Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 46, Chúa nhật 14.5.2006


Các số báo đã phát hành           MỤC LỤC

Người Kitô hữu làm việc tông đồ trong tinh thần vâng phục                                  Vatican 2

ĐỨC GIÁO HOÀNG PHAOLỒ VI ĐIỀU HƯỚNG VÀ KIỆN TOÀN CÔNG ĐỒNG VATICAN II            Hương Vĩnh

Cộng Tác Với Ơn Chúa Thánh Thần                                                        + Gm. GB. Bùi Tuần

Bài tường thuật về sự sáng tạo cuộc sống người con                      Lm. Nguyễn Ngọc Long

XIN VÂNG                                                                                                 Lm. Lê Văn Quảng

CHỌN CHÚA TRONG MỌI CHI TIẾT CỦA ĐỜI TÔI                                   Trầm Tĩnh Nguyện

LINH  HỒN  TÔI CA TỤNG CHÚA                                      Nhà Văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

Tạ ơn Mẹ                                                                                         Lm. Giuse Ngô Văn Thích

TRÁCH NHIỆM LÀM CHA MẸ                                                                              Huyền Đồng

NGÀY 13.5.2006, LỄ ĐỨC MẸ PHATIMA                                                 Lm. Vũ Xuân Hạnh

Đức Maria - Người Nữ của Lời                                                    Lm. Phêrô Nguyễn Hữu Duy

Mười điều tâm niệm… để giao tiếp và làm việc với trẻ em Tự Kỷ    Gs. Nguyễn Văn Thành

TUỔI THƠ BỊ ĐÁNH CẮP                                                             Chuyện phiếm của Gã siêu


Người Kitô hữu làm việc tông đồ trong tinh thần vâng phục.

 

Như mọi Ki-tô hữu khác, giáo dân cũng có quyền được các vị mục tử có chức thánh ban phát dồi dào ơn trợ lực chứa đựng trong kho tàng thiêng liêng của Giáo Hội, đặc biệt là Lời Chúa và các bí tích. Như con cái Thiên Chúa và như anh em trong Đức Ki-tô, họ sẽ trình bày với các vị ấy những nhu cầu và khát vọng của mình một cách tự do và tín cẩn. Tuỳ theo sự hiểu biết, khả năng chuyên môn và uy tín của mình, họ có thể và đôi khi còn có bổn phận phải bày tỏ cảm nghĩ của mình về những việc liên quan đến lợi ích của Giáo Hội. Họ nên thực hiện điều đó, nếu cần nhờ vào các cơ quan đã được Giáo Hội thiết lập nhằm mục đích ấý; và hãy luôn chân thành, can đảm và khôn ngoan, kính trọng và yêu mến những người thay mặt Đức Ki-tô vì nhiệm vụ thánh của các ngài.

Như mọi tín hữu khác, với tinh thần vâng lời của người Ki-tô hữu, giáo dân cũng hãy mau mắn chấp nhận những điều mà các vị mục tử có chức thánh đại diện Đức Ki-tô, đã quyết định với tư cách là thầy dạy và nhà lãnh đạo trong Giáo Hội; khi làm như thế, họ theo gương Đức Ki-tô, Đấng đã vâng lời cho đến chêt, để mở ra con đường hạnh phúc cho sự tự do của con cái Thiên Chúa. Giáo dân đừng quên dùng lời cầu nguyện mà phó dâng cho Thiên Chúa các vị lãnh đạo của mình, để các ngài khôn ngoan và không than vãn khi thi hành nhiệm vụ chăm sóc linh hồn chúng ta, như những người sẽ phải trả lẽ với Thiên Chúa,(x. Dt 13,17).

(Trích Hiến chế tín lý về Giáo Hội Ánh sáng muôn dân của Công Đồng Vaticanô II, số 37).

 
VỀ MỤC LỤC

ĐỨC GIÁO HOÀNG PHAOLỒ VI

ĐIỀU HƯỚNG VÀ KIỆN TOÀN CÔNG ĐỒNG VATICAN II

 

Khi Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII băng hà vào tháng 6 năm 1963, Công Đồng Vatican II vừa mới bắt đầu. Tám chục vị Hồng Y đã tập họp bầu vị giáo hoàng kế tục mà vị đó có thể đình chỉ hay hủy bỏ công đồng.

Thay vào đó, các ngài đã bầu Đức Giáo Hoàng Phao-lồ VI là vị đã tức thời tuyên bố ý định muốn thấy Công Đồng tiếp tục và tái xác nhận mục tiêu của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII là muốn làm cho Công Đồng trở thành khí cụ đổi mới cho Giáo Hội.

Khóa họp đầu tiên của Công Đồng - từ ngày 11 tháng 10 đến ngày 8 tháng 12 năm 1962 – đã không đưa ra một văn kiện quan trọng nào. Hôm trước ngày chấm dứt khóa họp, các vị giám mục đã bỏ phiếu phần đầu của Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh và đã chấp thuận với một tỉ số lớn lao về những nguyên tắc cải tổ phụng vụ bao gồm việc thờ phượng có thể dùng ngôn ngữ địa phương và những nghi thức phụng vụ được thích nghi với những nền văn hóa địa phương.

Khi họp lại trong ba khóa kế tiếp vào các mùa thu dưới triều đại của Đức Giáo Hoàng Phao-lồ VI, Công Đồng đã đưa ra 16 hiến chế, những sắc lệnh hay tuyên ngôn mà nhiều văn bản cho thấy sự dấn thân thâm sâu của Giáo Hội.

Linh mục Joseph A. Komonchak đã nói: “Đức Thánh Cha Phao-lồ VI có một ý thức tổ chức công tác khả quan hơn Đức Thánh Cha Gioan XXIII trước kia.” Cha là một thần học gia thuộc Đại Học Công Giáo Hoa Kỳ và là người đảm trách tài liệu về Lịch sử Vatican II gồm 5 quyển - một tập nghiên cứu chung quyết của một nhóm học giả quốc tế.

Trong một cuộc phỏng vấn, cha Komonchak cho biết sau khóa I của Công Đồng, Đức Hồng Y Giovanni Battista Montini là vị sẽ trở thành Giáo Hoàng Phao-lồ sau nầy, trong một cuộc nói chuyện, Ngài đã phát biểu là Công Đồng cần một trọng điểm hợp nhất.

Cha Komonchak còn nói thêm: “Trong diễn văn khai mạc Khóa II và đó là lần đầu tiên Ngài chủ tọa, Ngài đã làm cho Giáo Hội trở thành chủ đề chính của Công Đồng, nghĩa là Giáo Hội phải tự nhận thức về chính mình, Giáo Hội nghĩ về mình như thế nào và Giáo Hội nghĩ về tương quan của mình với thế giới ra sao?”

Và cha cũng cho biết trong “Ecclesiam Suam” (Giáo Hội của Chúa) – Thông Điệp đầu tiên của Ngài - Đức Thánh Cha Phao-lồ VI đã mạnh mẽ đề xướng bằng những lời lẽ hùng hồn và mỹ lệ về khái niệm đối thoại. Đó là một trong những đặc điểm chính của những tài liệu Công Đồng về đối thoại với những tín hữu Kitô giáo khác, với những tín đồ các tôn giáo khác, với thế giới tân tiến…

Những người lớn tuổi đều nhớ lại rất ít có sự đối thoại diễn ra giữa các tín hữu Công giáo và không Công giáo, nhất là ở Bắc Mỹ. Lúc bấy giờ vấn đề đại kết thường được Roma kiểm soát rất chặt chẽ. Riêng đối với việc đối thoại với thế gới tân tiến, thái độ nổi bật là luôn luôn ngờ vực và kết án.

Đức Giáo Hoàng Phao-lồ VI, theo lời cha Komonchak, “đã bắt đầu từ từ nắm vai trò lãnh đạo nhiều hơn cho nên khi một thiểu số khư khư bày tỏ sự dè dặt đối với giáo lý về giám mục đoàn trong chương 3 của “Ánh Sáng Muôn Dân”, Ngài đã ra lệnh thêm vào một lời chú thích có tính cách chuẩn bị và làm nền tảng mà trên đó các giám mục sẽ bỏ phiếu về chương đó. Ngài cũng can thiệp cho đến phần kết thúc liên quan tới Sắc Lệnh về Đại Kết.”

Những hành động đó làm xoa dịu một thiểu số những viên chức cao cấp thuộc Giáo Triều Roma, tuy ít ỏi nhưng có quyền lực điều khiển, vì họ nghĩ rằng Công Đồng đã đi quá xa đối với một số vấn đề”

Cha Komonchak nói: “Tôi thiết tưởng Ngài cương quyết không để cho Công Đồng được nối tiếp bằng một cuộc ly giáo và Ngài không muốn một thiểu số - trong trường hợp nầy là “thiểu số bảo thủ” - có thể than phiền về cung cách mà họ đã bị đối xử tại Công Đồng Vatican II như cách thức mà “thiểu số tự do” tại Công Đồng Vatican I đã than phiền. Vì vậy Ngài đã làm bất cứ điều gì hầu có thể đạt tới một sự đồng thuận càng nhiều càng tốt đối với những vấn đề gây nhiều tranh luận.”

Cha Komonchak cho biết Đức Giáo Hoàng Phao-lồ VI cũng đã can thiệp vào những giai đoạn soạn thảo của Công Đồng đối với Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải của Chúa. Linh mục thần học gia đó nói: “Ngài nhấn mạnh là họ đã đưa ra một văn bản về sự tương quan giữa Thánh Kinh và Thánh Truyền và một văn bản khác về sử tính của Thánh Kinh mà Ngài nhận thấy văn bản thứ nhất xem ra tối nghĩa. Ngài muốn đưa ra một công thức có thể gợi lên một vấn đề chưa được giải quyết là Thánh Truyền chứa đựng những chân lý mà Thánh Kinh không có, và điều đó đã thể hiện trong văn bản cuối cùng.”

