|
Người Kitô hữu làm việc tông đồ trong tinh thần vâng phục. |
|
Như mọi Ki-tô hữu khác, giáo dân cũng có
quyền được các vị mục tử có chức thánh ban phát dồi dào ơn trợ
lực chứa đựng trong kho tàng thiêng liêng của Giáo Hội, đặc biệt
là Lời Chúa và các bí tích. Như con cái Thiên Chúa và như anh em
trong Đức Ki-tô, họ sẽ trình bày với các vị ấy những nhu cầu và
khát vọng của mình một cách tự do và tín cẩn. Tuỳ theo sự hiểu
biết, khả năng chuyên môn và uy tín của mình, họ có thể và đôi
khi còn có bổn phận phải bày tỏ cảm nghĩ của mình về những việc
liên quan đến lợi ích của Giáo Hội. Họ nên thực hiện điều đó,
nếu cần nhờ vào các cơ quan đã được Giáo Hội thiết lập nhằm mục
đích ấý; và hãy luôn chân thành, can đảm và khôn ngoan, kính
trọng và yêu mến những người thay mặt Đức Ki-tô vì nhiệm vụ
thánh của các ngài.
Như mọi tín hữu khác, với tinh thần vâng
lời của người Ki-tô hữu, giáo dân cũng hãy mau mắn chấp nhận
những điều mà các vị mục tử có chức thánh đại diện Đức Ki-tô, đã
quyết định với tư cách là thầy dạy và nhà lãnh đạo trong Giáo
Hội; khi làm như thế, họ theo gương Đức Ki-tô, Đấng đã vâng lời
cho đến chêt, để mở ra con đường hạnh phúc cho sự tự do của con
cái Thiên Chúa. Giáo dân đừng quên dùng lời cầu nguyện mà phó
dâng cho Thiên Chúa các vị lãnh đạo của mình, để các ngài khôn
ngoan và không than vãn khi thi hành nhiệm vụ chăm sóc linh hồn
chúng ta, như những người sẽ phải trả lẽ với Thiên Chúa,(x. Dt
13,17).
(Trích Hiến chế tín lý về Giáo Hội Ánh
sáng muôn dân của Công Đồng
Vaticanô II, số 37).
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
ĐỨC GIÁO HOÀNG
PHAOLỒ VI
ĐIỀU HƯỚNG VÀ KIỆN
TOÀN CÔNG ĐỒNG VATICAN II
|
|
Khi Đức Giáo
Hoàng Gioan XXIII băng hà vào tháng 6 năm 1963, Công Đồng
Vatican II vừa mới bắt đầu. Tám chục vị Hồng Y đã tập họp bầu vị
giáo hoàng kế tục mà vị đó có thể đình chỉ hay hủy bỏ công đồng.
Thay vào đó, các
ngài đã bầu Đức Giáo Hoàng Phao-lồ VI là vị đã tức thời tuyên
bố ý định muốn thấy Công Đồng tiếp tục và tái xác nhận mục tiêu của
Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII là muốn làm cho Công Đồng trở thành khí
cụ đổi mới cho Giáo Hội.
Khóa họp đầu
tiên của Công Đồng - từ
ngày 11 tháng 10 đến ngày 8 tháng 12 năm 1962 – đã không đưa ra một
văn kiện quan trọng nào. Hôm trước ngày chấm dứt khóa họp, các vị
giám mục đã bỏ phiếu phần đầu của Hiến Chế về
Phụng Vụ Thánh và đã chấp thuận với một tỉ số lớn lao về
những nguyên tắc cải tổ phụng vụ bao gồm việc thờ phượng có thể dùng
ngôn ngữ địa phương và những nghi thức phụng vụ được thích
nghi với những nền văn hóa địa phương.
Khi họp lại
trong ba khóa kế tiếp vào các mùa thu dưới triều đại của Đức
Giáo Hoàng Phao-lồ VI, Công Đồng đã đưa ra 16 hiến chế,
những sắc lệnh hay tuyên ngôn mà nhiều văn bản cho thấy sự
dấn thân thâm sâu của Giáo Hội.
Linh mục
Joseph A. Komonchak đã nói: “Đức Thánh Cha Phao-lồ VI có một
ý thức tổ chức công tác khả quan hơn Đức Thánh Cha Gioan XXIII
trước kia.” Cha là một thần học gia thuộc Đại Học Công Giáo Hoa Kỳ
và là người đảm trách tài liệu về Lịch sử Vatican II gồm 5 quyển -
một tập nghiên cứu chung quyết của một nhóm học giả quốc tế.
Trong một cuộc
phỏng vấn, cha Komonchak cho biết sau khóa I của Công Đồng, Đức Hồng
Y Giovanni Battista Montini là vị sẽ trở thành Giáo
Hoàng Phao-lồ sau nầy, trong một cuộc nói chuyện, Ngài đã phát biểu
là Công Đồng cần một trọng điểm hợp nhất.
Cha Komonchak
còn nói thêm: “Trong diễn văn khai mạc Khóa II và đó là lần đầu tiên
Ngài chủ tọa, Ngài đã làm cho Giáo Hội trở thành chủ đề chính của
Công Đồng, nghĩa là Giáo Hội phải tự nhận thức về chính mình,
Giáo Hội nghĩ về mình như thế nào và Giáo Hội nghĩ về tương quan của
mình với thế giới ra sao?”
Và cha cũng cho
biết trong “Ecclesiam Suam” (Giáo Hội của Chúa)
– Thông Điệp đầu tiên của Ngài - Đức Thánh Cha Phao-lồ VI đã mạnh mẽ
đề xướng bằng những lời lẽ hùng hồn và mỹ lệ về khái niệm đối
thoại. Đó là một trong những đặc điểm chính của những tài liệu
Công Đồng về đối thoại với những tín hữu Kitô giáo khác, với những
tín đồ các tôn giáo khác, với thế giới tân tiến…
Những người lớn
tuổi đều nhớ lại rất ít có sự đối thoại diễn ra giữa các tín hữu
Công giáo và không Công giáo, nhất là ở Bắc Mỹ. Lúc bấy giờ vấn đề
đại kết thường được Roma kiểm soát rất chặt chẽ. Riêng đối với việc
đối thoại với thế gới tân tiến, thái độ nổi bật là luôn luôn ngờ vực
và kết án.
Đức Giáo Hoàng
Phao-lồ VI, theo lời cha Komonchak, “đã bắt đầu từ từ nắm vai trò
lãnh đạo nhiều hơn cho nên khi một thiểu số khư khư bày tỏ sự dè dặt
đối với giáo lý về giám mục đoàn trong chương 3 của “Ánh
Sáng Muôn Dân”, Ngài đã ra lệnh thêm vào một lời chú thích
có tính cách chuẩn bị và làm nền tảng mà trên đó các giám mục sẽ bỏ
phiếu về chương đó. Ngài cũng can thiệp cho đến phần kết thúc liên
quan tới Sắc Lệnh về Đại Kết.”
Những hành động
đó làm xoa dịu một thiểu số những viên chức cao cấp thuộc Giáo Triều
Roma, tuy ít ỏi nhưng có quyền lực điều khiển, vì họ nghĩ rằng Công
Đồng đã đi quá xa đối với một số vấn đề”
Cha Komonchak
nói: “Tôi thiết tưởng Ngài cương quyết không để cho Công Đồng được
nối tiếp bằng một cuộc ly giáo và Ngài không muốn một thiểu số -
trong trường hợp nầy là “thiểu số bảo thủ” - có thể than
phiền về cung cách mà họ đã bị đối xử tại Công Đồng Vatican II như
cách thức mà “thiểu số tự do” tại Công Đồng Vatican I đã than phiền.
Vì vậy Ngài đã làm bất cứ điều gì hầu có thể đạt tới một sự đồng
thuận càng nhiều càng tốt đối với những vấn đề gây nhiều tranh luận.”
Cha Komonchak
cho biết Đức Giáo Hoàng Phao-lồ VI cũng đã can thiệp vào những giai
đoạn soạn thảo của Công Đồng đối với Hiến Chế Tín Lý về Mạc
Khải của Chúa. Linh mục thần học gia đó nói: “Ngài nhấn mạnh
là họ đã đưa ra một văn bản về sự tương quan giữa Thánh Kinh và
Thánh Truyền và một văn bản khác về sử tính của Thánh Kinh mà Ngài
nhận thấy văn bản thứ nhất xem ra tối nghĩa. Ngài muốn đưa ra một
công thức có thể gợi lên một vấn đề chưa được giải quyết là Thánh
Truyền chứa đựng những chân lý mà Thánh Kinh không có, và điều
đó đã thể hiện trong văn bản cuối cùng.”
Cha Komonchak
còn nói: “Một vấn nạn khác liên quan đến vấn đề linh ứng.
Đức Thánh Cha muốn điều đó được diễn tả như thế nào để người ta có
thể xác nhận rằng toàn bộ Thánh Kinh được linh ứng, và điều
đó được đọc thấy trong một văn bản theo đó Chúa đã ban hành vì
phần rổi chúng ta. Nói cách khác, làm thế nào khi người ta đọc
văn bản đó, người ta đọc những gì được đề cập tới phần rổi chúng ta,
chứ không phải những điều nói về miền Cận Đông xưa kia và về thực
vật học.”
Khi thực thi
Công Đồng trong thời gian 13 năm, kể từ khi bế mạc cho đến lúc Ngài
băng hà vào năm 1978, theo cha Komonchak, Đức Thánh Cha Phao-lồ
VI “đã bị công kích nặng nề từ cánh tả cũng như
cánh hữu và đối với tôi điều đó có nghĩa là Ngài đã hành xử đúng.”
