Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 47, Chúa nhật 28.5.2006


Các số báo đã phát hành          MỤC LỤC

Đào tạo hàng Giáo dân trưởng thành là một việc hết sức quan trọng                    Vatican 2

Công Đồng Vatican 2: NHỮNG THAY ĐỔI PHỤNG VỤ                                          Hương Vĩnh

Suy Nghĩ Trong Mùa Phục Sinh                                                               + Gm. GB. Bùi Tuần

SÔI ÐỘNG “DA VINCI CODE”                                                               Lm. Vĩnh Sang, DCCT

Ðức Mẹ Maria                                                                Lời Thầm của cố Lm. Vũ Xuân Huyên

NHỮNG BIẾN CHỨNG CỦA CON TRẺ DO VIỆC THAY NGÔI ĐỔI VỊ          Lm. Lê Văn Quảng

TAY TRẮNG                                                                        Nhà Văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

NHỮNG NHÂN ĐỨC CỦA MẸ MARIA                                                 Phó tế JB. Nguyễn Định

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC về Phim  DA VINCI CODE                                Lm. Fx. Ngô Tôn Huấn

Mẹ Maria loan báo Tin Mừng …                                                          Gs. Nguyễn Văn Thành

ÁI MỘ TRỜI CAO                                                                                      Lm. Vũ Xuân Hạnh

Trung thành với trời đất                                                                    Lm. Nguyễn Ngọc Long

LÀM CHỨNG                                                       Phúc Âm Nhật Ký của Lm. Đỗ Vân Lực, OP.

Tác Phẩm Đường Hy Vọng, 1. Ra Đi                                     + Cố HY Fx. Nguyễn Văn Thuận

VỢ:                                                                                               Chuyện phiếm của Gã Siêu


Đào tạo hàng Giáo dân trưởng thành là một việc hết sức quan trọng

 

Giáo Hội chưa được thiết lập thực sự, chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo của Đức Ki-tô giữa loài ngừơi, nếu chưa có hàng giáo dân đích thực và nếu hàng giáo dân này chưa cùng làm việc với hàng giáo phẩm. Thật vậy, Tin Mừng không thể bén rễ sâu trong tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một dân tộc, nêú không có sự hiện diện linh hoạt của giáo dân. Do đó, ngay khi thiết lập một Giáo Hội, phải hêt sức chú tâm đến việc đào tạo một hàng giáo dân Ki-tô giáo trưởng thành.

Thật vậy, các tín hữu giáo dân cùng một trật hoàn toàn thuộc về Dân Chúa và về xã hội trần gian. Họ thuộc về một dân tộc, nơi chôn nhau cắt rốn của họ, về những kho tàng văn hoá của dân tộc, trong đó họ bắt đầu dự phần nhờ việc giáo dục, liên kêt với đời sống dân tộc bằng nhiều môí dây xã hội khác nhau, cộng tác vào tiến bộ của dân tộc qua cố gắng của mình trong nghề nghiệp, cảm thấy những vấn đề của dân tộc như là những vấn đề của chính mình và cố gắng giải quyết. Đàng khác, họ còn thuộc về Đức Ki-tô, vì họ được tái sinh trong Giáo Hội bằng đức tin và bí tích Thánh Tẩy, để nhờ đời sống mới và hoạt động mới, họ thuộc về Đức Ki-tô, để mọi sự quy phục Thiên Chúa trong Đức Ki-tô, và sau cùng để Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài.

(Trích Sắc lệnh về Hoạt động truyền giáo của Giáo hội đến với muôn dân của Công Đồng Va-ti-ca-nô II do ĐTC Phaolo VI ban hành ngày 7.12.1965, số 21)
 

VỀ MỤC LỤC
Công Đồng Vatican 2: NHỮNG THAY ĐỔI PHỤNG VỤ

 

Ngày 29/11/1964 - Chúa nhật đầu tiên Mùa Vọng - bắt đầu một loạt những thay đổi rộng lớn trong việc dâng Thánh Lễ.