Cha Komonchak còn nói: “Một vấn nạn khác liên quan đến vấn đề linh ứng. Đức Thánh Cha muốn điều đó được diễn tả như thế nào để người ta có thể xác nhận rằng toàn bộ Thánh Kinh được linh ứng, và điều đó được đọc thấy trong một văn bản theo đó Chúa đã ban hành vì phần rổi chúng ta. Nói cách khác, làm thế nào khi người ta đọc văn bản đó, người ta đọc những gì được đề cập tới phần rổi chúng ta, chứ không phải những điều nói về miền Cận Đông xưa kia và về thực vật học.”

Khi thực thi Công Đồng trong thời gian 13 năm, kể từ khi bế mạc cho đến lúc Ngài băng hà vào năm 1978, theo cha Komonchak, Đức Thánh Cha Phao-lồ VIđã bị công kích nặng nề từ cánh tả cũng như cánh hữu và đối với tôi điều đó có nghĩa là Ngài đã hành xử đúng.”

Cha Komonchak nói thêm: “Dĩ nhiên Ngài không hoàn toàn hài lòng với hết mọi điều xảy ra thời hậu Công Đồng; nhưng ai có thể hài lòng đây? Tôi thiết tưởng Ngài rất đau buồn bởi những biểu hiện của một thứ chống đối và cả cách mạng nữa, nhưng tôi thiết nghĩ Ngài đã hoàn thành một công việc tốt. Ngài vẫn thực thi Hiến Chế Phụng Vụ và trong thực tế, Ngài đã cho phép những sự cải cách còn đi xa hơn những gì mà chính Công Đồng đã đề nghị. Tôi thiết tưởng Ngài cố thực hiện sự đối thoại với những Kitô hữu khác và Ngài đã thiết lập một văn phòng đối thoại với những tín hữu không phải Kitô hữu và những người không tín ngưỡng và Ngài đã viết đôi văn kiện quan trọng về xã hội. Ngài đã chủ tọa Thượng Hội Đồng Giám Mục một cách cởi mở hơn dưới triều đại của vị giáo hoàng kế tiếp Ngài.”

Cha Komonchak cho biết Thông Điệp “Humanae Vitae” (Sự Sống Con Người) vào năm 1968 mà theo đó Đức Thánh Cha Phao-lồ VI tái xác quyết giáo huấn truyền thống của Giáo Hội là việc sử dụng phương pháp ngừa thai nhân tạo trong những quan hệ vợ chồng tự bản chất vốn sai lầm là “một thánh giá nặng nề đối với Ngài.”

Theo cha Komonchak: “Một phần của vấn đề là chưa đầy ba năm sau khi Công Đồng bế mạc, việc thi hành quyền giáo huấn (magisterium) tối cao rõ rệt của hội đồng giám mục theo Công Đồng đã đột ngột được thay thế bới sự thi hành độc nhất về quyền đó bởi Đức Giáo Hoàng. Và phản ứng đối với điều đó đã khiến Đức Giáo Hoàng buồn phiền cho đến đỗi Ngài không bao giờ ban bố một thông điệp nào khác nữa.”

Trên bình diện đại kết, Đức Thánh Cha Phao-lồ VI đã có những “cử chỉ ngoạn mục”, chẳng hạn Ngài ôm hôn Đức Giáo Chủ Chính Thống Đại Kết là Athenagoras ở Constantinople nhân dịp Ngài đi thăm viếng Thánh Địa năm 1964. Ngài cũng đã khai mạc nhiều cuộc đối thoại đại kết có tính cách song phương và đa phương còn tiếp tục cho đến ngày nay.

(Phỏng theo Jerry Filteau – Washington – CNS)

Hương Vĩnh

VỀ MỤC LỤC
Cộng Tác Với Ơn Chúa Thánh Thần

 

Chúng ta tin nhận rằng: Phép Thêm Sức ban thêm ơn Chúa Thánh Thần cho chúng ta. Điều đó đúng. Nhưng không có nghĩa là cứ chịu phép Thêm Sức là tự nhiên mình sẽ ngoan đạo, sẽ mạnh tin. Không phải hoàn toàn thế đâu. Phép Thêm Sức có ban ơn thánh cho ta, ban thêm nhiều lắm, nhưng để ơn thánh đó xâm nhập vào ta, biến đổi đời ta, thì còn cần một điều nữa, một điều quan trọng khác nữa, một điều về phía ta. Điều đó là gì. Thưa là cộng tác của ta với ơn Chúa Thánh Thần.

Ơn Chúa Thánh thần, ví như đồ dùng tốt Chúa trao ban, nhưng nếu ta không dùng hay không biết dùng, thì cũng bằng không. Ơn Chúa Thánh Thần ví như hạt giống tốt Chúa gieo vào lòng ta, nhưng nếu ta không vun tưới, thì không dễ gì nẩy sinh bông trái. Vậy ta phải cộng tác với Chúa Thánh Thần thế nào? Đó là vấn đề tôi muốn nói chuyện hôm nay.

Anh chị em thân mến,

Việc thứ nhất chúng ta phải cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần, là thường xuyên hướng lòng mình lên những sự tốt lành cao thiêng

Phúc Âm thánh Gioan ghi lời Chúa Kitô nói: “Ai làm sự dữ thì ghét ánh sáng và không tới được ánh sáng... Ai hành động trong chân lý, sẽ tới được ánh sáng” (Ga 3,21). Nói cách khác, phải yêu ánh sáng trước, mới tìm được ánh sáng sau. Phải yêu chân lý trước, mới tìm được chân lý sau.

Đúng thế, kẻ yêu vật chất thì sẽ đi tìm vật chất. Kẻ yêu nhân đức thì sẽ chọn nhân đức. Có nghĩa là lòng hướng về đâu thì tìm về đó. Lòng thích cái gì thì chọn cái đó. Động lực bên trong thúc đẩy kẻ này tìm sự ác, kẻ kia tìm sự thiện là chính cái tâm hướng, tức là cái xu hướng của tâm hồn. Cái động lực hầu như quyết định sự lựa chọn của ta, lựa chọn điều lành cũng như điều dữ, cũng tại ở cái tâm hướng, tức là cái khát vọng ta muốn thực hiện cho cuộc đời mình. Vì thế cái mấu chốt tâm lý của đời sống đức tin, đời sống đạo đức là cái tâm hướng. Phải để ý tới nó rất nhiều. Do đó, muốn biết tìm và chọn nguồn ánh sáng và nguồn chân lý của Chúa, cũng như muốn biết tìm và chọn những sự tốt lành hợp với ơn Chúa Thánh Thần, thì cần phải huấn luyện cái tâm hướng, sao cho nó ngã về đàng lành, khát khao những sự nhân đức. Việc huấn luyện đó đòi các hành vi tâm linh như: Năng tìm hiểu những giá trị tốt đẹp của nó, xác tín về những ích lợi lớn lao của nó trong đời hiện tại và mai ngày, biết lượng giá đúng lý tưởng nhân đức.

Tâm hồn có xu hướng như thế, sẽ là thửa đất tốt giúp cho ơn Chúa Thánh Thần nảy nở.

Việc thứ hai chúng ta phải cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần, là năng làm việc lành phúc đức

Chúng ta biết con dao ít dùng sẽ mau han gỉ. Cái xe ít đi sẽ mau khô dầu. Con người ít hành nghề sẽ dễ sút giảm tài nghệ. Cũng thế, người ít làm việc đức tin, sẽ dễ làm yếu đức tin. Ngược lại, ai càng năng làm các việc đức tin, sẽ làm đức tin thêm mạnh. Mà làm là làm thiệt, bằng hành động cụ thể, với ý hướng tìm Chúa thật sự, chứ không phải chỉ làm bằng mơ ước, tính toán và chiếu lệ.

Khi bão, ta đâu có tranh luận với cơn bão, nhưng đóng cửa lại. Khi nắng, ta đâu có tranh luận với mặt trời, nhưng đội nón lên. Khi đói, ta đâu có tranh luận với cơn đói, nhưng đi tìm cơm ăn. Cũng thế, khi thấy những gì có hại cho đời sống đạo đức, ta đừng mất công tranh luận, nhưng hãy tránh, hãy đề phòng. Khi thấy việc gì có tính cách bồi dưỡng cho đời sống ơn Chúa Thánh Thần, thì cũng đừng chỉ ngồi đó ước mơ, tính toán, nhưng hãy làm đi. Làm một cách thản nhiên, với lòng phấn khởi xác tín.

Những việc lành phúc đức làm như thế, sẽ là những dòng nước tốt tưới cho ơn Chúa Thánh Thần trong ta được phát triển mau lẹ và tốt đẹp.

Việc thứ ba chúng ta phải cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần, là năng giao tiếp với ơn Chúa Thánh Thần

Chúa Thánh Thần là tình yêu, mà đã là tình yêu thì không bao giờ áp đặt. Ngài tôn trọng sự tự do của con người, của mỗi người. Ngài cho, nhưng còn tùy ta có nhận hay không. Ngài gọi, nhưng còn tùy ta có thưa lại hay không. Ngài giơ tay ra, nhưng còn tùy ta có nắm lấy tay Ngài hay không. Sự đáp ứng của ta là yếu tố cần thiết, là sự cộng tác quan trọng. Vì thế, ta phải năng giao tiếp với Chúa Thánh Thần, để biết đáp ứng một cách ngoan ngoãn mau lẹ. Giao tiếp với Ngài, bằng cách năng cầu xin ơn Ngài, năng cảm tạ Ngài, năng giục lòng tin mến Ngài, năng bàn hỏi với Ngài, năng lắng nghe tiếng Ngài nhắn nhủ trong lương tâm và qua các biến cố, các gương lành và lời giảng dạy, khuyên răn.

