Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 45, Chúa nhật 30.4.2006


 Các số báo đã phát hành        MỤC LỤC

NGƯỜI KITÔ HỮU CẦN CHU TOÀN ĐỒNG THỜI HAl BỔN PHẬN CÔNG DÂN VÀ TíN HỮU          Vatican 2

CÔNG ĐỒNG CHUNG THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC                                  Hương Vĩnh

Có MẸ…                                                                                              Gs. Nguyễn Văn Thành

Sống Thanh Bần Phúc Am                                                                      + Gm. GB. Bùi Tuần

ĐỂ CÓ HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH                                                                  Lm. Lê Văn Quảng

CON NHÀ GIẦU                                                                      Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường

ĐÀNG SAU VIỆC PHẠM TỘI LÀ GÌ?                                                         Lm. Vũ Xuân Hạnh

XIN VÂNG      YES                                                             Nhà Văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

“NHÂN DANH CHÚA GIÊ-SU PHỤC SINH, HÃY ĐỨNG DẬY MÀ ĐI !”                          Lm. Lê Quang Uy

Tôi là Thánh                                                                                                            Vân Diễm

Lòng hy sinh cao cả                                                                          Lm. Nguyễn Ngọc Long

CHA MẸ CẦU NGUYỆN CHO CON                                                            Phó tế Huyền Đồng

GÕ ĐẦU TRẺ                                                                               Chuyện phiếm của  Gã siêu


NGƯỜI KITÔ HỮU CẦN CHU TOÀN ĐỒNG THỜI

HAl BỔN PHẬN CÔNG DÂN VÀ TíN HỮU

 

Chính công cuộc cứu độ đòi  hỏi người tín hữu phải phân biệt rõ ràng đâu là quyền lợi và nghĩa vụ của họ với tư cách một thành viên của Giáo Hội, đâu là quyền lợi và nghĩa vụ với tư cách một thành viên của xã hội loài người. Họ phải cố gắng hoà hợp cả hai loại nghĩa vụ và bổn phận đó với nhau, và hãy nhớ rằng trong mọi lãnh vực trần thế lương tâm Ki-tô giáo phải luôn hướng dẫn họ, vì không một hoạt động nào của con người, dù thuộc phạm vi trần thế, có thể vượt khỏi quyền tối thượng của Thiên Chúa. Vì thế, trong thời đại chúng ta, hơn bao giờ hết, người tín hữu phải làm sáng tỏ sự phân biệt và sự hoà hợp giữa các nghĩa vụ và bổn phận này trong phương thức hành động của họ, để sứ mệnh của Giáo Hội có thể đáp ứng những hoàn cảnh đặc biệt của thế giới ngày nay cách trọn vẹn hơn.

Thật vậy, nêú phải công nhận rằng xã hội trần gian, vì lo lắng việc trần thế cách hợp pháp nên có quyền điều hành theo những quy tắc riêng biệt, thì cũng phải loại bỏ cách chính đáng tà thuyết chủ trương xây dựng xã hội bất cần đạo lý, và chủ trương chống lại hay huỷ diệt tự do tín ngưỡng của người công dân.

(Trích Hiến chế tín lý về Giáo Hội Ánh sáng muôn dân của Công Đồng Vatican II, số 36).

VỀ MỤC LỤC

CÔNG ĐỒNG CHUNG THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC

 

Một sự tập hợp toàn thể các giám mục của Giáo Hội Công Giáo do Đức Giáo Hoàng mời gọi để thảo luận kỹ lưỡng những đường hướng bảo vệ và cổ võ những giáo huấn và kỷ luật của Giáo Hội được gọi là Công Đồng Chung. Như đã trình bày, Công Đồng Vatican II nhóm họp trong 4 khóa từ năm 1962 đến năm 1965 là công đồng chung thứ 21. Công đồng chung thứ 20 là công Đồng Vatican I được nhóm họp từ 1869-1870.

Ngoài sự kiện Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới được nhóm họp thường xuyên hơn các công đồng chung, sự khác biệt cốt yếu giữa các công đồng chung và thưọng hội đồng giám mục là mức độ tham gia và quyền hạn liên kết.

Hết thảy các giám mục Công giáo, kể cả những giám mục phụ tá, có quyền tham dự và bỏ phiếu tại một Công Đồng Chung. Tại các Thượng Hội Đồng Giám Mục, các giám mục hoặc được chọn để tham dự hội nghị các giám mục hoặc được Đức Giáo Hoàng bổ nhiệm.

Được sự chấp thuận của Đức Giáo Hoàng, các quyết định của một Công Đồng Chung thì ràng buộc đối với Giáo Hội, điều đó khiến cho Công Đồng Chung là thẩm quyền giáo huấn tối cao của Giáo Hội. Những thành viên của các Thượng Hội Đồng Giám Mục, trái lại, chỉ đề nghị với Đức Giáo Hoàng một cách thân tín mà thôi.

Sự khác biệt rõ rệt được mô tả trong Bộ Giáo Luật năm 1983:

-  Giám mục đoàn thực thi quyền hạn trên Giáo Hội hoàn vũ một các long trọng trong một Công Đồng Chung.”

-  Thượng Hội Đồng Giám Mục một nhóm giám mục được chọn lựa từ những miền khác nhau trên thế giới và gặp gỡ nhau vào những thời gian ấn định để cổ võ một sự hiệp nhất mật thiết giữa vị Giáo Chủ Roma và các giám mục để hỗ trợ vị Giáo Chủ Roma bằng ý kiến của họ hầu bảo vệ và tăng cường đức tin cùng phong hóa và duy trì cùng củng cố kỷ luật giáo sĩ và xem xét những vấn nạn liên hệ đến sinh hoạt của Giáo Hội giữa trần thế.”

Sự tập hợp các Thánh Tông Đồ mô tả trong chương 15 Sách Công Vụ Tông Đồ được xem như tiền lệ cho các công đồng chung: các Tông đồ gặp nhau để thảo luận vào một thời điểm có sự căng thẳng gia tăng về vấn đề các người không phải Do-Thái trở lại Kitô giáo có bị bắt buộc phải theo những luật lệ về chế độ ăn uống của Do-Thái giáo không.

Những công đồng chung ban đầu như Nicaea, Constantinople, Ephesus và Chalcedon được triệu tập để đương đầu với những nhóm ly giáo đe dọa xé nát Kitô giáo.

Bảy công đồng đầu tiên được các giáo hội Chính Thống cũng như Công giáo công nhận, đã minh định những giáo huấn căn bản của Đức Tin Kitô giáo.

Nhiều công đồng trong số 14 công đồng tiếp theo đã diễn ra từ khi có sự rạn nứt giữa các Kitô hữu Đông phương và Tây phương đã cố gắng tìm phương cách hàn gắn sự chia cách trong nội bộ Kitô giáo, và các công đồng đó cũng còn đi xa hơn nữa trong việc làm sáng tỏ những giáo huấn về đức tin và phong hóa cùng ra lệnh cải tổ phụng vụ và cơ cấu Giáo Hội.

(Phỏng theo Cindy Wooden - Vatican City – CNS)

Hương Vĩnh

VỀ MỤC LỤC

Có MẸ…

                                    

Có Mẹ trong tâm tư,

Con trở thành con người bất tử.

Có Mẹ trong cuộc đời,

Phép Lạ hiện hình trong mọi sự.

Có Mẹ luôn đồng hành,

Hồng Phúc nảy mầm khắp tứ xứ.

Có Mẹ dạy con nhìn,

Ánh Sáng chan hòa trong điều dữ.

Có Mẹ ở bên mình,

Gieo vãi hạt mầm của Tha Thứ.

Cùng Mẹ thưa “Xin Vâng”,

Hạ sinh cho đời Vua Thiên Tử.

Với Mẹ bước lên đường,

Ấn mạnh dấu chân người Ngôn Sứ.

Theo Mẹ sống khó nghèo,

Trong âm thầm cưu mang Đại Sự.

Nhân dịp Tháng MẸ,  năm 2006

(Hãy tìm đọc “Một con én làm nên Mùa Xuân”

www.chungnhanduckito.net/tacgia/gs.thanh )

NGUYỄN Văn Thành, Lausanne, Thụy Sĩ

VỀ MỤC LỤC
Sống Thanh Bần Phúc Am

  

Đi tu dòng là gì?

Có nhiều câu trả lời. Nhưng một cách vắn tắt đại khái, ta có thể thưa: Đi tu dòng là nối tiếp việc tận hiến của Chúa Kitô.

Nối tiếp một cái gì, là gắn liền với cái đó, và phải giống như cái đó. Đời sống tu của chúng ta, nếu muốn là một sự nối tiếp đời tận hiến của Chúa Kitô, thì tất nhiên, phải ăn khớp với đời tận hiến của Ngài, phải giống đời tận hiến của Ngài.

Vì thế, đời tu của ta phải có hai cái nhìn:

     + Một cái nhìn vào Chúa Kitô, để lấy Ngài làm gương mẫu.

     + Và một cái nhìn vào chính mình ta, để, để tâm thực hiện gương mẫu đó một cách cụ thể.

Hôm nay, tôi muốn gợi ý về hai cái nhìn đó. Vì những lý do thực tiễn, tôi muốn giới hạn những cái nhìn của chúng ta ở đây, vào phạm vi một đặc điểm, lúc này được coi là quan trọng của đời tận hiến. Đó là thanh bần.

