Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 43, Chúa nhật 02.04.2006


Các số báo đã phát hành             MỤC LỤC

ĐÀO TẠO HÀNG GlÁO DÂN TRƯỞNG THÀNH LÀ MỘT VlỆC HẾT SỨC QUAN TRỌNG                     Vatican 2

Nhớ về người đã khuất núi                                                                Lm Nguyễn Ngọc Long

ĐÁP ỨNG ĐÒI HỎI CỦA THẬP GIÁ                                                          Lm Vũ Xuân Hạnh

Đức Tin Công Giáo và Thuyết Tiến Hóa                                                          Gs. Lê An Hoà

KIẾP SAU                                                                                                                  Vân Lực

THƯỢNG ĐẾ KHÔNG BAO GIỜ LÀ MỘT HUYỀN THOẠI!                        Tu Sĩ Bùi Ngọc Điệp

Ba loại cám dỗ trong lòng Hội Thánh                                                 Gs. Nguyễn văn Thành

CHO TÔI                                                                            Nhà văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

TÁI SINH LÀ BIẾN ĐỔI  HẲN                                                                Phó tế Nguyễn Định

CHUYỆN MỘT NÀNG CÔNG NHÂN VIỆT NAM                                          Lm. Lê Văn Quảng

Yêu thương đời                                                                                         Nhà Văn Quyên Di

HẠNH PHÚC                                                                                Chuyện phiếm của Gã siêu


ĐÀO TẠO HÀNG GlÁO DÂN TRƯỞNG THÀNH LÀ MỘT VlỆC HẾT SỨC QUAN TRỌNG

 

Giáo Hội chưa được thiết lập thực sự, chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo của Đức Ki-tô giữa loài người, nếu chưa có hàng giáo dân đích thực và nếu hàng giáo dânnày chưa cùng làm việc với hàng giáo phẩm. Thật vậy, Tin Mừng không thể bén rễ sâu trong tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một dân tộc; nêú không có sự hiện diện linh hoạt của giáo dân. Do đó, ngay khi thiết lập một Giáo Hội, phải hêt sức chú tâm đến việc đào tạo một hàng giáo dân Ki-tô giáo trưởng thành.

Thật vậy, các tín hữu giáo dân cùng một trật hoàn toàn thuộc về Dân Chúa và về xã hội trần gian. Họ thuộc về một dân tộc nơi chôn nhau cắt rốn của họ, về những kho tàng văn hoá của dân tộc, trong đó họ bắt đầu dự phần nhờ việc giáo dục, liên kêt với đời sống dân tộc bằng nhiều mối dây xã hội khác nhau, cộng tác vào tiến bộ của dân tộc qua cố gắng của mình trong nghề nghiệp, cảm thấy những vấn đề của dân tộc như là những vấn đề của chính mình và cố gắng giải quyết: Đàng khác, họ còn thuộc về Đức Ki-tô, vì họ được tái sinh trong Giáo Hội bằng đức tin và bí tích Thánh Tẩy, để nhờ đời sống mới và hoạt động mới, họ thuộc về Đức Ki-tô, để mọi sự quy phục Thiên Chúa trong Đức Ki-tô, và sau cùng đế Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài.

(Trích Sắc lệnh vê hoạt động truyền giáo của Giáo Hội Đến với muôn dân của Công Đồng Vati-ca-nô II đo Đức Thánh Cha Phao-lô VI ban hành ngày 7-12-1965, số 21).

VỀ MỤC LỤC
Nhớ về người đã khuất núi

 

Người ta nhắc nhớ tới đức cố giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị nhiều, nhất là dịp giỗ kỷ niệm một năm ngài qua đời, 2005. 02. 04. 2006.

Ðó là tâm tình đạo đức, lòng hiếu thảo kính trọng người Cha chung của Giáo hội đã khuất núi.

Người ta cũng đã, đang và sẽ thực hiện nhiều buổi lễ nghi cầu nguyện tưởng nhớ tới ngài, nhiều cuộc diễn thuyết nói về gương sống thánh đức của một vĩ nhân như ngài.

Ðây là việc phải đạo và chính đáng!

Ðức thánh cha Giaon Phaolô đệ nhị đã thành người thiên cổ từ một năm nay. Nhưng ngài vẫn còn hằng sống động trong trái tim tình yêu, lòng ngưỡng mộ của con người, nhất là trong Giáo hội Công giáo.

Tôi nhớ về ngài qua hình ảnh cỗ áo quan bao bọc thân xác của đức cố Thánh Cha Gioan Phaolo đệ nhị bằng gỗ giữ y nguyên mầu thiên nhiên không sơn phết pha nhuộm, ngày lễ an táng ngài hôm mùng 08.04.2005 ở Vatican.

Chiếc quan tài đó không có gì khác biệt. Nhưng mang sứ điệp đặc biệt khác thường. Chiếc áo quan đóng theo hình chữ nhật góc cạnh bằng phẳng thẳng đứng. Những góc mộng nối các góc đầu gỗ lại với nhau, và những mắt vết cùng đường gân của gỗ còn hiện hình nguyên trạng.

Trên mặt cỗ áo quan là hình cây Thánh Gía, chữ M và cuốn Phúc âm.

Cỗ quan tài được khiêng rước đặt trên nền đất có một tấm thảm lót bên dưới, trước bàn thờ dâng Thánh lễ và bên cạnh là một cây nến Chúa Phục sinh đang cháy tỏa ánh lửa.

Hình ảnh thật mộc mạc đơn sơ. Nhưng lại đánh động tâm hồn mọi người có mặt tại chỗ hôm tham dự Thánh lễ an táng ngài, và cả những người theo dõi buổi lễ qua màn ảnh truyền hình trên khắp thế giới. 

1. Người chết nối linh thiêng vào đời

Cố nhạc sĩ Trịnh công Sơn đã viết ra thành lời và phổ nhạc cung điệu tâm tình của mình, khi nghĩ đến những người đã nằm xuống: "Người chết nối linh thiêng vào đời!“.

Tâm tình này gợi nhớ lại đời sống cùng lời nói khi xưa của đức cố Thánh cha Gioan Phaolo đệ nhị nằm xuôi hai tay trong cỗ quan tài bằng gỗ mộc mạc.

Nhìn chiếc quan tài của ngài, do chính ngài mong muốn chọn cho mình, gợi nhớ đến lời suy tư: Chết không phải là hết, là tan xương nát thịt biến mất hẳn vào hư vô! Nhưng người đã khuất núi vẫn còn hiện diện trong tâm tưởng người còn đang sống trên trần gian.

1.1. Hơn 26 năm đức cố Thánh Cha Gioan Phaolo sống là người mục tử hy sinh trọn sức lực thể xác lẫn tinh thần và dồn tất cả mọi thời giờ cho Giáo hội công giáo thế giới, và nổi tiếng trong lãnh vực đạo đời, hầu như ai cũng nghe biết đến ngài. Nhưng khi qua đời lại chọn cho mình „chiếc giường – chiếc quan tài“ đơn sơ bằng gỗ mộc mạc.

Một gương mẫu đời sống hy sinh khiêm nhường không chỉ lúc còn sống, mà cả lúc đã chết!

1.2. Hơn 26 năm là vị thủ lãnh đạo Công giáo hoàn cầu có quốc gia Vatican riêng. Nhưng khi nằm xuống lại mong muốn được chôn trong trong lòng đất mẹ như tất cả mọi người, không muốn được đặt trong một lăng tẩm bằng đá cẩm thạch nổi trên mặt đất. 

Một đời sống tâm niệm nhìn nhận mình là tạo vật của Ðấng Tạo Hóa: Từ đất bụi con đã được tạo thành. Và giờ đây con cũng trở về với đất bụi. 

1.3. Hơn 26 năm là người kế vị Thánh Phero, thay mặt Chúa ở trần gian, có đủ mọi quyền hành tháo cởi, trói buộc cao cả. Nhưng khi chết lại mong muốn được khiêng đặt nằm trên nền đất trước bàn thờ Thiên Chúa.

Một đời sống luôn muốn hằng tuyên xưng: Trong tay Ngài, lạy Chúa, con xin phó thác đời con!

1.4. Hơn 26 năm phục vụ Giáo hội vì tình yêu Thiên Chúa và con người. Nhưng lúc đã ra người thiên cổ lại mong muốn được đặt trong cỗ áo quan đóng theo một hình chữ nhật phẳng lì, không chạm trổ góc cạnh, sơn phết, không cờ quạt bông hoa bao phủ.

Một đời sống chân thành không muốn để mình bị những lớp hào nhoáng bóng bẩy che lấp, làm lu mờ xa Thiên Chúa và xa con người.

1.5. Hơn 26 năm là Giáo hoàng của Giáo hội được kính trọng, được tung hô vạn tuế. Nhưng khi được gọi trở về đời sau lại mong muốn chỉ có cây Thánh Gía Chúa Giêsu đóng gắn trên mặt ván và cây nến Chúa Giêsu Phục sinh duy nhất dựng bên cạnh chiềc quan tài của mình.

Một đời sống thấm nhuần đức tin vào Thánh giá và ánh sáng Chúa Phục sinh trong mọi hoàn cảnh. Ánh sáng Chúa Phục sinh soi đường dẫn lối trong cuộc đời và cũng ánh sáng đó dẫn đưa trở về nhà Cha trên trời.