Thay vì xoay lưng lại phía dân chúng, linh mục đối diện với giáo dân và không còn việc “xem Lễ” hay “làm Lễ” mà là “dâng Lễ” và “tham dự Thánh Lễ”. Ngoài ra Thánh Lễ không phải hoàn toàn bằng La-ngữ, nhưng một phần trong Thánh Lễ bằng tiếng bản xứ.

Đó chỉ là bước khởi đầu đưa tới việc “tham gia trọn vẹn, có ý thức và tích cực” của giáo dân trong đời sống phụng vụ của Giáo Hội như được ủy thác bởi Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh của Công Đồng Vatican II cũng trong năm đó.

Không còn sự phân biệt giữa “Lễ trọng” và “Lễ thường”. Ngoài ra, các linh mục có thể “đồng tế” trong cùng một Thánh Lễ. Vào năm 1970, còn ban bố “Chỉ Thị mới về Thánh Lễ” mang lại những thay đổi sâu xa hơn nữa.

Về các bài đọc, không phải chỉ có một bài “Thánh Thư” trước bài Phúc Âm, nhưng còn một bài đọc về “Cựu Ước” nữa, cũng như một bài “Thánh Vịnh” đối đáp ở giữa hai bài Cựu Ước và Tân Ước, với một chu kỳ các bài đọc Chúa nhật trong ba năm và một chu kỳ những bài đọc hằng ngày trong tuần trong hai năm. Thêm vào đó, “Lời Nguyện Giáo Dân” được đưa vào, tiếp theo sau Kinh Tin Kính và trước phần Dâng Của Lễ.

Được phép giữ chay một giờ trước khi rưóc lễ. Vào năm 1950 việc giữ chay được rút vắn lại 3 giờ (3 giờ đối với thức ăn đặc, 1 giờ đối với chất lỏng), thay vì từ nửa đêm cho đến khi rước lễ. Bắt đầu từ nay, việc giữ chay được giảm xuống hơn nữa, chỉ còn 1 giờ cho hết mọi thức ăn.

Tại nhiều thánh đường, những người rước lễ không còn quì xuống lan can rước lễ được trải lên một tấm vải trắng, mà chỉ đứng thôi. Các giám mục tại một số quốc gia, được sự chấp thuận của Tòa Thánh Vatican, cho phép người chịu lễ được rước lễ trong lòng bàn tay. Lời Chỉ Dẫn Tổng Quát trong Sách lễ Roma năm 1969 cho phép được rước lễ duới “hai dạng thức”, nghĩa là bánh và rượu.

Ngày nay nhiều người đi rước lễ hơn. Đang có cuộc thảo luận xem kết quả của luật giữ chay được nới lỏng, giáo dân cảm thấy họ có quyền rước lễ hay giảm thiểu cảm thức tội lỗi nhờ đó một số người rước lễ mà trước kia họ không được rước.

Ca đoàn không còn ở trên bao lơn cao phía sau nhà thờ mà ở bên cạnh hay trên cung thánh mà cộng đoàn đều thấy. Âm nhạc cũng thay đổi.

Để theo kịp tiến trình thời đại, ‘Thánh lễ dân tộc” cũng được phổ biến, ban đầu với đàn guitar. Sau đó là Thánh Lễ bằng Phúc Âm của tín hữu da đen, Thánh lễ theo điệu nhảy pônca của tín hữu người Mỹ Công Giáo gốc Ba-Lan và những Thánh Lễ khác của các nhóm dân tộc hát bằng tiếng mẹ đẻ.

Peter Finn, phụ tá giám đốc Ủy Ban Quốc Tế về Phụng Vụ bằng Anh ngữ, đặt căn cứ ở Hoa-Thịnh-Đốn, cho biết: “Nhằm cổ võ sự tham gia đông đảo, nơi dành cho ca đoàn cũng được đặc biệt chú ý…để linh động hóa việc cộng đồng cầu nguyện bằng tiếng hát.”