Cha Komonchak
nói thêm: “Dĩ nhiên Ngài không hoàn toàn hài lòng với hết mọi điều
xảy ra thời hậu Công Đồng; nhưng ai có thể hài lòng đây? Tôi thiết
tưởng Ngài rất đau buồn bởi những biểu hiện của một thứ chống đối và
cả cách mạng nữa, nhưng tôi thiết nghĩ Ngài đã hoàn thành một công
việc tốt. Ngài vẫn thực thi Hiến Chế Phụng Vụ và trong thực tế, Ngài
đã cho phép những sự cải cách còn đi xa hơn những gì mà chính Công
Đồng đã đề nghị. Tôi thiết tưởng Ngài cố thực hiện sự đối thoại với
những Kitô hữu khác và Ngài đã thiết lập một văn phòng đối thoại
với những tín hữu không phải Kitô hữu và những người không tín
ngưỡng và Ngài đã viết đôi văn kiện quan trọng về xã hội. Ngài
đã chủ tọa Thượng Hội Đồng Giám Mục một cách cởi mở hơn dưới triều
đại của vị giáo hoàng kế tiếp Ngài.”
Cha Komonchak
cho biết Thông Điệp “Humanae Vitae” (Sự Sống Con
Người) vào năm 1968 mà theo đó Đức Thánh Cha Phao-lồ
VI tái xác quyết giáo huấn truyền thống của Giáo Hội là việc sử dụng
phương pháp ngừa thai nhân tạo trong những quan hệ vợ chồng tự bản
chất vốn sai lầm là “một thánh giá nặng nề đối với Ngài.”
Theo cha
Komonchak: “Một phần của vấn đề là chưa đầy ba năm sau khi Công Đồng
bế mạc, việc thi hành quyền giáo huấn (magisterium)
tối cao rõ rệt của hội đồng giám mục theo Công Đồng đã đột ngột được
thay thế bới sự thi hành độc nhất về quyền đó bởi Đức Giáo Hoàng. Và
phản ứng đối với điều đó đã khiến Đức Giáo Hoàng buồn phiền cho đến
đỗi Ngài không bao giờ ban bố một thông điệp nào khác nữa.”
Trên bình diện
đại kết, Đức Thánh Cha Phao-lồ VI đã có những “cử chỉ
ngoạn mục”, chẳng hạn Ngài ôm hôn Đức Giáo Chủ Chính Thống Đại
Kết là Athenagoras ở Constantinople nhân dịp Ngài đi thăm viếng
Thánh Địa năm 1964. Ngài cũng đã khai mạc nhiều cuộc đối thoại đại
kết có tính cách song phương và đa phương còn tiếp tục cho đến ngày
nay.
(Phỏng theo Jerry Filteau – Washington – CNS)
Hương Vĩnh
|
VỀ MỤC LỤC
|
|
|
Cộng Tác Với Ơn Chúa Thánh Thần |
|
Chúng ta tin nhận rằng: Phép Thêm Sức ban thêm ơn Chúa Thánh
Thần cho chúng ta. Điều đó đúng. Nhưng không có nghĩa là cứ chịu
phép Thêm Sức là tự nhiên mình sẽ ngoan đạo, sẽ mạnh tin. Không
phải hoàn toàn thế đâu. Phép Thêm Sức có ban ơn thánh cho ta,
ban thêm nhiều lắm, nhưng để ơn thánh đó xâm nhập vào ta, biến
đổi đời ta, thì còn cần một điều nữa, một điều quan trọng khác
nữa, một điều về phía ta. Điều đó là gì. Thưa là cộng tác của ta
với ơn Chúa Thánh Thần.
Ơn Chúa Thánh thần, ví như đồ dùng tốt Chúa trao ban, nhưng nếu
ta không dùng hay không biết dùng, thì cũng bằng không. Ơn Chúa
Thánh Thần ví như hạt giống tốt Chúa gieo vào lòng ta, nhưng nếu
ta không vun tưới, thì không dễ gì nẩy sinh bông trái. Vậy ta
phải cộng tác với Chúa Thánh Thần thế nào? Đó là vấn đề tôi muốn
nói chuyện hôm nay.
Anh chị em thân mến,
Việc thứ nhất chúng ta phải cộng tác
với ơn Chúa Thánh Thần, là thường xuyên hướng lòng mình lên
những sự tốt lành cao thiêng
Phúc Âm thánh Gioan ghi lời Chúa Kitô nói: “Ai làm sự dữ thì
ghét ánh sáng và không tới được ánh sáng... Ai hành động trong
chân lý, sẽ tới được ánh sáng” (Ga 3,21). Nói cách khác, phải
yêu ánh sáng trước, mới tìm được ánh sáng sau. Phải yêu chân lý
trước, mới tìm được chân lý sau.
Đúng thế, kẻ yêu vật chất thì sẽ đi tìm vật chất. Kẻ yêu nhân
đức thì sẽ chọn nhân đức. Có nghĩa là lòng hướng về đâu thì tìm
về đó. Lòng thích cái gì thì chọn cái đó. Động lực bên trong
thúc đẩy kẻ này tìm sự ác, kẻ kia tìm sự thiện là chính cái tâm
hướng, tức là cái xu hướng của tâm hồn. Cái động lực hầu như
quyết định sự lựa chọn của ta, lựa chọn điều lành cũng như điều
dữ, cũng tại ở cái tâm hướng, tức là cái khát vọng ta muốn thực
hiện cho cuộc đời mình. Vì thế cái mấu chốt tâm lý của đời sống
đức tin, đời sống đạo đức là cái tâm hướng. Phải để ý tới nó rất
nhiều. Do đó, muốn biết tìm và chọn nguồn ánh sáng và nguồn chân
lý của Chúa, cũng như muốn biết tìm và chọn những sự tốt lành
hợp với ơn Chúa Thánh Thần, thì cần phải huấn luyện cái tâm
hướng, sao cho nó ngã về đàng lành, khát khao những sự nhân đức.
Việc huấn luyện đó đòi các hành vi tâm linh như: Năng tìm hiểu
những giá trị tốt đẹp của nó, xác tín về những ích lợi lớn lao
của nó trong đời hiện tại và mai ngày, biết lượng giá đúng lý
tưởng nhân đức.
Tâm hồn có xu hướng như thế, sẽ là thửa đất tốt giúp cho ơn Chúa
Thánh Thần nảy nở.
Việc thứ hai chúng ta phải cộng tác với
ơn Chúa Thánh Thần, là năng làm việc lành phúc đức
Chúng ta biết con dao ít dùng sẽ mau han gỉ. Cái xe ít đi sẽ mau
khô dầu. Con người ít hành nghề sẽ dễ sút giảm tài nghệ. Cũng
thế, người ít làm việc đức tin, sẽ dễ làm yếu đức tin. Ngược
lại, ai càng năng làm các việc đức tin, sẽ làm đức tin thêm
mạnh. Mà làm là làm thiệt, bằng hành động cụ thể, với ý hướng
tìm Chúa thật sự, chứ không phải chỉ làm bằng mơ ước, tính toán
và chiếu lệ.
Khi bão, ta đâu có tranh luận với cơn bão, nhưng đóng cửa lại.
Khi nắng, ta đâu có tranh luận với mặt trời, nhưng đội nón lên.
Khi đói, ta đâu có tranh luận với cơn đói, nhưng đi tìm cơm ăn.
Cũng thế, khi thấy những gì có hại cho đời sống đạo đức, ta đừng
mất công tranh luận, nhưng hãy tránh, hãy đề phòng. Khi thấy
việc gì có tính cách bồi dưỡng cho đời sống ơn Chúa Thánh Thần,
thì cũng đừng chỉ ngồi đó ước mơ, tính toán, nhưng hãy làm đi.
Làm một cách thản nhiên, với lòng phấn khởi xác tín.
Những việc lành phúc đức làm như thế, sẽ là những dòng nước tốt
tưới cho ơn Chúa Thánh Thần trong ta được phát triển mau lẹ và
tốt đẹp.
Việc thứ ba chúng ta phải cộng tác với
ơn Chúa Thánh Thần, là năng giao tiếp với ơn Chúa Thánh Thần
Chúa Thánh Thần là tình yêu, mà đã là tình yêu thì không bao giờ
áp đặt. Ngài tôn trọng sự tự do của con người, của mỗi người.
Ngài cho, nhưng còn tùy ta có nhận hay không. Ngài gọi, nhưng
còn tùy ta có thưa lại hay không. Ngài giơ tay ra, nhưng còn tùy
ta có nắm lấy tay Ngài hay không. Sự đáp ứng của ta là yếu tố
cần thiết, là sự cộng tác quan trọng. Vì thế, ta phải năng giao
tiếp với Chúa Thánh Thần, để biết đáp ứng một cách ngoan ngoãn
mau lẹ. Giao tiếp với Ngài, bằng cách năng cầu xin ơn Ngài, năng
cảm tạ Ngài, năng giục lòng tin mến Ngài, năng bàn hỏi với Ngài,
năng lắng nghe tiếng Ngài nhắn nhủ trong lương tâm và qua các
biến cố, các gương lành và lời giảng dạy, khuyên răn.
Anh chị em thân mến,
Ba việc làm trên đây, chưa phải là tất cả và chỉ có thế, trong
nhiệm vụ cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần. Ta hãy thực hiện các
việc đó trong đời sống bản thân mình, và trong việc giáo dục các
con em của chúng ta. Ta hãy khởi sự thực hiện ngay bây giờ, bằng
cách tập trung lòng trí lại, hướng lòng lên Chúa, giục lòng tin
cậy mến, để tuyên xưng lại đức tin .
+ Gm. GB. Bùi Tuần |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Bài
tường thuật về sự sáng tạo cuộc sống người con |
|
1.