Anh chị em thân mến,

Ba việc làm trên đây, chưa phải là tất cả và chỉ có thế, trong nhiệm vụ cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần. Ta hãy thực hiện các việc đó trong đời sống bản thân mình, và trong việc giáo dục các con em của chúng ta. Ta hãy khởi sự thực hiện ngay bây giờ, bằng cách tập trung lòng trí lại, hướng lòng lên Chúa, giục lòng tin cậy mến, để tuyên xưng lại đức tin .

+ Gm. GB. Bùi Tuần

VỀ MỤC LỤC
Bài tường thuật về sự sáng tạo cuộc sống người con
 

1. Ngay từ khởi đầu lúc lọt lòng mẹ, thế giới em bé sơ sinh còn hoang vu tối tăm. Chưa có trật tự, chưa có gì liên kết lại với nhau, sự ấm cúng bao bọc trong cung lòng mẹ giờ đây như không còn nữa. Bóng tối như bao phủ người con. Em còn trần truồng, nhắm mắt kêu la khóc thét đòi mẹ giữa cảnh hoang vu!

Người mẹ ôm con vào lòng, lấy khăn bọc ủ con cho kỹ, rồi đặt nụ hôn đầu đời trên vầng trán, trên đôi gò má, trên môi miệng còn tinh tuyền, như giọt sương buổi sáng sớm còn đọng trên ngọn cỏ, của con mình.

Thế là bóng tối biến tan. Ánh sáng tràn vào tận khắp cùng thân thể và tâm hồn em. Người con gọi ánh sáng là sự tin tưởng, bóng tối là sự sợ hãi.

Một tạo vật, một công trình tác phẩm, một con người do Thượng Ðế tác tạo ra đã bước vào trong trần gian! Ðó là một buổi chiều và một buổi sáng: ngày thứ nhất

Người mẹ nhìn em bé nói: con của mẹ đói bụng rồi, mẹ cho con ăn nhé! Mọi sự xảy ra như mẹ mong muốn.

 

2. Mẹ ôm con vào lòng áp sát vào lồng ngực cho con bú giòng sữa nuôi dưỡng bình yên từ thân thể mẹ chảy ra. Em bé gục đầu vào lòng mẹ, nhắm mắt hút dòng nước thức ăn bình thản thỏa mãn. Cơn đói khát dần biến tan mất. Em bé ngủ yên mơ màng miệng nở nụ cười khoan khoái nhẹ nhàng trên cánh tay nơi lòng mẹ mình. Em gọi lòng mẹ mình là hạnh phúc và cơn đói khát là sự bất hạnh.

Sức sống tươi trẻ non yếu đang dần phát triển vươn lớn lên bằng dòng sữa thức ăn tình yêu huyền nhiệm nơi người mẹ, mà Ðấng Tạo Hóa trao tặng cho con người. Ðó là một buổi chiều và một buổi sáng: ngày thứ hai.

Người mẹ mang chăn mền quần áo lại mặc quấn cho con nói: mẹ đắp chăn, mặc quần áo cho con, để con được ấm áp! Mọi sự xảy ra như mẹ mong muốn.

 

3. Mẹ ẵm con mình trên đôi tay, đặt em nằm trên giường trải khăn, thay tã, thay quần áo mới khô cho em, ru em nín đi đừng khóc nữa. Em bé cảm thấy ấm áp. Lớp quần áo khô mới cùng chăn bông êm ấm đã cản ngăn cơn gió lạnh không xâm nhập vào thân thể non yếu của em được nữa. Mẹ cầm bàn tay non nhỏ của em vẽ hình Thánh Giá trên thân thể em, xin Chúa Giêsu và Ðức Mẹ chúc lành cho em khoẻ mạnh mau lớn. Em gọi sự ấp áp của mẹ em là nơi trú ẩn. Em nhắm mắt ngủ yên trong sự tin tưởng.

Xa lạ từ lúc đi ra khỏi cung lòng mẹ sống giữa thế giới bao la. Nhưng người con không phải lang thang mất hướng đi trong vùng sa mạc hoang vu. Bến bờ bình an cho tâm hồn thân xác đã dọn sẵn cho em. Ðó là một buổi chiều và một buổi sáng: ngày thứ ba.

Thấy con nằm trong nôi một mình, cha mẹ nói: con là niềm vui hạnh phúc của mẹ! Và mọi sự xảy ra như mẹ mong muốn!

 

4. Người mẹ đặt bàn tay trên đầu con, xoa trán vuốt tóc con, rồi lại xoa trên đôi gò má non nhẵn mịn đỏ ửng, nắn bóp xoa tay chân và khắp thân thể của em. Bế em lên, mẹ vỗ vào thân thể em, đang khi nói những lời ngọt ngào nựng nịu em: con chó con, con ngoan của mẹ! Em bé cảm thấy được âu yếm thương yêu trong vòng tay mẹ mình. Và em gọi sự âu yếm của mẹ là niềm vui hạnh phúc.

Không ai là một hòn đảo. Ai cũng cần sự liên đới tương quan, nhất là được đụng chạm ve vuốt âu yếm. Những liên đới đó mang lại niềm an ủi. Vâng, cảm giác được chấp nhận mang lại sự an tòan cho đời người thêm hạnh phúc. Ðó là một buổi chiều và một buổi sáng: ngày thứ tư

Em bé nằm kêu bâng quơ. Như trực giác linh tính hiểu ra, mẹ em nói vọng vào: con hãy nói nữa đi, mẹ nghe con đây! Và mọi sự xảy ra như mẹ mong muốn.

 

5. Người mẹ chạy lại cúi mình sát xuống con, nói chuyện và cười với em bé bằng ngôn ngữ thật đơn giản. Em bé quơ tay chân dãy dụa cũng ê a nói lại với mẹ mình. Mẹ em nhìn thẳng vào khuôn mặt non dại ngây thơ trong trắng của em, lắng nghe em ê a. Mẹ hiểu con mình muốn nói gì. Mẹ con liú lo nói chuyện với nhau, và nghe nhau trong niềm hạnh phúc sung sướng. Em học tiếng mẹ đẻ từ ngày đó. Em không còn là người câm nữa. Em gọi tiếng mẹ mình là niềm hy vọng.

Nhu cầu thông tin liên lạc không chỉ giới hạn trong sự đụng chạm bằng tay chân thân xác, nhưng còn bằng trí tuệ tâm hồn trái tim qua ngôn ngữ tiếng nói phát ra bên ngoài nữa. Nhu cầu trí tuệ tâm linh này rất căn bản. Nó giúp phát triển cuộc sống riêng tư mỗi người, và cuộc sống chung trong xã hội con người. Niềm hy vọng đang vươn lên. Ðó là một buổi chiều và một buổi sáng: ngày thứ năm

Nghe tiếng kêu la thất thanh của con, mẹ vội chạy lại nói: con đừng sợ, có mẹ đây con! Mọi sự xảy ra như mẹ mong muốn!

 

6. Tiếng la hét sợ hãi nghi nan của đứa con như sắp bị ngã trợt khỏi bậc cầu thang hay ngưỡng cửa chắn bước em đi, người mẹ chạy đến cầm tay em vực em dậy. Cúi mặt xuống xoa thổi hơi trên chỗ đau của con, lau chùi những giọt nước mắt ngây thơ tinh tuyền như dòng nước nơi khe suối trong sáng, còn đang đọng trên đôi mắt, trên gò má của con. Người con cảm nhận ra sự trung thành của mẹ mình. Người con gọi sự trung thành đó là sự tin cậy.

Tình yêu là điều gì linh thiêng cao qúy không sao diễn tả được. Nhưng sự trung thành với tình yêu giúp cho tình yêu, tựa như một khóm cây, bén rễ sâu bền chặt vào tận thâm tâm con người. Ðó là một buổi chiều và một buổi sáng: ngày thứ sáu.

Khi người con đã khôn lớn, người mẹ chúc lành cho con mình và nói: bây giờ con đã lớn khôn. Hãy chịu khó học hành tìm hiểu, chịu khó làm việc, nhớ đến lời kinh Kính mừng Maria và kinh Lạy Cha, đi vào đời kiến tạo đời sống tự lập! Mọi sự xảy ra như mẹ mong muốn!

 

******************************************

Ðời sống của một người trẻ lớn lên đi vào đời với những bước chập chững bỡ ngỡ. Theo gương cha mẹ, người con tìm cho mình một hướng đi xây dựng cuộc sống. Hay một mái ấm gia đình riêng, mà người con cùng với người bạn đường xây dựng nên. Trong tổ ấm đó họ cũng có con như ngày xưa cha mẹ họ đã sinh thành nuôi dưỡng họ. Theo lời căn dặn của mẹ mình, họ yêu thương con cái như họ đã được mẹ yêu thương.

Ðời sống tự lập giữa dòng đời xã hội xảy ra với nhiều thay đổi chao đảo. Vâng, có hoang vu lộn xộn mất trật tự nữa. Người con cảm thấy nhiều hoang mang lo âu sợ hãi. Nhưng những lúc như thế, người con nhớ đến mẹ mình và gọi kêu cầu mẹ mình, người đã trao tặng nuôi dạy mình lòng tin, niềm hy vọng và tình yêu mến.

