. Nhưng bây giờ là thời điểm tương đối ổn định về cơ sở vật chất, thuận lợi để xúc tiến tổ chức các sinh hoạt mục vụ của cộng đoàn đi vào chiều sâu, với các chương trình về giáo lý, và văn hóa giáo dục, như lớp tiếng Việt, lớp ca nhạc, sách báo, truyền hình, phòng truyền thống, … Nên củng cố các tổ chức đoàn thể một cách có trách nhiệm về cơ cấu và chương trình sinh hoạtđa dạng, như tổ chức hội thảo về các loại đề tài cho mỗi giới trong cộng đoàn, hợp tác huynh đệ với các cộng đoàn khác.

Nếu các thế hệ của một cộng đoàn không có đời sống tinh thần hiểu đạo và sống đạo dựa trên hiểu biết và thực hành giáo lý, qua các lớp học duy trì kiến thức tiếng Việt và văn hóa Việt Nam, qua lớp giáo lý do cộng đoàn phụ trách, song hành với phát triển sinh hoạt và văn hóa xã hội Mỹ, qua các đoàn thể Công Giáo Tiến Hành có hiệu quả và năng động, thì cộng đoàn giáo xứ và ngôi nhà thờ vật chất rồi ra sẽ tan rã, như linh mục phụ trách Tu Hội Tận Hiến đã từng nói với cộng đoàn. Ngài nhấn mạnh đến việc học hỏi sâu xa và thực hành rộng rãi giáo lý, mà ưu tiên cho các lớp trẻ.

Mở rộng quan hệ với người Việt ở các đoàn thể Công Giáo và không công giáo, hoạt động truyền giáo bằng cách kiên trì đến thăm các gia đình người Việt Công giáo có hoàn cảnh đặc biệt, các người Việt không Công giáo, tạo điều kiện gây tình thân ái như cơ hội giới thiệu Công giáo, mời họ tham dự các sinh hoạt cộng đoàn, nhất là những ngày truyền thống Giáng Sinh và Tết Nguyên Đán của cộng đoàn. Ước chi mỗi chúng ta ý thức vấn đề truyền giáo bằng các giới thiệu cụ thể Công giáo cho một người bạn gia nhập cộng đoàn.

Nhưng chính cộng đoàn phải thể hiện đầy đủ mọi chiều kích đoàn kết trong nội bộ. Điều cần nhất cộng đoàn giáo xứ phải là một cộng đoàn bác ái, hợp tác, biết lằng nghe nhau, tha thứ cho những khuyết nhược điểm của nhau, nhịp nhàng hết lòng vì sự nghiệp chung nhất và tương lai giữa LM quản nhiệm, HDMV và mọi thành viên trong cộng đoàn, động viên mọi ngưoời nêu các sáng kiến, ghi nhận chân thành, cứu xét kỹ lương một cách dân chủ, công hai các ý kiến, nhưng quyết định chỉ vì động lực chân lý và tôn chỉ Tin Mừng, không phải là ý riêng mình.

Mỗi người thành viên của HĐMV phải được biết rõ công việc của mình để thi hành. Không thể cặt đặt một thành viên của HĐMV mà người đó không được giao trách nhiệm, tức là biết thực sự mình phải làm việc gì và phối hợp với nhưng ai, hay bộ phận nào để có phương tiện thi hành. Cộng đoàn quan tâm theo dõi giúp đỡ mọi loại người: những người mới tới về các quyền lợi và bổn phận của mỗi người, giúp các người cao niên cần an sinh xã hội và y tế, các người trẻ cần học hành và công việc, người neo đơn bệnh tật, người khó khăn cần nâng đỡ, người bị loại khỏi đời sống xã hội, quả phụ cô nhi, người vô gia cư. Ta chỉ hết trách nhiệm công bình và bác ái, nếu ta thực sự giúp đỡ đến nơi đến chốn qua các cơ quan phụ trách về an sinh xã hội. Nên có cá nhân hay bộ phận chuyên về dịch vụ giải quyết những vấn đề phát sinh cấp bách và đột xuất của cộng đoàn.

HĐMV nên trao đổi để nhận thức và nâng cao nhận thức về trách nhiệm và kỹ năng tổ chức, lãnh đạo công việc và sinh hoạt không định kỳ qua một cuộc đi chơi thăm viếng không phải công tác, nhưng để giúp cảm thông và hiểu tính tình của nhau. Không mặc cảm khi cần giúp đỡ và học hỏi lẫn nhau hay có người giàu khả năng và kiến thức và đức độ tư cách hơn mình. Như thế, ngoài phiên họp công tác, cần có nhưng hình thức học hỏi, như  hội thảo với nhau về trách nhiệm của mỗi thành viên trong HDMV, kể cả cha quan nhiệm của cộng đoàn, giao lưu học hỏi kinh nghiệm với các cộng đoàn giáo xứ khác khi cô tạo điều kiện

Cha xứ nên thông báo trao đổi văn thư của cộng đoàn với các bộ phận bên ngoài giáo xứ cho HDMV hay cộng đoàn để bàn bạc và quyết định trong việc điều hành cộng đoàn, trong những nội dung có lien quan đến sinh hoạt cộng đoàn.

Biên bản cần ghi chép rõ ràng và đầy đủ đễ đễ theo dõi, giúp đỡ và đôn đốc xúc tiến các quyết đinh theo thời gian và điều kiện cụ thể. Nhiệm vụ của đức bác ái Công Giáo là phục vụ lanh lẹ, sẵn sàng, chịu đưng, vui tười, tha thứ nhân ái, tiết độ chứ không nệ vào quyền bính. Mỗi bộ phận của cộng đoàn và các chức vụ phải được biết rõ trách nhiệm và quyền hạn của mình và hăng năm hay định kỳ báo cáo về công tác được giao phó và thi hành trong diều kiện của mình. Hiện nay sinh hoạt của cộng đoàn có các đoàn thể.

Những trở ngại

Cộng đoàn ít người, nhưng rất cần vị lãnh đạo năng động. Vấn đề không hẳn là ít người như vậy mà không làm gì được. Có người lại nhìn thấy số người này có thể là con số lý tưởng, vì dễ tổ chức, đễ cho mọi người hiểu biết và giúp đỡ bảo ban lẫn nhau, hiệp thông với nhau, kết thân với nhau. Mỗi gia đình và mỗi người cố gắng kết thân với nhau, lôi kéo giới thiệu thêm người đến cộng đoàn, nhưng mỗi thành viên chỉ có thể tích cực khi chính các tổ chức của cộng đoàn và tinh thần tích cực được kiện toàn, tuy mỗi người vẫn có ưu khuyết nhược điểm của mình. Chúng ta tôn trọng tự do cá nhân nhưng không thể không tiếp xúc và giới thiệu cộng đoàn với họ, vì trách nhiệm bác ái và truyền giáo.

Ít người thì it đóng góp về các phương tiện nhân sự, tài chính, các phương tiện vật chất khác cho nhà thờ, và do đó thiếu phương tiện làm việc. Nhưng kinh nghiệm là khỏi đầu chúng ta chỉ qui tụ được ba, bốn rồi 23 gia đình và con số gia đình và người mới ngày càng gia tăng.

Ai cũng bận đi làm, làm giờ chính, làm giờ phụ, giờ giải trí để tái tạo sức lao để trang trải nhưng chi phí cho gia đình, cho thân nhân ở Việt Nam, giờ sinh hoạt còn lại cho sinh hoạt tôn giáo và xã hội.

Đúng thế nhưng chúng ta phải kiên trì xây dựng và gây nhận thức để chấp nhận hy sinh nhiều hơn. Nhưng đừng quan niệm giữ đạo là phải tách biệt cuộc sống bình thương với tinh thần Kitô trong mỗi hoàn cảnh cụ thể và lúc nào cũng phải đến nhà thờ mới được. Chúng ta làm mọi việc nếu cí tinh thần Kitô, thì chúng ta có nhà thờ trong lòng chúng ta rồi! Chuyển biến ở trong một con người phát sinh từ nhận thức, và nhất là làm những công việc giải trí có ý nghĩa và không bao giờ quá lạm dụng, như thức khuya quá, mải mê một công việc gì quá, có thể làm mất sức khỏe để làm việc khác.