1.6. Hơn 26 năm đi tìm kiếm đến với con người, sống làm chứng cho tình yêu của Chúa. Nhưng lúc ra đi khỏi cuộc sống trần gian không muốn có một vòng hoa, một dòng chữ băng vải tưởng niệm nào chăng mắc xung quanh quan tài mình. Chỉ có cuốn Phúc âm của Chúa đặt nằm bên trên

Một đời sống dấn thân hoàn toàn cho Chúa. Bầu khí không bông hoa đèn nến trướng vải có vẻ khô khan cứng lạnh. Nhưng những trang trí hình thức đó không cần thiết, không thêm gì cho tình yêu Chúa. Phúc âm mới là nền tảng cho đời sống ra khơi làm nhân chứng.

1.7. Hơn 26 năm thu hút hấp dẫn người trẻ khắp thế giới. Nhưng lúc xuôi hai tay nhắm mắt, trái tim ngừng đập, lại chỉ có tấm hình Chúa Giêsu sống lại căng trên đỉnh đầu chiếc quan tài.

Một đời sống chỉ biết làm chứng cho Chúa Giêsu phục sinh (xx. Cv 1,22). Chính Chúa Giêsu phục sinh gây lòng hào hứng phấn khởi cho người Trẻ hôm qua, hôm nay và ngày mai. Vị Giáo hoàng chỉ là dụng cụ được Ngài dùng để sống và nói với người trẻ về Ngài.

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolo đã băng hà rồi mà vẫn muốn gần gũi, muốn sống tình liên đới với thiên nhiên, với con người như khi lúc còn sống. Sức sống chân thành nội tâm đó có sức cảm hóa thu hút lòng người.

Ðây là một người, như xưa kia Chúa Giêsu đã nói với Ông Nathanael, „ lòng dạ đơn sơ chân thành ngay thẳng“ ( Ga 1, 47)  

2. Trong trái tim con người

"Những gì khắc ghi sâu đậm trong tâm hồn người khác là (đài) kỷ niệm đẹp nhất của một người để lại.“ (Albert Schweitzer)   

Trong di chúc để lại, đức cố Thánh Cha Gioan Phaolô viết: „ Cha không để lại tài sản nào cần thiết phải phân chia“.

Nhưng ngài đã để lại rất nhiều: Một gia sản tinh thần khổng lồ!

Những bài suy tư, những bài giảng, những thư ngài viết, những câu nói chân thành đạo đức tình người, những thông điệp tông huấn, cả những nụ cười, những lời nói vui đùa của ngài với hết mọi lớp người trong những cuộc gặp gỡ. Những lời của ngài để lại hướng dẫn chỉ đường và theo đó con người có thể phác họa một nếp sống đức tin vào Chúa và tình người với nhau.

Và ngài còn để lại một mẫu đài kỷ niệm tuyệt vời: Hình ảnh chiếc quan tài bằng gỗ đơn sơ mộc mạc, trong đó ngài nằm xuôi hai tay!

Hai kỷ niệm này ghi khắc sâu đậm mãi mãi trong tâm hồn con người.

Trăm nghìn triệu Bạn trẻ đến với ngài, muốn cùng thông cảm sự đau khổ lúc ngài trên giường bệnh hấp hối và ngày lễ an táng . Vì họ cảm thấy ngài và họ cùng liên kết trong tình nghĩa cha con. Họ cảm thấy mang nợ với ngài

Xưa kia ngài đã đi tìm kiếm đến thăm họ. Giờ đây họ có nghĩa vụ tinh thần đến thăm ngài, đến tiễn đưa ngài.

Xưa kia ngài chỉ dẫn họ cách sống đức tin cách cầu nguyện ở những kỳ Ðại hội Giới trẻ thế giới. Giờ đây họ đến trước sân nhà ngài chắp dôi bàn tay đốt nến đọc kinh cho ngài.

Xưa kia ngài giơ vòng tay ra phía trước rộng mở đón chào họ. Giờ đây nghe đến tên ngài, nhìn thấy quan tài bao bọc ngài, họ dùng đôi bàn tay vỗ thành tiếng âm vang như muốn gào lên: Chúng con xin chào cha!

Xưa kia ngài hằng cổ võ tinh thần họ: các con Bạn Trẻ là tương lai của xã hội và Giáo hội! Giờ đây họ căng biểu ngữ viết lên tâm tình: Xin hãy tôn vinh phong thánh cho đức thánh cha của chúng ta! 

Ðức cố Thánh cha Gioan Phaolo đã đến với con người, với người trẻ bằng trái tim vui tươi niềm nở, đã nói với họ bằng ngôn ngữ tình yêu đơn giản dễ hiểu.

Bây giờ chết rồi, ngài cũng còn nói bằng ngôn từ dễ hiểu nhất: chiếc áo quan bằng gỗ đơn sơ mộc mạc đặt nằm trên nền đất.

Hình ảnh (đài) kỷ niệm này ghi khắc sâu đậm trong lòng người hơn cả.

Lm. Nguyễn ngọc Long

VỀ MỤC LỤC
ĐÁP ỨNG ĐÒI HỎI CỦA THẬP GIÁ

 

Tưởng nhớ Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II,

nhân kỷ niệm một năm ngày Ngài qua đời,

2.4.2005 – 2.4.2006

Những ngày của tháng 2.2005, Giáo Hội hoàn vũ đón nhận nhiều tin buồn. Nhưng xét cho cùng, trong cái nhìn đức tin, tất cả nỗi buồn ấy đều toát lên tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Và vì là Thiên ý, hình như chẳng có gì là nỗi buồn mà tất cả đều mang niềm vui, bởi tất cả đều chất chứa ơn cứu độ.

1. Gioan Phaolô II và Nữ tu Lucia.

Chẳng hạn, ngày 13.2.2005, tại đan viện Coimbra, nước Bồ Đào Nha, Nữ tu Lucia, chứng nhân cuối cùng của sự kiện Phatima năm 1917 rời khỏi trần thế ở tuổi 97. Đối với thế giới loài người, đây là một tin buồn. Nhưng đối với thế giới của đức tin, chúng ta quả quyết, đây là một niềm vui lớn. Bởi cô bé Lucia ngày nào chỉ nhìn thấy Đức Maria, người Mẹ gương mẫu của cả Giáo Hội bằng đôi mắt phàm trần. Và sự nhìn thấy ấy, dù đều đặn trong các tháng từ tháng 5 đến tháng 10, cũng chỉ là một ánh nhìn thoáng qua, sau đó cô bé vẫn tiếp tục đời thường của mình như bao nhiêu người trên trần thế.

Hôm nay, cô bé Lucia của 88 năm về trước, được Chúa gọi về, từ đây sẽ diện kiến Thiên Chúa, sẽ sống bên Mẹ của mình trong hạnh phúc miên trường, một hạnh phúc của đời vĩnh cửu không bao giờ bị ai lấy mất. Hiểu và tin như thế, chắc chắn Nữ tu Lucia đã sống những chuỗi ngày làm người của mình trong sự khắc khoải trông chờ cái giây phút cuối đời thiêng liêng ấy. Vì khi nhắm mắt vĩnh biệt cõi đời, Chị đã thực sự sinh ra trong sự sống mới, một sự sống không tàn, không phai.

Trong những ngày tang lễ của Nữ tu Lucia, cũng là những ngày thế giới tiếp tục chia sẻ tin buồn với Giáo Hội: Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đau nặng phải đưa vào bệnh viện. Dẫu biết rằng, tuổi cao thì sức yếu, cả Giáo Hội vẫn bàng hoàng, vẫn âu lo.

Thực ra, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã đựơc đưa vào bệnh viện từ những ngày đầu tháng 2.2005. Kể từ đó, nhiều người đã bi quan đến độ đưa ra nhiều dự đoán khác nhau xung quanh ngai giáo hoàng. Người ta tin rằng, đây là những ngày cuối cuộc đời của Cụ Già Gioan Phaolô II 84 tuổi này. Nhưng tất cả những dự đoán ấy chưa đến lúc thành hiện thực. Mười ngày sau, Đức Thánh Cha rời bệnh viện. Thế nhưng, ngay sau đó, một lần nữa, Đức Thánh Cha phải nhờ đến sự phẫu thuật nối cuống phổi bằng một ống thông hơi để có thể thở dễ dàng hơn. Như vậy, chỉ trong vòng trên dưới mười năm, Đức Thánh Cha đã phải trải qua ít nhất năm lần phẫu thuật. Vì thế, sức khỏe của Đức Thánh Cha kiệt quệ nhiều.

Sau khoảng hai tháng cố gắng điều trị, sức lực của Đức Thánh Cha vẫn đến hồi liệm tắt. Lúc 9 giờ 30 tối thứ sáu 1.4.2005 (giờ Vatiacan), người ta nghe ông Navarro Valls, phát ngôn viên của Tòa Thánh loan tin Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã bất tĩnh sau khi tim và thận yếu nặng, và ngày càng trầm trọng hơn. Đến trưa hôm sau, 2.4.2005, Tòa Thánh lại một lần nữa xác nhận, hơi thở của Đức Thánh Cha rất nặng nhọc. Ngài nấc từng nhịp, trong khi thận đã không còn hoạt động. Thế rồi chuyện gì phải đến đã đến, dù cả Giáo Hội âu lo, đau buồn. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, sau 28 năm cai quản Giáo Hội, đã rời trần thế tại phòng riêng của Ngài lúc 9 giờ 37 phút , giờ Vaticăn, đêm thứ Bảy trong tuần Bát nhật Phục Sinh 2.4.2005.