     Anh em thân mến,

1. Trước hết chúng ta hãy nhìn vào Chúa Kitô, để lấy Ngài làm gương mẫu

Nhìn tổng quát, ta thấy đời Chúa Kitô là đời thanh bần. Nếu phân tích, thì đời thanh bần đó chia thành 3 mức độ, tùy theo 3

hoàn cảnh:

     - Hoàn cảnh thứ nhất: Là những năm tháng sống ở Nagiarét. Ngài sinh sống thanh bần theo lối sống của giới thợ thuyền lao động. Còn nhỏ, thì sống nhờ vào công ăn việc làm tần tảo của cha mẹ. Lớn lên, thì sống nhờ công lao động của chính mình. Trong hoàn cảnh như thế, đời thanh bần của Ngài được gọi là bình thường.

     - Hoàn cảnh thứ hai: Là những năm tháng Ngài đi giảng Tin Mừng. Thời gian đó, Ngài thôi làm thợ, sống chung với một số môn đệ đánh chài lưới, nay đây mai đó, không có nhà ở riêng, không có hành trang bộn bề. Cảnh sống nghèo của Ngài, được phác họa trong câu: “Con chồn có hang, con chim có tổ, Con Người không có nơi gối đầu”. Và trong câu: “Hãy bán hết gia tài đi, phân phát cho người nghèo, rồi trở lại theo Ta”. Trong hoàn cảnh như thế, đời sống thanh bần của Ngài, gọi được là khác thường.

     - Hoàn cảnh thứ ba: Là cảnh Ngài sinh ra và chết. Sinh ra thiếu thốn, ở hang lừa. Mà hang đó cũng không phải là của mình. Chết trần trụi trên thập giá, chôn ở mồ của người khác. Trong hoàn cảnh như thế, sự thanh bần của Chúa Kitô được gọi là tột đỉnh.

     Ba hoàn cảnh thanh bần, với ba mức độ thanh bần. Đó là đời Chúa. Sự thanh bần của Chúa, là do sự tự ý từ bỏ của cải, và sống phó thác nơi Chúa quan phòng. Vì thế sự thanh bần của Chúa là một nhân đức. Nhân đức đó đã được diễn tả, từ mức độ bình thường đến mức độ khác thường, và sau chót tới mức độ anh hùng. Thanh bần của Chúa, không phải là thường xuyên thiếu thốn, nhưng là thường xuyên khổ hạnh, tự ý, dứt lìa mọi vương vấn của cải, để sống cậy trông vào Chúa Quan Phòng.

2. Bây giờ, ta hãy nhìn vào mình ta, để tìm thực hiện gương Chúa một cách cụ thể

Trước hết, phải nói ngay rằng, để làm chứng tá cho sự thanh bần của Chúa Kitô, thì một sự dứt lìa của cải bằng tinh thần và trong tinh thần chưa đủ, mà phải có sự dứt lìa thực sự bề ngoài phần nào.

Phần nào đó là thế nào? Bao nhiêu?

Thưa, ta không thể xác định một cách máy móc, mà phải uyển chuyển, tùy hoàn cảnh nơi mình ở, chức vụ mình giữ, thời đại mình sống. Trong mỗi hoàn cảnh, sự thanh bần được tham định do mức sống và do lối sống. Mức sống thì căn cứ vào số lượng tiêu dùng. Cùng trong một hoàn cảnh, ai tiêu dùng nhiều thì có mức sống cao, ai tiêu dùng ít thì có mức sống thấp. Còn lối sống thì căn cứ vào cách sống của ta, có ăn hợp, có thích nghi với môi trường mình sống hay không, từ công việc làm, cách ăn uống, đồ dùng, nhà ở, hòa đồng với xã hội chung quanh hay là khác biệt, chênh lệch. Hoàn cảnh xã hội thay đổi, thì mức sống và lối sống của ta phải thay đổi, để nét thanh bần của người chúng ta được nhận ra.

Mức sống cũng như lối sống đó, mình thẩm định một phần, mà cũng do dư luận một phần. Nó áp dụng cho từng cá nhân, mà đồng thời cũng áp dụng cho tập thể nhà dòng. Vì đã gọi là chứng tá về sự thanh bần của Chúa Kitô, thì không phải chỉ cá nhân người tu làm chứng điều đó, mà cả cơ cấu nhà dòng cũng phải làm chứng điều đó, để thế gian thấy được rằng: Người tu sống thanh bần, mà chính nhà dòng cũng là một tổ chức, một cơ cấu thanh bần.

Hoàn cảnh xã hội đã thay đổi nhiều. Trong hoàn cảnh mới, cá nhân người tu cũng như cơ cấu nhà dòng, phải có một sự thích ứng, để xã hội nhìn thấy rằng, cá nhân từng người sống thanh bần.

Thường xuyên chúng ta cố gắng sống mức độ thanh bần bình thường, theo gương Chúa Kitô. Nhưng nếu có lúc nào đó, Chúa muốn chúng ta sống thanh bần ở mức cao độ, và tới mức anh hùng, như hoàn cảnh hai và ba của Chúa, thì chúng ta cũng hãy sẵn sàng. Dù trong hoàn cảnh nào, điều quan trọng là hãy có thái độ dứt lìa một cách quả cảm, đừng cay đắng, đừng chua xót, bực bội. Nhưng trong thanh bần, ta sẽ được dịp thực sự, sống cậy trông thường xuyên vào Chúa hơn.

Lễ Tuyên Hứa, tu viện Thánh Gia

+ Gm. GB. Bùi Tuần

VỀ MỤC LỤC
ĐỂ CÓ HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH

 

Nói đến hôn nhân là nói đến gia đình. Khi Thiên Chúa muốn kết hôn với con người, Thiên Chúa cũng đã sinh ra trong một gia đình. Gia đình chính là nền tảng của giáo hội. Vậy gia đình là gì ?

Gia đình là một cái gì sâu xa hơn là tổng số những cá nhân cộng lại. Đó là một hệ thống khác biệt với những hệ thống xã hội khác. Đối với những tổ chức xã hội, khi cần thiết, chúng ta có thể xin gia nhập hoặc ra đi một cách dễ dàng, và một khi chúng ta ra đi, những người khác có thể đến thay thế chỗ chúng ta. Nhưng trong hệ thống gia đình, chúng ta không thể gia nhập một cách dễ dàng ngoại trừ con đường được sinh ra, kết hôn, hay được nhận làm con nuôi. Vì thế, những phần tử trong gia đình không thể được người khác thay thế, bỡi lẽ các phần tử của gia đình được nuôi dưỡng và lớn lên trong tình yêu thương đặt biệt mà người nầy được liên kết với người khác một cách chặt chẽ và mật thiết với nhau. Cho dẫu khi chúng ta phải xa cách gia đình như vì công ăn việc làm hay vì hoàn cảnh nào đi nữa, chúng ta vẫn có một mối liên hệ đặc biệt sâu xa với gia đình. Ngay khi có người trong gia đình ra đi vĩnh viễn như chết chẳng hạn, giữa người sống và người chết vẫn còn một cái gì đậm tình thắm thiết được nối kết qua những nén hương, những đóa hoa…mà dẫu có người được thêm vào như một đứa bé khác được sinh ra chẳng hạn, cũng không thể nào có thể thay thế đứa trước đã chết đi. Thật vậy, gia đình là một cái gì thiêng liêng cao quí mà chúng ta có bổn phận phải bảo vệ và vun trồng dẫu chúng ta còn ở hay đi xa.

Riêng đối với người Việt Nam, gia đình còn mang một mầu sắc đa diện đáng yêu và đáng quí hơn nữa. Gia đình Việt Nam có thể nói được là một tiểu cộng đồng, nơi đó các phần tử trong đại gia đình cùng về chung sống với nhau và nương tựa vào nhau; là nhà giữ trẻ, nơi đó tất cả mọi con cái, cháu chắt đều được trông coi, nuôi dưỡng, và chăm sóc một cách tận tình như một người mẹ trong gia đình; là học đường, ở đó mọi đứa trẻ trong gia tộc được hướng dẫn và giáo hóa một cách chu đáo và lễ độ; là toà án, ở đó mọi xung đột giữa những người thân yêu trong gia đình đều được giải quyết và giải hòa để có thể bảo vệ được hòa khí của gia đình; là hội đồng cố vấn, nơi đó tất cả mọi quyết định quan trọng có liên quan đến những người trong gia đình như vấn đề hôn nhân, làm ăn, buôn bán, dời chỗ… đều được bàn hỏi trước khi đi đến quyết định để cùng giúp nhau thực hiện; là cơ quan trợ cấp xã hội, nơi đó họ có thể tìm được những nguồn trợ giúp cho đời sống an sinh xã hội của họ từ những người thân yêu trong gia đình; là ngân hàng, ở đó trong những trường hợp cần thiết họ có thể mượn tiền từ những thân nhân họ một cách dễ dàng để đầu tư vào những công việc làm ăn lớn mà mọi người trong gia đình thấy có hy vọng; là bệnh xá, ở đó khi ốm đau họ có thể tìm được sự chăm nom, săn sóc một cách tận tình bỡi những phần tử của đại gia đình; là viện an dưỡng, nơi đó bố mẹ khi về già có thể tìm được chỗ nghỉ ngơi trong sự an bình và hạnh phúc bên đàn con cháu trong bầu không khí ấm cúng gia đình; là nơi an nghỉ cuối cùng, ở đó khi họ được Chúa gọi về, họ được mọi phần tử trong đại gia đình từ các nơi tuốn về quây quần chung quanh để cùng nhau cầu nguyện và nhìn mặt họ lần cuối trước khi tiễn đưa họ đến phần mộ cuối cùng; sau hết, gia đình Việt nam cũng chính là nơi thờ tự, ở đó bàn thờ tổ tiên được dựng lên để tôn kính ông bà cha me, những người đã về bên kia thế giới nhưng hương hồn của họ vẫn còn ở lại để hộ phù những người còn đang sống. Vì thế, gia đình chính là một báu vật cao quí mà tất cả chúng ta có bổn phận phải giữ gìn nếu chúng ta muốn có một đời sống an vui và hạnh phúc.