Ba bông hoa Tin Cậy và Mến là ba đức tính cột trụ kiến tạo:

- cho tòa nhà đức tin làm con Chúa, Ðấng tạo dựng nên sự sống con người. Ðể đời sống không trở nên như chiếc xe không phanh thắng dọc đường gió bụi, như con thuyền không bánh lái giữa dòng sông cuộc đời.

- cho dãy nhà xã hội, nơi cùng chung sống. Ðể nhân phẩm con người không bị chà đạp và bác ái tình người được thăng hoa.

- và cho cả ngôi nhà cùng khu vườn đời sống riêng mỗi người nữa. Ðể con người nhận ra gia trị đóng góp đời sống mình vào trong khu vườn bông hoa sáng tạo của Thượng Ðế: Tất cả đều được hân hoan đón nhận!

Xin tạ ơn Thiên Chúa và cám ơn Mẹ của con!

Tháng hoa nhớ về Mẹ

Lm. Nguyễn ngọc Long

VỀ MỤC LỤC
XIN VÂNG

 

Nói đến Mẹ Maria, người ta nghĩ ngay đến hai tiếng XIN VÂNG. Tiếng XIN VÂNG hay tiếng FIAT là một tiếng phiêu lưu, mạo hiểm, táo bạo. Nó ám chỉ một sự liều lĩnh và đòi hỏi một sự can đảm. Nó có nghĩa là từ bỏ mọi sự lại đằng sau  để tiến về đằng trước. Bỏ lại phía sau những cái mà chúng ta đang có chắc trong tay và mạo hiểm về một tương lai mà chúng ta hoàn toàn không biết. Chúng ta phải bỏ lại những người thân yêu, những tập tục quen thuộc, những ham mê, những sở thích quí mến để ra đi về một phương trời vô định với một hành trang trống rỗng và một tương lai mù mịt.

Để nói lên tiếng XIN VÂNG như thế thật không phải là dễ. Và đau khổ biết bao khi phải nói lên lời giã biệt trước giờ phút chia ly. Đó là lý do tại sao đã khiến cho bao giòng nước mắt phải tuôn trào trước giờ phút ly biệt.

Từ bỏ trong ý nghĩa đó có nghĩa là phải cắt đi một phần của cái tôi đã gắn chặt với những gì mình đã yêu thích. Quả thật, không phải dễ để chúng ta nói lên lời giã biệt đối với những gì mình đang tận hưởng. Điều đó giúp chúng ta hiểu được lý do tại sao con người thường co rút lại trước việc phải từ bỏ cái quá khứ của họ.

Trong cựu ước, mẫu mực của mọi tiếng gọi niềm tin, mẫu mực có một ấn tượng sâu xa nhất của lịch sử con người về niềm tin, những trang sử xúc động nhất của sự chiến đấu anh hùng của con người trong việc đối thoại với Thiên Chúa, đó là câu chuyện của Abraham. Thiên Chúa nói với Abraham:”Hãy bỏ quê hương, gia đình và nhà cửa đi đến đất Ta sẽ chỉ cho”.{Gen.12:1-3}

Đây là mầu nhiệm của tiếng gọi Thiên Chúa, mầu nhiệm của ơn gọi mỗi người chúng ta. Nó xảy đến trong sự tối tăm của niềm tin và mọi lý luận của con người thì bất lực để thấu hiểu.

Trước những biến cố trọng đại, Thiên Chúa thường muốn những tạo vật của Ngài phải trải qua những sự thử thách.

Nếu chỉ có địa đàng, con người sẽ không có tự do. Nếu chỉ có một con đường đi về nhà Cha, chúng ta sẽ cảm thấy bị lợi dụng. Trong sa mạc hãi hùng của cuộc lựa chọn, chúng ta có cả hai lối: một về Đất Hứa và một trở về Ai Cập. Có cả tốt  lẫn xấu chúng ta phải chọn lựa. Không có sự trốn thoát vì tình yêu của Thiên Chúa đòi chúng ta phải đáp trả. Thiên Chúa cho chúng ta có đủ thời gian để lựa chọn và đáp trả. Một khi đã đáp trả, đó là quyết định cuối cùng.

Khi sứ thần Gabriel đến truyền tin cho Mẹ Maria, chúng ta thấy gì nơi Mẹ trước tiếng gọi niềm tin.

Chín tầng trời gần như xôn xao đang hồi hộp chờ đón tiếng đáp lời của Mẹ, bỡi tiếng đáp lời của Mẹ có ảnh hưởng lớn lao đến chương trình vĩ đại của Thiên Chúa và cũng ảnh hưởng lớn lao đến một tương lai hãi hùng của Mẹ.

Để giúp chúng ta hiểu được tương lai hãi hùng của mẹ thế nào khi mẹ đã liều mình một cách táo bạo đáp tiếng XIN VÂNG thì đây tôi xin kể cho anh chị em một câu chuyện thật sau đây.

Trong chuyến du hành sang đất thánh, khi tham dự thánh lễ đồng tế ở Đền Thờ Đức Me Truyền Tin tôi đã được nghe cha chủ tế kể cho nghe câu chuyện nầy trong bài thuyết giảng của ngài:   

Tôi (Carlo Carretto) đã từng có dịp sống trong sa mạc Sahara với tinh thần của dòng Tiểu đệ Charles de Foucauld. Bấy giờ tôi kiếm sống bằng cách làm việc như một nhà khí tượng học trong vùng nầy. Tôi thích công việc đó không chỉ vì nó cung cấp tho tôi lương thực mà còn vì nó cho tôi cơ hội để sống trong chính nơi tôi thích chọn là sa mạc, mà ở đó tôi có thể kết hợp bổn phận hằng ngày và lời cầu nguyện lâu dài của tôi với sự im lặng vĩ đại của thiên nhiên.

Trong thời gian đó, không bao lâu, tôi quen biết những người Tuaregs và tôi đặc biệt thích thổ dân nầy. Họ sống trong những túp lều dựng dọc theo bờ hồ. Trong những buổi chiều sau khi làm công tác xong, tôi thường đến thăm họ. Suốt thời gian gặp gỡ nầy, tôi để ý đến một sự kiện rất là hấp dẫn.

Thật tình cờ, tôi khám phá ra một cô gái trong căn trại mà bấy giờ tôi quen biết đã đính hôn với một chàng trai trong một căn trại khác, nhưng cô ta chưa đi sống chung với chàng vì chàng ta còn quá trẻ.

Sau đó, vì một công tác khác tôi phải lìa xa sa mạc Sahara hai năm. Hai năm sau, tôi trở lại căn trại đó và đang tìm một đề tài để nói chuyện. Tôi chợt nhớ lại câu chuyện tình của cô nàng ấy nên muốn hỏi thăm về cuộc hôn nhân ấy đã xảy ra thế nào rồi? Bấy giờ, có một cái nhìn bối rối hiện ra trên nét mặt của người tôi đang nói chuyện và họ im lặng, một sự im lặng đáng buồn và khó hiểu. Rồi người ấy nhìn chung quanh một cách ý tứ, ông ta đưa tay lên cổ trong một cử chỉ đặc biệt của người Ả rập khi họ muốn nói có người đã bị cắt cổ.

Lý do thế nào?

Vì trước đám cưới, người ta khám phá ra là cô gái ấy đã có thai và vì danh dự của gia đình nên đã đòi hỏi sự hy sinh nầy theo tập tục của họ.

Một sự rùng rợn đã tỏa lan trong xương sống tôi khi nghĩ ra rằng người con gái ấy đã bị chặt đầu vì đã không trung thành với người chồng tương lai của chị.

Câu chuyện rùng rợn ấy có một cái gì giống câu chuyện của Mẹ Maria và thánh cả Giuse. Kinh thánh đã ghi: Mẹ Maria đã đính hôn với Giuse, nhưng trước khi về chung sống với nhau, được khám phá ra là đã có thai.

Dẫu cho Giuse không tố cáo Maria, chỉ có ý định âm thầm bỏ đi. Nhưng đối với Maria, vấn đề không phải là đơn giản như chúng ta thường nghĩ, nhất là đối với tập tục khắc khe của người Do Thái lúc bấy giờ.

Hãy hỏi thử những cô gái Á Đông không chồng mà chửa, tâm trạng của họ thế nào khi bác sĩ cho biết rằng họ đang có thai. Chắc chắn là xấu hổ và lo sợ. Lo sợ vì không biết phải ăn nói thế nào đây với những người chung quanh và nhất là đối với những người thân yêu trong gia đình. Rồi đây, không bao lâu nữa người ta sẽ nhìn thấy tác phẩm trong bụng mình đang lớn dần và nó sẽ gây nên sự chú ý cho biết bao nhiêu con mắt tò mò của những người trong xóm làng.

Đó cũng là tâm trạng của Mẹ Maria lúc bấy giờ. Trả lời thế nào đây với những người chung quanh mà Mẹ đang sống với, nhất là với vị lang quân mà mẹ sắp cưới.

Trả lời: Thiên chúa là tác giả của đứa bé ấy sao ? Và ai sẽ tin Mẹ ?

Hãy tưởng tượng nếu có một cô gái đến nhà chúng ta và nói: Tôi bảo đảm với ông bà rằng đứa bé mà tôi đang mang thai là con  của Đâng Tối Cao. Thử hỏi ai sẽ tin nàng mà không thốt lên những lời chê bai và nguyền rủa. Và nếu đó là con cháu của chúng ta thì rất có thể chúng ta sẽ tặng ngay cho nàng một tát tai và sẽ đưa nàng đi ngay đến nhà thương điên.

Thế mới biết Mẹ Maria thật can đảm biết bao khi Mẹ đáp lại lời sứ thần với tiếng XIN VÂNG.