Chỉ chưa đầy một tháng sau khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II qua đời, ngày  28.4.2005, trong buổi tiếp kiến đức Hồng y Jose Saraiva Martins, Bộ Trưởng bộ Phong Thánh, Đức đương kim Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã chấp thuận miễn chuẩn quy định chờ 5 năm sau khi qua đời, để có thể mở ngay án phong chân phước và phong thánh cho Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Nửa tháng sau, tức ngày 13.5.2005, quyết định mở án phong chân phước và phong thánh cho Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI công bố chính thức tại đền thờ thánh Gioan Latêranô, nhà thờ Chánh tòa giáo phận Rôma, trong lúc đang gặp gỡ hàng giáo sĩ của giáo phận Rôma.

Điều đáng lưu ý là, ngày công bố án phong thánh cho Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II vừa là ngày lễ kính Đức Mẹ Phatima, vừa là ngày kỷ niệm 24 năm (1981-2005), ngày Đức Gioan Phaolô II bị mưu sát tại quảng trường thánh Phêrô.

Trong sự kiện Đức Mẹ Phatima, Nữ tu Lucia và cuộc đời giáo hoàng của Đức Gioan Phaolô II có một mối liên hệ mật thiết. Trước hết, chính Đức Thánh Cha, cũng như Nữ tu Lucia, là người rất yêu mến Đức Mẹ. Sau nữa, do hình ảnh được cho rằng chính Đức Mẹ mạc khải trong thị kiến của Nữ tu Lucia về vị Giám mục áo trắng đổ gục giữa làn đạn, đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II xem đó là hình ảnh báo trước cuộc ám sát dành cho Ngài. Đức Thánh Cha tin chắc rằng, chính Đức Mẹ Phatima đã che chở Ngài thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Lúc sinh thời, Đức Gioan Phaolô II đã có đến ba lần thăm viếng Chị Lucia trong ba dịp khác nhau: 1982, khi ngài đến Phatima tạ ơn sau khi bị ám sát; 1991, nhân 10 năm biến cố bị giết hại bất thành; và ngày 13.5.2000, nhân dịp cử hành lễ phong chân phước cho Giaxinta và Phanxicô. Trong thánh lễ phong chân phước này, cũng là một trong những dịp hiếm hoi, Chị Lucia ra khỏi dòng kín để tham dự thánh lễ.

Và rồi chỉ một thời gian gian ngắn sau cái chết của Nữ tu Lucia, Chúa đã gọi vị Giáo Hoàng của thị kiến năm xưa về cùng Chúa. Hai con người thánh thiện, cùng trung thành trong tình mến đối với Thiên Chúa, cùng có chung lòng yêu mến Đức Mẹ, giờ đây, cùng được hưởng niềm vui thiên quốc. Chúng ta tin và hy vọng rằng, sự thánh thiện của cả hai con người nổi tiếng này, sẽ sớm được tuyên phong trên bàn thờ Giáo Hội, như đã tuyên phong hai người bạn của Chị Lucia là Phanxicô và Giaxinta.

Đón nhận tin buồn, nhưng cũng chính là những tin vui pha lẫn trong nhau, ta không dừng lại như một thông tin về niềm vui hay nỗi buồn mà thôi, nhưng trong cái vui, cái buồn tưởng như chỉ là chuyện bình thường, lại chất chứa cả một chiều sâu của tình yêu ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho con người, ban cho Giáo Hội, cho riêng cá nhân Nữ tu Lucia và vị Giáo Hoàng lừng danh của thế kỷ XX.

2. Đáp ứng đòi hỏi của thập giá.

Chúng ta đang sống trong những tuần lễ cuối cùng của mùa Chay. Đỉnh điểm của mùa Chay là tuần Thánh. Với nghi thức rước Lá, tưởng niệm việc Chúa Giêsu tiến vào thủ đô Giêrusalem trong vinh quang, Giáo Hội chính thức khai mạc tuần Thánh. Lắng nghe và suy niệm bài Thương Khó dài tường thuật biến cố tử nạn đầy ảm đạm của Chúa Giêsu, ta lại thấy tiếng nói của thập giá vang trong tâm hồn mình, đòi hỏi cả một nỗ lực lớn, một lòng can đảm đầy quả cảm để có thể cùng Chúa vác thập giá bước theo Chúa suốt đời mình. Đòi hỏi đó, không chỉ riêng bạn và tôi hôm nay, ngày xưa các môn đệ của Chúa cũng đã từng được đòi hỏi như thế. Mà đòi hỏi của thập giá là đòi hỏi nghiêm chỉnh đến mức khắt nghiệt, có lúc ê chề, đau đớn. Các môn đệ Chúa Giêsu đã từng hoang mang, đau đớn như thế khi chứng kiến cuộc thương khó của Thầy.

Mới mấy ngày trước đây, dân chúng còn dành cho Thầy một vinh dự quá lớn khi đón tiếp Thầy vào thủ đô, vậy mà ngay sau đó, người ta đã trở mặt nhanh chóng và lạnh lùng. Thay cho sự tiếp đón, bay giờ người ta dành cho Thầy những trận đòn độc ác đến ngỡ ngàng. Những trận đòn tàn nhẫn cứ y như là bao nhiêu nỗi căm hờn, sự tức tối, thù ghét chất chứa bao nhiêu năm tháng bây giờ được dịp bung ra dồn vào đầu ngọn roi, vào mọi lời sỉ vả, chửi bới, dồn vào những mũi đinh nhọn hằn học giết chết Thầy…

Hóa ra phút vinh quang của ngày lễ Lá chỉ là một ánh chớp thoáng qua rồi lịm tắt. Đâu hết rồi cảnh huy hoàng của những người ái mộ trải áo, lót lá xuống đường nghênh đón vua trời? Đâu hết rồi những lời tung hô dậy trời: “Hoang hô con vua Đavit, chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến; hoang hô trên các tầng trời”? Đã biến đi đâu cảnh náo động đến tưng bừng khắp Giêrusalem khi “Tiên tri Giêsu” tiến vào thành? Cứ như thế, niềm vui vừa mới chớm, nỗi khổ đã lên ngôi. Niềm vui sao mà nhỏ bé, còn nỗi buồn sao cứ ngất cao đầy ứ lòng người. Các môn đệ đã thấy hết, đã chứng kiến hết. Vậy đó, vinh quang chỉ là những ánh chớp, còn nỗi buồn cứ giăng mắc không thương tiếc. Không thể đối diện với nó, các môn đệ chỉ còn biết trốn chạy.

Cuộc thương khó vượt quá tầm hiểu biết, vượt lên trên mọi lý lẽ của loài người, bởi sức người khó có thể chấp nhận được vì sao Đấng là Thiên Chúa làm người lại có thể bị vùi giập đến tan nát như thế? Càng không thể hiểu, các môn đệ càng sợ hãi, càng mất tất cả niềm hy vọng, mất tất cả sinh lực sống. Các môn đệ Chúa Giêsu trở thành những kẻ bi quan, khiếp đảm, bạc nhược.

Nhưng đâu chỉ có thế, đòi hỏi của thập giá còn là đòi hỏi của cá nhân, dành cho mỗi một người, cần sự đáp trả bằng lòng trung thành của mỗi một người. Để chấp nhận thập giá và để đáp ứng mọi đòi hỏi của thập giá, chỉ có một điều kiện duy nhất, cũng là điều kiện tiên quyết, đó chính là lòng yêu mến thâm sâu và cá vị với Chúa Giêsu. Thánh Gioan tông đồ, Đức Maria là những người có một tâm hồn chan chứa lòng yêu mến ấy. Chính vì lòng yêu mến cá vị này, mà cả hai: Đức Mẹ và thánh Gioan đã can đảm chứng kiến đến giây phút sau cùng nỗi đau của thập giá mà Chúa Giêsu đã chấp nhận suốt đời của Người cho đến đỉnh cao là cái chết bi thương trên đồi Sọ. Bởi thập giá Chúa Giêsu phải gánh lấy đâu chỉ là cây thập giá bằng gỗ trên đường thương khó, mà nó còn là cây thập giá suốt chiều dài trên đường dương thế của Người. Chứng kiến đến cùng bằng sự nhìn ngắm thẳm sâu và bằng tình yêu hiệp thông mật thiết cách cá vị như thế, chính là lúc Mẹ Maria cũng như Gioan tông đồ đã cùng kề vai vác thập giá với Chúa. Vì chính trong tình yêu nỗi đau hay niềm vui của người này trở thành nỗi đau hay niềm vui của người kia. Bởi đó ta có thể nói, trong lòng yêu mến cá vị của mình, thập giá của Chúa chính là thập giá của Maria, của Gioan khi đi bên cạnh Chúa Giêsu.

Các môn đệ của Chúa Giêsu hôm nay cũng vậy, cũng chẳng khác gì các môn đệ ngày xưa. Chẳng hạn, đức Gioan Phaolô II, sau nghững ngày kiệt sức tàn hơi, đã ra đi trong bình an. Nhưng cách đây 28 năm, ngày lên ngôi giáo hoàng, chắc chắn là một ngày hạnh phúc tuyệt vời của cả Giáo Hội. Nhận lấy Ngôi vị giáo hoàng, nếu chỉ nhìn bằng cặp mắt phàm trần, Đức Thánh Cha cũng đã đạt tới đỉnh cao của vinh quang. Chắc lúc đó, Đức Thánh Cha nhận được nhiều lời chúc mừng lắm. Nhưng rồi những ngày vinh quang ấy lại trôi qua như bao nhiêu ngày khác, trả Gioan Phaolô II lại với đời thường, với trách nhiệm phải mang, phải gánh, với cả niềm vui lẫn sự lo âu, với sự thương, sự ghét, cả đến những lần ám sát mà người đời dành cho trong chuỗi ngày làm giáo hoàng của mình. Niềm vui đâu đó quanh đời chỉ là những ánh chớp, còn đòi hỏi của thập giá trong trách nhiệm, trong đau khổ không bao giờ vắng bóng.