Khi chúng ta nói: Tôi đi về nhà thì nhà đó không phải là một ngôi nhà trống không, mà ở nơi đó chúng ta có những con người muốn đón nhận và yêu thương chúng ta bằng một tình yêu gia đình thắm thiết. Rất có thể, nhiều lúc chúng ta có những kinh nghiệm đớn đau về gia đình, nhưng dẫu sao gia đình cũng vẫn là tổ ấm, là nơi yên ủi cuối cùng mà chúng ta có thể tìm về khi mọi người ruồng bỏ và xa lánh chúng ta như câu chuyện người con lãng tử trong phúc âm.

Thật vậy, gia đình có một sức mạnh thiêng liêng nối kết chúng ta, khiến chúng ta có thể quên đi tất cả những kinh nghiêm thương đau của quá khứ để yêu thương, nâng đỡ, và vỗ về những người thân yêu đang gặp hoạn nạn mà nếu không có tình yêu gia đình họ không thể nào sống sót được. Vậy thì, khi gặp những trục trặc, những khủng hoảng trong đời sống gia đình, chúng ta phải làm thế nào để bảo vệ được tình yêu gia đình ?

Thông thường, khi gặp những khó khăn, những khủng hoảng trong gia đình, chúng ta thường hay có phản ứng tự nhiên nầy là: chống cự, tố cáo,và lên án người khác để bảo vệ chính mình. Chúng ta chỉ muốn giáo dục và thay đổi người khác chứ không muốn thay đổi chính con người mình. Chúng ta thường nói rằng nếu anh ấy hay chị ấy thay đổi tôi bằng lòng cũng sẽ thay đổi. Nhưng hãy nhớ rằng chúng ta chỉ có thể thay đổi người khác bằng cách thay đổi chính con người chúng ta mà thôi. Chúng ta cần nhận thức sự thật nầy là: nếu tôi thay đổi thái độ của tôi chắc chắn người khác cũng sẽ thay đổi thái độ của họ. Dẫu cho chỉ một chút thay đổi trong thái độ của chúng ta chắc chắn cũng sẽ có ảnh hưởng tức khắc đến thái độ của người khác.

Thật bất hạnh cho chúng ta là chúng ta biết quá nhiều về cách thế để làm hại nhau, mưu sát nhau hơn là cách thế để sống trong yêu thương và phục vụ. Vì thế, chúng ta yêu thích chiến tranh hơn là hòa bình. Chúng ta thường mất nhiều thời giờ đi tìm những mưu mô, thủ đoạn bất chính để lên án, tố cáo người khác.

Nhưng nên biết rõ điều nầy là không ai hoàn toàn xấu cũng không ai hoàn toàn tốt cả. Khả năng trở nên tốt hoặc xấu đều hiện hữu trong mỗi con người chúng ta. Chính người nầy có thể giúp cái tốt hoặc cái xấu của người khác phát triển. Nhưng thường họ biết gì về người khác ngay cả người bạn đời của họ ?

Dẫu cho họ sống chung với nhau trong cùng một căn phòng, ăn cùng một bàn, ngủ cùng một giường, nhưng họ biết gì về nhau ? Cứ sự thường, họ chỉ biết về những thói xấu của nhau như thích nắm quyền, thích tiêu tiền , thích uống rượu, không thích làm việc…nhưng họ không biết được nguyên nhân tại sao bạn mình đã có thái độ sống như vậy. Và một khi họ cảm thấy chán, họ chỉ muốn loại bỏ những thói hư tật xấu đó ra khỏi người bạn mình mà không muốn thoã mãn những nhu cầu tâm linh cần thiết của bạn mình để giúp họ xa lánh những thói xấu đó. Vì thế, đôi khi họ cũng cần phải sống xa cách nhau vì một lý do nào đó chẳng hạn, họ mới có thể hiểu nhau và yêu nhau nhiều hơn trước.

Thật ra, chính những tranh quyền tranh lợi đã làm cho đầu óc họ ra tối tăm và đã tạo nên cho họ một bầu khí bất hòa. Và trong những lúc như vậy, họ cố gắng đổ lỗi cho người khác để bào chữa cho chính mình. Điều mà họ nói về người khác thì thường là đúng dầu những tường thuật giữa họ xem ra là mâu thuẫn với nhau. Nhưng điều quan trọng không phải là ai sai ai đúng vì mỗi người đều đúng dưới cái nhìn riêng của mình nhưng sai dưới cái nhìn của đối phương. Nếu chúng ta yêu người nào, chúng ta sẽ không hỏi người đó đúng hay sai. Hãy nhớ rằng đối với sự hạnh phúc của chúng ta, câu hỏi sai hay đúng không phải là quan trọng, nhưng chính việc biết chấp nhận cái xấu cũng như cái tốt của người bạn mình mới là quan trọng.

Khi người biệt phái mời Chúa Giêsu đến dự tiệc nơi nhà họ, có một người phụ nữ mang dầu thơm đến ngồi dưới chân Chúa khóc nức nở, lấy tóc lau khô và lấy thuốc thơm thoa chân Ngài. Bấy giờ, những người biệt phái nghĩ thầm rằng nếu ông nầy là môt tiên tri chắc phải biết người phụ nữ nầy là ai, là một cô gái điếm nổi tiếng vùng nầy. Chúa biết ý nghĩ của họ, nên nói với người chủ nhà:

     Simon, Tôi có điều muốn nói với ông.

     Người chủ nhà đáp:

    Xin Ngài cứ nói.

    Và Ngài đã nói:

Người kia có hai con nợ. Một người nợ nhiều và một người nợ ít. Cả hai không có gì để trả nên được chủ nợ tha cho. Vậy ai trong họ sẽ yêu người chủ hơn ?

   Simon thưa:

   Người được tha nhiều.

   Chúa nói:

Ông nói đúng. Tôi đã đến đây, ông không lấy nước rửa chân Tôi, còn chị ta đã lấy nước mắt rửa chân Tôi, rồi lấy tóc mình lau khô. Ong đã không xức thuốc thơm trên đầu Tôi, còn chị ta đã đổ thuốc thơm trên chân Tôi. Vì vậy, Tôi bảo ông, tội chị ta rất nhiều cũng đã được tha rồi, vì chị ta đã yêu mến nhiều. Kẻ được tha ít thì yêu mến ít.

Rồi người bảo người phụ nữ ấy rằng:

Tội con đã được tha rồi. Hãy đi bình an ! (luk.7:36-8:2)

Điều quan trọng mà Chúa muốn nói ở đây là không phải chúng ta phán đoán người nầy tốt hay là xấu, người kia đúng hay là sai mà chính là chúng ta có yêu thương, có chấp nhận họ với tất cả con người họ hay không? Chính thái độ yêu thương, nhân từ đó mới có sức mạnh thuyết phục và hoán cải những con người chúng ta muốn thay đổi. Và cũng chỉ có thái độ rộng lượng đó mới có thể giúp người bạn mình có đủ can đảm trở về để làm lại cuộc đời.

Con người thì thường chú trọng quá khứ và dùng quá khứ như một bằng chứng mạnh mẽ để chối từ sự cộng tác. Nhưng Thiên Chúa thì khác hẳn. Ngài không chú trọng quá khứ nhưng nhìn chính hiện tại. Quá khứ chúng ta có thể tốt, nhưng hiện tại chúng ta có thể xấu hơn người khác. Quá khứ người ta có thể xấu, nhưng hiện tại họ có thể tốt như chúng ta và tương tai họ còn có thể tốt hơn chúng ta không chừng.

Hãy học với Chúa làm quen với những tiếng nói của im lặng nếu chúng ta muốn có được một đời sống gia đình an vui và hạnh phúc. Hãy nhớ rằng khi người ta vui mừng, phấn khởi, người ta thích nói nhiều. Trái lại, khi buồn rầu đau khổ người ta sẽ không thích dùng lời để nói, vì lời nói không thể diễn tả hết những điều sâu thẳm đang được chứa chất trong tâm hồn họ, nhưng người ta chỉ muốn nói qua những khuôn mặt, những ánh mắt, những giòng lệ, những tiếng lòng thổn thức mà chỉ có những người bạn chân tình mới có thể hiểu được.

Thiên Chúa đã không lên án người phụ nữ bỡi lẽ Thiên Chúa đã nghe thấu rõ tiếng lòng thống hối của chị qua những giòng lệ thống hối ăn năn, cũng như tiếng lòng khoắc khoải của chị đang vọng lên từ đáy lòng sâu thẳm của chị dẫu chị ta không thốt lên một lời nào cả. Và Thiên Chúa đã đáp lại niềm khát mong đó, nên Ngài đã nói: Tội con đã được tha. Hãy đi về bình an.

Thật vậy, không phải là tố cáo và lên án mà chính là sự cảm thông và tha thứ mới có sức mạnh vô biên để mang lại cho con người niềm an vui và hạnh phúc trong tâm hồn. Xin cầu chúc mọi người luôn tìm được sự an bình và hạnh phúc trong đời sống hôn nhân và gia đình trong suốt cả cuộc đời. 

lm.lêvănquảng

VỀ MỤC LỤC
CON NHÀ GIẦU

 

Trước cửa tiệm Werlein bán nhạc khí và dạy nhạc ở Metairie, khu nhà giầu vùng New Orleans, có đề một câu xanh rờn: “con nhà giầu mà không biết nhạc thì chỉ là một đứa trẻ nghèo nhất”.