Chúng ta dễ lấy cớ nghỉ ngơi để tái tạo sức lao động, nên không có nhiều thời giờ cho sinh hoạt cộng đoàn, nhưng chúng ta lại xả láng trong những chuyến Poker hay nhảy dầm, hay tham dự vào một cuộc chơi văn nghệ thâu đêm suốt sáng. Chính vì thế nhiều người uể oải khi phải miễn cưỡng “thí bỏ” một chút thời giờ cho cộng đoàn cho sinh hoạt đạo đức, nhân danh tự do theo kiểu Mỹ. Tự do cá nhân quá trớn sẽ dẫn chúng ta đến những hành động hủy hoại chính chúng ta. Cũng như biện minh cho privacy để yên ổn làm những việc trái lương tâm và luân thường đạo lý để khỏi bị ai trông thấy hay biết đến.

Ít người thì không thể gánh vác nhều việc đến nơi đến chốn, vì quá tải mà sức con người thì có hạn. Điều đó cũng đúng, nhưng tất cả ở tinh thần dấn thân của một Kitôhữu muôn thật tình sống đạo.

Chúng ta làm thế nào

Đây là vấn đề thách thức chúng ta về tính bền bỉ kiên trì, và sáng kiến của mỗi người trong cộng đoàn. Một vị cao niên đã nhắc lại với tôi cách làm việc người Mỹ: “Một cái đầu vẫn không hay bằng nhiều cái đầu biết nhận thức và làm việc chung với nhau theo một đường lối thích hợp”. Chúng ta cần một cái đầu lãnh đạo năng động cho cộng đoàn, biết xả thân vì cộng đoàn, vì mọi người. Hễ đã vì mọi người thật tình thì mọi người sẽ lo cho mình. Phục vụ mà không câu nệ quyền bính và địa vị, quên mình, chan hòa với mọi người thật tình trong mọi việc, mọi biến cố, đó là phục vụ thật theo tinh thần Tin Mừng.

Vị lãnh đạo một cộng đoàn càng thông minh, càng dấn thân càng tốt. Nhưng tối thiểu vị đó phải cố ý thức mình là mục tử là người hầu hạ mọi người mà không đòi hỏi cho mình, một cách khiêm tốn thật trong lòng, không kiêu sa mỉa mai, tự ti hay ghen tương, phân bì, về khả năng và đức tính và sự thánh thiện của mình hay của người khác. Hình thức ghen tương bì tị thể hiện trong những phê phán toạ rập khi có cơ hội về bất cứ ai sau lưng người ấy về những ý đồ người ấy không có, mà người ấy không có cơ hội nói rõ lập trường của mình. Sống đơn sơ, chân thành với mọi người, bằng khả năng và đức tính cùng những ưu khuyết nhược điểm tự nhiên Chúa ban cho mình với ơn của Chúa và sự cộng tác đáp trả ơn thánh. Không chỉ chú trọng tới một số người, dù người đó là ở trong HĐMV, nhưng ứng xử tế nhị thích đáng với mỗi con người cụ thể trong mỗi cơ hội giao tiếp.

HĐMV nên có cơ chế thường xuyên nắm bắt ý kiến xây dựng của cộng đoàn, quyết tạm đặt ra một lịch thi hành các dự án trong thời hạn hợp lý, nên soạn thảo quy chế rõ ràng và phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của cộng đoàn họ đạo cho từng giai đoạn phát triển của cộng đoàn. Sống trong xã hội dân chủ chúng ta nên vận dụng cách quản nhiệm cộng đoàn kết hợp với cha Quản Nhiệm trong tinh thần tôn trọng nguyên tắc quản trị và tinh thần Tin Mừng hiệp thông với giáo hội ở cấp Trung Ương, và địa phương mình tùy thuộc. Chúng ta trung thành với Tin Mừng Kitô rồi thì tôi nghĩ chúng ta có thể được thực hiện mọi điều trong tinh thần dân chủ, nhưng luôn hiệp thông với Giáo Hội

Tôi viết lên tất cả những điều này trong tinh thần thiện chí, xây dựng, lắng nghe, và đối thoại, và sẵn sàng trao đổi với mọi người có thiện chí. Xin tha thứ nếu ai cảm thấy mình bị xúc phạm bất kỳ bằng cách nào.

Gs. Đỗ Hữu Nghiêm  Dayton, OH, 16/8/2005.3. ĐHN

VỀ MỤC LỤC

 

HÃY SỐNG THÁNH THIỆN

Sống Yêu Thương (Ga 15,12-13)

 

1-     Sống thánh thiện là luôn tha thứ và xin lỗi khi sai sót.

2-     Sống thánh thiện là không nghĩ xấu, nói hành bất cứ ai.

3-     Sống thánh thiện là không giận dữ, oán hờn ai mà bỏ cuộc.

4-     Sống thánh thiện là không lười biếng, bê tha tứ đổ tường.

5-     Sống thánh thiện là không cằn nhằn, khó tính, kêu ca.

6-     Sống thánh thiện là không ba hoa, kiêu ngạo, khinh người.

7-     Sống thánh thiện là không gian tham bất kỳ của ai.

8-     Sống thánh thiện là không nặng đầu óc ích kỷ, cá nhân.

9-     Sống thánh thiện là không phân biệt ghen ghét, ganh tỵ.

10- Sống thánh thiện là không ngồi lê, la cà, mach lẻo.

11- Sống thánh thiện là không yêu sách, chi ly, biển lận.

12- Sống thánh thiện là không kỳ thị, giai cấp, khép kín.

13- Sống thánh thiện là không khinh chê người nghèo khổ.

14- Sống thánh thiện là không cư xử thiên vị, bất công.

15- Sống thánh thiện là không bày đặt, bịa chuyện vu oan.

16- Sống thánh thiện là không thề gian, phách lối, chê bai.

17- Sống thánh thiện là không nghe nói xấu, nói gian.

18- Sống thánh thiện là nét mặt luôn tươi cười, vui vẻ.

19- Sống thánh thiện là ân cần, quan tâm, để ý đến mọi người.

20- Sống thánh thiện là bỏ quên giận trước khi đi ngủ.

21- Sống thánh thiện là luôn hòa thuận, phục vụ tha nhân.

22- Sống thánh thiện là giúp người lâm nạn, bệnh tật, tù đày.

23- Sống thánh thiện là tòan bổn phận, âm thầm hy sinh.

24- Sống thánh thiện là tham gia làm việc thiện nguyện .

25- Sống thánh thiện là giản dị, hiền hòa, khiêm hạ, nết na.

 

 

 

SỐNG, CHẾT THEO ĐẠO LÀM NGƯỜI

---@@@@---

 

 

1-      Sống mà dục vọng tính cuồng si,

2-      Sống tham, gian ác vô nhân đạo,

3-      Sống chẳng lương tâm mãi lỗi nghì.

4-      Sống không biết thương người trên dưới,

5-      Sống không hổ thẹn, sống làm chi?

6-      Sống không thương nước, yêu nòi giống,

7-      Sống vậy chẳng ra lợi ích gì !

8-      Sồng biết tu tâm sửa tính lành,

9-      Sống dồi đức hạnh được cao thanh,

10-  Sống lo tích phúc, bòn công đức.

11-  Sống mãi chánh chân mãi thật hành,

12-  Sống biết thương người, yêu vạn vật.

13-  Sống không tham lợi với đua danh,

14-  Sống thương đất nước,yêu nòi giống,

15-  Sống Thiện, Mỹ, Chân, sống trọn lành.

 

1-     Chết mất đi rồi tiếng vẫn nhơ.

2-     Chết không ai nhắc chẳng tôn thờ.

3-     Chết vì độc ác vô nhân đạo,

4-     Chết bởi tạo vay số bất ngờ.

5-     Chết chẳng ai thương vì tội lỗi,

6-     Chết nhiều người ghét bởi danh nhơ.

7-     Chết mà như vậy cần nên chết.

8-     Chết chẳng chút chi ích lợi đời.

9-     Chết vì Tổ quốc với non sông,

10- Chết tiếng danh thơm cả tổ tông.

11- Chết bởi hiếu trung tròn đạo nghiã.

12- Chết nêu thanh sử giống Tiên Rồng,

13- Chết không hổ thẹn vì nhân đạo.

14- Chết cứu giống nòi khỏi diệt vọng,

15- Chết để thanh danh còn lưu mãi,

16- Chết sao thiên hạ mãi ghi lòng.

 

Sưu Tầm Định  24-04-2005

VỀ MỤC LỤC

 

Mệt mỏi chán chường

 

Hình như khuôn mặt tôi trông có vẻ khờ khờ, thành thật, không đến nỗi gian ác cho lắm, tôi lại có ''đức tính" chịu khó nghe người khác nói, nên hay được bạn bè, người quen chọn để tâm sự, để nói cho với đi những dằn vặt, bực tức, khó chịu trong lòng. Thường sau những giờ im lặng ngồi nghe như thế,tôi chỉ nói với bạn: ''Anh (Chị) có thể ân hận, bất mãn, bực tức, buồn bã, ngay cả giận dữ nữa. Nhưng Anh (Chị) cố đừng để mình rơi vào tình trạng mệt mỏi, chán chường. Khi đã mệt mỏi, chán chường rồi, người ta hết còn muốn thay đổi, muốn vươn lên nữa".