Cũng vậy, Nữ tu Lucia và hai người bạn trẻ là Giaxinta và Phanxicô, cùng được nhìn thấy Đức Maria với Chị, còn có cả một hạnh phúc lớn hơn vì được nhìn thấy tận mắt Mẹ Thiên Chúa viếng thăm thế giới. Nhưng những biến cố lẫy lừng của năm 1917 rồi cũng qua mau. Giaxinta và Phanxicô đã vội vã rời thế giới. Chỉ còn một mình Nữ tu Lucia, Thiên Chúa muốn Chị ở lại để làm chứng cho sự kiện Phatima. Nhưng mọi sự phải đâu trơn tru, dễ dàng. Khi dấu lạ Phatima được loan báo, hầu như mọi người đều chống đối. Sự chống đối có lúc căng thẳng dữ dội. Giữa một bên đối diện với thực tế cứng lòng tin của nhân loại, bên kia là mạc khải từ trời cao phải được loan báo, chắc chắn Lucia đã phải đau khổ nhiều. Đòi hỏi của thập giá Chúa Kitô là thế, bao giờ cũng mạnh mẽ và quyết liệt.

Cũng là người môn đệ của Thầy Giêsu trong cuộc đời này, chắc chắn đòi hỏi của thập giá đã và sẽ tiếp tục không khước từ chúng ta. Theo Chúa giữa lúc Chúa được tung hô, chẳng khó gì. Nhưng tiếp tục theo Chúa và ở lại với Chúa giữa lúc Chúa bị loại trừ, bị bách hại là một thách thức lớn. Càng dấn bước theo Chúa sâu xa bao nhiêu, đòi hỏi của thập giá càng lớn lao, mạnh mẽ và dữ dội bấy nhiêu. Chúng ta hãy nhìn lên Đức Maria, nhìn mẫu gương của Gioan tông đồ, của nhiều chứng nhân khác trong Hội Thánh như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, như Nữ tu Lucia,  mà cố gắng hiến dâng tình yêu, hiến dâng lòng trung thành của mình.

Nếu đã có lần nào ta va vấp trong cuộc đời, thì hãy nhìn mẫu gương của mười tông đồ còn lại, là những người đã từng khiếp đảm trốn chạy, nhưng cũng đã lấy lại niềm tin để tiếp tục sống trung thành. Những tấm gương ấy sẽ tạo thêm nghị lực để ta đủ sức đứng lên làm lại những gì đã mất. Mẫu gương trung thành của Đức Mẹ, của các thánh tông đồ, của nhiều chứng nhân trong Giáo Hội, phải là bài học thường xuyên liên tục suốt đời Kitô hữu của bạn và của tôi.

Nguyện xin Đức Mẹ, xin các thánh Tông đồ cầu bàu cho chúng ta. Chúng ta không quên xin Chị Lucia, xin Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, người mà Giáo Hội đang xúc tiến việc phong thánh, cầu bàu cho chúng ta, để chúng ta hoàn thành những đòi hỏi của thập giá suốt cuộc đời mình cách xuất sắc nhất.

Lm. VŨ XUÂN HẠNH

VỀ MỤC LỤC
Đức Tin Công Giáo và Thuyết Tiến Hóa

 

Bàn về sự lên hệ của thuyết tiến hoá và đức tin là một chuyện hết sức phức tạp, liên quan đến thần học, triết học, khoa học, v.v… Những học giả lỗi lạc nhất cũng không đồng ý với nhau, nên không phải chỉ thông minh và học nhiều là hiểu được vấn đề. Tác giả bài này vừa kém thông minh vừa ít hiểu biết trong các vấn đề có liên quan, nên chắc chắn không khỏi sai lầm. Nếu vậy thì viết làm gì? Tôi chỉ xin chia sẻ cái hiểu biết giới hạn của mình, một phần vì nhiều người hỏi, nhất là các em trong lứa tuổi trung và đại học, và nhiều thầy cô cũng hỏi, nên tôi cố gắng học hỏi và trả lời theo sức của mình. Hy vọng các học giả chân chính sẽ viết các bài khác hay hơn, rõ hơn, đầy đủ hơn sau khi họ đọc bài kém cỏi này. Phần lớn tư tưởng được trình bày ở đây là từ Giáo sư John Haught thuộc đại học Georgetown, qua hai cuốn sách God After Darwin (xuất bản năm 2000) và Deeper Than Darwin (2003) mà tôi chỉ hiểu một phần nhỏ. Một văn kiện quan trọng hơn, mà chính GS Haught cũng thường nhắc tới, là bài huấn từ của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cho ủy ban Khoa Học Tòa Thánh vào ngày 22/10 năm 1996, mà tôi xin trích dẫn dưới đây (độc giả có thể xem toàn bộ bản văn tiếng Anh tại http://www.ewtn.com/library/PAPALDOC/JP961022.HTM) .

Vấn Đề Đức Tin 

Loài người từ khỉ mà ra? Chứ không phải do Thiên Chúa trực tiếp tạo dựng nên và ban cho một linh hồn giống hình ảnh Ngài sao? Nhiều người Công Giáo đã quá quen với câu hỏi đó. Thuyết tiến hoá còn đưa ra nhiều vấn đề khác, ít quen thuộc hơn nhưng còn nan giải hơn. Tôi chỉ xin đưa ra một vài thí dụ về các vấn đề này.

Vũ trụ dưới con mắt của thuyết tiến hóa rất tàn khốc. Ông Trời như bất cần, để cho các loài thụ tạo dành sống, tiêu diệt nhau, theo nguyên tắc chọn lựa tự nhiên (natural selection) vô tư. Như vậy đâu phải là một Thiên Chúa tình thương đã tạo dựng như Giáo Hội Công Giáo dạy?

Vũ trụ biến chuyển bất ngờ, không thể tiên đoán bước kế tiếp được, theo thuyết tiến hóa. Như vậy có một Thiên Chúa toàn năng và biết hết mọi sự không? Nếu có Thiên Chúa đó, thì thuyết tiến hóa không thể đúng được, mà chỉ nói lên sự dốt nát của con người thôi?

Cái vũ trụ quan mà đa số mọi người hiện đang chấp nhận là một vũ trụ quan rõ ràng, có trật tự, và có ý nghĩa: từ vật vô tri, đi lên tới các thảo mộc, rồi tới động vật, rồi tới con người, và trên hết là Thiên Chúa. Mỗi bậc cách biệt hẳn nhau, thí dụ như con người khác hẳn con thú. Chúng ta có lẽ đã xây dựng sự hiểu biết về đức tin Công Giáo trên cái vũ trụ quan này. Khi thuyết tiến hóa cho thấy cái vũ trụ quan đó có lẽ là quá đơn sơ đến độ sai lầm, chúng ta đâm lo lắng là không biết đức tin của chúng ta có bị thuyết tiến hóa gạt bỏ cùng với cái vũ trụ quan đơn sơ kia không.  

Vũ trụ quan của thuyết tiến hóa ra sao? Vũ trụ đã có từ 13.7 tỉ năm trước—có lẽ ông Darwin cũng không ngờ điều này. Sự sống, kể cả cây cỏ, mới có gần đây, và lịch sử con người lại càng mới hơn, như trang cuối của một bộ bách khoa tự điển gồm cả vài chục cuốn và mỗi cuốn cả ngàn trang. Nếu mục đích của Tạo Hóa là tạo dựng con người, sao phải vất vả nhiều tỉ năm, với bao nhiêu tai ương và thay đổi, mới tới được giai đoạn này? Và với bối cảnh lịch sử hàng tỉ năm như vậy, mặc dù con người có cao trọng hơn các phần khác trong vũ trụ thật, nhưng đồng thời không tách biệt khỏi các loài khác như trong vũ trụ quan cũ, và chỉ là một phần tí hon trong cái lịch sử dài này.

Đây là vấn đề cho người Công Giáo: nếu thuyết tiến hóa đúng, có còn chỗ đứng cho đức tin Công Giáo nữa không? Để bảo vệ đức tin người Công Giáo có cần tấn công thuyết tiến hóa không? Thuyết tiến hóa là một phần của khoa học, mà khoa học của con người bất toàn, nên thuyết tiến hóa cũng bất toàn, vậy ta có nên dẹp khoa học bất toàn này ra khỏi lãnh vực đức tin và khỏi lo tới nó nữa hay không? Thuyết tiến hóa có thể song hành với đức tin không? Thuyết tiến hóa có thể giúp đức tin phát triển bằng cách giúp ta hiểu và yêu mến Chúa hơn không? Và đức tin có thể hướng dẫn thuyết tiến hóa không?

Giáo Huấn của Giáo Hội về Thuyết Tiến Hóa

Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhắc lại thông điệp Humani generis của ĐGH Piô XII năm 1950, trong đó nói rõ rằng không có gì xung khắc giữa thuyết tiến hóa và đức tin, với điều kiện là ta để ý tới một số vấn đề.