Đối với những người biết nhạc và mê nhạc thì câu này đúng quá sức. Quả thực, con nhà giầu mà không biết nhạc thì tư cách cằn cỗi làm sao ấy. Nét nhạc làm cho con người thanh thoát hơn, dễ coi hơn. Chả vậy mà những người có tâm hồn nghệ sĩ đều sống nghèo một cách thật giầu. Họ là những nhạc sĩ, họa sĩ, ảnh sĩ, văn sĩ, thi sĩ v.v.

Thậm chí có anh nghệ sĩ nghèo nọ nằm ngủ vệ đường bị cảnh sát hốt, khi hỏi địa chỉ đâu, thì anh ta đưa danh thiếp có in chữ đàng hoàng: khách sạn ngàn sao. Cảnh sát sực nhận ra một điều gì bèn vụm tay xin vái “sư phụ”, vì thường người giầu lắm mới dám đốt tiền bước vào khách sạn 5 sao. Vậy mà tay này lấy bầu trời đầy sao làm địa chỉ chứ có thèm nhốt mình vào hộp này phòng nọ đâu.

Giầu hay nghèo nghĩa cũng tương đối lắm, tùy cái nhìn và cái thấy thôi. Cứ thử nghĩ coi: bầu trời cao vút kia, rừng xanh bát ngát kia, chả được trao ban cho con người làm gia sản là gì? Của ta đấy. Ay vậy mà con người chả khoái như vậy, lại hè nhau đi chặt cây, phá  núi rừng của Pocahontas để làm những cái hộp nhỏ xíu gọi là nhà, chui rúc chen lấn nhau gọi là phố. Tranh nhau từng vuông đất nhỏ rồi định rõ của tao, của mày, của nó. Chứ không còn là của ta nữa! Đứa nào đụng tới cái “của” đã phân ranh là bị phang liền.

PHONG TỤC KHÂU GHÉP MỀN

Người Amish ở Bắc Mỹ có một phong tục khác cũng rất đáng chú ý: người đàn bà nào cũng biết khâu ghép mền. Con gái lớn lên là mẹ dạy cách khâu ghép mền. Gồm những miếng vải mầu sắc khác nhau, được cắt thành những ô vuông nhỏ, rồi khâu ghép với nhau từng chín miếng một theo một chiều hướng sao cho coi được am hợp với nhau, mầu sắc đừng có “chửi” nhau. Rồi cứ từng những tấm chín miếng mà ghép lại thành một tấm mền lớn dùng để đắp cho ấm.

Lần đầu tiên mà thấy loại mền này trưng bày thì ai cũng tưởng là một bức tranh thời trang. Nhiều người thấy đẹp liền bắt chước ra chợ mua vải đủ mầu về cắt ra những miếng vuông rồi mới khâu ghép lại. Coi cũng được.

Thực ra người Amish không có ý làm tranh nghệ thuật gì cả. Mà đi mua vải mới về cắt ra thì lại càng tếu, mất hết ý nghĩa đạo lý. Họ chỉ lấy quần áo cũ thôi. Không bao giờ vất đi gì cả. Niềm tin của họ thành phong tục là tất cả những gì xem ra đã bỏ đều có thể trở thành hữu ích. Vì thế họ thu những đồ cũ cắt ra thành từng mảnh vuông nhỏ, rồi khâu ghép lại. Những gì xem ra đã bị loại bỏ, những mầu sắc xem ra rời rạc, đều được xếp đặt theo một trật tự nào đó rất “ăn ý” với nhau, thành những tấm mền thật đẹp, trông như một bức tranh nghệ thuật.

Họ đang ghép lại những mảnh đời, thành bức tranh cuộc đời mầu sắc đi liền với nhau một cách tài tình. Nghệ thuật sống đơn sơ có thế mà nhiều người không nghĩ ra, để rồi những mảnh đời của mình cứ bị “thợ xây loại bỏ” hoài không sao chấp nhận nổi, để rồi những chuyện xung khắc đời mình xẩy ra như những mầu sắc trắng đen đỏ vàng cứ làm mình điên cái đầu chỉ tìm cách trốn chạy thôi.

Hôm nay nhìn tấm mền khâu ghép của người Amish, ai mà chả thấy thở phào sung sướng. Đúng là bức cầu vồng rồi, gồm đủ chua cay đắng ngọt. À ra thế. Dân này biết cách làm giầu và sống giầu có thật. Họ nhận được tất cả, biến chế tất cả thành những gì đẹp đẽ nhất. Bác sĩ thần kinh mà mò đến dân này thì chỉ có chết đói thôi!

NGƯỜI BIẾT LÀM GIẦU

Mẹ Teresa bên xứ An có lần đi nhiều nơi trên đất Mỹ liền tuyên bố một câu xem ra rất ngược đời: không có nước nào trẻ con nghèo bằng nước Mỹ.

Trẻ Mỹ có nhiều tiền mà nghèo mới lạ. Quá nhiều đồ chơi đến chán mứa, đâm rửng mỡ chơi súng thiệt đi bắn giết tùm lum. Chúng nghèo tình gia đình bởi cha mẹ bận quá, mải đi kiếm tiền không còn giờ cho con. Chúng nghèo tình anh em bởi cha mẹ không dám sinh thêm sợ không hy sinh nổi. Chúng nghèo tình thiêng bởi giáo dục đạo đức tơ lơ mơ, khoán cho mấy tay tài phiệt bán hàng trên Tivi dạy dỗ luân lý giùm!

Gia đình Thánh Lê Thị Thành chắc là không thuộc loại nhiều tiền. Nhưng vẫn theo được truyền thống “nghèo của giầu lòng” của dân mình. Giầu vì biết đón nhận vẻ giầu sang của tình thương.

Quê hương của bà Lê Thị Thành ở vùng Phát Diệm có nghề dệt chiếu cải, kết hoa dệt chữ bằng những sợi cói được nhuộm nhiều mầu khác nhau, rất giống kiểu khâu ghép mền của dân Amish. Vừa là kế sinh nhai mà vừa là nghệ thuật sống nữa. Đâu cần phải theo bà Bender vào mãi tận gia đình Amish mới học được nghệ thuật này. Dân mình cũng có phong tục còn hay hơn vậy từ lâu đời.

Ngay từ nhỏ mẹ Lê Thị Thành đã được học nghệ thuật dan dệt cuộc đời, chằng chịt ràng buộc bằng những sợi dây do những người thân yêu,  ghép lại bằng đủ mọi mầu sắc đôi khi có cảm tưởng xung khắc nhau. Hoàn cảnh nào cũng tìm cách biến cải được. Rắc rối khác biệt mấy rồi cũng đi vào đường lối nhịp nhàng, kết thành hoa thành chữ, có ý có nghĩa. Sống như vậy mà không giầu sang hạnh phúc nữa thì thôi. Còn ai sống giầu hơn được không?

Hơn nữa, Thánh Lê Thị Thành đã vớ được viên ngọc mà có lần Cha Đắc Lộ nói tới khi lần đầu tiên rao giảng Tin Mừng Đức Tin khi đặt chân lên Ba Làng Thanh Hóa rồi qua Hảo Nho Phát Diệm. Đó là đức tin khám phá ra Chúa Trời Đất. Trước hết, biết kiếm tìm cho gia đình thứ gia sản này mới là điều cần thiết, còn mọi sự khác Chúa sẽ lo cho. Về sau con cái không khoe mẹ tôi làm giám thị hãng cà-vạt, hay nhân viên ngân hàng lương năm bao nhiêu, mà chỉ  thuật lại vỏn vẹn:

“Mẹ chúng tôi rất chăm lo việc dạy dỗ các con. Chính người dạy chúng tôi đọc chữ và học giáo lý, sau lại dạy cách tham dự thánh lễ và xưng tội rước lễ. Người không để chúng tôi biếng nhác việc xưng tội. Khi chúng tôi lơ là, người thúc giục chúng tôi bằng được mới thôi. Người cho chúng tôi nhập hội Con Đức Mẹ, vào ban thiếu nữ thưa kinh ở nhà thờ”.

Cách làm giầu của Thánh Lê Thị Thành đơn giản lắm, có thấy nói phải đi đường tu đức bao nhiêu bậc đâu. Mà là khám phá ra ngay cuộc sống thường ngày, qua bất cứ hoàn cảnh nào, dù gặp may mắn, hay ngay trong cả những lúc bị đánh đập.

Có lần quan đã dùng trò dã man là buộc ống quần áo của bà lại rồi vất rắn độc vào trong người bà làm cho bà hoảng sợ. Đây là trò quá ác độc, man rợ và đê tiện. Con rắn lành lạnh bò tới bò lui. Cơn sợ hãi tăng lên cùng độ. Nhưng bà luôn miệng cầu xin ơn Chúa:

“Giêsu, Maria, Giuse, xin ba Đấng cứu con”.

Và Bà can đảm đứng yên không nhúc nhích nên rắn không cắn mà từ từ bò ra. Bà đã cầu nguyện tha thiết và Chúa đã ban cho bà sức mạnh phi thường để chịu đựng những thử thách xem ra vượt quá sức của bà. Sau đó bà đã nói rõ bí mật này:

“Họ đánh đập dữ tợn lắm. Người thế gian không có sức nào mà chịu được, song khi tôi phải đòn thì tôi cầu xin Đức Mẹ phù hộ thêm sức mạnh cho tôi, nên tôi không cảm thấy đau đớn”.