Ngay từ khởi đầu lúc lọt lòng mẹ, thế giới em bé sơ sinh còn hoang
vu tối tăm. Chưa có trật tự, chưa có gì liên kết lại với nhau, sự ấm
cúng bao bọc trong cung lòng mẹ giờ đây như không còn nữa. Bóng tối
như bao phủ người con. Em còn trần truồng, nhắm mắt kêu la khóc thét
đòi mẹ giữa cảnh hoang vu!
Người mẹ ôm con vào lòng, lấy
khăn bọc ủ con cho kỹ, rồi đặt nụ hôn đầu đời trên vầng trán, trên
đôi gò má, trên môi miệng còn tinh tuyền, như giọt sương buổi sáng
sớm còn đọng trên ngọn cỏ, của con mình.
Thế là bóng tối biến tan. Ánh
sáng tràn vào tận khắp cùng thân thể và tâm hồn em. Người con gọi
ánh sáng là sự tin tưởng, bóng tối là sự sợ hãi.
Một tạo vật, một công trình tác
phẩm, một con người do Thượng Ðế tác tạo ra đã bước vào trong trần
gian! Ðó là một buổi chiều và một buổi sáng: ngày thứ nhất
Người mẹ nhìn em bé nói: con
của mẹ đói bụng rồi, mẹ cho con ăn nhé! Mọi sự xảy ra như mẹ mong
muốn.
2.
Mẹ ôm con vào lòng áp sát vào lồng ngực cho con bú giòng sữa nuôi
dưỡng bình yên từ thân thể mẹ chảy ra. Em bé gục đầu vào lòng mẹ,
nhắm mắt hút dòng nước thức ăn bình thản thỏa mãn. Cơn đói khát dần
biến tan mất. Em bé ngủ yên mơ màng miệng nở nụ cười khoan khoái nhẹ
nhàng trên cánh tay nơi lòng mẹ mình. Em gọi lòng mẹ mình là hạnh
phúc và cơn đói khát là sự bất hạnh.
Sức sống tươi trẻ non yếu đang
dần phát triển vươn lớn lên bằng dòng sữa thức ăn tình yêu huyền
nhiệm nơi người mẹ, mà Ðấng Tạo Hóa trao tặng cho con người. Ðó là
một buổi chiều và một buổi sáng: ngày thứ hai.
Người mẹ mang chăn mền quần áo
lại mặc quấn cho con nói: mẹ đắp chăn, mặc quần áo cho con, để con
được ấm áp! Mọi sự xảy ra như mẹ mong muốn.
3.
Mẹ ẵm con mình trên đôi tay, đặt em nằm trên giường trải khăn, thay
tã, thay quần áo mới khô cho em, ru em nín đi đừng khóc nữa. Em bé
cảm thấy ấm áp. Lớp quần áo khô mới cùng chăn bông êm ấm đã cản ngăn
cơn gió lạnh không xâm nhập vào thân thể non yếu của em được nữa. Mẹ
cầm bàn tay non nhỏ của em vẽ hình Thánh Giá trên thân thể em, xin
Chúa Giêsu và Ðức Mẹ chúc lành cho em khoẻ mạnh mau lớn. Em gọi sự
ấp áp của mẹ em là nơi trú ẩn. Em nhắm mắt ngủ yên trong sự tin
tưởng.
Xa lạ từ lúc đi ra khỏi cung
lòng mẹ sống giữa thế giới bao la. Nhưng người con không phải lang
thang mất hướng đi trong vùng sa mạc hoang vu. Bến bờ bình an cho
tâm hồn thân xác đã dọn sẵn cho em. Ðó là một buổi chiều và một buổi
sáng: ngày thứ ba.
Thấy con nằm trong nôi một
mình, cha mẹ nói: con là niềm vui hạnh phúc của mẹ! Và mọi sự xảy ra
như mẹ mong muốn!
4.
Người mẹ đặt bàn tay trên đầu con, xoa trán vuốt tóc con, rồi lại
xoa trên đôi gò má non nhẵn mịn đỏ ửng, nắn bóp xoa tay chân và khắp
thân thể của em. Bế em lên, mẹ vỗ vào thân thể em, đang khi nói
những lời ngọt ngào nựng nịu em: con chó con, con ngoan của mẹ! Em
bé cảm thấy được âu yếm thương yêu trong vòng tay mẹ mình. Và em gọi
sự âu yếm của mẹ là niềm vui hạnh phúc.
Không ai là một hòn đảo. Ai
cũng cần sự liên đới tương quan, nhất là được đụng chạm ve vuốt âu
yếm. Những liên đới đó mang lại niềm an ủi. Vâng, cảm giác được chấp
nhận mang lại sự an tòan cho đời người thêm hạnh phúc. Ðó là một
buổi chiều và một buổi sáng: ngày thứ tư
Em bé nằm kêu bâng quơ. Như
trực giác linh tính hiểu ra, mẹ em nói vọng vào: con hãy nói nữa đi,
mẹ nghe con đây! Và mọi sự xảy ra như mẹ mong muốn.
5.
Người mẹ chạy lại cúi mình sát xuống con, nói chuyện và cười với em
bé bằng ngôn ngữ thật đơn giản. Em bé quơ tay chân dãy dụa cũng ê a
nói lại với mẹ mình. Mẹ em nhìn thẳng vào khuôn mặt non dại ngây thơ
trong trắng của em, lắng nghe em ê a. Mẹ hiểu con mình muốn nói gì.
Mẹ con liú lo nói chuyện với nhau, và nghe nhau trong niềm hạnh phúc
sung sướng. Em học tiếng mẹ đẻ từ ngày đó. Em không còn là người câm
nữa. Em gọi tiếng mẹ mình là niềm hy vọng.
Nhu cầu thông tin liên lạc
không chỉ giới hạn trong sự đụng chạm bằng tay chân thân xác, nhưng
còn bằng trí tuệ tâm hồn trái tim qua ngôn ngữ tiếng nói phát ra bên
ngoài nữa. Nhu cầu trí tuệ tâm linh này rất căn bản. Nó giúp phát
triển cuộc sống riêng tư mỗi người, và cuộc sống chung trong xã hội
con người. Niềm hy vọng đang vươn lên. Ðó là một buổi chiều và một
buổi sáng: ngày thứ năm
Nghe tiếng kêu la thất thanh
của con, mẹ vội chạy lại nói: con đừng sợ, có mẹ đây con! Mọi sự xảy
ra như mẹ mong muốn!
6.
Tiếng la hét sợ hãi nghi nan của đứa con như sắp bị ngã trợt khỏi
bậc cầu thang hay ngưỡng cửa chắn bước em đi, người mẹ chạy đến cầm
tay em vực em dậy. Cúi mặt xuống xoa thổi hơi trên chỗ đau của con,
lau chùi những giọt nước mắt ngây thơ tinh tuyền như dòng nước nơi
khe suối trong sáng, còn đang đọng trên đôi mắt, trên gò má của con.
Người con cảm nhận ra sự trung thành của mẹ mình. Người con gọi sự
trung thành đó là sự tin cậy.
Tình yêu là điều gì linh thiêng
cao qúy không sao diễn tả được. Nhưng sự trung thành với tình yêu
giúp cho tình yêu, tựa như một khóm cây, bén rễ sâu bền chặt vào tận
thâm tâm con người. Ðó là một buổi chiều và một buổi sáng: ngày thứ
sáu.
Khi người con đã khôn lớn,
người mẹ chúc lành cho con mình và nói: bây giờ con đã lớn khôn. Hãy
chịu khó học hành tìm hiểu, chịu khó làm việc, nhớ đến lời kinh Kính
mừng Maria và kinh Lạy Cha, đi vào đời kiến tạo đời sống tự lập! Mọi
sự xảy ra như mẹ mong muốn!
******************************************
Ðời sống của một người trẻ lớn
lên đi vào đời với những bước chập chững bỡ ngỡ. Theo gương cha mẹ,
người con tìm cho mình một hướng đi xây dựng cuộc sống. Hay một mái
ấm gia đình riêng, mà người con cùng với người bạn đường xây dựng
nên. Trong tổ ấm đó họ cũng có con như ngày xưa cha mẹ họ đã sinh
thành nuôi dưỡng họ. Theo lời căn dặn của mẹ mình, họ yêu thương con
cái như họ đã được mẹ yêu thương.
Ðời sống tự lập giữa dòng đời
xã hội xảy ra với nhiều thay đổi chao đảo. Vâng, có hoang vu lộn xộn
mất trật tự nữa. Người con cảm thấy nhiều hoang mang lo âu sợ hãi.
Nhưng những lúc như thế, người con nhớ đến mẹ mình và gọi kêu cầu mẹ
mình, người đã trao tặng nuôi dạy mình lòng tin, niềm hy vọng và
tình yêu mến.
Ba bông hoa Tin Cậy và Mến là
ba đức tính cột trụ kiến tạo:
- cho tòa nhà đức tin làm con
Chúa, Ðấng tạo dựng nên sự sống con người. Ðể đời sống không trở nên
như chiếc xe không phanh thắng dọc đường gió bụi, như con thuyền
không bánh lái giữa dòng sông cuộc đời.
- cho dãy nhà xã hội, nơi cùng
chung sống. Ðể nhân phẩm con người không bị chà đạp và bác ái tình
người được thăng hoa.
- và cho cả ngôi nhà cùng khu
vườn đời sống riêng mỗi người nữa. Ðể con người nhận ra gia trị đóng
góp đời sống mình vào trong khu vườn bông hoa sáng tạo của Thượng
Ðế: Tất cả đều được hân hoan đón nhận!
Xin tạ ơn Thiên Chúa và cám ơn
Mẹ của con!
Tháng hoa
nhớ về Mẹ
Lm.