ĐTC Gioan Phaolô II công nhận giá trị của thuyết tiến hóa, không chỉ coi nó là một giả thuyết hoang đường, “… những kiến thức [khoa học] mới nhất cho chúng ta thấy sự tiến hoá [xác thực] hơn là một giả thuyết.  Thật đáng thán phục khi thấy các nhà nghiên cứu đã từng bước một chấp nhận [tính khả thi] của thuyết này sau khi đã có một chuỗi những khám phá mới trong các lãnh vực tri thức khác nhau. Không phải vì [mục đích] tìm tòi hay chế tạo, nhưng là do kết quả của những cuộc nghiên cứu độc lập mà [người ta] đã thấy được điểm quy chiếu [của các ngành khoa học]; điểm quy chiếu này tự nó đã là một chứng cứ hùng hồn cho thuyết tiến hoá (fresh knowledge has led to the recognition that evolution is more than a hypothesis. It is indeed remarkable that this theory has been progressively accepted by researchers, following a series of discoveries in various fields of knowledge. The convergence, neither sought nor fabricated, of the results of work that was conducted independently is in itself a significant argument in favour of this theory). 

Ngài không gạt thuyết tiến hóa ra khỏi lãnh vực đức tin, “Huấn quyền của Hội Thánh quan tâm trực tiếp đến câu hỏi của sự tiến hoá… (The Church’s Magisterium is directly concerned with the question of evolution…)” Ngài nhận xét rất tinh tế và chính xác rằng có nhiều thuyết tiến hóa chứ không phải một, “We should speak of several theories of evolution.”

Ngài còn kết luận bài huấn từ đó rằng vấn đề vấn đề sự sống liên quan trực tiếp đến chính Thiên Chúa. Söï soáng thuoäc veà Thieân Chuùa. Ngaøi laø Thieân Chuùa haèng soáng: “Even more, ‘life’ is one of the most beautiful titles which the Bible attributes to God. He is the living God.”

Phản Ứng và Thuyết Minh Định (Intelligent Design) 

Một số người Thiên Chúa Giáo (Công Giáo cũng như Tin Lành) không đồng ý với Đức Thánh Cha. Họ cho rằng thuyết tiến hóa là duy vật và sai lầm. Chỉ một ít người nhắm mắt đi theo thuyết Tạo Dựng, tức là tin vào nghĩa đen của Cựu Ước, theo đó vũ trụ chỉ mới có quãng 6000 năm. Chúng ta nên gạt thuyết này qua một bên. Chính thánh Augustine, từ thế kỷ thứ 5 sau công nguyên, đã coi những người hiểu lầm Thánh Kinh như vậy là một điều xấu hổ và nguyên nhân làm người khác coi thường Giáo Hội. Một thuyết mới hơn, và phần nào có uy tín hơn, tạm gọi là thuyết minh định (intelligent design, thuyết này dưạ trên quan niệm rằng sự sống quá phức tạp để có thể cho rằng đó chỉ là sản phẩm của ngẫu nhiên). Người phổ biến thuyết này là một luật sư, Phillip Johnson. Ông viết cuốn Darwin on Trial (1991). Đa số những người theo nhóm này là Tin Lành bảo thủ, tuy nhiên cũng có vài người Công Giáo, như ông Michael Behe.

Vắn tắt thì thuyết này có một cái đúng và nhiều cái sai. Cái đúng là không chấp nhận một thuyết tiến hóa đặt nền móng trên một triết lý duy vật. Cái sai chính là thuyết minh định tự coi mình là khoa học, nhưng bản chất của nó chỉ là một triết lý chống lại duy vật.  Thuyết này cho rằng sự chọn lọc tự nhiên, căn bản của thuyết tiến hoá, là duy vật. Tuy nhiên, thuyết tiến hóa đâu nhaát thieát phải là duy vật. Như ĐTC Gioan Phaolô II nói, có nhiều thuyết tiến hóa, chỉ một trong những thuyết này dựa trên duy vật, và Giáo Hội không chấp nhận thuyết đó.

Có một số hệ thống triết học, như thuyết duy vật, là vô thần và không được Giáo Hội chấp nhận. Ngoài ra, Giáo Hội đã dùng nhiều hệ thống triết học khác nhau như những ngôn ngữ bất toàn để diễn tả một đức tin sâu thẳm trong một thời gian nào đó, thí dụ như thánh Augustine dùng triết học của Platô, hay thánh Tôma dùng triết học Aristotle. Những triết học đó chỉ là những ngôn ngữ của thời đại, có phần nào chính xác, nhưng không toàn hảo. Ngôn ngữ triết học thích hợp trong khung cảnh thuyết tiến hóa có lẽ là triết lý về quy trình (process philosophy) của toán học gia Alfred North Whitehead (1861-1947). Những hệ thống triết học này vượt qua tầm mức của bài này (và của tác giả nữa). Điểm chính ở đây là đức tin dùng ngôn ngữ của triết học, nhưng không lệ thuộc vào một hệ thống mà thôi. Như vậy có nghĩa là có những lúc con người phải suy nghĩ và diễn tả lại những điểm không thay đổi cũng như những hiểu biết mới của đức tin trong một ngôn ngữ mới.

Thuyết minh định chưa có thể so sánh với thuyết tiến hóa trong lãnh vực khoa học: cả khoa sinh vật học (biology), ngày nay dựa hoàn toàn trên thuyết tiến hóa, trong khi chưa có một bài khảo cứu nào của nhóm theo thuyết minh định được xuất bản trên bất cứ tập san khoa học nào (peer review journals). Chúng ta cũng tạm gác thuyết này qua một bên và trở về với thuyết tiến hóa.

Đặc Tính Của Thuyết Tiến Hóa

Về mặt căn bản, thuyết tiến hoá chủ trương mọi sinh vật đều bị biến đổi theo dòng thời gian. Từ đơn giản đến phức tạp, nêu hội đủ thời gian và điều kiện thay đổi của môi trường. Có nghiã rằng sự bất biến, thường hằng không thuộc về sự sống. Vì có sống là có thay đổi. Nhưng những thay đổi này không xảy ra nếu không có sự chọn lọc tự nhiên và thời gian tiệm tiến. Đó là ba đặc tính chính của thuyết tiến hoá: thay đổi, chọn lọc, và tiệm tiến. 

Đặc tính đầu tiên là có những đột biến hoặc thay đổi mới lạ (accidents, mutations). Những đột biến này gây khó khăn đủ các nơi. Chính trong khoa học cổ điển, một nguyên tắc căn bản và thiết yếu là sự kiện có thể lập lại được (replicable) trước đến giờ, và mãi về sau sẽ luôn luôn như thế, thì mới có thể tiên đoán được. Hệ thống kinh tế tư bản, dù nổi tiếng về vấn đề phát triển những đường hướng mới, vẫn sợ thay đổi và coi sự ổn định (stability) như một giá trị cao, thí dụ như thị trường có ổn định, luật pháp có vững vàng (predictable) thì mới khuyến khích việc đầu tư. Những nền chính trị độc tài cũng sợ những ảnh hưởng mới. Ngay thuyết minh định kể trên cũng muốn loại bỏ cái thực sự là mới, bằng cách cho cái mới này vào sự tiền định của Thiên Chúa: con người ngu si cứ tưởng là mới, chứ Thiên Chúa đã tính như vậy từ lâu rồi, không có gì phải ngạc nhiên hay lo lắng. Ngay trong dân gian, chúng ta cũng hay nghe bà con an ủi nhau, “thôi thế là ý Chúa,” cho dù đó là điều hãi hùng!

Chúng ta thấy đặc tính đầu tiên này của thuyết tiến hóa gây trở ngại đủ mọi nơi, chứ không riêng gì cho nền thần học cổ truyền. Mặt khác, chính cái mới lạ này rất đẹp. Hơn nữa, những điều mới lạ không xa lạ gì trong kinh nghiệm của con người. Không những các họa sĩ, văn sĩ sáng tạo những cái mới, mà những kinh nghiệm của mỗi người chúng ta luôn mới lạ, như khi mới lập gia đình, mới có con, mới mất việc, v.v… Gần hơn nữa, mỗi người luôn luôn có cảm nhận mới: tôi chưa bao giờ có cảm nhận như tôi đang cảm nhận ở giây phút này, trong hoàn cảnh này, ở tuổi này. Trước đây cũng như sau này chính tôi cũng như mọi người không ai còn có cảm nhận y như vậy nữa. Kinh nghiệm chủ quan (subjective) này khoa học tân tiến nhất cũng chưa biết cách dùng.

Chúng ta thường nói Thiên Chúa là đấng chân thiện mỹ. Cái đẹp (mỹ) cần cả hai phần: cái mới lạ cũng như cái trật tự. Chỉ có trật tự thì mất đi một phần thiết yếu của cái đẹp, và nhất là mất đi sự sống, mà chỉ còn lại cái máy. Khoa vi tính ngày ngay đang cố dùng máy móc tối tân nhất để bắt chước phần nào cái mới lạ của sự sống này qua khoa tri thức nhân tạo (artificial intelligence). Vũ trụ, với sự sống, vượt qua những cỗ máy này xa, vì luôn có sự mới lạ bất ngờ. Vì sự mới lạ này đẹp, ta càng thán phục Thiên Chúa đã dựng nên một vũ trụ đẹp như vậy. Có khi nào chúng ta quá sợ hãi, không dám nhìn ra cái đẹp này, nên tìm mọi cách từ chối đặc tính này của vũ trụ? Có phải vì vậy mà một số người phải chống thuyết tiến hóa tới cùng, vì thuyết tiến hóa nhận ra cái đẹp khó chấp nhận này trong vũ trụ?

Chúng ta chỉ nói qua hai đặc tính nữa của thuyết tiến hóa: sự chọn lọc tự nhiên (natural selection) và lịch sử lâu dài hoặc tiệm tiến (deep time). Sự chọn lọc tự nhiên cho chúng ta cái trật tự, là một trong hai đặc tính của cái đẹp đã bàn ở trên. Lịch sử lâu dài có thể diễn tả sự kiên nhẫn của Thượng Đế.  