Khi con cái thấy mẹ bị đánh quần áo bê bết máu thì khóc thương, thì bà lại an ủi:

”Con đừng khóc. Mẹ thấy hoa hồng đang nở đó con”.

CON NHÀ GIẦU

Mẹ Lê Thị Thành đang làm phép lạ, đang làm giầu đó. Niềm tin đơn sơ nhưng mãnh liệt, vì cảm nghiệm Chúa và Đức Mẹ luôn ở bên.

“Có Chúa chăn nuôi thì còn thiếu thốn chi.

Dù đi trong thung lũng tối,

sẽ không lo mắc nạn,

vì có Chúa ở cùng”

                             (Thánh Vịnh 23).

Thánh Phaolô cũng đã cảm nghiệm như thế: “Tôi có thể làm được mọi sự trong Chúa là sức mạnh cho tôi” (Phil 4:13).

Bà để Chúa với sự phù hộ của Đức Mẹ biến tất cả thành hoa hồng. Như người dân Phát Diệm dệt chiếu cải, như người Amish biến những mảnh rời rã vô nghĩa thành mền ấm áp nghệ thuật.

Và gia sản mẹ trối cho các con cũng không phải là vàng bạc hay chương mục nhà băng gì cả,  mà bằng một kho tàng lớn mối mọt trộm cướp không rớ tới nổi. Con cái của mẹ Lê Thị Thành mới thật là con nhà giầu theo đúng nghĩa.

“Có Chúa lo liệu cho mẹ, con cứ về nói cho anh chị em con chăm sóc việc nhà, sáng tối đọc kinh, dự lễ, siêng năng xưng tội rước lễ, đừng khi nào bỏ đọc kinh tối sáng và nhớ cầu nguyện cho mẹ vác thánh giá đến cùng. Chúng con phải thương yêu nhau, sống hòa thuận, và nhất là lo giữ đạo cho sốt sắng. Mẹ mà bỏ đạo, bỏ Chúa về với các con thì rồi mẹ cũng sẽ chết chứ có lột xác mà sống mãi với các con đâu. Nếu mẹ trung thành với Chúa thì mẹ sẽ sớm về với Người mà chờ đợi chúng con đoàn tụ trên thiên đàng. Lúc đó gia đình ta sẽ được hạnh phúc mãi mãi.”

Nữ tu An đi săn sóc những người tù có đạo cũng làm chứng:

“Bà Đê rất sốt sắng, không những bà đọc kinh sáng tối ở trong tù, mà ban ngày bà cũng hay lần hạt và ngắm đàng Thánh Giá. Sau khi bà vào tù mấy ngày, tôi đã tìm cách đưa cha vào giải tội và cho bà rước lễ”

Và lời cầu nguyện cuối cùng trước khi tắt thở là:

“Lạy Chúa, Chúa đã chịu đóng đinh chết vì con, Chúa định cho con thế nào, con xin chịu làm vậy theo thánh ý Chúa. Xin Chúa tha mọi tội lỗi cho con”.

Con xin phó dâng hồn xác con trong tay Chúa, xin ban cho con được tuân theo thánh ý Chúa trong mọi sự”.

LẠI NHỚN NHÁC TÌM

Quả thực, người Au Mỹ đang thừa tiền mà lại quá nghèo tinh thần và tình thương. Họ đang mệt mỏi và nhớn nhác đi tìm lối thoát, nhưng chỉ thích tìm của lạ thôi, chán những gì đã có. Nhiều người mò sang Nhật học thiền, tập vũ thái cực của Tàu, tập Yoga của An. Thậm chí sách viết về mật tông Tây Tạng như Hoa Sen Trên Tuyết, Hành Trình Về Đông Phương, Tử Thư, bán chạy hơn tôm tươi.

Thầy Nhất Hạnh bây giờ khá nổi tiếng. Người Mỹ đang nhớn nhác mà. Thầy rời Làng Hồng bên Tây qua Cali mở một ngày thiền ngoài trời mà thu hút cả hai ngàn người, mỗi người góp 75 tiền Mỹ để Thầy chỉ cho cách thiền ăn táo. Mà táo mỗi người phải mang theo sẵn.

Chậm lại, đừng hối hả. Tỉnh thức. Hít vào. Thở ra. Dõi theo hơi thở trở về chính tâm. Biết mình đang hít vào, đang thở ra. Ý thức mình đang ăn, và hưởng cái thú đang ăn táo, từng miếng nhai, từng vị ngọt, ý thức mình đang nuốt...

Thế là ăn xong một trái táo, ra về thơ thới hân hoan vì đã biết ... ăn táo, mà chỉ mất có 75 tờ xanh có hình ông Oắt-sinh-tần.

Sách và phim Băng May Phúc (The Joy Luck Club) của Amy Tan người Mỹ gốc Tàu, chàng Tom Hank trong Forrest Gump chôm bộn bạc khi giới thiệu một lối sống “tuy nghèo mà dzui”. Người Mỹ đang cần vui mà, vì đang rầu thối ruột nè.

LỐI NGƯỜI VIỆT LÀM GIẦU

Truyền thống Công Giáo Việt thì đơn giản lắm. Chẳng cần phải mất công tốn tiền nhiều như vậy mới tìm được nét vui, nét giầu.

Anh sĩ Mark Sindler đã từng lăn lộn nhiều năm trong cộng đồng người Việt vùng New Orleans. Anh tìm chụp những nét tiêu biểu của lối sống Việt Nam để giới thiệu cho người Mỹ. Mới đây trong Jazz Festival, một số tấm hình anh chụp được triển lãm trong khu vực sắc thái các dân.

Đây là hình chụp cảnh một gia đình Việt thật giầu: hai ông bà đứng trước bàn thờ trong gia đình, mặc áo dài khăn đóng chỉnh tề, chung quanh có vẻ chả có gì ngoài cái bàn ăn thô thiển và cái bộ sa-lông cũ rích, nhưng nét mặt ông bà rất hãnh diện và sung mãn, ra như bảo tên chụp hình rằng: ừ thì anh đã thấy chỗ chúng tôi đào vàng rồi.

Một tấm hình khác chụp cảnh một ông già đang cầu nguyện trong ngôi nhà thờ nhỏ. Tấm này chụp ngay trong những năm đầu mới sang Mỹ. Giữa những rối loạn tan hoang và tuổi già bơ vơ thừa thãi, hình ông cụ như một hiện thân của an bình, của niềm tin. Nhìn vào đó, ai mà chả cảm thấy lòng mình tĩnh lại thảnh thơi, mọi phiền não tan biến, ra như chả có gì trên đời có thể làm xao động nổi nữa. Ở giữa cơn bão vẫn có “mắt” tĩnh mà. Mark Sindler rất đắc ý về tấm hình này, anh đã lột được cõi tâm của người Việt, cho thấy được linh hồn giầu có của lớp dân tỵ nạn. Giầu có vì niềm tin.

CHỖ LUYỆN SỨC THẦN

Theo Thánh Lê Thị Thành và các thánh nhà ta thì đường tu đức hay cách luyện sức thần đơn giản lắm: nhớ đọc kinh sáng tối, xưng tội, dự lễ, rước lễ, lần chuỗi kính Đức Mẹ, ham mộ Thánh Thể. Chỗ luyện sức thần đấy. Công thức làm  món ăn thần chỉ có thế. Nhưng phải nhớ thêm gia vị mắm muối là tin, cậy, mến. Gia đình nào cũng có bàn thờ chiếm chỗ trang trọng ngay giữa phòng khách. Chỗ đào vàng đấy. Cũng chính ở chỗ này, người Việt Công Giáo đã nhận được sức chịu đựng phi thường. Mọi mảnh rời xem ra phi lí trong cuộc sống cũng sẽ được cái sức này biến đổi ghép lại thành những bức tranh đẹp, thành chiếu cải được cả.

Kinh đọc là một trong những nét tiêu biểu trong truyền thống sống đạo của người Việt. Chính thánh Ven (Théophane Vénard) cũng đã nhận xét như vậy, khi sang Việt Nam thấy giáo dân cùng đọc kinh rôm ran, cung giọng lên xuống như ca hát nhịp nhàng.

Những khám phá mới về tâm lý tu đức cho thấy kinh đọc, nhất là lần chuỗi, chính là một phương pháp tĩnh niệm. Đọc không nhất thiết để hiểu, mà để lòng mình trống ra cho Thần Khí tác động. Như hòa vào một nhịp hơi thở, một nhịp kinh, vượt qua không gian và thời gian. Lời cầu nguyện với cả nhiệm thể như thế này , cùng với tổ tiên, các thánh, thì lời cầu nguyện có một sức mạnh phi thường. Cứ xem một đoàn quân cùng giậm chân một nhịp qua một cầu gỗ, cầu có thể bị sập. Một nhóm người cùng hò dô ta mà kéo chiếc thuyền thật lớn cũng đi cái vèo. Linh mục Teilhard de Chardin, một nhà khoa học và thần học đã nói: Khi một nữ tu cầu nguyện với niềm tin trong một nhà nguyện ở sa mạc, thì xem ra trục vũ trụ xoay quanh từ điểm đó.

Cứ thử đọc thật chậm những kinh đơn sơ như kinh: Chúng con lạy ơn Đức Chúa Thánh Thần thiêng sáng láng vô cùng... Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà... Lạy Cha chúng con ở trên Trời...Lạy Chúa, con sấp mình xuống trước mặt Chúa. Con tin thật Chúa ở khắp mọi nơi, thông biết mọi sự, hằng xem thấy con, hằng nghe lời con cầu nguyện...