Hỡi Maria, Mẹ đã hiểu gì khi thiên thần nói với Mẹ rằng: Mẹ là người đã được chọn để làm Mẹ Đấng Cứu Thế ?

Và Mẹ sẽ đáp trả cho chúng ta: Tôi cũng thấy trước tất cả những hiểu lầm sẽ có, vì làm cách nào tôi có thể cắt nghĩa được những điều lạ lùng nầy cho mẹ tôi, cho cha tôi, và nhất là cho vị hôn phu sắp cưới của tôi. Nhưng tôi cũng thấy trong tôi có một sức mạnh phi thường đến từ Thiên Chúa, và thêm vào đó là sức mạnh của lời thuyết phục của sứ thần Gabriel:

Đối với Thiên Chúa không có gì là không có thể. Đối với Thiên Chúa không có gì là không có thể.        

Và rồi, với tâm trạng thật bất ngờ, hồi hộp và đầy lo sợ, Mẹ maria tiếp tục chia xẻ:

Sau đó, tôi thấy mẹ tôi đi bách bộ ở ngoài sân, tôi muốn chạy đến để tâm sự với mẹ tôi tất cả những gì vừa xảy ra cho tôi, nhưng tôi lại không dám nói vì tôi không biết phải làm cách nào để giải thích cho mẹ tôi. Vì thế, từ dạo ấy trở đi tôi càng trở nên trầm tư và thinh lặng.

Thế rồi, sau một vài tháng tôi không thể nào dấu nổi tác phẩm trong bụng tôi nữa. Trước mặt mọi người, mọi sự đã trở nên rõ ràng và phức tạp. Bấy giờ tôi càng hiểu rõ hơn: Bản chất của đức tin chính là sự mù mịt và đau khổ. Và đó chính là thời kỳ đau khổ nhất của đời tôi. Niềm yên ủi duy nhất của tôi lúc bấy giờ chính là việc lập đi lập lại lời sứ thần đã nói:

Không có gì là không có thể với Thiên Chúa. Không có gì là không có thể với Thiên Chúa. 

Và quả thật, mọi sự đều có thể với Thiên Chúa vì chính Ngài đã cắt nghĩa điều đó cho Giuse trong giấc mộng.

Bấy giờ, Mẹ maria mới hiểu ra rằng đây mới chính thật là bản chất của niềm tin.

Vâng, một cô thôn nữ nghèo hèn đơn sơ, một cô thôn nữ kiều diễm đoan trang, dễ thương dễ mến, nhưng Chúa đã muốn một sự khởi đầu không mấy tốt đẹp chút nào cho đời Me, một sự khởi đầu với đầy nước mắt và đau thương.

Chiều hôm nay, nhìn lên cung thánh, tôi thấy Mẹ Maria không như một bà hoàng sang trọng, uy nghi và diễm lệ như những ngày trước nữa, nhưng là một người mẹ, một người chị, một người bạn đồng hành cũng đã từng trải qua những gian lao và thử thách trong đức tin trên cuộc hành trình về quê trời.

Trong ngày lễ Truyền Tin năm nay, chắc chúng ta có nhiều điều muốn thưa với Mẹ. Nếu chúng ta muốn xin gì với Mẹ, hãy ngước nhìn lên Mẹ và đừng xin gì khác cả. Đừng xin cho căn bệnh chúng ta được chữa lành. Cũng đừng xin cho chúng ta được thêm nhiều danh lợi. Nhưng hãy xin với Mẹ điều nầy và chỉ một điều nầy thôi, đó là xin Mẹ hãy cầu nguyện cho lòng tin của chúng ta. Chỉ có món quà đó mới xứng đáng với lời cầu của Mẹ mà thôi.     

lm.levanquang

VỀ MỤC LỤC
CHỌN CHÚA TRONG MỌI CHI TIẾT CỦA ĐỜI TÔI

 

      

Trên nguyên tắc, đã là Ki-tô hữu thì hầu như ai cũng đã chọn Chúa làm cùng đích của đời mình. Tuy nhiên cái nguyên tắc chung này khi được áp dụng vào đời sống cụ thể của từng người thì lại khác nhau rất nhiều : có người chọn Chúa một cách triệt để, có người chọn Chúa một cách nửa vời, còn có người thì chỉ chọn Chúa như một món trang trí “cho có với thiên hạ”.

 

Thông thường, chọn Chúa trong những việc lớn thì tương đối dễ, vì khi ấy tôi chứng tỏ được lòng quảng đại, sự hy sinh, lòng can đảm … của mình. Khi chọn Chúa trong các việc lớn tôi dễ cảm thấy mình anh hùng! Ngược lại, chọn Chúa trong từng chi tiết vụn vặt của đời mình quả là một việc khó, bởi vì muốn làm được như thế thì tôi phải luôn luôn  đặt mình về phía Chúa : từ ý nghĩ, lời nói, hành động tất cả phải qui chiếu về một mình Chúa mà thôi. Ấy thế mà tôi thì lại có rất nhiều điểm để qui chiếu đời tôi. Điểm qui chiếu đầu tiên là chính bản thân tôi ; kế đó là các đối tượng, các mục đích mà tôi ưa thích. Lại nữa, tôi không phải là một ẩn sĩ để có thể ở trong tịch mịch chỉ có mình tôi với Chúa. Tôi phải liên tục giao tiếp với tất cả những sinh hoạt phức tạp của môi trường chung quanh. Tôi không thể bỏ chúng, nhưng đồng thời tôi cũng không thể đặt chúng ngang hàng với Thiên Chúa. Để có thể dấn thân vào những sinh hoạt ấy mà không phản bội lại Thiên Chúa, tôi phải liên lỉ chọn Ngài trong từng giây phút, trong từng chi tiết nhỏ nhặt của đời tôi. Muốn thực hiện được điều này, trước tiên tôi cần liên tục khẳng định lại sự lựa chọn căn bản của mình, trước tiên tôi cần đặt trọn tư tưởng của tôi hướng về Chúa. Cần phải liên tục nhắc đi nhắc lại luôn để tạo ra một xác quyết là tôi phải hoàn toàn thuộc về Chúa. Từ bước ổn định tư tưởng này, các lời nói và việc làm của tôi sẽ được tư tưởng căn bản ấy chỉ đạo và điều khiển. Tư tưởng ổn định xác quyết thì lời nói và việc làm cũng sẽ ổn định, và nếu có bất ổn thì cũng dễ điều chỉnh sửa sai. Chúa ban cho tôi một món quà quí giá là tư  tưởng. Vậy thì lễ vật đầu tiên và quí giá nhất mà tôi có thể dâng và phải dâng lên Thiên Chúa chính là tư tưởng của tôi. Một khi tư tưởng của tôi đã thuộc hẳn về Chúa, nó sẽ hướng dẫn trọn vẹn con người tôi về với Ngài.

 

Để có thể chọn Chúa trong từng chi tiết nhỏ nhặt của đời mình, tôi phải chọn Chúa ngay từ lãnh vực quan trọng nhất của cuộc đời : tư tưởng chính là lãnh vực quan trọng nhất ấy. Nếu tư tưởng của tôi chưa thuộc hẳn về Chúa, thì khi phải liên tục chọn Chúa trong những chuyện vụn vặt của đời mình, tôi sẽ gặp nhiều khó khăn lấn cấn vì cứ phải so đo cân nhắc luôn. Hơn nữa, một khi tư tưởng chưa thuộc hẳn về Chúa thì những chi tiết vụn vặt ấy dễ vuột khỏi sự kiểm soát của chính tôi để chạy tuột theo đà của chúng. Lúc bấy giờ tôi không còn là của Chúa, cũng không còn là của tôi, mà chỉ còn là nô lệ cho những thần tượng lợi thú nào đó của mình mà thôi.

 

Lạy Chúa, xin cho tư tưởng của con luôn luôn hướng trọn về Ngài. Amen ./.

 

Trầm Tĩnh Nguyện


VỀ MỤC LỤC

LINH  HỒN  TÔI CA TỤNG CHÚA

 

(Magnificat)

 

Tôi hân hoan ngợi khen Thánh Ðức

Thần trí tôi háo hức, vui mừng

Chúa cao sang các tầng trời

Thiên thần,  chư Thánh đời đời tung hô!

 

Chúa đã thương phận hèn tôi tớ

Từ một loài thụ tạo Chúa sinh

Từ nay trần thế Bình minh

Từ nay tì nữ sẽ sinh Con Người!

 

Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,

Dẹp tan phường hãnh tiến kiêu căng

Xưa nay Chúa vẫn thường hằng

Ðỡ nâng kẻ yếu, trừ răn kẻ tà.

 

Chúa răn đe kẻ giầu dư giả,

Cùng kẻ đang quyền cả, cao sang

Giầu mà thất đức -  Tay  không

Huênh hoang quyền thế đừng trông Nước Trời!

 

Chúa độ trì những tôi tớ Chúa

Mảnh đất kia Chúa đã hứa ban

Dành cho tổ phụ A-bram

Cùng là con cháu biết tôn kính Người!

 

Kẻ  khiêm nhường,  thực dân của Chúa

Kẻ kiêu căng,  lìa bỏ Thánh Nhan

Ðội ơn ân sủng Chúa ban

Linh hồn tôi mãi muôn vàn ngợi khen!

 

 

Nhà Văn Xuân Vũ  TRẦN ÐÌNH NGỌC

 

 

VỀ MỤC LỤC

Tạ ơn Mẹ

 

Tạ ơn Mẹ đã cưu mang con chín tháng mười ngày

Tạ ơn Mẹ đã không giết bỏ con lúc con còn trong lòng Mẹ.