Nguyễn ngọc Long
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
XIN VÂNG |
|
Nói đến Mẹ Maria, người ta nghĩ ngay đến hai
tiếng XIN VÂNG. Tiếng XIN VÂNG hay tiếng FIAT là một tiếng phiêu lưu,
mạo hiểm, táo bạo. Nó ám chỉ một sự liều lĩnh và đòi hỏi một sự can
đảm. Nó có nghĩa là từ bỏ mọi sự lại đằng sau để tiến về đằng trước.
Bỏ lại phía sau những cái mà chúng ta đang có chắc trong tay và mạo
hiểm về một tương lai mà chúng ta hoàn toàn không biết. Chúng ta
phải bỏ lại những người thân yêu, những tập tục quen thuộc, những
ham mê, những sở thích quí mến để ra đi về một phương trời vô định
với một hành trang trống rỗng và một tương lai mù mịt.
Để nói lên tiếng XIN VÂNG như thế thật không
phải là dễ. Và đau khổ biết bao khi phải nói lên lời giã biệt trước
giờ phút chia ly. Đó là lý do tại sao đã khiến cho bao giòng nước
mắt phải tuôn trào trước giờ phút ly biệt.
Từ bỏ trong ý nghĩa đó có nghĩa là phải cắt đi
một phần của cái tôi đã gắn chặt với những gì mình đã yêu thích. Quả
thật, không phải dễ để chúng ta nói lên lời giã biệt đối với những
gì mình đang tận hưởng. Điều đó giúp chúng ta hiểu được lý do tại
sao con người thường co rút lại trước việc phải từ bỏ cái quá khứ
của họ.
Trong cựu ước, mẫu mực của mọi tiếng gọi niềm
tin, mẫu mực có một ấn tượng sâu xa nhất của lịch sử con người về
niềm tin, những trang sử xúc động nhất của sự chiến đấu anh hùng của
con người trong việc đối thoại với Thiên Chúa, đó là câu chuyện của
Abraham. Thiên Chúa nói với Abraham:”Hãy bỏ quê hương, gia đình và
nhà cửa đi đến đất Ta sẽ chỉ cho”.{Gen.12:1-3}
Đây là mầu nhiệm của tiếng gọi Thiên Chúa, mầu
nhiệm của ơn gọi mỗi người chúng ta. Nó xảy đến trong sự tối tăm của
niềm tin và mọi lý luận của con người thì bất lực để thấu hiểu.
Trước những biến cố trọng đại, Thiên Chúa
thường muốn những tạo vật của Ngài phải trải qua những sự thử thách.
Nếu chỉ có địa đàng, con người sẽ không có tự
do. Nếu chỉ có một con đường đi về nhà Cha, chúng ta sẽ cảm thấy bị
lợi dụng. Trong sa mạc hãi hùng của cuộc lựa chọn, chúng ta có cả
hai lối: một về Đất Hứa và một trở về Ai Cập. Có cả tốt lẫn xấu
chúng ta phải chọn lựa. Không có sự trốn thoát vì tình yêu của Thiên
Chúa đòi chúng ta phải đáp trả. Thiên Chúa cho chúng ta có đủ thời
gian để lựa chọn và đáp trả. Một khi đã đáp trả, đó là quyết định
cuối cùng.
Khi sứ thần Gabriel đến truyền tin cho Mẹ
Maria, chúng ta thấy gì nơi Mẹ trước tiếng gọi niềm tin.
Chín tầng trời gần như xôn xao đang hồi hộp chờ
đón tiếng đáp lời của Mẹ, bỡi tiếng đáp lời của Mẹ có ảnh hưởng lớn
lao đến chương trình vĩ đại của Thiên Chúa và cũng ảnh hưởng lớn lao
đến một tương lai hãi hùng của Mẹ.
Để giúp chúng ta hiểu được tương lai hãi hùng
của mẹ thế nào khi mẹ đã liều mình một cách táo bạo đáp tiếng XIN
VÂNG thì đây tôi xin kể cho anh chị em một câu chuyện thật sau đây.
Trong chuyến du hành sang đất thánh, khi tham
dự thánh lễ đồng tế ở Đền Thờ Đức Me Truyền Tin tôi đã được nghe cha
chủ tế kể cho nghe câu chuyện nầy trong bài thuyết giảng của
ngài:
Tôi (Carlo Carretto) đã từng có dịp sống trong
sa mạc Sahara với tinh thần của dòng Tiểu đệ Charles de Foucauld.
Bấy giờ tôi kiếm sống bằng cách làm việc như một nhà khí tượng học
trong vùng nầy. Tôi thích công việc đó không chỉ vì nó cung cấp tho
tôi lương thực mà còn vì nó cho tôi cơ hội để sống trong chính nơi
tôi thích chọn là sa mạc, mà ở đó tôi có thể kết hợp bổn phận hằng
ngày và lời cầu nguyện lâu dài của tôi với sự im lặng vĩ đại của
thiên nhiên.
Trong thời gian đó, không bao lâu, tôi quen
biết những người Tuaregs và tôi đặc biệt thích thổ dân nầy. Họ sống
trong những túp lều dựng dọc theo bờ hồ. Trong những buổi chiều sau
khi làm công tác xong, tôi thường đến thăm họ. Suốt thời gian gặp gỡ
nầy, tôi để ý đến một sự kiện rất là hấp dẫn.
Thật tình cờ, tôi khám phá ra một cô gái trong
căn trại mà bấy giờ tôi quen biết đã đính hôn với một chàng trai
trong một căn trại khác, nhưng cô ta chưa đi sống chung với chàng vì
chàng ta còn quá trẻ.
Sau đó, vì một công tác khác tôi phải lìa xa sa
mạc Sahara hai năm. Hai năm sau, tôi trở lại căn trại đó và đang tìm
một đề tài để nói chuyện. Tôi chợt nhớ lại câu chuyện tình của cô
nàng ấy nên muốn hỏi thăm về cuộc hôn nhân ấy đã xảy ra thế nào rồi?
Bấy giờ, có một cái nhìn bối rối hiện ra trên nét mặt của người tôi
đang nói chuyện và họ im lặng, một sự im lặng đáng buồn và khó hiểu.
Rồi người ấy nhìn chung quanh một cách ý tứ, ông ta đưa tay lên cổ
trong một cử chỉ đặc biệt của người Ả rập khi họ muốn nói có người
đã bị cắt cổ.
Lý do thế nào?
Vì trước đám cưới, người ta khám phá ra là cô
gái ấy đã có thai và vì danh dự của gia đình nên đã đòi hỏi sự hy
sinh nầy theo tập tục của họ.
Một sự rùng rợn đã tỏa lan trong xương sống tôi
khi nghĩ ra rằng người con gái ấy đã bị chặt đầu vì đã không trung
thành với người chồng tương lai của chị.
Câu chuyện rùng rợn ấy có một cái gì giống câu
chuyện của Mẹ Maria và thánh cả Giuse. Kinh thánh đã ghi: Mẹ Maria
đã đính hôn với Giuse, nhưng trước khi về chung sống với nhau, được
khám phá ra là đã có thai.
Dẫu cho Giuse không tố cáo Maria, chỉ có ý định
âm thầm bỏ đi. Nhưng đối với Maria, vấn đề không phải là đơn giản
như chúng ta thường nghĩ, nhất là đối với tập tục khắc khe của người
Do Thái lúc bấy giờ.
Hãy hỏi thử những cô gái Á Đông không chồng mà
chửa, tâm trạng của họ thế nào khi bác sĩ cho biết rằng họ đang có
thai. Chắc chắn là xấu hổ và lo sợ. Lo sợ vì không biết phải ăn nói thế nào đây với những
người chung quanh và nhất là đối với những người thân yêu trong gia
đình. Rồi đây, không bao lâu nữa người ta sẽ nhìn thấy tác phẩm
trong bụng mình đang lớn dần và nó sẽ gây nên sự chú ý cho biết bao
nhiêu con mắt tò mò của những người trong xóm làng.
Đó cũng là tâm trạng của Mẹ Maria lúc bấy giờ.
Trả lời thế nào đây với những người chung quanh mà Mẹ đang sống với,
nhất là với vị lang quân mà mẹ sắp cưới.
Trả lời: Thiên chúa là tác giả của đứa bé ấy
sao ? Và ai sẽ tin Mẹ ?
Hãy tưởng tượng nếu có một cô gái đến nhà chúng
ta và nói: Tôi bảo đảm với ông bà rằng đứa bé mà tôi đang mang thai
là con của Đâng Tối Cao. Thử hỏi ai sẽ tin nàng mà không thốt lên
những lời chê bai và nguyền rủa. Và nếu đó là con cháu của chúng ta
thì rất có thể chúng ta sẽ tặng ngay cho nàng một tát tai và sẽ đưa
nàng đi ngay đến nhà thương điên.
Thế mới biết Mẹ Maria thật can đảm biết bao khi
Mẹ đáp lại lời sứ thần với tiếng XIN VÂNG.
Hỡi Maria, Mẹ đã hiểu gì khi thiên thần nói với
Mẹ rằng: Mẹ là người đã được chọn để làm Mẹ Đấng Cứu Thế ?
Và Mẹ sẽ đáp trả cho chúng ta: Tôi cũng thấy
trước tất cả những hiểu lầm sẽ có, vì làm cách nào tôi có thể cắt
nghĩa được những điều lạ lùng nầy cho mẹ tôi, cho cha tôi, và nhất
là cho vị hôn phu sắp cưới của tôi. Nhưng tôi cũng thấy trong tôi có
một sức mạnh phi thường đến từ Thiên Chúa, và thêm vào đó là sức
mạnh của lời thuyết phục của sứ thần Gabriel:
Đối với Thiên Chúa không có gì là không có thể.
Đối với Thiên Chúa không có gì là không có thể.