Rất nhiều bản nhạc mới được sáng tác và xuất bản sau Công Đồng Vatican II dùng trong phụng vụ được sắp đầy các bàn quì, gồm có sách lễ với sách hát nhiều loại.

Cử chỉ chúc bình an được đưa vào trong Thánh lễ sau khi đọc kinh “Lạy Cha” và trước kinh “Lạy Chiên Thiên Chúa”. Peter Finn cho biết: “Đó luôn luôn là một phần của phụng vụ Roma từ trước đến nay. Trước kia chúc bình an thường được trao đổi giữa một giám mục với phó tế và phụ phó tế. Bây giờ được áp dụng cho toàn thể cộng đoàn như là một cách thức làm sống lại một tục lệ cũ lan rộng cho cả cộng đoàn tiếp theo sau Công Đồng Vatican II.”

Sự thay đổi phụng vụ dành cho giáo dân nhiều vai trò. Ngoài việc làm trổi dậy các ca đoàn, giáo dân còn đọc sách (một phần vụ trước kia dành cho chủng sinh) cũng như chuyên viên nghi lễthừa tác viên đặc biệt về Thánh Thể.

Ngay cả những người sắp xếp chỗ ngồi trước kia chỉ có phần vụ đưa những giỏ xin tiền qua từng hàng ghế để nhận tiền dâng cúng, bây giờ được kể như nhân viên tiếp tân, đón tiếp niềm nở những người mới đến cũng như những giáo dân cũ.

Thánh Lễ chiều thứ bảy thay thế cho Chúa nhật cũng là một sự đổi mới khác. Tài liệu Công Đồng Vatican II vào năm 1967 - “Eucharisticum Mysterium” (Chỉ Dẫn về Nghi Thức Sùng Bái Mầu Nhiệm Thánh Thể) – đã công bố: vì “nhu cầu mục vụ”, Thánh Lễ Chúa nhật có thể được cử hành vào chiều thứ bảy. Giáo Hội nghĩ rằng những gia đình có thể làm tròn bổn phận xem lễ Chúa nhật như thế và có Chúa nhật rảnh rỗi dành cho những sinh hoạt gia đình. Cùng với thời gian, những người tham dự Thánh Lễ chiều thứ bảy ở Hoa Kỳ cũng thay đổi và cộng đoàn thường gồm những người lớn tuổi đi lễ vào Chúa nhật.

Nghi thức bán phụng vụ” cũng xuất hiện. Đó là nghi thức cầu nguyện theo khuôn khổ Thánh Lễ, nhưng vì sự vắng mặt của linh mục nên không có phần Dâng Của lễ và Đọc Lời Truyền. Cộng đoàn được rước Mình Thánh Chúa giữ trong nhà tạm.

Những việc đạo đức quen thuộc như lần chuỗi Mân Côi, làm tuần cửu nhật và chầu Bốn Mươi Giờ cũng biến mất hay trở nên ít thông dụng hơn tại nhiều nơi.

Đức Ông James Moroney, giám đốc Văn Phòng Phụng Vụ của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ cho biết: “Ở bất cứ nơi nào trong lịch sử Giáo Hội, khi nhấn mạnh đến sự tham dự đông đảo, đôi khi phải hy sinh sự chiêm niệm.”

Khi bắt đầu Công Đồng, một vài việc thực hành đạo đức có tính cách thông dụng ở vài nơi được Công Đồng Vatican II làm sáng tỏ, dần dần được rút ngắn lại hay chấm dứt luôn.

Một sự thay đổi có ý nghĩa khác là nghi thức xưng tội, nhất là giải tội chung, còn gọi là giải tội tập thể. Về việc giải tội chung, thông thường lôi cuốn hằng trăm người đến các nhà thờ để nghe đọc Thánh Kinh, nghe giảng, xét mình và cầu nguyện, tiếp theo là việc xưng tội riêng và được giải tội.

Có đôi trường hợp được giải tội tập thể. Luật Giáo Hội chỉ cho giải tội tập thể trong những trường hợp rất giới hạn và với điều kiện mỗi người phải xưng tội riêng trong một thời gian hợp lý.