Đức Tin và Khoa Học 

Tôi xin trình bày sơ qua một vài cách nhìn khác nhau về sự liên hệ giữa đức tin và khoa học. Một cách là xung đột: chấp nhận một trong hai. Ai theo đức tin thì đừng để khoa học hạn hẹp của con người hạn hẹp làm chia trí; quên khoa học đi, chỉ nhìn đức tin mà thôi. Ai theo khoa học thì bỏ đức tin, vì đức tin chỉ là cái nạng của người dốt, cho những người mê tín, ở vào thời đại khoa học chưa phát triển. Khá nhiều thày cô trong các đại học có quan niệm này.

Một cách khác nữa là lẫn lộn (confabulation). Thuyết sáng tạo (Creationism, cho rằng vụ trụ này được dựng nên theo tiến trình y hệt sách Sáng thế trình bày) là một thí dụ của cách này, coi thánh kinh như sách khoa học.

Một cách nữa là tách rời (separation): khoa học bàn về thế giới này, còn đức tin bàn về giá trị của con người cũng như đời sau. Hai cái không liên quan tới nhau. Có lẽ khá nhiều người đi theo cách này, một phần vì không biết cách nối giữa hai phần nên giữ chúng tách biệt.

Có lẽ cách hấp dẫn nhất và được bàn thêm dưới đây là củng cố cho nhau (confirmation). Sự thật nào mà khoa học có thể làm sáng tỏ được thì trở thành một phần của cuốn thánh kinh sống trong thiên nhiên, giúp con người hiểu thêm về Thiên Chúa và về chính mình, dù tự khoa học không thể đưa tới cái hiểu biết này được, mà chỉ là một phần chất liệu đưa tới sự hiểu biết này. Đồng thời, đức tin cũng có thể gợi ý và cảm hứng cho khoa học, cho dù thần học không thay thế cho khoa học được. 

Vài Cách Đức Tin Chấp Nhận Thuyết Tiến Hóa

Ngay cả khi tín hữu chấp nhận thuyết tiến hóa, cũng có nhiều cách chấp nhận. Một cách là chiụ đựng (tepid tolerance). Sự quan phòng của Thiên Chúa huyền diệu, nên mình đâu biết gì mà bàn tới. Còn cái mà con người tưởng là mới lạ, chưa chắc đã là mới lạ trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Cách này có cái hay là nhận biết cái hữu hạn của con người, nhưng thật ra cũng không nói lên được điều gì khác.

Một cách khác là coi thuyết tiến hóa như một phương pháp Thiên Chúa dùng để dạy con người (divine pedagogy). Những đau khổ trong thiên nhiên giúp cho con người suy nghĩ về điều Thiên Chúa muốn dạy ta, như trong thư gửi Do Thái 12:6, “Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy.” Cái hay của cách này là phần nào giải thích được sự đau khổ, nhưng cũng có vấn đề: tại sao Thiên Chúa muốn dạy con người mà bắt biết bao nhiêu phần tử trong tạo vật đau khổ trong thời gian thật dài? Và Thiên Chúa muốn dạy gì?

Còn nhiều cách khác, nhưng tôi xin chú tâm vào một cách, đó là tìm hiểu Thiên Chúa qua chính sự tiến hóa của vũ trụ, và còn lạ tai hơn nữa là dùng những gì chúng ta biết được về Thiên Chúa để hướng dẫn sự nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ.

Vũ Trụ Giúp Ta Hiểu Chúa Hơn

Linh mục Pierre Teilhard de Chardin, SJ (1881-1955), người Pháp, bị chính Giáo Hội đày qua Tầu vì Giáo Hội tại Âu Châu lúc đó chưa chấp nhận được ý tưởng của ngài. Ngài có những công trình khảo cứu tại Tầu, rồi chết âm thầm tại Mỹ. Sau khi ngài chết, sách của ngài mới được xuất bản và có ảnh hưởng sâu rộng ngay cả trong Công Đồng Vatican II.

Qua công trình khảo cổ của ngài, ngài khám phá ra chiều hướng trở nên càng ngày càng phức tạp hơn (gradual increase in complexity), từ tiền nguyên tử (pre-atomic matter), tới nguyên tử, tới phân tử (molecules), tới tế bào, v.v…, lên tới loài khỉ, rồi loài người; từ “geosphere”(ñòa caàu) tới “biosphere”(sinh caàu) tới “noosphere(trí caàu).” Một nguyên tắc nữa là đồng quy (centration), từ nhân nguyên tử (nucleus) tới trung tâm thần kinh (central nervous system), tới tự giác (self-aware), tới tôn giáo, và cuối cùng là tới Omega hay Thượng Đế. Như vậy Thiên Chúa mời gọi con người lên tới cùng Ngài, ngược lại với thuyết duy vật là chỉ có vật chất và đi về vật chất. 

Nói một cách khác, tinh thần (spirit) là vật chất được quy nạp và nâng cao, còn vật chất (matter) là tinh thần bị phân hóa, chia rẽ. Như vậy tránh được cái nhìn nhị nguyên (dualism) giữa tinh thần và vật chất (như của Descartes). Điều đó cũng giải thích được là người có linh hồn vẫn có thể đi xuống, phân hóa, như chiến tranh hiện nay. Thiên Chúa mời gọi vũ trụ và con người đi lên, nhưng con người có tự do, có thể chọn đi xuống.

Từ Thần Học Tới Vũ Trụ Học

Chúng ta biết về Thiên Chúa qua Đức Kitô. Chúng ta hãy để ý tới vài đặc tính sau của Ngài: khiêm nhường, mầu nhiệm thập giá, ban trao chính thân mình (self-giving), và hứa hẹn (promising, opening up the future), mà sự tự hiến (self-emptying) của Đức Kitô là một đặc điểm thiết yếu, như trong bài kinh của Giáo Hội sơ khai được ghi lại trong thư gửi Philiphê 2:6-8,

2:6 Đức Giê-su Ki-tô
vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,

2:7 nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế.

2:8 Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự.

Một Tạo Hóa khiêm nhường như thế thì muốn töï nhường chỗ cho vũ trụ có tự do để tự phát triển, chứ không hành động như một kẻ độc tài. 

Mầu nhiệm thập giá là Thiên Chúa tham dự vào cái đau khổ của vũ trụ. Mà vì sao vũ trụ lại đau khổ? Thần học gia Karl Rahner giải thích đơn giản như sau: Thiên Chúa vô biên, ban tặng chính mình cho vũ trụ hữu hạn, nên vũ trụ phải vất vả chuyển mình để thăng hóa (transcend) lên với Thiên Chúa. Đau khổ là đặc tính của vật bất toàn, trên đường tiến về cùng Thiên Chúa. 

Tại sao Thiên Chúa lại tạo nên vũ trụ bất toàn? Vì nếu vũ trụ toàn hảo thì lại là một phần của Thiên Chúa rồi, trong khi tình thương của Thiên Chúa muốn ban tặng cho vũ trụ một thực thể riêng (the other), với một tương lai riêng, với tự do, và với sự sống đẹp (vừa có điều mới lạ lại vừa có trật tự, như đã bàn ở trên. Trong cái tương lai riêng này, Thượng Đế không bỏ mặc vũ trụ, mà hứa hẹn cứu chuộc. (Tại sao lại có sự dữ [theodicy] là một vấn đề gai góc cho mọi nền thần học, vượt quá tầm của bài này.) 

Trong khung cảnh lịch sử của cả nhiều tỉ năm này, phép Thánh Thể còn có ý nghĩa phong phú hơn nữa: tấm bánh miến không phải chỉ tượng trưng cho miếng bánh, mà tượng trưng cho cả một lịch sử phát triển, từ vật chất không sự sống, tới cây có sự sống mang hạt giống, tới việc Thiên Chúa nâng bánh này, là một phần kết tinh của vũ trụ cũng như lao công con người, lên thành chính mình máu Chúa. Đây là chiều hướng Thiên Chúa đưa vũ trụ lên tới chính Ngài, như cha Chardin đã diễn tả.  

Dĩ nhiên còn nhiều vấn nạn mà tất cả nhân loại, kể cả các thần học gia, cần phải nghiền ngẫm hơn. Thánh Kinh dạy là Thiên Chúa trực tiếp ban linh hồn cho mỗi người. Điều này có ý nghĩa gì, và có thể đi chung với thuyết tiến hóa không? Có lẽ ta có thể hiểu là Thánh Kinh muốn diễn tả 2 điều: giá trị đặc biệt của loài người, và tính chất cá biệt của mỗi người; mỗi người có giá trị riêng và rất cao trước mặt Chúa. Hai điều này thuyết tiến hóa hoàn toàn đồng ý. Nhân loại có một giá trị đặc biệt vì chỉ con người mới có ý thức, mà chỉ ý thức mới đưa vũ trụ lên đến tôn giáo và tới Thiên Chúa. Và trong di truyền học (genetics, infomatics, mỗi cá nhân khác biệt, không ai giống ai; đó là căn bản cho giá trị riêng của mỗi người.