Và rồi, với tâm trạng thật bất ngờ, hồi hộp và
đầy lo sợ, Mẹ maria tiếp tục chia xẻ:
Sau đó, tôi thấy mẹ tôi đi bách bộ ở ngoài sân,
tôi muốn chạy đến để tâm sự với mẹ tôi tất cả những gì vừa xảy ra
cho tôi, nhưng tôi lại không dám nói vì tôi không biết phải làm cách
nào để giải thích cho mẹ tôi. Vì thế, từ dạo ấy trở đi tôi càng trở
nên trầm tư và thinh lặng.
Thế rồi, sau một vài tháng tôi không thể nào
dấu nổi tác phẩm trong bụng tôi nữa. Trước mặt mọi người, mọi sự đã
trở nên rõ ràng và phức tạp. Bấy giờ tôi càng hiểu rõ hơn: Bản chất
của đức tin chính là sự mù mịt và đau khổ. Và đó chính là thời kỳ
đau khổ nhất của đời tôi. Niềm yên ủi duy nhất của tôi lúc bấy giờ
chính là việc lập đi lập lại lời sứ thần đã nói:
Không có gì là không có thể với Thiên Chúa.
Không có gì là không có thể với Thiên Chúa.
Và quả thật, mọi sự đều có thể với Thiên Chúa
vì chính Ngài đã cắt nghĩa điều đó cho Giuse trong giấc mộng.
Bấy giờ, Mẹ maria mới hiểu ra rằng đây mới
chính thật là bản chất của niềm tin.
Vâng, một cô thôn nữ nghèo hèn đơn sơ, một cô
thôn nữ kiều diễm đoan trang, dễ thương dễ mến, nhưng Chúa đã muốn
một sự khởi đầu không mấy tốt đẹp chút nào cho đời Me, một sự khởi
đầu với đầy nước mắt và đau thương.
Chiều hôm nay, nhìn lên cung thánh, tôi thấy Mẹ
Maria không như một bà hoàng sang trọng, uy nghi và diễm lệ như
những ngày trước nữa, nhưng là một người mẹ, một người chị, một
người bạn đồng hành cũng đã từng trải qua những gian lao và thử
thách trong đức tin trên cuộc hành trình về quê trời.
Trong ngày lễ Truyền Tin năm nay, chắc chúng ta
có nhiều điều muốn thưa với Mẹ. Nếu chúng ta muốn xin gì với Mẹ, hãy
ngước nhìn lên Mẹ và đừng xin gì khác cả. Đừng xin cho căn bệnh
chúng ta được chữa lành. Cũng đừng xin cho chúng ta được thêm nhiều
danh lợi. Nhưng hãy xin với Mẹ điều nầy và chỉ một điều nầy thôi, đó
là xin Mẹ hãy cầu nguyện cho lòng tin của chúng ta. Chỉ có món quà
đó mới xứng đáng với lời cầu của Mẹ mà thôi.
lm.levanquang
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
CHỌN CHÚA TRONG MỌI
CHI TIẾT CỦA ĐỜI TÔI |
|
Trên nguyên tắc, đã là Ki-tô hữu thì hầu như ai
cũng đã chọn Chúa làm cùng đích của đời mình. Tuy nhiên cái nguyên
tắc chung này khi được áp dụng vào đời sống cụ thể của từng người
thì lại khác nhau rất nhiều : có người chọn Chúa một cách triệt để,
có người chọn Chúa một cách nửa vời, còn có người thì chỉ chọn Chúa
như một món trang trí “cho có với thiên hạ”.
Thông thường, chọn Chúa trong những việc lớn
thì tương đối dễ, vì khi ấy tôi chứng tỏ được lòng quảng đại, sự hy
sinh, lòng can đảm … của mình. Khi chọn Chúa trong các việc lớn tôi
dễ cảm thấy mình anh hùng! Ngược lại, chọn Chúa trong từng chi tiết
vụn vặt của đời mình quả là một việc khó, bởi vì muốn làm được như
thế thì tôi phải luôn luôn đặt mình về phía Chúa : từ ý nghĩ, lời
nói, hành động tất cả phải qui chiếu về một mình Chúa mà thôi. Ấy
thế mà tôi thì lại có rất nhiều điểm để qui chiếu đời tôi. Điểm qui
chiếu đầu tiên là chính bản thân tôi ; kế đó là các đối tượng, các
mục đích mà tôi ưa thích. Lại nữa, tôi không phải là một ẩn sĩ để có
thể ở trong tịch mịch chỉ có mình tôi với Chúa. Tôi phải liên tục
giao tiếp với tất cả những sinh hoạt phức tạp của môi trường chung
quanh. Tôi không thể bỏ chúng, nhưng đồng thời tôi cũng không thể
đặt chúng ngang hàng với Thiên Chúa. Để có thể dấn thân vào những
sinh hoạt ấy mà không phản bội lại Thiên Chúa, tôi phải liên lỉ chọn
Ngài trong từng giây phút, trong từng chi tiết nhỏ nhặt của đời tôi.
Muốn thực hiện được điều này, trước tiên tôi cần liên tục khẳng định
lại sự lựa chọn căn bản của mình, trước tiên tôi cần đặt trọn tư
tưởng của tôi hướng về Chúa. Cần phải liên tục nhắc đi nhắc lại luôn
để tạo ra một xác quyết là tôi phải hoàn toàn thuộc về Chúa. Từ bước
ổn định tư tưởng này, các lời nói và việc làm của tôi sẽ được tư
tưởng căn bản ấy chỉ đạo và điều khiển. Tư tưởng ổn định xác quyết
thì lời nói và việc làm cũng sẽ ổn định, và nếu có bất ổn thì cũng
dễ điều chỉnh sửa sai. Chúa ban cho tôi một món quà quí giá là tư
tưởng. Vậy thì lễ vật đầu tiên và quí giá nhất mà tôi có thể dâng và
phải dâng lên Thiên Chúa chính là tư tưởng của tôi. Một khi tư tưởng
của tôi đã thuộc hẳn về Chúa, nó sẽ hướng dẫn trọn vẹn con người tôi
về với Ngài.
Để có thể chọn Chúa trong từng chi tiết nhỏ
nhặt của đời mình, tôi phải chọn Chúa ngay từ lãnh vực quan trọng
nhất của cuộc đời : tư tưởng chính là lãnh vực quan trọng nhất ấy.
Nếu tư tưởng của tôi chưa thuộc hẳn về Chúa, thì khi phải liên tục
chọn Chúa trong những chuyện vụn vặt của đời mình, tôi sẽ gặp nhiều
khó khăn lấn cấn vì cứ phải so đo cân nhắc luôn. Hơn nữa, một khi tư
tưởng chưa thuộc hẳn về Chúa thì những chi tiết vụn vặt ấy dễ vuột
khỏi sự kiểm soát của chính tôi để chạy tuột theo đà của chúng. Lúc
bấy giờ tôi không còn là của Chúa, cũng không còn là của tôi, mà chỉ
còn là nô lệ cho những thần tượng lợi thú nào đó của mình mà thôi.
Lạy Chúa, xin cho tư tưởng của con luôn luôn
hướng trọn về Ngài. Amen ./.
Trầm Tĩnh Nguyện
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
|
|
(Magnificat)
Tôi hân hoan ngợi
khen Thánh Ðức
Thần trí tôi háo
hức, vui mừng
Chúa cao sang các
tầng trời
Thiên thần, chư
Thánh đời đời tung hô!
Chúa đã thương
phận hèn tôi tớ
Từ một loài thụ
tạo Chúa sinh
Từ nay trần thế
Bình minh
Từ nay tì nữ sẽ
sinh Con Người!
Chúa giơ tay biểu
dương sức mạnh,
Dẹp tan phường
hãnh tiến kiêu căng
Xưa nay Chúa vẫn
thường hằng
Ðỡ nâng kẻ yếu,
trừ răn kẻ tà.
Chúa răn đe kẻ
giầu dư giả,
Cùng kẻ đang quyền
cả, cao sang
Giầu mà thất đức
- Tay không
Huênh hoang quyền
thế đừng trông Nước Trời!
Chúa độ trì những
tôi tớ Chúa
Mảnh đất kia Chúa
đã hứa ban
Dành cho tổ phụ
A-bram
Cùng là con cháu
biết tôn kính Người!
Kẻ khiêm nhường,
thực dân của Chúa
Kẻ kiêu căng, lìa
bỏ Thánh Nhan
Ðội ơn ân sủng
Chúa ban
Linh hồn tôi mãi
muôn vàn ngợi khen!
Nhà Văn Xuân
Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Tạ
ơn Mẹ
|
|
Tạ ơn
Mẹ đã
cưu
mang con chín tháng mười
ngày
Tạ ơn
Mẹ đã
không giết
bỏ
con lúc con còn trong lòng Mẹ.
Tạ ơn
Mẹ đã
cho con vào đời
Tạ ơn
Mẹ đã
bú mớm
chăm
nom
Tạ ơn
Mẹ đã
lo lắng
chăm
sóc
Tạ ơn
Mẹ đã
trằn
trọc
thâu đêm
Tạ ơn
Mẹ đã
thức
khuya dậy
sớm.
Tạ ơn
Mẹ đã
bôn ba giữa
chợ đời
Tạ ơn
Mẹ đã
tần
tảo
lao nhọc
Tạ ơn
Mẹ đã
lam lũ
gánh gồng
Tạ ơn
Mẹ đã
thui thủi
một
mình
Tạ ơn
Mẹ đã
bao lần
thổn
thức.
Tạ ơn
Mẹ đã
cho con tình thương
Tạ ơn
Mẹ đã
cho con tất
cả
Tạ ơn
Mẹ đã
vui với
con
Tạ ơn
Mẹ đã
khóc với
con.