Ở một số nơi trong thập niên 1970, hôn lễ ở ngoài trời không được thông dụng. Theo Đức Ông Moroney, hôn lễ ở ngoài trời chỉ được diễn ra với sự cho phép của Đức Giám Mục giáo phận, và những bài đọc Thánh Kinh là điều bắt buộc

Bốn mươi năm sau khi Công Đồng Vatican II bế mạc, một số cuộc tranh luận sôi nổi trong giới Công giáo, từ giáo dân cho đến các vị Hồng Y, vẫn còn xoay chung quanh các vấn đề liến quan tới phụng vụ.

Vatican II đã công bố Thánh Thể là “nguồn gốc và tuyệt đỉnh của đời sống Công giáo”, như vậy “việc tranh luận hoàn toàn đúng và diễn ra từ gốc tới ngọn.” Đức ông Moroney còn nói thêm: Thánh Thể là “nguồn gốc và tuyệt đỉnh mọi sự và Thánh Thể sẽ là một nơi mà chúng ta ôm ấp cũng như xem thường và mọi sự đều được tỏ bày một cách trong sáng như pha lê.”

(Phỏng theo Mark Pattison – Washinton – CNS)

Hương Vĩnh

VỀ MỤC LỤC
Suy Nghĩ Trong Mùa Phục Sinh

 

Hãy kể lại những Tin Mừng phục sinh từ thời sự cuộc đời.

Bài Phúc Âm thánh lễ phục sinh có thể gọi là một trang thời sự. Trang thời sự này không nói gì về lý thuyết đạo, mà chỉ kể lại việc đã xảy ra.

Việc đã xảy ra: Hai bà Madalena và Maria đến thăm mồ Chúa Giêsu, thấy cửa mồ đã mở tung, chỉ còn mồ trống, xác Chúa không còn ở đó. Đang khi ngỡ ngàng bối rối, các bà đã thấy hai thiên thần hiện ra, báo tin Chúa Giêsu đã sống lại. Trên đường về, hai bà đã gặp chính Chúa Giêsu hiện ra, nói chuyện với các bà. Các bà vội chạy đi tìm các tông đồ, và kể lại mọi sự đã xảy ra.

Các bà đã kể lại những gì đã thấy, đã nghe, đã gặp, đã cảm nghiệm. Tâm hồn và niềm tin các bà như sống lại. Khi nghe các bà kể lại, cih1những các tông đồ cũng cảm thấy tâm hồn mình và niềm tin của mình như sống lại.

Sự kiện trên đây cho chúng ta thấy người chứng quan trọng thế nào trong đời sống đức tin, và sự kể lại của những người chứng ảnh hưởng thế nào đến tâm trạng người nghe.

Nếu hôm nay mỗi người chúng ta có thể kể lại những sự lạ lùng Chúa đã làm, mà chính mình ta đã thấy, đã gặp, đã lãnh nhận, thì sự kể lại như thế sẽ có khả năng đưa ta và người khác đến với Chúa hơn là sự thuộc lòng một bài giáo lý.

Nhìn lại thời sự đời mình, chúng ta thấy có biết bao biến cố khiến ta như rơi vào cõi chết, nhưng rồi Chúa đã giúp ta vượt qua, thoát khỏi, như những Chúa Giêsu lại lạ lùng.

Có những lúc kể như sống lại, bởi vì đã có những lúc kể như đã chết. Công tâm và sống lại là những biến cố viết nên lịch sử phần rỗi của bản thân ta, của gia đình ta, của Hội Thánh ta, của Quê Hương ta.