Sau khi nghiền ngẫm về những ý nghĩa trên của thuyết tiến hóa, có thể chúng ta hiểu Chúa một cách sâu đậm hơn, tâm tình hơn, ý nghĩa hơn, mà không trật khỏi Thánh Kinh, tông truyền, hay các giáo huấn khác của Giáo Hội, cho dù ta dùng những tư tưởng và ngôn từ lạ tai. Thiên Chúa cũng ban cho Giáo Hội những chủ chăn sáng suốt như ĐTC Gioan Phaolô II, người can đảm tuyên bố chấp nhận thuyết tiến hóa có điều kiện. Giáo Hội cũng cẩn trọng, đi chầm chậm, và những người con xuất sắc như cha Chardin cũng đã khiêm nhường đi với Giáo Hội. Chúng ta cũng có thể theo gương các vị đó, tin tưởng vào Thượng Đế để không phải lo sợ lý thuyết nào hết, và tận dụng mọi cái hay của các lý thuyết để đến gần Chúa hơn, trong khi sáng suốt gạt bỏ những điều trái sự thật, chăm chỉ học hỏi, can đảm phát triển, và khiêm nhường vâng phục. Đó có lẽ là đường tiến tới Thiên Chúa vậy, và bài này là một cố gắng đi trên bước đường đó.  

Gs. Lê An Hòa. Seattle University.

peace.anhoa@gmail.com

28/2/2006 

Xin cám ơn sự đóng góp của cha Trần Quốc Anh, SJ, cha Nguyễn Trung Kiên, SJ, cha Mai Hoàng, và anh Vũ Tiến Long. Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về những sai xuất.

VỀ MỤC LỤC

KIẾP SAU

 

KIẾP SAU

Kiếp sau xin chớ làm người,

Làm con chim én tung trời mà bay.

Kiếp sau xin chớ làm mây,

Làm cơn mưa nhỏ rơi gầy vai em.

Kiếp sau sống giữa thiên nhiên,

Bên chai rượu đế say mềm môi anh.

Kiếp sau xin chớ làm chanh,

Làm đàn ong bướm tranh giành nhụy hoa.

Kiếp sau xin chớ làm ma,

Làm con dế chũi chui ra ngoài đồng.

Kiếp sau xin chớ làm chồng,

Làm người vợ nhỏ bế bồng con thơ.

Kiếp sau xin chớ làm ngơ,

Làm người tình lỡ vật vờ xác thân.

Kiếp sau xin chớ làm chân,

Làm bàn tay nhỏ mê mân cuộc đời.

Kiếp sau xin chớ làm bồi,

Làm thằng ma cạo suốt đời lông bông.

Kiếp sau xin chớ làm sông,

Làm con suối nhỏ chạy vòng nhân gian.

Kiếp sau xin chớ làm nhang,

Làm đôi chim phụng xoay vần mâm xôi.

Kiếp sau xin chớ làm dơi,

Làm con ếch ộp coi trời bằng vung.

Kiếp sau xin chớ làm giun,

Làm thân phản lực vẫy vùng trời mây.

Kiếp sau xin chớ làm cây,

Làm con cọp cái xé thây bò rừng.

Kiếp sau xin chớ làm sừng,

Làm con bọ chét bò cùng thân trâu.

Kiếp sau xin chớ làm cau,

Làm bình vôi trắng têm trầu đỏ môi.

Kiếp sau xin chớ làm xôi,

Làm thân củi mục nổi trôi bồng bềnh.

Kiếp sau xin chớ làm ghềnh,

Làm cơn nước lũ ngông nghênh biển đời.

Kiếp sau xin chớ làm đồi,

Làm mây che nắng cho người yêu nhau.

Kiếp sau xin chớ làm cầu,

Làm thân cá lóc lội sâu dưới bùn.

Kiếp sau xin chớ làm hùm,

Làm tay tổ trác mánh mung trường đời.

Kiếp sau xin chớ làm ruồi,

Làm con hà bá nuốt mười ông sao.

Kiếp sau xin chớ làm cao,

Làm thân đĩ ngựa nghêu ngao giữa đường.

Kiếp sau thân gái dặm trường,

Chọc trời quậy nước phố phường lăng xăng.

Kiếp sau xin chớ làm trăn,

Làm con cá mập tung tăng dưới hồ.

Kiếp sau xin chớ nằm co,

Làm tay lực sĩ đợi giờ ra sân.

Kiếp sau xin chớ cù lần,

Làm ông tiến sĩ tần ngần vô ra.

Kiếp sau xin chớ làm cha,

Làm ông thày sáu có bà . . .  sướng hơn.

Kiếp sau xin chớ tầm thường,

Làm nhàgiáo sống đồng lương ăn mày.

Kiếp sau xin chớ đổi thay,

Ban đêm tối mịt, ban ngày sáng trưng.

Kiếp sau xin chớ long đong,

Làm ông đại tướng giữa vòng ba quân.

Kiếp sau xin miễn tập tành,

Làm tay nhạc sĩ lướt nhanh phím đờn.

Kiếp sau xin chớ oán hờn,

Làm cho thiên hạ tứ phương hòa bình.

Kiếp sau xin chớ mần thinh,

Làm người nhập cuộc chung tình anh em.

Kiếp sau xin chớ làm đêm,

Làm ngày mười tiếng làm thêm cuối tuần.

Kiếp sau xin chớ làm thần,

Làm thân bồ tượng trong sân nhà thờ.

Kiếp sau xin chớ đóng đô,

Làm cô ca sĩ chạy sô suốt ngày.

Kiếp sau xin chớ làm trai,

Làm thân con gái tóc dài mắt nhung.

Kiếp sau xin chớ nằm chung,

Nằm riêng để thấy cõi lòng cô đơn. 

Vân Lực

Houston

VỀ MỤC LỤC
THƯỢNG ĐẾ KHÔNG BAO GIỜ LÀ MỘT HUYỀN THOẠI!

 

I. MỞ ĐẦU:

Đã là loài người ở trên đời, ai cũng có trí khôn (kẻ ít, người nhiều), dầu là người đời xưa hay đời nay, trong thế giới tự do hay sau bức màn sắt, trình độ cao hay thấp, đàn ông hay đàn bà… Loài người vẫn đang nỗ lực không ngừng để truy tìm về “nguồn gốc” của mình và đồng thời cũng đang không ngừng nghiên cứu về nguồn gốc của vũ trụ. Chính những nỗ lực này đã làm nảy sinh bao vấn đề nan giải khác, như: hệ tư tưởng, trường phái, tôn giáo, bảo vệ tôn giáo, ly khai tôn giáo… dẫn đến trăm ngàn sự mâu thuẫn, bất đồng và trong đó có cả chiến tranh tôn giáo “chiến tranh nóng và chiến tranh lạnh”. Trước những vấn nạn đó, một trong những câu hỏi đã được đặt ra là: “Có Thượng Đế thật không?; “Đâu là nguồn gốc của vũ trụ?”; “Đâu là nguồn gốc của con người?” và đi xa hơn nữa “Đâu là cùng đích tuyệt đối, là cứu cánh của con người?”, v.v… Đó là những câu hỏi làm cho kẻ tin nghi ngờ và làm cho những ai muốn tin nên cớ xa rời đức tin.

Một thực tại cho chúng ta thấy rằng, khắp nơi trên thế giới, loài người theo tôn giáo dưới mọi hình thức. Có khi cả những người tự xưng mình là Công giáo, là Phật giáo mà đời sống của họ lại như không có đạo nào hết. Số người như thế rất đông, và ở đâu, thời đại nào cũng có. Nhưng số người hoàn toàn vô thần, nghiã là không tin vào thần quyền cũng thấy có, mà là số ít. Trong trăm người may ra có một-hai người. Cũng có những người miệng rêu rao mình vô thần, nhưng thật sự lòng vẫn tin tưởng vào một sức mạnh thiêng liêng, nói cho đúng ra, họ vẫn tin tưởng có một vị thần, vị Chúa ở trên họ; nhất là những lúc gặp phải tai bay vạ gió, họ vẫn cầu trời vái đất, đi chùa, khấn đền và cầu nguyện… Chứng tỏ rằng trong lương tâm của mỗi con người vẫn bằng một cách nào đó đang tự khẳng định mình có một nguồn gốc; “một nguồn gốc thực sự và tuyệt đối” chứ không thể mơ hồ được.

II. CÓ THƯỢNG ĐẾ THẬT KHÔNG?

Trong cuộc sống, con người không chỉ hướng về những thực tại trần thế trước mắt, nhưng còn hướng về những điều cao siêu, huyền diệu như một hành trình khát khao tìm kiếm chiều sâu ý nghiã của cuộc đời và lẽ sống của chính mình. Nhưng trong hành trình tìm kiếm ấy, điều thường gây nên những bất đồng nhất đó chính là “quan điểm”. Nói đến đây, xin được kể lại một câu chuyện như sau: Nhà bác học Eisntein sau một chuyến du hành Châu Âu trở về, Ông được một ký giả chất vấn rằng: “Thưa bác học, ngài có tin rằng có Thiên Chúa thật không?”. Bác học Eisntein trả lời: “Trước hết, anh hãy định nghiã cho tôi biết anh hiểu Thiên Chúa là gì đã, và tôi sẽ nói cho anh biết là tôi có tin Thiên Chúa hay không!” Như vậy, câu trả lời có Thượng Đế hay không? Và nếu có thì có như thế nào? lại tùy thuộc vào quan điểm của mỗi người về Thượng Đế, “một hạn từ quả là hạn hẹp” không đủ để đặt tên cho một Đấng “vô hình và siêu việt…” nhưng dẫu sao đó cũng là một hạn từ mang tính ước lệ.

Nếu hiểu Thượng Đế như một “tuyệt đối thể” thì có thể nói là chưa có triết gia nào từ chối cả. Ở đây có thể hiểu tuyệt đối thể là nguyên động lực của thế giới vật chất, là Chúa của hoàn vũ, mọi vật đều quy phụng về Ngài.