Tạ ơn
Mẹ đã
. . . Tạ ơn
Mẹ đã
. . .
Mẹ ơi,
công ơn
dưỡng
dục
của
Mẹ,
con không thể đáp
đền.
Con sẽ cố gắng
sống ngoan, sống tốt, sống đẹp,
sống xứng đáng là
con của Mẹ.
Lm. Giuse Ngô văn Thích
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
TRÁCH NHIỆM LÀM CHA MẸ |
|
Đã làm cha mẹ thì ai cũng phải vất vả vì
con. Tuy nhiên cũng có rất nhiều niềm vui và hạnh phúc khi con cái ngoan
ngoãn.
Sau khi Đức Giêsu vừa sinh ra hơn vài ngày,
hai ông bà Giuse và Maria được niềm vui lớn lao là ba vua tới thăm.
Nhưng ông bà phải nhận một tin thật là đau khổ là phải đưa Hài nhi Giêsu
và Mẹ Người trốn sang Ai cập.
Gia đình tôi phải chia ly và nhớ thương
nhất là khi xa nhà vì quân ngũ, để vợ ở nhà với năm đứa con thơ dại,
trong một đất nước chiến tranh tàn khốc nhất vào năm 1968. Niềm an ủi
tôi lúc này là cầu nguyện, phục vụ và tin tưởng vào Chúa.
Sau khi chiến tranh lắng dịu tôi được về
phục vụ gần gia đình, có thì giờ lo cho con đi học và tổ chức lại gia
đình được một thời gian thì mùa hè năm 1975 xẩy đến. Vợ chồng tôi tần
tảo, ăn đói nhịn khát, thắt lưng buộc bụng để nuôi bẩy đứa con, chúng
vừa đi học vừa phải kiếm gạo cho Gia đình.
Cho đến bây giờ, vợ chồng tội đã già, nhìn
thấy đàn con khôn lớn, hiền lành, mạnh khỏe, yêu kính cha mẹ, vợ chồng
thương nhau với các cháu ngoan trong lòng thương xót của Chúa.
Để được hạnh phúc này, tôi luôn nhớ Lời
Chúa nói: “Anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền
hòa và nhẫn nại...” (Col 3,12-13) Đây là chìa khóa của hạnh phúc và
Nước Trời ngay ở trần gian này.
Huyền Đồng
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
NGÀY 13.5.2006, LỄ ĐỨC MẸ PHATIMA |
|
SỰ KIỆN LỊCH SỬ PHATIMA 1917
Cách đây ba năm, vào những ngày mùa Chay của năm 2005, trong nhiều
tin tức quan trọng, Hội Thánh hoàn vũ đón nhận một tin đau buồn. Gọi
là đau buồn, nhưng xét cho cùng, trong đức tin, ta vẫn thấy toát lên
tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Vì thế, cũng chẳng phải nỗi buồn
mà tất cả đều mang niềm vui ơn cứu độ…
I. NỮ TU LUCIE DOS SANTOS, HAI TRẺ VÀ SỰ
KIỆN PHATIMA.
Ngày 13.2.2005, cả thế giới Công giáo ngậm ngùi tiển đưa nữ tu Lucia
về Nhà Cha ở tuổi 97. Nữ tu Lucia qua đời tại đan viện Coimbra dòng
Camêlô - Bồ Đào Nha. Chị là chứng nhân cuối cùng, người duy nhất còn
lại trong số ba trẻ (Lucia, Giaxinta và Phanxicô) đã từng nhiều lần
nhìn thấy Đức Nữ Trinh Maria hiện ra tại làng Phatima - Bồ Đào Nha
năm 1917. Chị qua đời sau một thời gian ngã bệnh nhiều. Trước khi
chết, Chị bị suy yếu nặng về thị lực và thính giác. Nghi thức viếng
xác Chị Lucia được tổ chức vào ngày 15.2.2005 tại Vương cung thánh
đường Coimra. Sau đó, thánh lễ an táng được cử hành vào ngày
16.2.2005 cũng tại Vương cung thánh đường này.
Nữ tu Lucia tên thật là Lucie Dos Santos, sinh ngày 22.3.1907 tại
làng Fatima, thuộc giáo phận Leiria trong một gia đình nghèo của
nước Bồ Đào Nha. Dù nghèo, nhưng cha mẹ Lucia rất đạo đức, có lòng
tôn thờ Chúa rất mực. Cả hai người em họ của Lucia là Jacinta và
Phanxicô cũng đều là những trẻ em con nhà nghèo. Hằng ngày, các em
được gia đình và cha mẹ giao cho việc chăn giữ đoàn súc vật, bao gồm
chiên cừu, và thả chúng ăn cỏ trên những vùng đồi núi quanh làng.
Tiếp nối truyền thống đạo đức của gia đình, trong lúc rãnh rỗi, khi
đoàn vật tự do ăn uống, ba em thường tụm lại cùng nhau sốt sắng đọc
kinh, lần chuỗi và cầu nguyện. Chuyện xảy ra trong thời gian đầu mùa
hè của năm 1917, lúc mà chiến tranh thế giới lần thứ nhất đang hoành
hành dữ dội, đã giết chết không biết bao nhiêu sinh mạng con người
và làm cho thế giới hầu như kiệt quệ về tài chánh, sức lực, nhân sự,
cả đến niềm hy vọng, thay vào đó là nỗi chán chường, bạc nhược tung
hoành khắp thế giới…, thì bất ngờ, tại một góc trời nhỏ bé của làng
Phatima, trong lúc đang chăm chú cầu nguyện, ba trẻ chăn chiên đã
nhìn thấy hiện tượng lạ thường.
Đó là trưa ngày 13.5.1917, các em nhìn thấy một ánh sáng chói lòa
trên ngọn đồi Cova da Iria. Hiện tượng lạ thường đó, lập tức lôi kéo
hoàn toàn sự chú ý của các em. Trong lúc còn đang quá đỗi ngỡ ngàng,
các em nhìn thấy một thiếu nữ đẹp lộng lẫy, chói sáng vô cùng. Người
thiếu nữ ấy xin các em hãy cầu nguyện cho người có tội ăn năn trở
lại. Bà cũng báo trước, chiến tranh tương tàn sắp kết thúc. Nhưng
người thiếu nữ cũng không quên mạc khải thêm, nếu thế giới không ăn
năn trở lại, lại gây thêm hận thù, thì thế giới cũng sẽ tự gây ra
cho mình một cuộc chiến tranh còn lớn hơn cuộc chiến hiện tại này.
Sau đó, theo lời người thiếu nữ chỉ dạy, cả ba em đều đến tại nơi đã
gặp người thiếu nữ đẹp vào các ngày 13 của các tháng 6 và 7. Tuy
nhiên, đến ngày 13.8, chánh quyền địa phương cho rằng các em đồn
chuyện nhảm nhí, vì thế, đã ngăn cấm các em đến nơi đã hẹn với người
thiếu nữ. Một tuần sau đó, người thiếu nữ lại đến gặp các em vào
ngày 19.8.
Riêng ngày 13.9.1917, người thiếu nữ xin các em lần chuỗi Mân Côi để
cầu nguyện cho chiến tranh sớm kết thúc và hòa bình thế giới mau
đến. Ngày 13.10.1917, người thiếu nữ lại hiện ra và tỏ cho các em
biết, Bà chính là Đức Nữ Trinh Maria, Mẹ Rất Thánh Mân Côi. Đức Mẹ
mời gọi các em cầu nguyện, làm việc đền tạ và tiếp tục lần chuỗi mỗi
ngày. Đức Mẹ cũng muốn người ta phải xây một nhà nguyện dâng kính
Đức Mẹ tại đây. Đức Mẹ nhắc nhở thế giới, đừng xúc phạm đến Chúa
nữa, Người đã bị xúc phạm quá nhiều.
Chính trong lần hiện ra này, Đức Mẹ đã để xảy ra một hiện tượng lạ
chưa từng có, làm rung động mọi người từ chính quyền, các phương
tiện thông tin, đến tất cả dân chúng: Mặt trời như rời khỏi bầu
trời, lao xuống thấp và nhảy múa hết sức kỳ diệu.
Mãi đến ngày 13.5.1930, sau nhiều năm điều tra cẩn thận, Đức Giám
mục giáo phận Leira chính thức chấp nhận hiện tượng Phatima là dấu
lạ xuất phát từ tình thương vô cùng của Thiên Chúa. Người đã muốn
Đức Mẹ viếng thăm thế giới, qua ba trẻ đạo đức, giữa cơn khốn khổ mà
thế giới đang bị nhận chìm trong đó. Cũng từ đó, Giáo quyền cho phép
và khuyến khích giáo dân tổ chức kính viếng Đức Mẹ Phatima bằng
những cuộc hành hương, cầu nguyện và mọi hình thức đạo đức khác để
cầu nguyện cho mình cho mọi người.
Sau một loạt các sự kiện năm 1917, hai anh em ruột Phanxicô và
Giaxinta đã qua đời. Phanxicô qua đời ngày 4.4.1919. Giacinta qua
đời ngày 20.2.1920. Cả hai anh em đều đã được Cố Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II nâng lên bậc á thánh vào ngày 13.5.2000 trong chuyến hành
hương Phatima của ngài. Hai em trở thành hai vị thánh trẻ nhất,
không tử đạo của Hội Thánh. Ngày 22.3.2005 (mười ngày sau khi nữ tu
Lucia qua đời), hãng thông tấn EFE của Bồ Đào Nha đưa tin, giáo phận
Leiria đã gởi những tài liệu sau cùng đến Tòa Thánh để xin cứu xét
việc phong thánh cho hai á thánh Phanxicô và Giaxinta. Đặc biệt hơn,
hai tháng sau đó, trong dịp cử hành lễ Đức Mẹ Phatima ngày
13.5.2005, Đức Cha Serafim Ferreira e Silva đã tái xác nhận việc
ngài đề nghị Tòa Thánh tiến hành thủ tục phong thánh cho hai thiếu
nhi chăn cừu Phanxicô và Giacinta. Đề nghị này đã được Tòa Thánh
nhận lời.