 

Tạ ơn Mẹ đã cho con vào đời

Tạ ơn Mẹ đã bú mớm chăm nom

Tạ ơn Mẹ đã lo lắng chăm sóc

Tạ ơn Mẹ đã trằn trọc thâu đêm

Tạ ơn Mẹ đã thức khuya dậy sớm.

 

Tạ ơn Mẹ đã bôn ba giữa chợ đời

Tạ ơn Mẹ đã tần tảo lao nhọc

Tạ ơn Mẹ đã lam lũ gánh gồng

Tạ ơn Mẹ đã thui thủi một mình

Tạ ơn Mẹ đã bao lần thổn thức.

 

Tạ ơn Mẹ đã cho con tình thương

Tạ ơn Mẹ đã cho con tất cả

Tạ ơn Mẹ đã vui với con

Tạ ơn Mẹ đã khóc với con.

 

Tạ ơn Mẹ đã . . .  Tạ ơn Mẹ đã . . .

Mẹ ơi, công ơn dưỡng dục của Mẹ, con không thể đáp đền.

Con sẽ cố gắng sống ngoan, sống tốt, sống đẹp,

sống xứng đáng là con của Mẹ.

Lm. Giuse Ngô văn Thích

VỀ MỤC LỤC
TRÁCH NHIỆM LÀM CHA MẸ

 

Đã làm cha mẹ thì ai cũng phải vất vả vì con. Tuy nhiên cũng có rất nhiều niềm vui và hạnh phúc khi con cái ngoan ngoãn.

Sau khi Đức Giêsu vừa sinh ra hơn vài ngày, hai ông bà Giuse và Maria được niềm vui lớn lao là ba vua tới thăm. Nhưng ông bà phải nhận một tin thật là đau khổ là phải đưa Hài nhi Giêsu và Mẹ Người trốn sang Ai cập.

Gia đình tôi phải chia ly và nhớ thương nhất là khi xa nhà vì quân ngũ, để vợ ở nhà với năm đứa con thơ dại, trong một đất nước chiến tranh tàn khốc nhất vào năm 1968. Niềm an ủi tôi lúc này là cầu nguyện, phục vụ và tin tưởng vào Chúa.

Sau khi chiến tranh lắng dịu tôi được về phục vụ gần gia đình, có thì giờ lo cho con đi học và tổ chức lại gia đình được một thời gian thì mùa hè năm 1975 xẩy đến. Vợ chồng tôi tần tảo, ăn đói nhịn khát, thắt lưng buộc bụng để nuôi bẩy đứa con, chúng vừa đi học vừa phải kiếm gạo cho Gia đình.

Cho đến bây giờ, vợ chồng tội đã già, nhìn thấy đàn con khôn lớn, hiền lành, mạnh khỏe, yêu kính cha mẹ, vợ chồng thương nhau với các cháu ngoan trong lòng thương xót của Chúa.

Để được hạnh phúc này, tôi luôn nhớ Lời Chúa nói: “Anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại...” (Col 3,12-13) Đây là chìa khóa của hạnh phúc và Nước Trời ngay ở trần gian này.

Huyền Đồng

VỀ MỤC LỤC
NGÀY 13.5.2006, LỄ ĐỨC MẸ PHATIMA
 

SỰ KIỆN LỊCH SỬ PHATIMA 1917

Cách đây ba năm, vào những ngày mùa Chay của năm 2005, trong nhiều tin tức quan trọng, Hội Thánh hoàn vũ đón nhận một tin đau buồn. Gọi là đau buồn, nhưng xét cho cùng, trong đức tin, ta vẫn thấy toát lên tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Vì thế, cũng chẳng phải nỗi buồn mà tất cả đều mang niềm vui ơn cứu độ…

I. NỮ TU LUCIE DOS SANTOS, HAI TRẺ VÀ SỰ KIỆN PHATIMA.

Ngày 13.2.2005, cả thế giới Công giáo ngậm ngùi tiển đưa nữ tu Lucia về Nhà Cha ở tuổi 97. Nữ tu Lucia qua đời tại đan viện Coimbra dòng Camêlô - Bồ Đào Nha. Chị là chứng nhân cuối cùng, người duy nhất còn lại trong số ba trẻ (Lucia, Giaxinta và Phanxicô) đã từng nhiều lần nhìn thấy Đức Nữ Trinh Maria hiện ra tại làng Phatima - Bồ Đào Nha năm 1917. Chị qua đời sau một thời gian ngã bệnh nhiều. Trước khi chết, Chị bị suy yếu nặng về thị lực và thính giác. Nghi thức viếng xác Chị Lucia được tổ chức vào ngày 15.2.2005 tại Vương cung thánh đường Coimra. Sau đó, thánh lễ an táng được cử hành vào ngày 16.2.2005 cũng tại Vương cung thánh đường này.

Nữ tu Lucia tên thật là Lucie Dos Santos, sinh ngày 22.3.1907 tại làng Fatima, thuộc giáo phận Leiria trong một gia đình nghèo của nước Bồ Đào Nha. Dù nghèo, nhưng cha mẹ Lucia rất đạo đức, có lòng tôn thờ Chúa rất mực. Cả hai người em họ của Lucia là Jacinta và Phanxicô cũng đều là những trẻ em con nhà nghèo. Hằng ngày, các em được gia đình và cha mẹ giao cho việc chăn giữ đoàn súc vật, bao gồm chiên cừu, và thả chúng ăn cỏ trên những vùng đồi núi quanh làng.

Tiếp nối truyền thống đạo đức của gia đình, trong lúc rãnh rỗi, khi đoàn vật tự do ăn uống, ba em thường tụm lại cùng nhau sốt sắng đọc kinh, lần chuỗi và cầu nguyện. Chuyện xảy ra trong thời gian đầu mùa hè của năm 1917, lúc mà chiến tranh thế giới lần thứ nhất đang hoành hành dữ dội, đã giết chết không biết bao nhiêu sinh mạng con người và làm cho thế giới hầu như kiệt quệ về tài chánh, sức lực, nhân sự, cả đến niềm hy vọng, thay vào đó là nỗi chán chường, bạc nhược tung hoành khắp thế giới…, thì bất ngờ, tại một góc trời nhỏ bé của làng Phatima, trong lúc đang chăm chú cầu nguyện, ba trẻ chăn chiên đã nhìn thấy hiện tượng lạ thường.

Đó là trưa ngày 13.5.1917, các em nhìn thấy một ánh sáng chói lòa trên ngọn đồi Cova da Iria. Hiện tượng lạ thường đó, lập tức lôi kéo hoàn toàn sự chú ý của các em. Trong lúc còn đang quá đỗi ngỡ ngàng, các em nhìn thấy một thiếu nữ đẹp lộng lẫy, chói sáng vô cùng. Người thiếu nữ ấy xin các em hãy cầu nguyện cho người có tội ăn năn trở lại. Bà cũng báo trước, chiến tranh tương tàn sắp kết thúc. Nhưng người thiếu nữ cũng không quên mạc khải thêm, nếu thế giới không ăn năn trở lại, lại gây thêm hận thù, thì thế giới cũng sẽ tự gây ra cho mình một cuộc chiến tranh còn lớn hơn cuộc chiến hiện tại này.

Sau đó, theo lời người thiếu nữ chỉ dạy, cả ba em đều đến tại nơi đã gặp người thiếu nữ đẹp vào các ngày 13 của các tháng 6 và 7. Tuy nhiên, đến ngày 13.8, chánh quyền địa phương cho rằng các em đồn chuyện nhảm nhí, vì thế, đã ngăn cấm các em đến nơi đã hẹn với người thiếu nữ. Một tuần sau đó, người thiếu nữ lại đến gặp các em vào ngày 19.8.

Riêng ngày 13.9.1917, người thiếu nữ xin các em lần chuỗi Mân Côi để cầu nguyện cho chiến tranh sớm kết thúc và hòa bình thế giới mau đến. Ngày 13.10.1917, người thiếu nữ lại hiện ra và tỏ cho các em biết, Bà chính là Đức Nữ Trinh Maria, Mẹ Rất Thánh Mân Côi. Đức Mẹ mời gọi các em cầu nguyện, làm việc đền tạ và tiếp tục lần chuỗi mỗi ngày. Đức Mẹ cũng muốn người ta phải xây một nhà nguyện dâng kính Đức Mẹ tại đây. Đức Mẹ nhắc nhở thế giới, đừng xúc phạm đến Chúa nữa, Người đã bị xúc phạm quá nhiều.

Chính trong lần hiện ra này, Đức Mẹ đã để xảy ra một hiện tượng lạ chưa từng có, làm rung động mọi người từ chính quyền, các phương tiện thông tin, đến tất cả dân chúng: Mặt trời như rời khỏi bầu trời, lao xuống thấp và nhảy múa hết sức kỳ diệu.

Mãi đến ngày 13.5.1930, sau nhiều năm điều tra cẩn thận, Đức Giám mục giáo phận Leira chính thức chấp nhận hiện tượng Phatima là dấu lạ xuất phát từ tình thương vô cùng của Thiên Chúa. Người đã muốn Đức Mẹ viếng thăm thế giới, qua ba trẻ đạo đức, giữa cơn khốn khổ mà thế giới đang bị nhận chìm trong đó. Cũng từ đó, Giáo quyền cho phép và khuyến khích giáo dân tổ chức kính viếng Đức Mẹ Phatima bằng những cuộc hành hương, cầu nguyện và mọi hình thức đạo đức khác để cầu nguyện cho mình cho mọi người.