Vậy mà lúc này chính tôi đang cảm thấy hết sức mệt mỏi, chán chường. Trạng thái này khiến tôi rã rời, muốn buông xuôi tất cả, mặc cho cuộc đời cuốn trôi mình đến đâu cũng được.

Mọi khi, mỗi lần cảm thấy trong người không vui, lười lĩnh không muốn làm việc, hay là bực dọc, bất mãn điều gì tôi thường bỏ chỗ làm, tìm đến một công viên vắng người, trong đó có cây cối, chim chóc, có hồ nước và những thảm cỏ mênh mông. Tôi vào đó, có thể cả ngày, nằm nghe tiếng chuyện trò của cây cối, tiếng chim ca hót, tiếng gió rì rào, tiếng hồ nước thầm thì với chính lòng nước. Tôi cũng chơi với nắng. Nắng có khi núp trong bụi cây, kẽ lá, cũng có khi chan hòa khắp cánh đồng cỏ. Nắng choàng lên tôi như một tấm chăn nhẹ mà ấm; có khi qua những tàn cây, nắng thêu hoa trên thân thể tôi. Vài giờ hay một ngày êm đềm như thế trôi đi, cơn bực dọc, điều bất mãn của tôi tan biến, tôi trở về với mái ấm gia đình, với chỗ làm việc, vui tươi, yêu đời như một con người hoàn toàn mới. Lần này, tôi mệt mỏi chán chường đến độ không muốn cả chuyện tìm niềm vui trong sáng ngoài công viên như đã thường làm.

Có lẽ những cái tang gần đây trong gia đình, những công việc và trách nhiệm một lúc ùa đến bao vây, những hiểu lầm to lớn từ người khác về tôi bất ngờ xảy ra, những lo lắng về cuộc sống tương lai của gia đình... khiến tôi rơi vào trạng thái này. Khi người anh cả mà tôi rất quí mến qua đời, tôi đã đứng thinh lặng trước quan tài còn mở nắp, nhìn anh nằm bình yên thanh thản bên trong. Tâm trạng thực của tôi lúc đó là mong muốn cũng được nằm xuống, bình yên thanh thản như anh, mãi mãi, không còn phải ngồi dậy, không còn phải sống nữa. Chính giây phút đó tôi khám phá ra rằng mình đã rơi vào tình trạng mệt mỏi, chán chường.

Trong trạng thái này, tôi đâm ra buồn bực với người khác và với chính tôi. Tôi buồn bực người khác vì có cảm tưởng mọi người xem tôi như cái... thùng rác. Khi trong lòng họ có cái gì không vui, cái gì muốn tống khứ đi cho rộng chỗ, cái gì không đẹp muốn loại bỏ, họ kiếm tôi và vất cho tôi tất cả. Và họ ra về, vui vẻ, thoải mái vì đã trút bỏ được gánh nặng. Tôi không còn nghĩ được rằng khi bạn đến với mình, tâm sự với mình là bạn đã tin tưởng mình, đã tín cẩn trao tặng mình một phần đời của bạn, cái phần sâu kín bạn vốn cất giữ như một kho tàng riêng tư. Bạn chia cho tôi kho tàng ấy, là vì bạn nghĩ rằng, và tin rằng tôi xứng đáng để được trao tặng và cất giữ.

Tôi buồn bực với chính tôi, vì nghĩ rằng mình đã dại dột để tự nguyện làm... thùng rác. Nào có ai buộc được tôi, bắt được tôi làm cái chuyện tự nguyện này, ngoài chính tôi thôi. Sao tôi khờ thế, và... ngu thế. Làm thùng rác thì được lợi ích gì cho mình, có chặng chỉ là sự nặng lòng và càng cảm thấy chua chát vì những cái xấu của cuộc đời! Tôi không còn nghĩ được rằng khi tự nguyện nghe người khác tâm sự là tôi tập sống quảng đại, đồng thời cũng đang học một tấm gương tin tường và phó thác; khi nghe người khác cởi mở cõi lòng của họ là tôi đang tập đón nhận trong yêu thương và kính trọng; khi nghe người khác giãi bày là tôi và người ấy đang thiết lập một mối liên hệ đầy tình người cao quí. Tôi không còn nghĩ được như thế, tôi quên hết, chỉ vì tôi đang trong trạng thái mệt mỏi, chán chường.

Ngoài kia buổi chiều đang xuống. Một chút nắng vàng lóng lánh còn sót lại trên ngọn thông cao vút. Đã có một thời, tôi rất thích cách lí luận của Xuân Diệu khi ông viết: ''chiều lên chứ chiều không xuống.'' Xuân Diệu lí luận rằng chiều mang theo bóng tối; chiều dâng bóng tối lên bao phủ mặt đất trước, rồi cữ dâng lên dần dần, cho tới khi dâng lên tới những ngọn cây cao nhất, đó là lúc ngọn cây chỉ còn một chút nắng. Thế rồi chiều dâng lên hoàn toàn, chút nắng cũng chẳng còn trên ngọn cây, bóng tối bao trùm toàn thể cảnh vật.

Trong lúc này tôi cũng chẳng thiết đến cái chuyện ''chiều xuống'' hay ''chiều lên'' và cái lí luận của Xuân Diệu trở thành vớ vẩn. Chiều nó lên hay nó xuống thì có khác gì đối với con người! Tôi đang chán mà ? Chút ánh nắng trên ngọn cây thông kia, mọi khi tôi thấy nó như chất vàng lá dát mỏng trang điểm ngọn thông, hôm nay tôi thấy nó vàng vọt, xấu xí, làm cho ngọn thông như bị cháy xém. Tôi nằm rã rời trên giường nhìn ra cửa sổ. Cái ánh sáng nhá nhem vào buổi hoàng hôn sao mà bệnh tật và buồn thảm quá đỗi. Có lẽ thà tối hẳn, cảnh vật sẽ đẹp hơn. Cõi lòng tôi cũng đang có cái thứ ánh sáng nhá nhem, lem luốc của buổi hoàng hôn ấy. Thế mà có anh chàng thi sĩ dám viết: ''Tôi đổi hai mai lấy một chiều", làm như buổi chiều đẹp lắm, quí lắm vậy !

Thả người trên giường trong trạng thái mệt mỏi chán chường như thế, tôi chợt nghĩ đến một bài văn ngắn của Vũ Trọng Phụng, có tựa đề ''Tâm sự cái giường hư''. Nhà văn họ Vũ đã cho cái giường kể chuyện đời nó. Khi nó còn mới, còn đẹp, người ta chăm sóc nó, lau chùi đánh bóng nó, đặt nó một cách cẩn thận và trang trọng trong phòng ngủ, mặc cho nó những thứ khăn thứ áo thơm tho. Cái giường đã đón nhận, nâng đỡ những tấm lưng mệt mỏi. Khi đặt lưng trên cái giường sau một ngày vất vả, người ta được nghỉ ngơi và thoải mái. Nhưng rồi năm này qua năm khác, cái giường cũ đi, xấu đi, mặt giường không còn êm, chân giường không còn vững, người ta không còn thích nằm lên nó nữa nên khiêng nó vất vào kho chứa đồ dùng phế thải. Ở trong ngục tối "khóc lóc nghiến răng'' ấy, cái giường than thở: "Khi mệt mỏi, người ta có cái giường để nằm nghỉ còn khi cái giường mệt mỏi, nó biết nằm lên đâu?"

Tôi đang mang tâm trạng cái giường hư của Vũ Trọng Phụng. Tôi đã tự nguyện, và đã được chọn làm cái giường cho nhiều người. Các bạn tôi, và cả những người trước đó tôi chưa quen biết, đã ngả lưng trên ''chiếc-giường-tôi'' và tìm ở đấy sự nghỉ ngơi, bình an, thoải mái. Sau đó họ đã đứng dậy, ra đi, tiếp tục lăn mình vào cuộc sống, gặt hái những thành công và thất bại, những hạnh phúc và đớn đau, những vinh quang và tủi nhục. Khi thành công, hạnh phúc, vinh quang, họ tiếp tục vui chân tiến tới. Khi thất bại, khổ đau, tủi nhục, họ tìm về ''chiếc-giường-tôi' ' hay một "chiếc giường'' nào khác để nghỉ ngơi, tự nhiên, thoải mái. Có lẽ họ không nghĩ rằng những ''chiếc giường'' kiểu ''chiếc-giường-tôi'' cũng có lúc rất mệt, rất chán, rất nản và cũng cần nằm nghỉ như họ cần nằm nghỉ. Như tôi lúc này đây, tôi đang cần, rất cần nằm nghỉ. Nhưng, giống như cái giường hư của Vũ Trang Phụng, tôi than thầm: ''Khi tôi mệt mỏi, tôi biết nằm lên đâu!