Lời kinh vang lên cũng chính là lúc mắt đức tin thấy được Chúa đang hiện ra như đã hiện ra với Mai-sen trong sa mạc, vì thế mà mình sấp mình xuống thờ lạy. Hay đang thấy Đức Mẹ hiện ra như ở Fatima, Lộ Đức. Nghĩa là thấy được phép lạ Chúa và Đức Mẹ hiện ra trong mỗi buổi kinh.

Vì thế chẳng lạ gì khi mẹ Lê Thị Thành tâm sự:

“Họ đánh đập dữ tợn lắm. Người thế gian không có sức nào mà chịu được, song khi tôi phải đòn thì tôi cầu xin Đức Mẹ phù hộ thêm sức mạnh cho tôi, nên tôi không cảm thấy đau đớn”.

Bởi mẹ luôn cầm tràng chuỗi trong tay như tất cả các thánh tử đạo Việt Nam. Thần lực bởi đó chứ có phải sức riêng của mẹ đâu. Sức mạnh chịu được là do Chúa. Bất cứ phải làm gì, phải đương đầu với ai, mẹ Lê Thị Thành chỉ làm một dấu đơn sơ “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Amen”. Nhân danh Chúa thì không gì mà Chúa không làm được. Như Thánh Phêrô đã chữa cho một người khỏi què: “tôi không có vàng bạc gì cả, nhưng tôi có cái này cho anh: nhân danh Đức Kitô, anh hãy đứng dậy”.

NHỮNG BÀ “THỪA TÁC VIÊN THÁNH THỂ” ĐẦU TIÊN

Từ sau công đồng Vatican II, Hội Thánh mới có những thừa tác viên Thánh Thể giáo dân được phép đưa Mình Thánh Chúa cho bệnh nhân hay người tù. Nhưng thực ra trong mấy trăm năm bị bách hại, một số phụ nữ và nữ tu Mến Thánh Giá đã được cho phép ngầm trá hình đưa Mình Thánh vào tận nhà tù cho người Công Giáo. Điển hình nhất là vụ bà Anna Nghiêu và bà Anna Xin đưa Mình Thánh cho cha thánh Ven.

Cha Ven bị liệt vào hạng người tù không có thân nhân nên thường phải ăn cơm với muối. Biết thế, một người Công Giáo làm chủ tiệm cơm trại lính liền xuất hiện đóng vai trò một người chanh chua không ai dám đôi co. Bà nói oang oang lên rằng: một người Tây thông thái và hiền từ như vậy mà không cho đủ ăn, không khéo để ông ấy chết thì nhục nhã cho cả thành... Thế là bà ta đạt được như ý là được trao trách nhiệm nuôi ăn người đạo trưởng Tây này. Bà ta liền vội vã đến gặp cha trình ngay:

- Cha ơi, con đây.

Ngoài việc được chính thức ra vào thăm nom, mấy ngày sau bà Nghiêu làm theo ý Cha Ven là bưng đến cho ngài một khay trầu, có bà Anna Xin cùng đi. Họ đặt khay trầu trước mặt vị thừa sai. Cha Ven vạch các lá trầu ra thì thấy một chiếc hộp bằng sừng. Xúc động mở nắp ra thì Cha thấy chiếc bánh trắng nằm gọn đó. Bà Nghiêu dọn trà ra rồi trịnh trọng: Mời Cha xơi nước.

Cha Ven liền đỡ lấy Mình Thánh và rước lễ. Và cứ như vậy mỗi tuần Cha Ven đều được hai bà đưa “trầu” vào thăm nuôi.

Không thấy tài liệu nào nói rõ, nhưng rất có thể Thánh Lê Thị Thành với vai trò rất tích cực trong xứ đạo, cũng đã được trao nhiệm vụ đưa lén Mình Thánh cho những người trong tù, trong đó có cả Thánh Phạm Khắc Khoan là cha sở và hai thầy giúp xứ là Thánh Thanh và Hiếu.

Sức thần mà Thánh Ven cũng như Thánh Lê Thị Thành và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam lãnh nhận được từ kinh đọc luyện niềm tin, từ bí tích Thánh Thể. Vậy mà sao nhiều người lại bỏ con cá bắt con sằn sặt bằng những chuyện hiếu kỳ đâu đâu? Mình vẫn hát “Đây nhiệm tích vô cùng cao quí”. Có thật như vậy không. Cao quí cỡ bao nhiêu?

LỜI XÁC NHẬN CỦA VỊ CHA CHUNG

Trong buổi gặp gỡ giáo đoàn Việt Nam chiều ngày phong thánh, 19.6.1988, Đức Thánh Cha đã nói những lời xác quyết về cách làm giầu thật theo lối tổ tiên đức tin, như đường tu đức đơn giản của Thánh Lê Thị Thành:

“Cha chào anh chị em Việt Nam thân mến. Cha cầu chúc anh chị em can đảm như tổ tiên anh chị em. Cha luôn luôn mang anh chị em trong trái tim và Cha cầu nguyện cho anh chị em từng ngày.

Cha biết rằng anh chị em giữ mãi trong tâm hồn lòng trung thành sâu xa đối với quê hương Việt Nam của anh chị em, với dân tộc của anh chị em, với nền văn hóa của anh chị em.

Anh chị em có thể tin tưởng vào sự trợ giúp của các Thánh tiền bối để phát triển đời sống Kitô mà các ngài đã nêu lên những tấm gương quảng đại và trong sáng. Đến lần anh chị em, anh chị em cũng phải là những viên đá sống động trong tòa nhà của Hội Thánh.

Hãy đào sâu cuộc sống hiệp nhất với Chúa Kitô qua việc cầu nguyện. Hãy sống lòng tôn sùng Thánh Thể một cách sâu đậm. Hãy chạy đến nương nhờ sự trung gian hiền mẫu của Mẹ Maria, như trong thời kỳ cấm đạo, các tín hữu đã múc lấy nguồn năng lực để có thể trung kiên qua việc lần hạt Mân Côi. Hãy đào sâu sứ điệp Phúc Am, để biết làm chứng về Đức Tin của anh chị em. Hãy luôn khám phá vẻ đẹp của hồng ân Thiên Chúa trong bí tích Hòa giải. Hãy biết thứ tha như bao vị Tử Đạo đã làm gương đáng khâm phục. Hãy phát triển nơi anh chị em ơn phép Rửa tội. Anh chị em hãy giúp cho con cái sống trọn vẹn ơn làm con Thiên Chúa”.

TIẾT LIỆU DẠY THIỀN

Ngày nay người ta nói tới nhiều về Thiền. Thực ra thì Thiền có phải là của riêng Nhật hay Phật Giáo đâu. Thiền có nghĩa tĩnh niệm, là nhìn cho kỹ để mở mắt thấy. Giác ngộ gì? Thấy được sức sống đang hiển hiện. Trời đất chỉ có một hơi thở, một Thần Khí, một nguồn sung mãn. Chỉ cần bắt lại được vào nhịp sống đó, thì tìm lại an lạc. Linh mục dòng Tên người Ấn là Anthony De Mello thì gọi là Sadhana, vì thực ra chữ thiền do gốc Ấn Độ. Công Giáo thì gọi là chiêm niệm. Thánh I-Nhã gọi là Linh Thao. Thế thôi.

Nếu nói như vậy thì văn hóa Việt đã biết linh thao hay thiền từ khuya rồi. Hoàng Tử Tiết Liệu trong truyện thiêng bánh dầy bánh chưng, đã có thể lên ngôi sống đời hoàng vương giàu có nhờ biết linh thao: hòa nhịp vuông góc cạnh cuộc sống nhốt hộp của đất với dòng sinh khí Trời vô biên tròn đầy. Gọi là Tiết Liệu vì đã biết cách liệu cho hòa nhịp được tiết nhịp trời đất.

Con trăng có nhịp, con nước có nhịp, con người cũng có nhịp. Không đi được vào tiết nhịp trời đất là loạn ngay, mát dây, chạm điện tứ tung.

Ngày Tết là ngày người Việt tìm bắt lại nhịp này. Một năm với bao đợt sóng nhồi xuống tung lên dễ làm cho lòng người chao động và say sóng. Thì đây là lúc linh thao, nhìn kỹ để nhận ra đạo trời, để hưởng được niềm vui cuộc sống, để hòa nhập vào sức sống đất trời đang cựa mình đổi mới sang xuân. Dòng sinh lực ơn thánh đang tuôn chảy từng giây phút đây này qua mọi sự. Từng động tác, từng cảm giác, từng ngụm khí thở, quí báu chừng nào. Và bỗng thấy phép lạ của cuộc hiện hữu, đang được sống, đang giang rộng tay để lãnh nhận.

Trời đã sẳn có đạo, có đường lối, có tiết nhịp như thế rồi, cứ việc hòa theo thôi là an vui hạnh phúc. Hòa mình vào từng cây xanh bãi cỏ trong hội đạp thanh hái lộc. Hòa nhập vào thiên nhiên, vạn vật, vào những gì đang thấy trước mặt. Tất cả đều lạ lùng. Hạnh phúc vuông tròn ở ngay trong tầm tay chứ có phải chạy tìm mãi nơi xa tắp nào như những hoàng tử khác, giống người Mỹ nhớn nhác bây giờ.  Gạo và đậu làm nhân có ngay trong nhà. Lá gói có ngay trong vườn. Vậy mà nhiều người Công Giáo cũng đang hồ hởi đi tìm nhân điện hỏa xà Kundalini, và những luân xa hiếu kỳ mãi tận đâu đâu, phải chi bộn bạc.