Biết đọc lại những trang lịch sử đó, biết kể lại những biến cố chết đi và sống lại trong lịch sử đó, chính là một cách sống Tin Mừng phục sinh, và đó cũng là một cách loan báo Tin Mừng phục sinh. Bởi vì khi biết đọc thời sự đời ta trong ánh sáng thời sự đời Chúa, chúng ta sẽ thấy chuyện chết đi và sống lại của Chúa Giêsu chính là con đường đầy hy vọng. Và những lúc đó, chúng ta sẽ gặp gỡ Chúa Giêsu như người đồng hành và như Đấng cứu độ. Chúng ta sẽ cảm nghiệm thấy sức mạnh phục sinh của Đức Kitô hoạt động một cách rất lạ lùng trong nhân loại, trong Quê Hương, trong Hội Thánh, trong chính bản thân ta.

Những lúc đó, chúng ta sẽ là những chứng nhân đích thực của Chúa phục sinh, sẽ biết kể lại những việc lạ lùng của Chúa phục sinh mà mình đã thấy, sẽ biết ca ngợi tạ ơn Chúa về những đổi mới kỳ diệu mà Chúa phục sinh đã và đang thực hiện trong các tâm hồn.

Với cái nhìn như trên, tôi xin thân ái cầu chúc anh chị em được trở thành những chứng nhân trung thực và nhiệt thành của Chúa phục sinh. Xin Chúa phục sinh ban cho Hội Thánh ta, Quê Hương ta và đồng bào ta những kho tàng phục sinh của Người.

Cái đúng và cái đẹp trong truyền giáo

Trong lịch sử Hội Thánh có hai hình ảnh linh mục được đề cao.

Hình ảnh thứ nhất phát xuất từ thần học Công đồng Trentô và từ nền ức suy tôn chức thánh của thế kỷ XVII, đó là hình ảnh linh mục, người tế lễ. Hình ảnh này dựa trên lời Đức Kitô đã phán dạy các tông đồ xưa: “Các con hãy làm việc này để nhớ đến Thầy” (Lc 22,19).

Hình ảnh thứ hai phát xuất từ thần học Công đồng Vatican II và từ nền tu đức dấn thân hiện nay, đó là hình ảnh linh mục, người truyền giáo. Hình ảnh này dựa trên lời Đức Kitô đã truyền dạy các tông đồ xưa: “Các con hãy đi giảng cho mọi dân... Hãy dạy cho họ những điều Thầy đã dạy cho các con” (Mt 28,19).

Trong một Giáo Hội coi truyền giáo là bản tính và là ưu tiên số một của mình, thì hình ảnh thứ hai về linh mục đang trở thành một hình ảnh thân thương, trong đó truyền giáo được coi là đặc điểm đáng quan tâm nhất nơi thiên chức linh mục. Cũng từ đó người ta có quyền đánh giá từng linh mục theo nhiệt tình truyền giáo, khả năng truyền giáo, hoạt động truyền giáo, lãnh đạo truyền giáo và kết quả truyền giáo.

Một cái nhìn truyền giáo như thế về Hội Thánh nói chung và về linh mục nói riêng sẽ lan sang các lãnh vực khác của tôn giáo, như tu sĩ, giáo dân, phượng tự, giáo lý, thánh đường, sách báo đạo. Tất cả sẽ phải có tính cách truyền giáo. Và vì thế tất cả sẽ phải có khả năng giới thiệu với mọi người cái đúng chân lý Phúc Âm, cái đúng tình yêu Thiên Chúa, cái đúng dung mạo Đức Kitô.

Để những cái đúng ấy dễ được truyền đạt, dễ được tiếp thu, dễ được chấp nhận, chúng cần đi đôi với cái đẹp. Cái đẹp của nghệ thuật, cái đẹp của trí thức, cái đẹp của phong cách, cái đẹp của văn hoá, cái đẹp của bản sắc dân tộc, cái đẹp của đạo đức.

Kinh nghiệm cho thấy có những cái đúng khó hiểu, tưởng sẽ khó w5 chấp nhận, nhưng đã rất được hâm một, bởi chúng đã được giới thiệu qua những vẻ đẹp có sức thu hút. Trái lại có những cái đúng dễ hiểu, tưởng sẽ dễ được chấp nhận và thực hiện, nhưng đã bị coi thường và chối bỏ, bởi vì chúng đã được trình bày qua hình thức thiếu những vẻ đẹp cần thiết.