Trên mặt tường đối diện với tôi là Thánh giá với tượng Chúa chịu nạn. Vô tình ánh mắt tôi đậu trên Thánh giá ấy. Thân thể Chúa Ki tô, đấng cứu chuộc nhân loại nằm trên Thánh giá, tay chân Ngài duỗi thẳng. Tôi mường tượng ra cơn đau đớn kinh khủng của Chúa khi người ta căng tay; chân Ngài ra và dùng đinh nhọn đóng tay, chân ấy vào Thánh giá. Ngài đã vặn mình đi, đã kêu lớn tiếng... Nhưng sau đó, Ngài đã bình yên, thanh thản. Cái bình yên thanh thản của người sau khi đã thi hành trọn vẹn một sứ mệnh vô cùng cao cả, Sứ mệnh của Ngài là mang lấy tất cả sự đau thương, thống khổ của nhân loại, để nhân loại được cứu thoát và sống hạnh phúc. Ngắm nhìn Chúa Ki tô nằm trên Thánh giá, tôi cảm nhận được sự bình yên thánh thiện trong trạng thái nghỉ ngợi của Ngài.

Thế rồi tôi bỗng nghĩ đến những nữ tu Mến Thánh Giá, những người đã tự nguyện đem cả đời mình để yêu thương Thánh giá, những tâm hồn đã chủ trương ''qua Thánh giá đến vinh quang ''. Chưa nữ tu nào nói với tôi về ý tường ''nghỉ ngơi trên Thánh giá'', nhưng giờ đây tôi biết những nữ tu ấy đã chọn cách nghỉ ngơi đó . Họ đã chọn đúng, Thánh giá của người ta chính là nỗi đau khổ của chính mình và của những người khác. Bao lâu người ta chạy trốn đau khổ, bấy lâu người ta không được nghỉ ngơi, vì đau khổ có mặt ở khắp nơi, trong tất cả mọi người, đau khổ trở nên một thứ ''định mệnh' ' của nhân loại. Chỉ khi nào người ta biết chấp nhận đau khổ, mang lấy đau khổ của mình và của người, biết nằm lên đau khổ, chọn chính đau khổ làm tấm giường để đặt lưng lên nghỉ ngơi, như Chúa Ki tô đã làm, người ta mới có thể bình yên, thoải mái thực sự. Còn mọi thứ giường, giường thật hay giường theo nghĩa bóng kiểu ''chiếc-giường-tôi" cũng đều là những thứ giường tạm bợ, có nằm lên thì rồi cũng có lúc phải rời bỏ, và cuối cùng ta vẫn rơi vào trạng thái mệt mỏi, chán chường. Nhưng tôi biết, để có thể chọn nỗi đau khổ, chọn Thánh giá làm chiếc giường an nghỉ, tôi phải biết yêu, yêu nhiều. Có yêu như Chúa Ki tô yêu mới có thể sống như Chúa Ki tô sống.

Tôi thoát khỏi trạng thái mệt mỏi chán chường từ ý nghĩ ấy. Tôi ngồi lên, thấy hình như mình có hơi vui hơn một tí, hăng hái hơn một tí. Thế rồi tôi nghĩ, dù sao ngày mai tôi cũng phải tìm đến công viên, nơi có cây, có cỏ, có nước, có chim, có gió và nắng. Giường Thánh giá tuy êm đềm thật đấy, nhưng bên cạnh đó, tôi cũng muốn ngả lưng trên thảm cỏ nhung. Trong nắng tôi sẽ nghe chim hót, gió reo, lá cây xào xạc, hồ nước thì thầm. Đời tôi cũng có những người bạn hồn nhiên, trong sáng, êm đềm và dịu dàng như cây cỏ, gió nắng, chim bướm, nước hồ... Tìm đến với họ, tôi cũng có được niềm vui, sự bình yên thanh thản, gạt bỏ được trong chốc lát những mệt mỏi chán chường do cuộc sống đem đến, hay do chính tôi chuốc lấy.

Nhà Văn Quyên Di

VỀ MỤC LỤC

 

Con Kênh Đào « THỨ THA »…

Chuyện ngắn giả tưởng của  Gs. NGUYỄN Văn Thành, Lausanne, Thụy sĩ

Hà Nội, Mùa Thu 2015…

Đi ra từ một ngôi nhà rất khang trang, nằm trên đường Nguyễn Cảnh Châu, Bác sĩ Lý Thành An được xe Nhà Nước đưa thẳng ra Sân Bay Nội Bài, để đi vào Huế bằng Hàng Không Việt Nam. Tại phòng đợi, Cát Tường đang đứng sẵn, chờ bạn:

-  « Chúng mình còn hơn nửa tiếng, trước khi máy bay cất cánh. Tao mang sẵn đây cho mày một xấp báo, để mày đọc cho biết. Suốt tuần này, báo chí thuộc cả ba Miền, đã nói rất nhiều về mày. Bây giờ, lợi dụng một vài giây phút rảnh rỗi, mày thử liếc qua một vài tin tức, bình luận… Tao rất kinh ngạc : đây là lần đầu tiên mày trở về… Thế mà hình như ai cũng đã biết. Phải chăng mày đã chấp nhận lời đề nghị… »

-  « Cát Tường ơi, Thành An vừa bước vào vừa tâm sự, trò chuyện với Ông Lý Nguyệt Minh, trong hai tiếng đồng hồ, nhắc lại bao nhiêu kỷ niệm vui buồn của gia đình, tao nhớ lại Ba tao và Em tao quá. Tao còn lòng trí đâu mà đọc báo, như lời đề nghị của mày. Cả nụ cười của ông ấy cũng gợi lại cho tao nụ cười của Mỹ Linh. Mỹ Linh ơi, em ở đâu ? Phải chi em còn sống, để thấy được ngày hôm nay. Không, mà nào em đâu có chết. Em vẫn sống. Quả tim em vẫn đập mạnh. Đất Nước mới sống được những giờ phút diệu vợi như ngày hôm nay.

Nói đến đây, Thành An rưng rưng nước mắt. Cát Tường tế nhị nắm lấy tay bạn, đưa lên môi hôn và khóc theo…

***

Ngồi trên máy bay, bên cạnh Cát Tường, Thành An trầm ngâm, nghĩ ngợi. Nàng lâng lâng sung sướng, không thể nào ngờ chỉ trong vòng mười năm, Ông Lý Nguyệt Minh đã lật ngược được thế cờ của toàn diện Đất Nước, từ Ải Nam Quan cho tới Mũi Cà Mau.

Hẳn thực, sau khi đáp xuống Sân Bay Tân Sơn Nhất, cách đây chỉ hơn một tuần lễ, Thành An được máy bay trực thăng của Nhà Nước, đưa đi viếng thăm đó đây nhiều địa điểm và công trình…

-  «  Cát Tường ơi, mày đã đi tàu thủy từ Nam ra Bắc, trên con Kênh Đào « Thứ Tha » ấy chưa ?

-  « Đã hai ba lần… Mỗi lần, tao khóc nức nở, vì quá sung sướng và cảm động. Tao không biết phải làm gì, ngoài việc « hướng lòng lên tạ ơn Trời ơn Đất. Duy công trình nầy đã là một kỳ vĩ từ bàn tay của ông Lý Nguyệt Minh.

Con Kênh Đào Vĩ Đại nầy đã nối lại mọi dòng sông của Quê Hương, từ Sông Hồng đến Cửu Long, đi ngang qua Nhật Lệ, Bến Hải và Hương Giang. Nhờ hệ thống mở và đóng kênh rất tối tân, do các kỹ sư người Đức gốc Việt đã sáng tạo, những trận lũ lụt tiêu hủy mùa màng và giết chết bao sinh mạng, như trước đây không bao xa, ngày nay đã được giải quyết một cách dứt điểm. Mùa hè vừa qua, mưa bão tơi bời, trong vòng liên tiếp mười hôm. Thế mà không một tai nạn nào đã xảy ra.