Tổ tiên mình đã để lại lối sống linh thao từ lâu. Cấy lúa, tát nước, làm mùa, dệt chiếu là linh thao. Giã gạo, rửa chén là linh thao. Vừa làm vừa ca hát vừa thiền đấy. An Tết là linh thao. Bưng bát cơm đầy, ăn táo cũng là linh thao, cần gì phải tốn tiền. Nhìn gió, ngắm trăng sao là linh thao. Mục đích của linh thao là để thấy Chúa trong mọi sự mà. Tổ tiên thì thấy ông Trời bao trùm vạn vật. Như vậy đời sống là một chuỗi cầu nguyện chứ không chỉ giới hạn trong nhà thờ hay phòng nguyện nào cả. Hàn Mặc Tử đã cảm nghiệm thấy như vậy:

Hãy cầu nguyện bằng trăm kinh mây gió

Hãy dâng cho một tràng chuỗi trăng sao.

GHÉP LẠI NHỮNG MẢNH ĐỜI

Một khi đã bắt lại được vào nhịp trời đất như hoàng tử Tiết Liệu rồi, thì dù mọi thăng trầm có xô đẩy tới trong năm, người Việt vẫn cảm thấy an nhiên bình thản. Người Amish có phong tục khâu ghép mền. Người Việt có lễ nghi bánh dầy bánh chưng, dân Phát Diệm của mẹ Lê Thị Thành có nghề dệt chiếu cải, chấp nhận cả các đối nghịch, dung hóa được hai cực âm dương thành điện lực, biến chế mọi sư thành vuông tròn tốt đẹp. Nhịp đạo Trời đã sẵn vậy mà.

Dù ai nói ngược nói xuôi

Ta đây cứ vững đạo Trời khăng khăng.

Ghép tranh nhiều mảnh là một trò giải trí bây giờ. Tiệm thường bán những bức 500 miếng và 1000 miếng, có khi hơn nữa. Càng nhiều càng khó thêm. Nhưng mà thú lắm. Đổ ra một đống các miếng hình thù lung tung, mầu sắc tùm lum, xem ra chẳng “ăn uống” gì với nhau cả. Nhưng chớ vội vàng. Phải từ từ, thong thả. Trước hết lấy tấm hình mẫu “master” ra mà ngắm đã. Viễn ảnh đấy. Thấy trước cảnh núi đồi hùng vĩ, hồ nước long lanh, hoa cỏ tươi thắm. Chỗ trũng đen, chỗ mặt trời sáng, chỗ cây xanh, chỗ hoa đỏ, núi xám... Bắt đầu ra manh mối phần nào rồi đó.

Cứ thế, cứ thế, mọi miếng sẽ đi liền với nhau một cách tài tình. Mà mình cũng có cảm tưởng đang là nghệ sĩ sáng tác nữa, ghép lại bức tranh đời mình. Miếng đen kia là lúc mình bị hành cách đây mấy năm. Miếng tím kia là chuyện “chó chết” cách đây sáu tháng. Miếng vàng kia là niềm vui bất ngờ cách đây một năm. Miếng đỏ kia là lúc mình gặp hên quá sức cách đây một tháng v.v.

Hóa ra mình đang linh thao đấy. Có những miếng mình vùng vằng không muốn ghép vào, vì nhớ lại một chuyện trớ trêu quá, đã mười năm lận, thôi thì tạm bỏ ra một bên. Đợi cho đến gần xong thì mới thấy rằng thiếu miếng đó thì bức tranh hỏng bét, cả tấm hình lớn chỉ có cách vất đi thôi. “Hòn đá mà các thợ xây loại bỏ sẽ trở nên hòn đá góc tường” là vậy. Thế là chơi ghép tranh mà mình lại bắt lại được nhịp sức sống, ghép lại những mảnh đời: “Piecing lives back together”

BỨC TRANH GHÉP TÁM MIẾNG

Mang dòng máu Việt, Thánh Lê Thị Thành thấm nhuần đạo lý tổ tiên và làm chứng đạo sống ấy hài hòa với đức tin Công giáo. Người Việt quen ghép tranh vuông tròn, thì nay được Lời Chúa chỉ dậy ghép tranh tám miếng cho trọn những khốn cùng nhất. Những mảnh đời rời rã nay được nhận lại và ghép chung thành bức tranh “Tám Mối Phúc Thật” mà chính Chúa Giêsu thực tập và công bố trên đồi Bát Phúc nhìn xuống hồ Galilê thơ mộng. Thì ra nước hạnh phúc đang ở ngay đây rồi, gồm đủ mọi mầu sắc, mọi khía cạnh. Tám điều theo tiêu chuẩn người đời ai cũng sợ thì khi chấp nhận được, đem khâu ghép lại chẳng thành một bức tranh tuyệt vời sao, thành tấm mền đắp ấm áp cuộc đời.

Ai cũng sợ nghèo, sợ khóc, sợ bị làm khổ. Vậy mà đạo mình lại dạy “xin cho được lòng khó khăn” mới ghê. Ấy cũng tại niềm tin chưa sực nhận ra Chúa là Đấng giầu sang, toàn năng và đang có mặt tại đây. Miệng thì cứ nói tin mà lòng hình như chưa thấy vậy.

Nghèo như cảnh sinh Chúa nơi hang đá là cùng chứ gì. Khóc lóc như cảnh lạc mất đứa con cưng ba ngày, hay thấy con bị treo nhục nhã trên thập giá là cùng chứ gì. Vậy mà Đức Mẹ vẫn “ghi nhớ và tĩnh niệm trong lòng”. Vì tin vào lời Chúa: có Đức Chúa Trời ở cùng. Quyền lực Đấng Tối Cao bao phủ. Không gì mà Chúa không làm được. Đức Mẹ thấy rõ Chúa đang có mặt. Chính Ngài đang tác động, đang vần chuyển khâu ghép theo một hướng nhiệm mầu, để qua những lúc đen, vàng, đỏ, tím... một bức tranh ghép hiện lên đẹp quá: Chúa đã làm cho tôi muôn việc lạ lùng. Mọi mầu sắc đều lạ lùng, mọi chuyện đều đi liền với nhau, am hợp với nhau. Từ nay muôn thế hệ sẽ khen rằng tôi có phúc, tới tám phúc, trăm phúc, ngàn phúc, triệu triệu phúc, làm sao mà đếm cho hết được.

KHI MẸ TRUYỀN BỬU BỐI

Đức Mẹ biết chiêm ngắm và ghép tranh đời mình. Thánh Lê Thị Thành biết khâu ghép mền nhiều miếng. Những lúc gặp bóng đen. Những lúc gặp sóng lớn. Người mẹ Amish đã truyền nghề cho con khi bắt đầu khôn lớn. Tiết Liệu đã dạy người Việt ghép tranh vuông tròn bằng những gì đang có trong tầm tay. Quê mẹ Lê Thị Thành ở Phát Diệm dạy con dệt chiếu cải. Bây giờ đến lượt mình được dạy tập dệt ghép tranh của chính đời mình đây. Mà không phải tốn tiền đi đâu mua cả. Có Chúa gửi đến sẵn những miếng được cắt theo hình “thập giá” với đường cong queo ngòng ngoèo xem ra lung tung lắm.

Mình hãy ngồi thong thả. Miệng lâm râm lời kinh đêm: Lạy Chúa con, con sấp mình xuống trước mặt Chúa... Kìa Chúa đang hiện ra, Đức Mẹ đang hiện ra, đang bước tới. Những mảnh đời cũng đang ghép lại đây. Lạ lắm, thần lực Chúa như chất keo mầu gắn liền tất cả. Rồi mình sẽ giàu có thật, sẽ được khen là có phúc, đếm được tám phúc cơ, trăm phúc, ngàn phúc, triệu triệu phúc.

Ghép tranh nhiều mảnh thú lắm. Dệt chiếu cải tài tình lắm. Ghép lại những mảnh đời mà. Linh thao đấy. Tìm lại được chính mình, thành con nhà giầu. Hãy thử mà coi!

Lm. Dũng Lạc TRẦN CAO TƯỜNG

Hằng tuần, Lm Trần Cao Tường đều đặn gởi qua email các bài Tin Vui Thời Điểm (Suy niệm Chúa nhật va Lễ trọng) đến cho những độc giả có ghi danh tại địa chỉ

tinvuithoidiem@gmail.com

Xin mời thăm gia trang giới thiệu Tư Liệu Xây Nhà Niềm Tin và Văn Hoá Việt: www.dunglac.net


VỀ MỤC LỤC
ĐÀNG SAU VIỆC PHẠM TỘI LÀ GÌ?
 

Trong những ngày mùa chay, đặc biệt, những ngày cận và trong tuần Thánh, rất nhiều người đi xưng tội. Người ta tỉ mỉ xưng thú đủ thứ tội, từ tội trong lời ăn tiếng nói, rồi tội trong tư tưởng, tội trong hành động, đến cả những “tội quên, tội sót phạm trót đời con”, nghe mà… tội nghiệp. Người ta còn kể lể chính xác đã xưng mấy tháng, nhớ kỹ mỗi tháng phạm tội mấy lần… Thậm chí, có người đã bỏ xưng tội rất nhiều năm, khi đến xưng tội, mọi thứ được gộp chung một câu cho chắc ăn: “Tội gì cũng có”. Gọi là xưng tội, nhưng xưng theo kiểu tội gì cũng có, thực chất, chẳng xưng gì cả…

Nhưng đàng sau những kiểu xưng tội ấy là gì? Phải chăng như thế đã là sám hối, và chúng ta chỉ cần có thế là đủ cho cái gọi là “sống đạo”?