Nếu hiểu Thượng Đế theo hạn từ “Deisme” có nghiã là “Tự nhiên Thần luận” thì Thượng Đế được công nhận như một Đấng hiện hữu trên cõi cao xanh, chẳng mấy liên hệ gì với cuộc sống con người.

Nếu hiểu Thượng Đế theo quan niệm của hạn từ “Theisme” thì Thượng Đế ấy mới chính là Đấng can thiệp vào đời sống nhân loại bằng quyền năng, bằng ý muốn, bằng ơn phúc và bằng sự công chính của Ngài.

Còn trong quan niệm của thần học Kitô giáo, ta cũng thấy có những tính chất của Thiên Chúa rất khó dung hợp với nhau: một Thiên Chúa là “hiện hữu thuần túy” lại cũng chính là Thiên Chúa đang thực hiện một chương trình yêu thương đối với thụ tạo; một Thiên Chúa công chính và công bình lại không thể như một bộ luật, nhưng phải đồng thời là “Thiên Chúa có ngã vị” để có mối tương giao vị thể, riêng biệt đối với mỗi nhân vị. Một Thiên Chúa vượt trên thời gian lại can thiệp vào lịch sử để trở thành Thiên Chúa Nhập Thể.

Và trong dân gian, người ta thường suy luận theo phương pháp quy nạp, nghiã là suy từ những hậu quả để tìm ra nguyên nhân. Chúng ta hãy xem, nhiều khoa học gia tên tuổi cũng đã dùng kiểu suy luận này. Chuyện kể rằng: Một đêm kia, ông Isaac Newton đi bách bộ với một người bạn. Trên đầu họ là một bầu trời sao rực sáng. Hai ông bàn luận về tôn giáo. Ông bạn hỏi Newton: “anh có thể chứng minh cách vắn tắt rằng, có Thượng Đế hay không?”. Newton đưa tay chỉ sao trời và trả lời vỏn vẹn một tiếng: “Hãy nhìn kià!”.

Còn nhà triết học đại tài người Đức tên là Schopenhauer, là một triết gia chủ thuyết vô thần. Trong lúc ông lâm bệnh và nằm trên giường bệnh ông đau đớn và kêu lên rằng: “Lạy Chúa, lạy Chúa!”. một trong số môn đệ của ông nghe thấy thì hỏi rằng: “Kêu Chúa, kêu Trời làm chi!, triết lý của ông dạy không có Trời kia mà?”. Schopenhauer trả lời: “Nếu không có Trời, nguyên triết lý mà thôi không thể chịu nổi trong cơn đau khổ. Nếu khỏi bệnh, tôi sẽ sửa lại triết lý”.

Con người có trí khôn, biết suy nghĩ tìm tòi cho ra căn nguyên sự vật. Sống bên cạnh đứa nhỏ, ta thường nghe nó hỏi, nhiều khi phải sốt ruột: “Cái gì vậy?; sao vậy?…” rồi lớn lên mỗi khi nhìn thấy một việc lạ liền tìm hiểu, và bao lâu chưa được giải thích, nó vẫn cứ thắc mắc. Cụ thể là, khi ta quan sát từ tạo vật đến Tạo Hóa, hay từ quả đến nhân (theo cách nói của khoa học): Thấy một em nhỏ, dầu không thấy cha mẹ chúng, ta cũng biết nó có cha mẹ; thấy một cái nhà, dầu không thấy ông thợ làm ra, ta cũng biết có người thợ tài tình ấy. Nhìn vào vũ trụ cũng thế, trên có mặt trời, mặt trăng, muôn vàn tinh tú; dưới đất có loài người, cầm thú, thảo mộc, biển rộng bao la, rừng sâu thăm thẳm,… dầu không thấy Tạo Hóa, ta cũng biết có Đấng toàn năng đã dựng nên.

Vâng. Qua những dẫn chứng trên, chúng ta đã có lý do để nói rằng: Loài người đều tin có Thiên Chúa, và xưng gọi Người bằng những tên như: Ông Trời, Thượng Đế, Tạo Hóa, Thiên Chúa, Bề Trên… và vẫn có nhiều người chẳng hiểu rõ Ông Trời, Thượng Đế, Tạo Hóa, Thiên Chúa, Bề Trên… đó là ai và ai là chính thật Ông Trời?. Cho là họ lầm về bản tính của Ngài như thế, thì dù sao những cách gọi khác nhau ấy cũng chỉ là một cách gọi khẳng định Thiên Chúa của mình mà thôi.

III. TƯƠNG QUAN THƯỢNG ĐẾ VÀ CON NGƯỜI:

Một triết gia và là một nhà hùng biện nổi tiếng (Augustin) đã viết: “Thượng Đế dựng nên chúng con cho Thượng Đế, và lòng chúng con không yên cho tới khi được nghỉ yên trong Thượng Đế”. Vâng, không chỉ riêng cho con người mà tất cả mọi loài thụ tạo đều phải có một sự chuyển tiếp nào đó, nghiã là phải có một sự giàn xếp đều hòa, nhịp nhàng như một nhạc điệu thăng trầm, cho đến khi tới đích. Mỗi một vật có một xu hướng riêng về một vật khác; xu hướng con người là ý chí phải hướng về tuyệt đối, và cái đích tột cùng của cuộc tiến hóa trong đại vũ trụ này là con người tiến về cứu cánh tuyệt đối của mình. Đó chính là sợi dây tương quan tuyệt vời giữa Thượng Đế và con người.

Muốn đạt tới Thiên Chúa, lý trí phải đi từ điều gì là đối tượng riêng của nó. Mà đối tượng của Thiên Chúa chính là Tình yêu, Ngài không là một Thiên Chúa cách biệt với con người. Nếu Thiên Chúa không có tên, không cho con người gọi tên; hay nói cách khác, con người không có một quy ước chung để gọi tên Thiên Chúa, thì có lẽ mọi nghi lễ, mọi lời cầu xin sẽ giống như những bức thư được gởi đi mà không có địa chỉ. Thiên Chúa là Tình yêu, mà tình yêu là thông ban, do đó Thiên Chúa không thể không ban tên Ngài và chính Ngài cách riêng cho loài người mà Ngài yêu thương. Người Dothái gọi Thiên Chúa là “Yavê” thật là có lý; vì Yavê có nghiã là: “Ta là Ta, là Đấng đang ở với các ngươi, yêu thương ngươi, bảo vệ ngươi”.

Thiên Chúa là tình thương và tình thương này còn dạy cho ta biết rằng: đó là cùng đích của tất cả những gì hiện hữu, và không một hữu thể nào hiện hữu độc nhất vì mình mà thôi, nhưng vì một kẻ khác, vì tất cả những người khác, bắt đầu từ chính hữu thể của Thiên Chúa, Ngài vốn là dào dạt tinh tuyền. Do đó, tương quan Thiên Chúa với con người còn là “tương quan tình yêu” siêu việt; siêu việt như chính Thiên Chúa vậy.

IV. NHẬN ĐỊNH:

Từ khi con người biết suy tư, biết tìm kiếm chân lý, và khám phá về cuội nguồn của mình, thì đồng thời con người cũng khao khát tìm kiếm một nguyên nhân đệ nhất, đích thực của mọi sự hiện hữu, mà ta thường gọi là Thượng Đế (một hạn từ không xứng đáng với tên gọi của Ngài, nhưng dẫu sao đó cũng là quy ước). Cho đến nay dù văn minh nhân loại đã tiến xa vượt bực, nhưng người ta vẫn không thể chứng minh Thiên Chúa một cách thoả mãn được. Tuy nhiên dựa vào phương pháp nối kết hậu quả với nguyên nhân, như một dây xích có một khởi điểm, mà người ta gọi là nguyên nhân đệ nhất để đồng hóa với Thiên Chúa. Nhưng lý trí không chịu để cho mình ngừng lại trên con đường này, và khi người ta nói rằng chuỗi liên tiếp những nguyên nhân không thể giải quyết được; vì chuỗi nguyên nhân liên tiếp ấy xảy ra trong thời gian, mà Thiên Chúa thì hằng hữu; do đó Ngài không đi vào trong chuỗi liên kết mà lý trí quan sát được trong thiên nhiên. Vậy chúng ta phải hiểu nguyên nhân đệ nhất theo cách nào đây? Có lẽ chúng ta cần hiểu “Nguyên Nhân Đệ Nhất là Thượng Đế” theo nghiã triết học, nghiã là một nguyên nhân nằm ngoài mọi quy luật của vũ trụ; nằm ngoài vòng mắt xích của chuỗi nguyên nhân. Nguyên nhân đó là Chân-Thiện-Mỹ tuyệt đối, không lệ thuộc vào mắt xích nào. Nguyên nhân đó là Thiên Chúa.

La Bruyère khẳng định rằng: “Tôi muốn thấy một người tiết độ, trong sạch và công bằng, tuyên bố không có Thiên Chúa. Người như vậy không thể có”. Phải rồi, nếu con người từ chối sự hiện hữu của Thiên Chúa, thì chắc chắn cũng từ chối công trình của Ngài, và như vậy con người sẽ không có nguyên nhân và cùng đích tuyệt đối. Nghiã là cũng chối luôn cứu cánh của cuộc nhân sinh. Nếu chối bỏ cứu cánh của cuộc nhân sinh thì mọi mục đích, mọi điều thiện của con người và mọi hành vi nhân tính đều tiêu ma. Nếu chối bỏ cứu cánh của cuộc nhân sinh tức là công nhận một chuỗi vô tận những mục đích của các hành vi nhân tính. Và công nhận một chuỗi vô tận những mục đích của các hành vi nhân tính thì mọi mục đích c