-  « Vâng, Cát Tường ạ, về mặt kỹ thuật đào kênh, không ai qua mặt được người Đức. Tao còn nhớ rất rõ những ngày ấy : Khi đi qua Thủ Đô Bá Linh, làm thông dịch cho ông Lý Nguyệt Minh, cả tao và ông ấy bị ném cà chua tơi bời. Thế mà trong số các kỹ sư người Đức tình nguyện vào giúp Việt Nam, hơn một nửa là người có gốc Việt, thuộc thế hệ thứ hai. Thực ra, nhiều người thông dịch có chuyên môn và khả năng hơn tao rất nhiều. Nhưng tao có nhiều bạn bè rất thân bên ấy, cho nên tao xin được tháp tùng, để tạo nhịp cầu. Vả nữa, bao lâu còn làm được một cái gì, cho trái tim của Mỹ Linh, em tao, vẫn đập mạnh, tao không nỡ từ chối.

-  « Này, Thành An, tao hỏi mày câu hỏi này. Báo chí mấy ngày nay, bảo mày là người đầu tiên có ý kiến về con Kênh Đào Thứ Tha. Có phải vậy không ?

-  « Không, không phải. Tao đã đính chính. Nhưng hình như ông Lý Nguyệt Minh đã phát biểu sao đó, mà báo chí bảo : tao đính chính vì khiêm tốn. Theo tao, chuyện gì mà phải khiêm tốn. Có nói có. Không nói không.

Thực ra, ý kiến đã có mặt trong nhiều tác phẩm của ba tao. Mấy lần ông Lý nguyệt Minh qua thăm tao ở Lausanne, Thụy Sĩ, tao đưa sách vở của ba tao cho ông ấy đọc. Rồi từ từ ông ấy đã quyết định đưa ý kiến ấy vào Kế Hoạch. Tao học y. Tao biết gì đâu về chuyện đào kênh. Chính em Mỹ Linh của tao mới biết nhiều về khoa học này. Nó đang học năm cuối cùng, thì bị tai nạn…

Tuy nhiên, mấy lần ông Lý Nguyệt Minh qua Đức thương thuyết, tìm tài trợ và kỹ sư, tao luôn luôn có mặt, trong phái đoàn tháp tùng. Cho nên, từ buổi đầu, tao đã có tin tức về Con Kênh Đào Thứ Tha.

-  « Mày có biết, sáng hôm qua một phái đoàn người Mỹ thuộc phong trào bảo vệ môi sinh, đã nói gì về con Kênh Đào này không ? Theo lối nhìn của họ, đây là một thắng lợi vĩ đại của người Việt Nam, trong lãnh vực bảo vệ môi trường và môi sinh. Tao thú thật, tao rất i tờ về vấn đề nầy. Nhưng phải du hành một lần trên con Kênh Đào Thứ Tha nầy, mày mới nghe lại được bao nhiêu tiếng hò tiếng hát về ca dao tực ngữ. Khi đi qua Xứ Huế, bao nhiêu điệu nhạc chèo đò cho chúng ta cảm nhận được Hồn Thiêng Đất Nước là một thực tại lung linh và lan tỏa, thấm thấu vào xương da và máu huyết của mỗi người. Hòa Bình của Đất Nước và Cảnh Thái Hòa của lòng người có mặt và quyện vào nhau, một cách thâm tình và thắm thiết, trên mặt nước của con Kênh dài hơn 2000 cây số nầy.

-  « Luôn tiện mày nói đến Huế… Tao vào ăn giổ Ba tao nơi nhà một người cô ruột. Mày dẫn tao đi thăm những gì sau đó ? Hay là cả hai đưa mình lên Núi, ngồi Thiền một ngày, như lúc chúng mình còn bé, ở Làng Hồng tại Bordeaux, Nước Pháp.

-  « Trước hết tao đề nghị mày đến nói chuyện cho sinh viên ở Đại Học « Đối Thoại giữa các Tôn Giáo » ở Huế. Theo tin tức tao nhận được, Đại Học này được tổ chức và xây dựng, nhờ một quà tặng của Nước Vatican gửi cho nhân dân Việt Nam. Hình như, thêm vào đó, Vatican tiếp tục tài trợ cho mọi công trình nghiên cứu ở đây. Trong Đại Học nầy, có một phân khoa đặc biệt về « Xã Hội và Nhân Văn ». Một nửa số lượng sinh viên là người nước ngoài. Đa số dành ra một năm để học tiếng Việt. Các giáo sư nước ngoài như Mỹ, Nga, Pháp, Cuba, Trung Quốc cũng nói tiếng việt « một cách ngon lành » như người Huế ăn ớt cay vậy. Công trình này là một viên ngọc, theo lời tuyên bố của Tổng Thống Pháp, trong chuyến công du năm vừa qua.

Còn vấn đề « Ngồi Thiền », chúng mình sẽ lên Trúc Lâm, ở lại suốt một ngày và một đêm. Sáng hôm sau, các tu sĩ nam nữ thuộc hai tôn giáo Phật và Thiên Chúa sẽ tề tựu về đó. Tao đề nghị mày kể chuyện Mỹ Linh cho họ. Và tao chắc chắn thế nào họ cũng sẽ hỏi mày làm thế nào để hợp tác một cách năng động với chúng ta đang có những trách vụ khác nhau trong chính quyền sau này. »

-  « Cát Tường ơi, mày biết rất nhiều chuyện về Đaị Học Huế. Nhưng mày đã đi thăm hai Đại Học Canh Nông ở Khe Sanh và Bình Long chưa ?

Tuần vừa qua, tao đã được đi thăm Đại Học Bình Long bằng trực thăng. Nhìn thấy những đoàn bò đen trắng, cạp cỏ trên những ven đồi thuộc dãy Trường Sơn, tao có cảm tưởng như đang đi thăm viếng Bang Fribourg của Nước Thụy Sĩ.

Hai Đại Học Bình Long và Khe Sanh trực thuộc Bộ Quốc Phòng, hiện thời đang được hai Nước Thụy Sĩ và Do Thái bảo trợ. Một phần nửa sĩ quan phải ghi danh vào một trong hai Đại Học này. Để thăng cấp trung úy, hình như tất cả sĩ quan bộ binh thiếu úy phải có cử nhân canh nông. Lên tá phải có cao học. Lên tướng phải có tiến sỉ.

Tại những dãy ấp tự vệ ở biên giới Việt Hoa, những chú bộ đội, một vai mang cuốc, vai kia giữ súng. Họ trồng rau, vắt sữa cũng tài tình giống như người nông dân Thụy Sĩ.

Cát Tường ơi, sáng hôm qua tao đi thăm những vườn cam, vườn chè mênh mông, bát ngát của mấy chú bộ đội… Thật mê tơi. Tao muốn ở lại, không còn ham trở về thành phố.

Thành An đang say sưa kể lại những gì đã thấy tận mắt về Đại Lộ Thống Nhất, chạy dài theo Con Đường Mòn Trường Sơn… Về chiếc tàu lửa Đại Hỏa Tốc Xuyên Việt, bốn chuyến ra vào mỗi ngày… Về Con Đường Số Một ngày xưa, bây giờ được mở rộng 100 mét, có một dãy trúc xanh chắn đôi ở giữa… Về hai Thành Phố Đà Nẳng và Hải Phòng với hai đoàn tàu đánh cá được trang bị rất tối tân…

Đột nhiên Cát Tường giật mình, cắt đứt câu chuyện của Thành An.

-   «  Này này, chút nữa tao quên mất. Cùng đi với chúng mình, trên chuyến bay nầy, có phóng viên nhà báo « Văn Hóa và Đức Tin ». Ông ấy muốn nói chuyện với mày độ 20 phút… Đang lý tao cho mày biết sớm hơn để chuẩn bị. Nhưng xin lỗi mầy, tao quên bẳng mất. Vậy, năm phút nữa, tao sẽ mời họ đến. Trong lúc chờ đợi, tao sẽ chế cho mày một tách trà « Thanh Nhiệt ».

-   « Vâng, tao mê loại trà này. Mỗi lần đi Việt Nam về, ba tao thường mang về rất nhiều gói trà loại nầy. Uống riết với ba tao, tao cũng « ghiền » luôn.

***

Thành An uống vừa xong tách trà, Cát Tường đứng lên đi tìm ông phóng viên. Không ngờ, đó là anh Hồ Sinh, học trò của Ba, ngày trước.