Còn Lucia, sau một vài thị kiến riêng sau đó vào những năm 1923 và
1939, đã quyết định dâng hiến đời mình cho ơn gọi tu trì. Đầu tiên,
Chị tu ở Tây Ban Nha, sau đó chuyển sang dòng kín Camêlô - Bồ Đào
Nha. Trong những năm tu trì, Chị Lucia đã hân hạnh có đến bốn lần
được đón tiếp hai Đức Giáo hoàng đến thăm. Vị Giáo hoàng thứ nhất là
Đức Phaolô VI, nhân chuyến hành hương Phatima năm 1967. Vị Giáo
hoàng thứ hai là Đức Gioan Phaolô II đã gặp Chị Lucia trong ba dịp
khác nhau: 1982, ngài đến Phatima tạ ơn, nhân dịp kỷ niệm một năm
sau ngày ngài bị ám sát hụt; 1991, nhân 10 năm biến cố bị giết hại
bất thành; và ngày 13.5.2000, nhân dịp cử hành lễ phong chân phước
cho Giaxinta và Phanxicô. Trong thánh lễ phong chân phước này, cũng
là một trong những dịp hiếm hoi, Chị Lucia ra khỏi dòng kín để tham
dự thánh lễ.
Chị Lucia đã viết lại những lời hứa của Đức Mẹ tại Phatima trong bốn
cuốn nhật ký đã xuất bản, nhưng bí mật thứ ba bị giữ lại, vì thế đã
không được tiết lộ trong bốn cuốn nhật ký này. Tuy nhiên, Chị đã
trình bày nội dung của bí mật thứ ba cho Đức Giám mục giáo phận
Leira. Sau đó, Đức Giám mục đã đệ trình Đức Thánh Cha Piô XII. Chị
Lucia cho biết, bí mật thứ ba này phải do chính Đức Giáo hoàng tiết
lộ, nhưng không tiết lộ trước năm 1960.
Bí mật thứ ba này được giữ kín tuyệt đối. Mãi đến tháng 5.2000, Đức
Thánh Cha Gioan Pholô II - trong khi công bố bản văn về thị kiến
liên quan đến một “Giám mục mặc y phục trắng” đang cố gắng tiến về
thánh giá, vượt qua xác của các vị tử đạo trong Hội Thánh, cho đến
khi chính bản thân vị Giám mục này đổ gục bởi một viên đạn nhắm vào
ngài - đã xác nhận bí mật thứ ba Phatima đã được tiết lộ hoàn toàn.
Chị Lucia ra đi, đối với thế giới, đây là một tin buồn. Nhưng trong
đức tin, chúng ta quả quyết, đây là một niềm vui lớn. Bởi cô bé
Lucia ngày nào chỉ nhìn thấy người Mẹ dấu ái của mình bằng đôi mắt
phàm trần. Sự nhìn thấy ấy cũng chỉ là một ánh nhìn thoáng qua, sau
đó cô bé vẫn tiếp tục đời thường của mình như bao nhiêu người trên
trần thế. Hôm nay, cô bé Lucia của 89 năm về trước, đã được Chúa gọi
về, từ đây sẽ diện kiến Thiên Chúa, sẽ sống bên Mẹ của mình trong
hạnh phúc miên trường, một hạnh phúc của đời vĩnh cửu không bao giờ
bị ai lấy mất. Hiểu và tin như thế, chắc chắn Nữ Tu Lucia đã sống
những chuỗi ngày làm người của mình trong sự khắc khoải trông chờ
cái giây phút cuối đời thiêng liêng ấy. Vì khi nhắm mắt vĩnh biệt
cõi đời, Chị đã thực sự sinh ra trong sự sống mới, một sự sống không
tàn, không phai.
II. SỐNG SỨ ĐIỆP PHATIMA: SỐNG MẦU NHIỆM
CHUỖI MÂN CÔI.
Ngoài những bí mật mà Đức Maria để lại, chuỗi Mân Côi là phương tiện
cầu nguyện không thể thiếu trong những lần Đức Mẹ gặp gỡ ba trẻ. Qua
đó, Đức Maria muốn mạc khải cho thế giới rằng, chuỗi Mân Côi không
những là mối giây ràng buộc tình mẫu tử giữa Đức Mẹ với loài người
mà nó còn nói lên tính hiệu nghiệm của việc cầu nguyện bằng chuỗi
Mân Côi.
Có được những sức mạnh như trên, là vì khi lần chuỗi Mân Côi, ta
không chỉ cậy nhờ công nghiệp và lời chuyển cầu của Đức Mẹ, mà còn
là sống lại chính cuộc đời Chúa Kitô qua từng mầu nhiệm Vui, Sáng,
Thương, Mừng mà ta chiêm ngắm khi lần chuỗi. Có thể nói, việc lần
chuỗi Mân Côi là cuốn phim làm sống động lại trong tâm hồn chúng ta
ký ức về hình ảnh Đức Maria gắn bó suốt hành trình của cuộc đời Chúa
Cứu Thế, làm rực lên trong ta những tâm tình thánh thiện của Đức Mẹ,
nhờ đó ta cùng được âu yếm như sự kiện Bêlem, khắc khoải như sự kiện
Ai Cập, sốt sắng như khi ở đền thờ, đau khổ bên Thánh Giá, vui mừng
lúc Phục Sinh, hân hoan và can đảm trong nhày lãnh nhận Thánh Thần,
chan chứa niềm hy vọng nơi quê hương vĩnh cửu...
Đọc và chiêm ngắm hành trình Mân Côi như thế, ta nhận ra Chúa sống
trong Đức Mẹ, Đức Mẹ trong Chúa, hai cuộc đời chỉ là một. Hiểu như
thế, ta đừng bỏ chuỗi Mân Côi mà Đức Mẹ đã trao ở Phatima và nhiều
nơi khác khi Đức Mẹ viếng thăm thế giới. Bởi nếu Đức Mẹ đã nên một
với Chúa, thì chiêm ngắm mầu nhiệm Mân Côi, ta cùng hy vọng được nên
một với Chúa như Đức Mẹ.
Trong khi suy niệm mầu nhiệm Mân Côi, ta bắt gặp lòng khiêm hạ trong
suốt cuộc đời làm người của Chúa Giêsu, thì hôm nay, sống lại sự
kiện lịch sử Phatima, ta cũng nhận ra Đức Mẹ đã đi trên con đường
của Con mình khi chọn sự khó nghèo để bày tỏ lòng thương xót của
Chúa: Đức Mẹ đã không hiện ra nơi đô thị, giữa nhà chọc trời, trong
các Vương Cung Thánh Đường, cho các nhân vật quan trọng…, lại chọn
nơi hoang vu, núi đồi, xa vắng, chọn những kẻ chất phác, hèn hạ để
trao gởi sứ điệp… Đức Mẹ muốn đến với những người không ai thèm đến,
đến những chỗ không ai muốn đến. Chúng ta cũng học lấy bài học tự hạ
này trong lời kinh Mân Côi, để lòng ta có Chúa. Nhờ sự nghèo khó
của bản thân, ta sẽ đạt được chính Thiên Chúa là sự giàu có, là của
cải, là gia nghiệp suốt đời của ta…
Đọc kinh Mân Côi, ta hãy tìm giá trị một đời sống thiêng liêng, một
linh đạo sâu xa nơi Đức Maria. Đức Mẹ hoạt động, nhưng tất cả mọi cử
chỉ và tư tưởng dù vụn vặt nhất, cũng vì Chúa Giêsu, Đức Mẹ không
thể có một giây phút nào ngoài Chúa Giêsu. Cuộc đời Đức Mẹ là một
vực sâu vô tận của nội tâm chìm trong biển Giêsu. Nơi Đức Mẹ, hoạt
động và chiêm niệm không tách lìa, chiêm niệm giữa hoạt động, hoạt
động do chiêm niệm.
Đức Mẹ hiện ra nhiều nơi trên thế giới: Trà Kiệu, La Vang, La
Salette, Trois-Rivières, Lộ Đức, Fatima và gần đây ở Mễ Du. Ở đâu
Đức Mẹ cũng là Mẹ nhân lành được Chúa ủy đến để nhắc nhở lại cho
đoàn con tình yêu Chúa và lời kêu gọi của Chúa trước những khúc
quanh lịch sử. Đức Mẹ đến với loài người trong tư cách là Đấng
“Hiệp Công Cứu Chuộc”.
Các trẻ em được tường tận thấy Đức Mẹ như Phanxicô, Giacinta và
Lucia đã thay đổi đời sống, trở nên thánh thiện tốt lành. Còn chúng
ta, dù không tường tận nhìn thấy Đức Mẹ như ba trẻ, vẫn được tiếp
cận sứ điệp Mân Côi mà Đức Mẹ trao gởi. Đó là những lời kinh rất đơn
sơ mà ý nghĩa rất sâu xa cả một đường lối tu đức, một chương trình
cứu rỗi, đã thánh hóa bao nhiêu tâm hồn. Nhưng tại sao chúng ta vẫn
chưa được như thế, vẫn bê bối và nguội lạnh?
Có lẽ, chúng ta chỉ sống sứ điệp của Đức Mẹ một cách nông cạn, chủ
quan. Hình như ta chỉ đọc sứ điệp ấy lấy có lấy rồi, không một chút
suy niệm, không một chút tâm tình, không một chút lắng đọng.