Sau một loạt các sự kiện năm 1917, hai anh em ruột Phanxicô và Giaxinta đã qua đời. Phanxicô qua đời ngày 4.4.1919. Giacinta qua đời ngày 20.2.1920. Cả hai anh em đều đã được Cố Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nâng lên bậc á thánh vào ngày 13.5.2000 trong chuyến hành hương Phatima của ngài. Hai em trở thành hai vị thánh trẻ nhất, không tử đạo của Hội Thánh. Ngày 22.3.2005 (mười ngày sau khi nữ tu Lucia qua đời), hãng thông tấn EFE của Bồ Đào Nha đưa tin, giáo phận Leiria đã gởi những tài liệu sau cùng đến Tòa Thánh để xin cứu xét việc phong thánh cho hai á thánh Phanxicô và Giaxinta. Đặc biệt hơn, hai tháng sau đó, trong dịp cử hành lễ Đức Mẹ Phatima ngày 13.5.2005, Đức Cha Serafim Ferreira e Silva đã tái xác nhận việc ngài đề nghị Tòa Thánh tiến hành thủ tục phong thánh cho hai thiếu nhi chăn cừu Phanxicô và Giacinta. Đề nghị này đã được Tòa Thánh nhận lời.

Còn Lucia, sau một vài thị kiến riêng sau đó vào những năm 1923 và 1939, đã quyết định dâng hiến đời mình cho ơn gọi tu trì. Đầu tiên, Chị tu ở Tây Ban Nha, sau đó chuyển sang dòng kín Camêlô - Bồ Đào Nha. Trong những năm tu trì, Chị Lucia đã hân hạnh có đến bốn lần được đón tiếp hai Đức Giáo hoàng đến thăm. Vị Giáo hoàng thứ nhất là Đức Phaolô VI, nhân chuyến hành hương Phatima năm 1967. Vị Giáo hoàng thứ hai là Đức Gioan Phaolô II đã gặp Chị Lucia trong ba dịp khác nhau: 1982, ngài đến Phatima tạ ơn, nhân dịp kỷ niệm một năm sau ngày ngài bị ám sát hụt; 1991, nhân 10 năm biến cố bị giết hại bất thành; và ngày 13.5.2000, nhân dịp cử hành lễ phong chân phước cho Giaxinta và Phanxicô. Trong thánh lễ phong chân phước này, cũng là một trong những dịp hiếm hoi, Chị Lucia ra khỏi dòng kín để tham dự thánh lễ.

Chị Lucia đã viết lại những lời hứa của Đức Mẹ tại Phatima trong bốn cuốn nhật ký đã xuất bản, nhưng bí mật thứ ba bị giữ lại, vì thế đã không được tiết lộ trong bốn cuốn nhật ký này. Tuy nhiên, Chị đã trình bày nội dung của bí mật thứ ba cho Đức Giám mục giáo phận Leira. Sau đó, Đức Giám mục đã đệ trình Đức Thánh Cha Piô XII. Chị Lucia cho biết, bí mật thứ ba này phải do chính Đức Giáo hoàng tiết lộ, nhưng không tiết lộ trước năm 1960.

Bí mật thứ ba này được giữ kín tuyệt đối. Mãi đến tháng 5.2000, Đức Thánh Cha Gioan Pholô II - trong khi công bố bản văn về thị kiến liên quan đến một “Giám mục mặc y phục trắng” đang cố gắng tiến về thánh giá, vượt qua xác của các vị tử đạo trong Hội Thánh, cho đến khi chính bản thân vị Giám mục này đổ gục bởi một viên đạn nhắm vào ngài - đã xác nhận bí mật thứ ba Phatima đã được tiết lộ hoàn toàn.

Chị Lucia ra đi, đối với thế giới, đây là một tin buồn. Nhưng trong đức tin, chúng ta quả quyết, đây là một niềm vui lớn. Bởi cô bé Lucia ngày nào chỉ nhìn thấy người Mẹ dấu ái của mình bằng đôi mắt phàm trần. Sự nhìn thấy ấy cũng chỉ là một ánh nhìn thoáng qua, sau đó cô bé vẫn tiếp tục đời thường của mình như bao nhiêu người trên trần thế. Hôm nay, cô bé Lucia của 89 năm về trước, đã được Chúa gọi về, từ đây sẽ diện kiến Thiên Chúa, sẽ sống bên Mẹ của mình trong hạnh phúc miên trường, một hạnh phúc của đời vĩnh cửu không bao giờ bị ai lấy mất. Hiểu và tin như thế, chắc chắn Nữ Tu Lucia đã sống những chuỗi ngày làm người của mình trong sự khắc khoải trông chờ cái giây phút cuối đời thiêng liêng ấy. Vì khi nhắm mắt vĩnh biệt cõi đời, Chị đã thực sự sinh ra trong sự sống mới, một sự sống không tàn, không phai.

II. SỐNG SỨ ĐIỆP PHATIMA: SỐNG MẦU NHIỆM CHUỖI MÂN CÔI.

Ngoài những bí mật mà Đức Maria để lại, chuỗi Mân Côi là phương tiện cầu nguyện không thể thiếu trong những lần Đức Mẹ gặp gỡ ba trẻ. Qua đó, Đức Maria muốn mạc khải cho thế giới rằng, chuỗi Mân Côi không những là mối giây ràng buộc tình mẫu tử giữa Đức Mẹ với loài người mà nó còn nói lên tính hiệu nghiệm của việc cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi.

Có được những sức mạnh như trên, là vì khi lần chuỗi Mân Côi, ta không chỉ cậy nhờ công nghiệp và lời chuyển cầu của Đức Mẹ, mà còn là sống lại chính cuộc đời Chúa Kitô qua từng mầu nhiệm Vui, Sáng, Thương, Mừng mà ta chiêm ngắm khi lần chuỗi. Có thể nói, việc lần chuỗi Mân Côi là cuốn phim làm sống động lại trong tâm hồn chúng ta ký ức về hình ảnh Đức Maria gắn bó suốt hành trình của cuộc đời Chúa Cứu Thế, làm rực lên trong ta những tâm tình thánh thiện của Đức Mẹ, nhờ đó ta cùng được âu yếm như sự kiện Bêlem, khắc khoải như sự kiện Ai Cập, sốt sắng như khi ở đền thờ, đau khổ bên Thánh Giá, vui mừng lúc Phục Sinh, hân hoan và can đảm trong nhày lãnh nhận Thánh Thần, chan chứa niềm hy vọng nơi quê hương vĩnh cửu...

Đọc và chiêm ngắm hành trình Mân Côi như thế, ta nhận ra Chúa sống trong Đức Mẹ, Đức Mẹ trong Chúa, hai cuộc đời chỉ là một. Hiểu như thế, ta đừng bỏ chuỗi Mân Côi mà Đức Mẹ đã trao ở Phatima và nhiều nơi khác khi Đức Mẹ viếng thăm thế giới. Bởi nếu Đức Mẹ đã nên một với Chúa, thì chiêm ngắm mầu nhiệm Mân Côi, ta cùng hy vọng được nên một với Chúa như Đức Mẹ.

Trong khi suy niệm mầu nhiệm Mân Côi, ta bắt gặp lòng khiêm hạ trong suốt cuộc đời làm người của Chúa Giêsu, thì hôm nay, sống lại sự kiện lịch sử Phatima, ta cũng nhận ra Đức Mẹ đã đi trên con đường của Con mình khi chọn sự khó nghèo để bày tỏ lòng thương xót của Chúa: Đức Mẹ đã không hiện ra nơi đô thị, giữa nhà chọc trời, trong các Vương Cung Thánh Đường, cho các nhân vật quan trọng…, lại chọn nơi hoang vu, núi đồi, xa vắng, chọn những kẻ chất phác, hèn hạ để trao gởi sứ điệp… Đức Mẹ muốn đến với những người không ai thèm đến, đến những chỗ không ai muốn đến. Chúng ta cũng học lấy bài học tự hạ này trong lời kinh Mân Côi, để  lòng ta có Chúa. Nhờ sự nghèo khó của bản thân, ta sẽ đạt được chính Thiên Chúa là sự giàu có, là của cải, là gia nghiệp suốt đời của ta…

Đọc kinh Mân Côi, ta hãy tìm giá trị một đời sống thiêng liêng, một linh đạo sâu xa nơi Đức Maria. Đức Mẹ hoạt động, nhưng tất cả mọi cử chỉ và tư tưởng dù vụn vặt nhất, cũng vì Chúa Giêsu, Đức Mẹ không thể có một giây phút nào ngoài Chúa Giêsu. Cuộc đời Đức Mẹ là một vực sâu vô tận của nội tâm chìm trong biển Giêsu. Nơi Đức Mẹ, hoạt động và chiêm niệm không tách lìa, chiêm niệm giữa hoạt động, hoạt động do chiêm niệm.

Đức Mẹ hiện ra nhiều nơi trên thế giới: Trà Kiệu, La Vang, La Salette, Trois-Rivières, Lộ Đức, Fatima và gần đây ở Mễ Du. Ở đâu Đức Mẹ cũng là Mẹ nhân lành được Chúa ủy đến để nhắc nhở lại cho đoàn con tình yêu Chúa và lời kêu gọi của Chúa trước những khúc quanh lịch sử. Đức Mẹ đến với loài người trong tư  cách là Đấng “Hiệp Công Cứu Chuộc”.

Các trẻ em được tường tận thấy Đức Mẹ như Phanxicô, Giacinta và Lucia đã thay đổi đời sống, trở nên thánh thiện tốt lành. Còn chúng ta, dù không tường tận nhìn thấy Đức Mẹ như ba trẻ, vẫn được tiếp cận sứ điệp Mân Côi mà Đức Mẹ trao gởi. Đó là những lời kinh rất đơn sơ mà ý nghĩa rất sâu xa cả một đường lối tu đức, một chương trình cứu rỗi, đã thánh hóa bao nhiêu tâm hồn. Nhưng tại sao chúng ta vẫn chưa được như thế, vẫn bê bối và nguội lạnh?