-   « Thưa Chị, nhờ chị Cát Tường làm trung gian, tôi biết chị mới về Nước, và cùng vào Huế, trên một chuyến bay. Cho nên tôi cả gan xin phép được phỏng vấn chị, về một vài vấn đề. »

-   « Anh cứ tự nhiên… »

-   « Cách đây hai năm, từ ngày Ông Lý Nguyệt Minh khánh thành con Kênh Đào Thứ Tha, hằng ngày báo chí thường nói đến chị. Ông Lý Nguyệt Minh cũng gọi chị là « CHỊ », một cách thân mật và trân quí, mỗi lần nói chuyện với quần chúng. Vậy xin chị cho biết về quan hệ giữa chị và ông Chủ Tịch. »

-   « Hai chúng tôi không có quan hệ bà con gì cả, mặc dù « HỌ » của chúng tôi đều là LÝ. Gốc gác của ông chủ tịch ở tỉnh Hòa Bình. Quê Hương của tôi là Quảng Trị. Trước đây tôi mang tên Họ là Nguyễn. Sau khi người lo về gia phả của Họ Tộc nghiên cứu và khám phá ra rằng ông tổ của chúng tôi thuộc dòng Họ Lý. Bị Nhà Trần tìm cách bắt bớ, tận diệt, một số con cháu Nhà Lý trốn vào Nam, đổi họ Lý thành họ Nguyễn. Từ ngày khám phá điều ấy, chúng tôi đã ra tòa, xin được phép mang lại tên dòng họ Lý. Vì tên của tôi quá dài « Lý Nguyễn Thị Thành An », tòa đề nghị rút gọn lại là Lý Thành An.

-  « Còn về quan hệ giữa Em gái Mỹ Linh của chị và… »

-  « Đó là một điều khác. Câu chuyện rất dài dòng. Tôi xin tóm lược như sau:

Cách đây gần 10 năm, trong một chuyến thăm viếng chính thức, nhằm thắt chặt mối tình bang giao giữa Việt Nam và Thụy Sĩ, ông chủ tịch mắc chứng bệnh Nhồi Máu Cơ Tim một cách quá đột xuất, khi đang nói chuyện với các đại biểu ở Quốc Hội. Lập tức ông được đưa vào Bệnh Viện Đa Khoa, thuộc Đại Học Lausanne.

Sáng hôm ấy, trong khi ngồi điểm tâm, chúng tôi đã mở rađiô theo dõi tin tức hằng ngày. Nhờ vậy, chúng tôi biết được lời kêu gọi khẩn thiết của Đại Học Lausanne và của Chính Quyền Thụy Sĩ : « Nhằm cứu sống vị chủ tịch của Nước Việt Nam, chúng tôi đang cần một quả tim và loại máu thuộc nhóm 0 ».

Sau khi nghe xong bản tin, chúng tôi ba người – Ba, Em Mỹ Linh và Tôi – mỗi người ra đi một ngã, vì bổn phận và công việc hằng ngày. Ba tôi đi dạy. Tôi đến phòng mạch. Em Mỹ Linh cùng với bạn bè, lái xe xuống Đại Học Genève.

Vào lúc 3 giờ chiều, điện thoại phòng khám reo. Tôi nhấc ống nghe. Ba tôi ở đầu kia đường giây : « Em con bị tai nạn. Con về gấp, đến thẳng trạm cấp cứu của Đại Học Lausanne ».

Khi hai cha con đến nơi, Mỹ Linh chỉ mở mắt nhìn chúng tôi lần cuối và ra đi.

Đúng lặng người trong vòng 10 phút, nước mắt tràn trụa, ba tôi chỉ lâm râm khấn vái. Sau đó, ba gọi tôi ra ngoài, và nói với tôi : « Ba xin con hãy can đảm đi điện thoại cho Bộ Y Tế, và hiến tặng cho Việt Nam quả tim của Em con.

Sau đó, chừng hơn một tháng, ông Lý Nguyệt Minh được hoàn toàn bình phục. Cũng chính lúc ấy, ba tôi bị hạ sát bằng ba viên đạn, trên đường  đi bộ từ trường trở về nhà, lúc 5 giờ chiều.

Cũng từ ngày ông Lý Nguyệt Minh mang một quả tim mới, Đất Nước Việt Nam đã thực sự  Khởi Sắc Lên Hương... »

Kể đến đây, Thành An úp mặt khóc nức nở, trước mặt Hồ Sinh và Cát Tường. Nhưng rồi trong phút chốc, chị đã trở lại bình tỉnh và hỏi Hồ Sinh :

-   « Anh còn muốn biết thêm điều gì nữa không ? »

-   « Thưa chị, báo chí đang xôn xao là chị về lần nầy, sau gần hơn mười năm được yêu cầu, để đảm nhận « Bộ Người Nghèo » ?

-   « Vâng, anh nói đúng. Trước đây, tôi đã từ chối, vì tôi là người Kitô hữu, để cho ông chủ tịch dễ dàng làm việc với người bên trong cũng như người bên ngoài, vào những giai đoạn đang đầy khó khăn. Trong thời gian qua, Cát Tường, người bạn chí thân của tôi, đã làm việc ấy một cách rất xuất sắc. Bao nhiêu khu làng và xã đã được dựng lên. Với ngân khoản lên tới hằng trăm tỉ mỹ kim, được anh chị em chúng tôi ở Úc cũng như ở Mỹ gửi về hằng năm, Cát Tường đã tạo ra công ăn việc làm, cho hằng triệu người ở vùng sâu và vùng xa. Công trình xuất sắc nhất của Cát Tường là mở ra khắp các tỉnh, các vùng, VĂN PHÒNG BẢO VỆ NGƯỜI NGHÈO, trước pháp luật. Cát Tường làm việc rất khoa học. Sổ sách đàng hoàng, chính xác…

Bây giờ, một đàng Cát Tường đã được bổ nhiệm vào chức vụ Viện Trưởng Viện Đại Học Đối Thoại ở Huế. Đàng khác, lòng người đã vượt qua khúc đường phân biệt Trong và Ngoài, Bụt và Chúa. Vì lý do đó, tôi chấp nhận trở về như « lá rơi về cội ».

Vậy tuần sau, tôi sẽ đáp máy bay về Thụy Sĩ, xếp đặt công việc nhà cửa, phòng mạch… Bây giờ chúng ta đang ở Mùa Thu. Qua Mùa Xuân, tôi hy vọng trở về Quê Hương, ăn Tết với anh chị em đồng bào. Tết xong, tôi ra Hà Nội, đảm nhiệm Bộ Người Nghèo. Tôi đã xin Cát Tường ở lại với tôi, giúp tôi quen việc quen người, trong vòng một tháng. Sau đó, Cát Tường ra đi chuẩn bị Đai Hội Quốc Tế về Đối Thoại, ở Huế. Vâng, mỗi người trong chúng ta có rất nhiều việc để làm, để cống hiến. Nhưng cho dù làm gì, ở đâu, chúng ta tất cả đều cống hiến MỘT QUẢ TIM ».

***

Một tuần sau, báo chí lại nói đến Lý Thành An. Nhưng lần nầy, tin buồn được đăng ở trang đầu tiên. Hẳn thực, Máy bay Hàng Không Thụy Sĩ, trên đường đưa Thành An trở về Lausanne, đã bị tai nạn, vì những vụ xung đột trên vùng trời của xứ I-Rắc. Gần hai trăm hành kháh bị tan thây thành mảnh vụn và rơi xuống mất tích hoàn toàn trong vùng Địa Trung Hải.

Lại một lần nữa, Hồ Sinh viết bài trên nhiều tờ báo. Nhưng lần nầy, Hồ Sinh đã khóc thương một người con của Quê Hương. Phần kết luận của bài bào đã trích dẫn một lời phát biểu của Lý Thành An :

« Cho dù làm gì, ở đâu, chúng ta cũng đều cống hiến một quả tim ». Khác với mọi người, Thành An đã cống hiến cho Đất Nước Việt Nam, ba quả tim : Quả tim của Mỹ Linh, quả tim của Ba và quả tim của chính mình. Hai qua tim sau đã tan nát trong lòng đất. Trái lại, qua tim của Mỹ Linh vẫn đập mạnh, trong cõi lòng của Quê Hương. Quả tim ấy đang cùng đập một nhịp điệu, với trăm triệu quả tim của anh chị em đồng bào.

 Tuy nhiên, một quả tim chưa đủ. Tất cả chúng ta hãy lên đường, mang về cho Quê Hương nhiều QUẢ TIM MỚI.

 Gs. NGUYỄN Văn Thành, Lausanne tháng 8 năm 2005

VỀ MỤC LỤC

 

TRẺ VÀ GIÀ Chuyện phiếm của Gã Siêu.