Vậy từ nay, ta hãy tập siêng năng lần chuỗi Mân Côi. Mỗi khi lần
chuỗi, ta hãy ý thức sứ điệp Mân Côi cách thấu đáo: Đó là một sự tận
hiến cuộc đời để dấn thân thực hiện chương trình sống đạo thâm sâu,
Đức Mẹ đã vạch ra cho người Công Giáo giữa lòng xã hội, qua từng mầu
nhiệm Mân Côi mà Đức Mẹ đã nêu gương khi sống bên Chúa Giêsu. Nhờ
đó, không những cuộc đời chúng ta sẽ trở nên như một chuỗi Mân Côi
sống, diễn tả lại các tâm tình của Chúa trong cuộc sống hằng ngày,
mà còn mang lại lợi ích thiêng liêng cho chính tâm hồn chúng ta. Có
như thế, sứ điệp Mân Côi của Đức Mẹ mới đạt tới mục đích mà Đức Mẹ
mong muốn: Chiêm ngắm mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu, thánh hóa cuộc
đời mỗi người.
Lm. VŨ XUÂN HẠNH
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Đức Maria - Người Nữ của Lời |
|
Trong Năm Thánh Thể Thế Giới 2004-2005, Giáo Hội thường chiêm ngắm
Đức Maria với danh xưng mới, được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II dùng
trong thông điệp “Giáo Hội từ Thánh Thể” : Đức Maria-Người Nữ của
Thánh Thể (số 53). Xin phép mượn lại kiểu gọi này để suy niệm về Đức
Mẹ trong tháng Hoa của Năm Lời Chúa bằng danh xưng : Đức Maria-Người
Nữ của Lời.
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã chọn năm 2005-2006 này là Năm Lời Chúa
để nhắc nhớ tín hữu “Sống Lời Chúa” sau năm Thánh Thể vì “mối quan
hệ bất khả phân ly giữa Thánh Thể và Lời Chúa” ( (ĐGM. Giuse Nguyễn
Chí Linh, Một Vài Chìa Khoá để hiểu Thư Mục Vụ 2005 HĐGMVN).
Khi Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI chọn câu Thánh Vịnh 119, 105 “Lời
Chúa là đèn soi bước và là ánh sáng dẫn đường cho con” cho giới trẻ
thế giới năm nay, thì việc sống Lời Chúa đã mở rộng tầm quốc tế.
Chiêm ngắm Đức Mẹ như là Người Nữ của Lời không chỉ vì Mẹ đã cưu
mang và hạ sinh Ngôi Lời Nhập Thể, mà còn bởi chính Lời Chúa đã từng
nói về Mẹ, và nhất là Mẹ là người nữ tuyệt hảo suy niệm và sống Lời
Chúa.
Lời Chúa nói về Mẹ :
Kinh Thánh hướng về và nói về Chúa Kitô là chính yếu và rõ nét nhất.
Cựu Ước “chuẩn bị và tiên báo ngày xuất hiện của Chúa Kitô” (Hiến
Chế Mạc Khải, số 15) và: “Trung tâm của Tân Ước là Đức Giêsu Kitô,
Con Thiên Chúa Nhập Thể…” (Giáo Lý Toàn Cầu, số 124), nên “Không
biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô” (thánh Giêrônimô).
Tuy vậy, hình bóng của Đức Maria “Mẹ của Ngôi Lời Nhập Thể” cũng
được gặp thấy ẩn tàng trong kho tàng mạc khải.
Cuốn sách đầu tiên trong bộ Kinh Thánh khi đề cập đến người nữ sau
cuộc sa ngã của Adam-Eve đã tiên báo về Mẹ : “Ta sẽ gây mối thù giữa
mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng
giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó."(St 3, 15). Ta
cũng gặp thấy hình bóng của Mẹ được Khải Huyền, cuốn sách cuối cùng
của bộ Kinh Thánh mô tả “một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân
đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao.” (12, 1)
Đóng khung trong hai đoạn ấy, rãi rác cách tiềm ẩn, nhiều hình ảnh,
nơi chốn, danh xưng liên quan đến sự xuất hiện của Đức Mẹ được Lời
Chúa đề cập :
-“ Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là
Em-ma-nu-en.” (Is 7, 14)
-“ Phần ngươi, hỡi Bê-lem Ép-ra-tha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị
tộc Giu-đa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng
thống lãnh Ít-ra-en. Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở
xa xưa. Vì thế, Đức Chúa sẽ bỏ mặc Ít-ra-en cho đến thời một phụ nữ
sinh con.” (Mk 5, 1)
“Suốt thời Cựu Ước, sứ mạng của Đức Ma-ri-a đã được chuẩn bị trước
nơi vai trò của các phụ nữ thánh thiện. Từ lúc khởi đầu, là bà E-và
: dù bà bất tuân phục, nhưng bà đã nhận được lời hứa rằng một hậu
duệ của bà sẽ chiến thắng ma quỉ (x. St 3,l5) và bà sẽ là mẹ của
chúng sinh (x. St 3,20). Vì lời hứa đó, Sa-ra mang thai một người
con trai, dù đã cao niên (x. St l8,l0-l4; 2l,l-2). Khác với dự đoán
của loài người, Thiên Chúa đã chọn những gì bị coi là bất lực và yếu
đuối (x. l Cr l,27) để chứng tỏ Người luôn trung thành với lời đã
hứa : Han-na, mẹ của Sa-mu-en (x. l Sm l.), Đê-bô-ra, Rút,
Giu-đi-tha và Ét-te và nhiều phụ nữ khác. Đức Ma-ri-a "vượt trên tất
cả những người khiêm hạ và khó nghèo của Chúa, là những người tin
tưởng, hy vọng và được Chúa cứu độ. Với Đức Ma-ri-a, người thiếu nữ
Xi-on tuyệt vời sau thời mong đợi đằng đẵng chờ Thiên Chúa thực hiện
lời hứa, thời gian đã nên trọn và nhiệm cục mới được thiết lập" (LG
55). (GLTC, số 489)
Còn nhiều hình ảnh khác được các giáo phụ và phụng vụ áp dụng vào
Đức Maria như cầu vòng (St 9, 12-17), Hòm bia giao ước (Xh 40, 20),
Bụi gai đang cháy (Xh 3, 2), thang Giacóp (St 28, 12)… (x.Lm. Nguyễn
Văn Trinh, Thánh Mẫu Học, trang 50-51)
Mẹ Sống Lời Chúa :
Gần gũi hơn cả vẫn là những đoạn Tân Ước mô tả Đức Mẹ với mẫu gương
tuyệt hảo của người sống Lời Chúa :
Trong tông huấn Marialis Cultus-về việc tôn kính Đức Maria, được ĐTC
Phaolô VI ban hành ngày 2.2.1974 đã làm rõ vai trò gương mẫu chính
yếu của Đức Mẹ là “thực hiện ý Chúa”. “Trước hết, Hội Thánh luôn
luôn đưa Đức Maria làm mẫu cho tín hữu không nhằm giới thiệu lối
sống hoặc cảnh vực văn hoá, vì cả hai đều lỗi thời, nhưng chỉ nhằm
đến việc Đức Maria hoàn toàn thực hiện ý Chúa trong thực trạng của
đời sống. Đức Maria đã đón nhận Lời và đem ra thực hành. Toàn bộ
hành động của Mẹ thấm nhuần tình yêu và tinh thần phục vụ : tắt một
lời : Đức Maria là người môn đệ đầu tiên và tuyệt hảo nhất của Chúa
Kitô”. Tất cả điều đó có giá trị nêu gương mãi mãi cho thế giới.”
(số 35)
Câu chuyện Truyền Tin được thánh Luca kể lại 1, 26-38 với lời nổi
bậc và mẫu mực “xin vâng” của Mẹ trong khiêm tốn nhận mình là “nữ tì
của Chúa”, để Chúa dùng như khí cụ cho chương trình cứu độ của Người
được “thành sự”, là lời đáp trả của mọi tín hữu theo thánh ý Chúa.
Câu chuyện Thăm Viếng kể việc Mẹ “vội vã” đến thăm và “ở lại độ ba
tháng” giúp bà Isave, là mẫu gương bác ái cho chúng ta. Sau khi Mẹ
gặp Chúa, có Chúa và với lòng yêu mến Chúa, Mẹ thực thi bác ái với
tha nhân. Người tín hữu gặp nơi đây hình ảnh sống động của “người
môn đệ đầu tiên và tuyệt hảo nhất của Chúa Kitô”, để sống lời dạy
trong thông điệp đầu tiên của ĐTC Bênêđictô XVI “Thiên Chúa là Tình
Yêu” rằng : “Theo dòng thời gian và với sự bành trướng của Hội
Thánh, việc thực thi bác ái, công tác bác ái được xác định như một
lĩnh vực căn bản cùng với việc ban phát bí tích và rao giảng Lời
Chúa : việc thực thi bác ái đối với các goá phụ và trẻ mồ côi, với
các tù nhân, với các bệnh nhân và người túng thiếu dưới mọi hình
thức, thuộc về bản chất của Hội Thánh cũng y như việc phục vụ bí
tích và rao giảng Phúc Âm. Hội Thánh không thể chểnh mảng trong thực
thi bác ái cũng như chểnh mảng với bí tích và Lời Chúa.” (số 22)
Theo gương Mẹ, chúng ta biết “đào luyện con tim” mà “thực hành những
gì cần thiết đúng lúc” (số 31) cho việc bác ái.
Khi chiêm ngắm Mẹ với mẫu gương cầu nguyện, chúng ta dùng lại lời
Kinh Ngợi Khen (Magnificat) trong Lc 1, 46-55 để ngợi khen Chúa.
"Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì
Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương
nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng Toàn N | |