Có lẽ, chúng ta chỉ sống sứ điệp của Đức Mẹ một cách nông cạn, chủ quan. Hình như ta chỉ đọc sứ điệp ấy lấy có lấy rồi, không một chút suy niệm, không một chút tâm tình, không một chút lắng đọng.

Vậy từ nay, ta hãy tập siêng năng lần chuỗi Mân Côi. Mỗi khi lần chuỗi, ta hãy ý thức sứ điệp Mân Côi cách thấu đáo: Đó là một sự tận hiến cuộc đời để dấn thân thực hiện chương trình sống đạo thâm sâu, Đức Mẹ đã vạch ra cho người Công Giáo giữa lòng xã hội, qua từng mầu nhiệm Mân Côi mà Đức Mẹ đã nêu gương khi sống bên Chúa Giêsu. Nhờ đó, không những cuộc đời chúng ta sẽ trở nên như một chuỗi Mân Côi sống, diễn tả lại các tâm tình của Chúa trong cuộc sống hằng ngày, mà còn mang lại lợi ích thiêng liêng cho chính tâm hồn chúng ta. Có như thế, sứ điệp Mân Côi của Đức Mẹ mới đạt tới mục đích mà Đức Mẹ mong muốn: Chiêm ngắm mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu, thánh hóa cuộc đời mỗi người.

Lm. VŨ XUÂN HẠNH

VỀ MỤC LỤC
Đức Maria - Người Nữ của Lời

 

Trong Năm Thánh Thể Thế Giới 2004-2005, Giáo Hội thường chiêm ngắm Đức Maria với danh xưng mới, được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II dùng trong thông điệp “Giáo Hội từ Thánh Thể” : Đức Maria-Người Nữ của Thánh Thể (số 53). Xin phép mượn lại kiểu gọi này để suy niệm về Đức Mẹ trong tháng Hoa của Năm Lời Chúa bằng danh xưng : Đức Maria-Người Nữ của Lời.

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã chọn năm 2005-2006 này là Năm Lời Chúa để nhắc nhớ tín hữu “Sống Lời Chúa” sau năm Thánh Thể vì “mối quan hệ bất khả phân ly giữa Thánh Thể và Lời Chúa” ( (ĐGM. Giuse Nguyễn Chí Linh, Một Vài Chìa Khoá để hiểu Thư Mục Vụ 2005 HĐGMVN).

Khi Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI chọn câu Thánh Vịnh 119, 105 “Lời Chúa là đèn soi bước và là ánh sáng dẫn đường cho con” cho giới trẻ thế giới năm nay, thì việc sống Lời Chúa đã mở rộng tầm quốc tế.

Chiêm ngắm Đức Mẹ như là Người Nữ của Lời không chỉ vì Mẹ đã cưu mang và hạ sinh Ngôi Lời Nhập Thể, mà còn bởi chính Lời Chúa đã từng nói về Mẹ, và nhất là Mẹ là người nữ tuyệt hảo suy niệm và sống Lời Chúa.

Lời Chúa nói về Mẹ :

Kinh Thánh hướng về và nói về Chúa Kitô là chính yếu và rõ nét nhất. Cựu Ước “chuẩn bị và tiên báo ngày xuất hiện của Chúa Kitô” (Hiến Chế Mạc Khải, số 15) và: “Trung tâm của Tân Ước là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa Nhập Thể…”  (Giáo Lý Toàn Cầu, số 124), nên “Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô” (thánh Giêrônimô).

Tuy vậy, hình bóng của Đức Maria “Mẹ của Ngôi Lời Nhập Thể” cũng được gặp thấy ẩn tàng trong kho tàng mạc khải.

Cuốn sách đầu tiên trong bộ Kinh Thánh khi đề cập đến người nữ sau cuộc sa ngã của Adam-Eve đã tiên báo về Mẹ : “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó."(St 3, 15). Ta cũng gặp thấy hình bóng của Mẹ được Khải Huyền, cuốn sách cuối cùng của bộ Kinh Thánh mô tả “một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao.” (12, 1)

Đóng khung trong hai đoạn ấy, rãi rác cách tiềm ẩn, nhiều hình ảnh, nơi chốn, danh xưng liên quan đến sự xuất hiện của Đức Mẹ được Lời Chúa đề cập :

-“ Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.” (Is 7, 14)

-“ Phần ngươi, hỡi Bê-lem Ép-ra-tha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en. Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa. Vì thế, Đức Chúa sẽ bỏ mặc Ít-ra-en cho đến thời một phụ nữ sinh con.” (Mk 5, 1)

“Suốt thời Cựu Ước, sứ mạng của Đức Ma-ri-a đã được chuẩn bị trước nơi vai trò của các phụ nữ thánh thiện. Từ lúc khởi đầu, là bà E-và : dù bà bất tuân phục, nhưng bà đã nhận được lời hứa rằng một hậu duệ của bà sẽ chiến thắng ma quỉ (x. St 3,l5) và bà sẽ là mẹ của chúng sinh (x. St 3,20). Vì lời hứa đó, Sa-ra mang thai một người con trai, dù đã cao niên (x. St l8,l0-l4; 2l,l-2). Khác với dự đoán của loài người, Thiên Chúa đã chọn những gì bị coi là bất lực và yếu đuối (x. l Cr l,27) để chứng tỏ Người luôn trung thành với lời đã hứa : Han-na, mẹ của Sa-mu-en (x. l Sm l.), Đê-bô-ra, Rút, Giu-đi-tha và Ét-te và nhiều phụ nữ khác. Đức Ma-ri-a "vượt trên tất cả những người khiêm hạ và khó nghèo của Chúa, là những người tin tưởng, hy vọng và được Chúa cứu độ. Với Đức Ma-ri-a, người thiếu nữ Xi-on tuyệt vời sau thời mong đợi đằng đẵng chờ Thiên Chúa thực hiện lời hứa, thời gian đã nên trọn và nhiệm cục mới được thiết lập" (LG 55). (GLTC, số 489)

Còn nhiều hình ảnh khác được các giáo phụ và phụng vụ áp dụng vào Đức Maria như cầu vòng (St 9, 12-17), Hòm bia giao ước (Xh 40, 20), Bụi gai đang cháy (Xh 3, 2), thang Giacóp (St 28, 12)… (x.Lm. Nguyễn Văn Trinh, Thánh Mẫu Học, trang 50-51)

Mẹ Sống Lời Chúa :   

Gần gũi hơn cả vẫn là những đoạn Tân Ước mô tả Đức Mẹ với mẫu gương tuyệt hảo của người sống Lời Chúa :

Trong tông huấn Marialis Cultus-về việc tôn kính Đức Maria, được ĐTC Phaolô VI ban hành ngày 2.2.1974 đã làm rõ vai trò gương mẫu chính yếu của Đức Mẹ là “thực hiện ý Chúa”. “Trước hết, Hội Thánh luôn luôn đưa Đức Maria làm mẫu cho tín hữu không nhằm giới thiệu lối sống hoặc cảnh vực văn hoá, vì cả hai đều lỗi thời, nhưng chỉ nhằm đến việc Đức Maria hoàn toàn thực hiện ý Chúa trong thực trạng của đời sống. Đức Maria đã đón nhận Lời và đem ra thực hành. Toàn bộ hành động của Mẹ thấm nhuần tình yêu và tinh thần phục vụ : tắt một lời :  Đức Maria là người môn đệ đầu tiên và tuyệt hảo nhất của Chúa Kitô”. Tất cả điều đó có giá trị nêu gương mãi mãi cho thế giới.” (số 35)

Câu chuyện Truyền Tin được thánh Luca kể lại 1, 26-38 với lời nổi bậc và mẫu mực “xin vâng” của Mẹ trong khiêm tốn nhận mình là “nữ tì của Chúa”, để Chúa dùng như khí cụ cho chương trình cứu độ của Người được “thành sự”, là lời đáp trả của mọi tín hữu theo thánh ý Chúa.

Câu chuyện Thăm Viếng kể việc Mẹ “vội vã” đến thăm và “ở lại độ ba tháng” giúp bà Isave, là mẫu gương bác ái cho chúng ta. Sau khi Mẹ gặp Chúa, có Chúa và với lòng yêu mến Chúa, Mẹ thực thi bác ái với tha nhân. Người tín hữu gặp nơi đây hình ảnh sống động của “người môn đệ đầu tiên và tuyệt hảo nhất của Chúa Kitô”, để sống lời dạy trong thông điệp đầu tiên của ĐTC Bênêđictô XVI “Thiên Chúa là Tình Yêu” rằng : “Theo dòng thời gian và với sự bành trướng của Hội Thánh, việc thực thi bác ái, công tác bác ái được xác định như một lĩnh vực căn bản cùng với việc ban phát bí tích và rao giảng Lời Chúa : việc thực thi bác ái đối với các goá phụ và trẻ mồ côi, với các tù nhân, với các bệnh nhân và người túng thiếu dưới mọi hình thức, thuộc về bản chất của Hội Thánh cũng y như việc phục vụ bí tích và rao giảng Phúc Âm. Hội Thánh không thể chểnh mảng trong thực thi bác ái cũng như chểnh mảng với bí tích và Lời Chúa.” (số 22) Theo gương Mẹ, chúng ta biết “đào luyện con tim” mà “thực hành những gì cần thiết đúng lúc” (số 31) cho việc bác ái.

Khi chiêm ngắm Mẹ với mẫu gương cầu nguyện, chúng ta dùng lại lời Kinh Ngợi Khen (Magnificat) trong Lc 1, 46-55 để ngợi khen Chúa. "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng Toàn N