 Trong mục sổ tay của tuần báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật, gã lượm được một mẩu tin như sau :

- Kể từ nay, chính phủ sẽ không bổ nhiệm người làm thứ trưởng và những chức vụ tương đương quá 55 tuổi. Khi đọc thông báo trên do thủ tướng vừa ký ngày 18 tháng 4, một công chức cấp vụ ở Hà Nội nói với người viết : dễ có đến 20% số cán bộ mang cấp hàm thứ trưởng sẽ ra đi vì tuổi không còn đúng với tiêu chuẩn…

Mẩu tin này cũng khiến cho gã phải sờ vào gáy mình và nhận ra rằng :

- Sống lâu lên lão làng, cứ cái điệu này thì mình cũng sắp    được …ra ngũ, về nhà đuổi gà và trồng hoa. Chẳng biết nên vui hay nên buồn.

Gã nhớ lại hồi đầu mình còn để chỏm, hình như có đọc trong sách Quốc âm Giáo khoa thư bài học về một câu đố :

- Con gì sáng nó đi bốn chân, trưa nó đi hai chân và chiều nó đi ba chân ?

Xin thưa :

- Đó chính là con người.

Thuở còn nhỏ, chúng ta bò lê bò la bằng cả hai tay lẫn hai chân, vị chi là bốn. Lớn lên, chúng ta đứng thẳng và mạnh mẽ bước tới. Còn khi về già, chúng ta phải chống thêm một chiếc gậy nữa là ba.

Các cụ ta ngày xưa đã ngán ngẩm mà bảo :

- Âm thầm ngày tháng trôi qua,

Năm kia nào có đợi ta bao giờ.

Đúng thế, chẳng ai có thể cản được những bước chân âm thầm của thời gian. Cứ nhìn vào xấp nhỏ, lớn lên như thổi, gã bèn nghiệm ra gánh nặng tuổi đời đang đè xuống đôi vai còm cõi của gã và dấu ấn thời gian đã in đậm trên khuôn mặt gã.

Cách đây không lâu, một cô bé Việt kiều hớn hở đến thăm gã. Phối kiểm lại bộ nhớ, gã thấy được  rằng : khi khăn gói quả mướp theo thày bu xuống tàu đi vượt biên, cô bé này còn đang ở lứa tuổi “babilắc”, suốt ngày chơi ô quan và nhày cò cò ở sân nhà gã, thậm chí còn anh dũng mặc quần đùi đi móc cua ngoài đồng về cho chị nấu riêu, thế mà giờ đây đang độ đào tơ trổ mã, đẹp như một cô tiên, giống hệt một bài thơ cổ đã diễn tả :

- Hồng hồng tuyết tuyết,

Mới ngày nào chửa biết cái chi chi,

Mười mấy năm thấp thoát có xá gì,

Ngoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu.

Ngay như chính bản thân gã cũng vậy. Bốn mươi năm được coi là đỉnh cao cuộc đời, rồi sau đó bắt đầu đi xuống ở triền núi bên kia. Tới cái mốc này, mắt gã bỗng mơ huyền, phải vội vã ra tiệm cắt ngay một chiếc kính lão, để khỏi trông gà hóa quốc.

Rồi từ đó, lục phủ ngũ tạng bắt đầu rệu rạo. Nhất là khi đã bước vào tuổi “ngũ tuần”, thì sức kéo bị giảm sút một bậc, làm việc lâu một xíu là cảm thấy mệt mỏi, uể oải liền tù tì ngay à.

Nhớ hồi còn trẻ, ngồi đánh máy chữ lọc cọc suốt tám chín tiếng đồng hồ mà chẳng hề hấn, sứt mẻ chi cả, thậm chí có những lúc gấp rút, làm ngày không đủ phải tranh thủ làm cả ban đêm mà vẫn cứ phom phom và hăng tiết vịt.

Chứ bây giờ, khi đã có tí tuổi, gõ máy dù là máy vi tính, chỉ một lúc là liền nhức nhối từ đầu ngón tay cho đến tận…lái tim. Rồi ăn chẳng biết ngon, ngủ thì cứ mơ mơ màng màng.

Sức kéo giảm sút đã đành, mà tuổi năm mươi còn là khởi điểm cho đủ mọi thứ bệnh hoạn. Nào cao huyết áp, nào nhồi máu cơ tim, nào tai biến mạch máu não, nào loét bao tử, nào đái…đường. Bản án tử hình dường như đã được treo lơ lửng trên đầu quí cụ thượng thọ ngũ tuần.

Nghĩ vậy, nên cứ bình tĩnh mà run. Vì thế, hôm rồi gã bèn phải gồng mình đi khám lại toàn bộ đồ lòng, từ tim gan cho chí đến đến phèo phổi. Qua siêu âm, người ta cho biết gã hiện có hai viên sạn nhỏ nằm ở trong thận.

Ông bác sĩ  thuộc vào hàng chịu chơi bèn phán :

- Vì chúng còn bé tẹo tèo teo, nên chưa cần phải mổ hay bắn biếc chi cả, chỉ cần uống thuốc, uống nước, vận động và nhất là…cười nhiều.

Vì thế, trong mấy tháng nay, gã đành phải ép mình ép xác mà dùng thuốc, dùng nước và tập thể dục thẩm mĩ để giữ…eo. Bởi vì lúc này cái eo của gã xem chừng liên tục phát triển theo kích thước của cái eo con…bò.

Rồi lúc nào cũng phải vén môi lên mà cười. Vui cũng cuời mà buồn cũng cười, thiếu điều bị liệt vào hạng người…cõi trên. Thế mà chẳng biết đến bao giờ mới tống khứ được hai cái của nợ ấy ra.

Từ những điều gã vừa cà kê dê ngỗng, thì khác biệt thứ nhất giữa già và trẻ là khác biệt về ngoại hình, về sức khỏe.

Trẻ thì mạnh, già thì yếu. Đó là lẽ đương nhiên, qui luật của muôn đời kia mờ. Trừ ra một vài trường hợp ngoại lệ mà chúng ta vốn gọi là những cụ… già gân,  như Nguyễn công Trứ đã viết :

- Càng già càng dẻo càng dai.

Bình thường, tuổi già là một nhà thương, tiếp nhận đủ mọi thứ bệnh. Hơn nữa, nếu nửa đầu cuộc đời, chúng ta xài theo kiểu “xả láng sáng về sớm”, như lời hô hào :

- Chơi xuân kẻo hết xuân đi,

Cái già sồng sộc nói thì tới ngay.

Chắc hẳn nửa sau cuộc đời, chúng ta sẽ phải trả giá bằng những bệnh tật và đớn đau của mình.

Sự giảm sút về sức khỏe phần xác, thường kéo theo sự giảm sút về tâm lý và sự xơ cứng về tinh thần. Kinh nghiệm của những bậc tiền bối cho hay :

- Năm mươi tuổi thì ta chán đời, còn sáu mươi tuổi thì đời chán ta.

Tuổi già vốn dĩ là một gánh nặng cho bản thân cũng như cho người khác. Tuổi già giống như phiên chợ chiều, vắng tanh vắng ngắt. Hay như con sư tử già chỉ là trò cười cho đám chó con.

Từ đó, người già đánh mất sụ hăng say nhiệt tình, để rồi buông xuôi, mặc cho ‘’con tạo xoay vẫn đến đâu’’ hay phó mặc cho lũ cháu đàn con :

- Già thì mọi sự mọi hèn

Giang sơn phó mặc đàn em sau này.

Khác biệt thứ hai giữa già và trẻ là khác biệt về kinh nghiệm, về vốn sống được tích lũy từ lòng cuộc đời.

Trong phạm vi này, người trẻ chưa có được bao nhiêu, đang khi đó với bề dày của năm tháng, người già đã gom góp được rất nhiều. Vì thế, người trẻ thường hay bồng bột, xốc nổi và… phổi bò, như tục ngữ cũng đã bảo :

- Khôn đâu tới trẻ, khẻo đâu tới già.

Và đôi lúc người ta đã gọi :

- Tuổi trẻ là tuổi ăn chưa no, lo chưa tới.

Với những kinh ngiệm được tích lũy suốt dọc dòng thời gian, tuổi già thường khôn ngoan và thâm trầm, giống như cây càng già thì gỗ càng tốt, giống như gừng và quế, càng già thì lại càng cay, hay như tục ngữ cũng đã nói :

- Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ.

Do số vốn sống phong phú ấy, nên đã nảy sinh ra một khác biệt thứ ba giữa già và trẻ, đó là người già thường thích quay nhìn dĩ vãng và sống bằng những hoài niệm, còn người trẻ thường thích hướng tới tương lai và sống bằng những ước mơ. Người già thì quay lại phía sau, còn người trẻ thì bước tới phía trước.