Không ai trách móc người Công giáo khi họ xưng thú từng chi tiết những tội bỏ kinh sớm tối, chia lòng, chia trí, ngủ gục khi dự lễ, cầu kinh. Chẳng ai trách khi họ xưng thú những tội rất đời thường: trách móc nhau, oán giận nhau, khó ưa lẫn nhau… Hoặc trong các nghĩa vụ đạo đức như kiêng khem, hy sinh… Và những lề luật khác liên quan đến giáo luật như bỏ chay tịnh, bỏ kiêng thịt, bỏ lễ buộc, bỏ mùa Phục Sinh…

Cả những anh chị em chỉ giữ đạo theo mùa: Cứ vào mùa (Vọng, Giáng Sinh, Chay, Phục Sinh), ta làm nghĩa vụ cho xong, cho rồi. Đến lúc ra mùa, hoặc tệ hơn, ngay sau khi rời tòa giải tội, trở về đời thường, ta đã từng sống thế nào, sự sống của ta cứ thế ấy, không một chút biến đổi, không một chút mềm lòng. Lại chờ đến mùa sau, ta lại làm bấy nhiêu việc. Cứ thế… cứ thế…, hết mùa này đến mùa khác, ta chỉ tìm trấn an lương tâm bằng những việc làm máy móc. Bởi vậy, việc nhiều người xưng tội như hiện nay, một mặt, đó là dấu hiệu đáng mừng, nhưng xét về khía cạnh nào đó, nó vẫn cứ là vấn đề cần xem lại… Kể cả những ai, nhất là các đôi nam nữ vừa ngồi cùng nhau trên chiếc xe gắn máy ở một góc nào đó trong khuôn viên nhà thờ, vừa trao đổi tâm tình, vừa… nghe lễ từ xa xa, phía bên trong nhà thờ, cũng là một dạng thức lệch chuẩn của lương tâm…

Một lý do rất đơn giản khiến người ta tấp nập đến tòa giải tội trong những ngày cuối mùa Chay và tuần Thánh, đó là chuẩn bị lòng mình mừng lễ Phục Sinh. Tôi không có ý “bới lá tìm sâu”, bẻ quanh vấn đề đi xưng tội. Càng không bao giờ có ý chống việc xưng tội. Bởi ai cũng biết rõ, việc xưng tội trong những ngày cực thánh này là việc làm tốt, là việc hệ trọng, không ai chống đối. Nhưng dù với lý do rất hay, rất đẹp là dọn lòng mừng lễ Phục Sinh, thì bên cạnh điều tốt, hình như bao giờ cũng có những điều, tuy chưa hẳn là xấu, nhưng có thể chưa hay. Bởi biết đâu, trong những hàng dài người nối tiếp người, chờ cáo giải, vẫn có ai đó, chỉ xưng tội như một thói quen, không hề có chút ý thức về tội, về tình trạng tội của mình, càng không bao giờ nghĩ tới lòng thương xót của Chúa mà chỉ tìm một lối thoát tạm thời trấn an lương tâm.

Đành rằng, lòng thương xót của Chúa là vô cùng, chỉ cần lòng người nhận ra sự yếu đuối của mình, là có thể chạm đến lòng thương xót ấy, là có thể lãnh nhận ơn tha thứ. Nhưng nếu tìm tòi kỹ lưỡng hơn, đi đến tận nguồn, tận ngọn của vấn đề, ta nhận ra, trong cách xưng tội của nhiều người như vừa kể, vẫn có điều bất ổn, vẫn ẩn giấu bên dưới cách xưng tội, cũng như những tội được xưng thú, ngay cả việc người ta tấp nập đến tòa giải tội trong những ngày cực trọng này, một tảng băng chìm, lạnh giá, và nguy hiểm: ĐỨC TIN BỊ ĐE DỌA. Sự đe dọa này mang nhiều cấp độ: Có thể là đức tin bị đánh mất, hoặc chí ít, đã bị hao hụt. Cũng có thể là chẳng còn đức tin, hoặc chẳng có đức tin.

Đúng hơn, phải nói, vì thiếu chiều sâu của lòng đạo, thiếu nền tảng đức tin, người ta chỉ chú tâm vào cái ngọn của vấn đề, nhưng không ai tra xét cái gốc của việc phạm tội. Người ta hối tiếc vì đã phạm tội, nhưng không ai tìm hiểu xem nguyên nhân nào đưa đến thái độ chểnh mãn lòng đạo đến như vậy. Người ta để ý đến cái bên ngoài, mà không để ý đến chính đức tin của mình. Có mấy ai nhận ra mình thiếu đức tin. Càng khó thấy có người xưng tội vì đã yếu lòng tin. Trong khi đức tin mới là điều quan trọng, là nền tảng, là căn cội của vấn đề.

Chính đức tin, tuy rất âm thầm, nhưng lại rất mạnh mẽ, chi phối đời sống tông giáo và cách thực hành đời sống tôn giáo của con người. Nếu không có đức tin, hoặc đức tin quá lu mờ, thì chuyện người ta phạm tội là điều dễ hiểu. người ta có đi xưng tội đến ngàn lần, thì vẫn cứ phạm đến vài chục ngàn lần như không vậy. Bởi thế, nếu không lo chỉnh trang chính đức tin của mình, thì việc xưng tội chỉ là biện pháp nhất thời. Rồi sau đó, người ta lại tiếp tục con đường của riêng mình như đã từng đi trên con đường ấy. Chính vì lý do thiếu chiều sâu đức tin, hàng năm cứ đến mùa, đến lễ, người ta kéo nhau đi thú nhận tội lỗi đông không thể tả, nhưng lại quá hiếm những người, sau khi xưng tội, thực sự đổi mới lòng mình, đổi mới đời sống, đổi mới cái nhìn đức tin và việc sống đạo trong đời cá nhân của mình. Hiếm đến vô cùng!

Đáng tiếc là, từ xưa đến nay, vẫn cứ như thế, vẫn cứ những nhịp độ đều đặn: đến mùa, đến lễ thì việc xưng tội lên đến tận đỉnh điểm. Hết mùa, hết lễ, mọi sự như chẳng có gì xảy ra. Mọi sự cứ đều đặn hết năm này đến năm khác. Đều đặn đến mức đáng sợ. Nhưng hình như chưa bao giờ có ai, kể cả các bậc lãnh đạo trong Hội Thánh, hoặc chính bản thân các hối nhân đặt vấn đề bởi đâu lại xảy ra ngày cành nhiều những hiện tượng “khô cạn” đức tin? Nguy hiểm hơn, hiện tượng “khô cạn” ấy càng lúc càng phổ biến theo chiều hướng trầm trọng.

Như vậy, đã rõ, cái gốc của vấn đề phạm tội - dẫn đến việc xưng tội như một thói quen, thiếu lòng thống hối thật, thiếu ý thức về tội, thiếu quyết tâm chừa tội, thiếu một xác tín nội tâm về lòng thương xót của Chúa - không khó trả lời: Thiếu đức tin. Bởi thiếu đức tin, thậm chí không còn đức tin, mà người ta đang để xảy ra một thứ tôn giáo nặng hình thức ngay trong việc giữ và sống đạo của mình.

Không có đức tin, chắc chắn người ta sẽ bị đẩy xa lòng yêu mến Chúa. Không còn tin, không còn yêu mến, lập tức sự cậy trông cũng trở thành một thứ xa xí phẩm của đời người. Đức tin không có, lòng cậy trông chai cứng, lòng yêu mến đối với việc giữ đạo cũng tan biến, vì thế, mọi nghĩa vụ đạo đức mà người ta thực hiện chỉ là hình thức, là cảm giác phải giữ, phải thực hiện, nếu không thì sẽ khác người.

Có khi các việc đạo đức chỉ là gánh nặng, là của nợ mà người ta chỉ muốn quăng đi. Nếu việc đạo đức thiếu chiều sâu nội tâm, hơn thế, chỉ là cái phải làm, là những nghĩa vụ khô khan, thì cầm chắc, đời sống tôn giáo xuống cấp. Khi đó, nếu vui, người ta thực hành nghĩa vụ đạo đức. Nhưng nếu buồn, họ chối bỏ, có gì là khó đâu. Lòng đạo hời hợt, vì thế, đi xưng tội, người ta cũng xưng tội cách hết sức hời hợt. Mà bởi mọi sự chỉ là hời hợt, người ta cũng chẳng thể nào nhận ra tình trạng đức tin “khô cạn” của mình. Bởi vậy, ta không lạ gì khi người ta xưng đủ mọi thứ tội, nhưng cái gốc của vấn để đẩy người ta đến chỗ phạm tội là sự yếu kém của đức tin, thì mãi mãi không ai nhận ra.

Ước mong mỗi lần chuẩn bị vào tòa cáo giải, người tín hữu, trong khi xét mình, luôn tự tra vấn về chính đức tin của mình. Bởi việc xét mình, tự nhận ra mình có tội đã là điều quang trọng, nhưng cái quang trọng nhất vẫn là phải tìm ra cho được nền tảng dung túng cho việc phạm tội ấy. Vì thế hãy đặt câu hỏi bởi đâu mà tôi đã phạm tội dễ dàng như thế, trước khi đặt câu hỏi tôi đã phạm tội gì, mấy lần, mấy tháng?