Thực vậy, mấy ông bạn già lâu ngày gặp mặt nhau, khề khà bên chén rượu nồng hay bên tách trà đậm, chắc chắn các cụ sẽ gợi nhớ và sống lại cái thuở huy hoàng vang bóng của mình :

- Ngày ấy mình thế này… chúng ta thế nọ… chứ không như bây giờ, chẳng ra cái thể thống nào cả.

Trong khi đó, bọn trẻ ngồi đấu láo với nhau thì thao thao bất tuyệt về những dự tính đang được ươm mơ. Nào là làm cái này, nào là làm cái kia…

Chính do sự khác biệt này, nhiều lúc đã xảy ra những bất đồng, những lục đục, những chống đối trong gia đình giữa già và trẻ, giữa cha mẹ với con cái.

Hồi xưa, có lần thằng bạn gã đang năn nỉ ỉ ôi, xin mẹ tí tiền còm để mua sách hay làm cái chi đó, thì ông bố bước vào. Chợt nghe thấy tiền, ông bố bèn mở miệng phang ngay cho cậu ấm một bài ‘’luân lý cơ bản’’:

- Ngày xưa tao phải tiết kiệm từng trang giấy, từng giọt mực… ngày xưa tao thế này… ngày xưa tao thế kia… ngày xưa tao thế nọ…

Điệp khúc ‘’ngày xưa ấy’’ không biết đã được ông bố ca đi ca lại biết bao nhiêu lần. Cứ nhìn cái bản mặt nhăn nhó của thằng bạn như là sắp bị ‘’Tào tháo’’ rượt, gã thấy nó hậm hực mà nói chẳng nên lời, vì sợ bị  mắng, nên đành phải nhủ thầm trong bụng rằng :

- Biết rồi, khổ lắm, nói mãi, bố ơi.

Cũng từ điểm khác biệt đằng trước và đằng sau, tương lai và dĩ vãng, nên người trẻ thường dám liều, dám chấp nhận cái mới để rồi khắc phục và làm chủ lấy nó, như chúng ta thường bảo :

- Đâu cần thanh niên có,

Đâu khó có thanh niên.

Phải chăng đây chính là yếu tố quan trọng làm thành ‘’chất trẻ’’ nơi một người…

Trong khi đó, tuổi già thường ngại di chuyển, ngại thay đổi, an phận với những cái đã có. Ấy là gã chưa nói đến những cụ thích ngủ quên trên chiến thắng và vinh quang một thời của mình.

Vì vậy, thiên hạ vốn thường bảo :

- Một người bị coi là già kể từ lúc người ấy hết dám… liều.

Nếu cứ ngồi kể tội và điểm mặt những khác biệt giữa già và trẻ, thì có lẽ nói mãi, nói hoài cũng chẳng bao giờ hết, chi bằng bây giờ hay thử đi tìm một dung hòa, một mô hình lý tưởng để cùng chung sống hòa bình ‘’mí nhau’’.

Theo gã, mỗi tuổi đều có nét duyên ngầm của riêng mình. Buổi bình minh có vẻ đẹp của bình minh và lúc hoàng hôn có vẻ đẹp của hoàng hôn. Chồi non, có sức quyến rũ của chồi non và trái chín có sức quyến rũ của trái chín.

Về người già và người trẻ, chúng ta có thể diễn tả như Nguyễn Du :

- Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười.

Tuy nhiên cuộc sống vốn thường có những ngịch lý, những ngược đời và những chuyện chéo cẳng ngỗng của nó, như G. B. Shaw đã viết :

- Có lắm người không khi nào trẻ và vài kẻ không bao giờ già.

Thực vậy, có lắm người không bao giờ trẻ.

Nói cách khác, họ đã đánh mất tuổi trẻ khi mái đầu còn xanh. Họ là những kẻ tuổi đời chưa được bao nhiêu, thân xác còn phơi phới, thế nhưng tâm hồn họ đã già cỗi và tàn úa. Họ thiếu mất chất trẻ và chất lửa trong con người.

Có nghĩa là họ không dám liều, không dám chấp nhận cái mới và đối đầu với những đổi thay. Họ bằng lòng với số phận của mình và lúc nào cũng chỉ xin cho được hai chữ…bình an.

Họ không còn sự hăng say nhiệt thành, trái lại chỉ sống lửng lơ như con cá vàng, mặc dù bề ngoài họ rất oai phong bệ vệ và sức khỏe tràn trề. Chính vì thế thiên hạ vốn thường gọi họ là những … ông cụ non.

Tiếp đến là có vài kẻ không bao giờ già.

Dĩ  nhiên ở đây gã không bàn tới một vài người vì ảnh hưởng của một loại bệnh đặc thù nào đó, khiến cho họ, dù đã ba mươi mí, những thân xác họ mới chỉ là một đứa trẻ lên sáu, lên bảy như báo chí đã đăng tải cách đây không lâu.

Gã cũng không bàn tới một vài cụ vì ham vui và thích của lạ mà thiên hạ vốn thường gọi là chơi…..trống bỏi. Những cụ đầu đã bạc, răng đã long mà vẫn còn đèo bồng vợ nọ con kia, chỉ vì sợ cảnh cô  đơn :

- Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông.

Gã chỉ xin nói đến các cụ tuy  đã già mà thực sự vẫn còn trẻ. Vậy các cụ ấy là ai ?

Các cụ ấy được diễn tả là những người “nhân lão tâm bất lão”. Ngoại hình các cụ tuy già, nghĩa là tóc các cụ đã bạc, răng các cụ đã long, da các cụ đã nhăn nheo và tay chân các cụ đã lỏng lẻo.

Thế nhưng, tâm hồn các cụ vẫn còn trẻ chứ chưa già, nghĩa là các cụ vẵn hăng hái nhiệt thành, dám chấp nhận cái mới và dám đương đầu với những thay đổi….

Chất trẻ vẫn lưu thông trong máu huyết, trong thân thể già nua của các cụ và lửa vẫn bừng cháy trong con tim đau ốm của các cụ. Tuy nhiên, số người nhân lão tâm bất lão như thế này, hẳn không nhiều lắm.

Có một thời ở Sàigòn thiên hạ đã gọi  nhạc sĩ Phạm Duy là một híppi già. Sở dĩ như vậy, vì tuổi đời đã đè nặng trên vai ông. Ngay từ hồi gã còn là một thằng bé mặc quần thủng đũng, thì những bài hát của ông  đã được phổ biến sâu rộng.

Thế nhưng, tâm hồn và tư tưởng của ông vẫn còn trẻ. Ông không phải chỉ viết về tuổi trẻ, mà hơn thế nữa, từng lời ca, từng khuông nhạc của ông đều thoát ra chất trẻ, làm cho người trẻ say mê và thiên hạ đã không ngần ngại tặng cho ông cái biệt danh là híppi già.

Ngày nay, khắp mọi nơi người ta đều hô hào phải trẻ hóa lãnh vực này, trẻ hóa lãnh vực kia và nhất là phải trẻ hóa cấp lãnh đạo.

Báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật viết :

“Chuyện sẽ không xa lạ một khi nước Nga có thủ tướng 36 tuổi hay là Việt Nam thời gian không xa có những nhà lãnh đạo, những chính khách lứa tuổi 30-40, nếu như công nghệ trẻ hóa, không chỉ là hạn mức tuổi tác mà thực sự là cả một quá trình chuẩn bị nhân tài, ươm trồng, vun bón”.

Mẹ chồng nàng dâu, như hai cô ca sĩ có thương nhau bao giờ. Cũng vậy, luôn có một vực thẳm ngăn cách giữa già và trẻ, giữa trẻ và già.

Trẻ chê già là cổ hủ, lỗi thời và…. khó tính. Gìa chê trẻ là thiếu kinh nghiệm, xốc nổi, ngu đần theo kiểu : trứng mà đòi khôn hơn rận.

Tuy nhiên, theo gã nghĩ :

- Trẻ phải kính trọng già và học hỏi nơi gìa vốn sống và kinh nghiệm. Còn già thì hãy tìm hiểu, cảm thông và nâng đỡ cho trẻ.

Có lẽ gã bèn phải mượn lời khuyên sau đây và Alfred de Vigny như một kết luận :

- Bạn ơi, một đời sống vĩ đại là gì ? Nếu không phải là một ý tưởng của tuổi trẻ được tuổi già thực hiện.

Kết luận như thế, chẳng hiểu gã đã lên mặt dạy đời hay chưa ? Và nhất là gã có đáng được phong làm…hàm cụ non hay chưa ?

Gã Siêu       gasieu@gmail.com

VỀ MỤC LỤC


Nguyện xin Thiên Chúa chúc phúc và trả công bội hậu cho hết thảy những ai đang nỗ lực "chắp cánh" cho GHVN bay lên

*************