Đối với người thời nay, cái đẹp là một yếu tố quan trọng của cuộc sống và trong các tương quan, hình ảnh đẹp thường có sức thu hút hơn tư tưởng đúng. Chúng ta hãy xem nhà thờ và thánh lễ hôm nay. Biết bao vẻ đẹp đang nâng tâm hồn chúng ta lên. Từ vẻ đẹp về môi trường, về kiến trúc, về nghi thức, về thánh ca, cho đến vẻ đẹp về tinh thần huynh đệ, thái độ trật tự, phong cách cầu nguyện.

Nếu việc thờ tự không được thực hiện với những vẻ đẹp, và n?u những chân lý Phúc Âm không được giới thiệu với những vẻ đẹp, thì sức thu hút sẽ rất yếu, sức làm chúng sẽ bị suy giảm, sự gặp gỡ với Chúa và với con người sẽ ít được trân trọng.

Thực tế truyền giáo có nhiều vẻ đẹp. Những vẻ đẹp đáng kể nhất ở đây phải là sự hài hoà giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và sáng tạo, giữa nói và làm, giữa các giá trị đạo và các giá trị đời, giữa lý trí mang chân lý Phúc Âm và trái tim giàu bác ái khiêm nhường. Tất cả những vẻ đẹp này đang hỗ trợ cho việc truyền giáo. Chúng là những phương tiện thích hợp để chuyên chở Tin Mừng vào tâm hồn người thời nay.

Thời nay, nhiều khi nhiều nơi việc truyền giáo đã bị cản trở, hoặc đã không sinh kết quả. Có nhiều căn do khác nhau, trong đó có sự thiếu vẻ đẹp. Biết bao trường hợp, nguyên do chính của thất bại không phải vì không nói lên đủ cái đúng, như nói đủ cái đúng mà thiếu vẻ đẹp. Chẳng hạn khi cái đúng tôn giáo lại được tuyên xưng, loan truyền với thái độ tự phụ, hẹp hòi, độc tôn, độc đoán, phô trương quyền lực, chia rẽ cộng đoàn. Tức là thiếu vẻ đẹp đạo đức!

Cái đúng tôn giáo đi đôi với cái đẹp, nhất là cái đẹp đạo đức sẽ tạo nên được những hình ảnh hấp dẫn, những bầu khi lôi cuốn, những môi trường thu hút, để dẫn con người vào Nước Trời, đồng thời cũng để giúp con người sống tốt chính đời sống công dân của mình trong một Quê Hương rất cần những cái đúng và cái đẹp.

Với những nhận thức trên đây, chúng ta cảm tạ Chúa vì những cái đúng và những cái đẹp trong giáo xứ chúng ta, trong Hội Thánh chúng ta, trong Quê Hương chúng ta. Chúng ta cầu nguyện cho đường hướng truyền giáo của chúng ta được luôn đúng mà đẹp.

+ Gm. GB. Bùi Tuần

VỀ MỤC LỤC
SÔI ÐỘNG “DA VINCI CODE”

Quý độc giả Ephata và Chứng Nhân Đức Kitô thân mến,

Chúa Nhật thứ sáu mùa Phục Sinh sôi nổi với “cơn hồng thuỷ” Da Vinci Code. Từ nước ngoài, nhiều thư đã gởi về với những lời kêu gọi phòng và chống Da Vinci Code. Trong nước, người ta đã bày bán bản dịch “Mật mã De Vinci”. Thông tin trong các bạn trẻ, xôn xao trong nhiều giới về cuốn sách và bộ phim có thuyết minh tiếng Việt, nghe nói đâu sẽ trình chiếu nay mai, các cụ già cũng ngạc nhiên hỏi: “Nghe nói cái gì.. Cốt Cốt ?”

Tôi không có dịp đọc bản dịch tiếng Việt và ngay cả bản Anh ngữ khi có dịp một người nhờ tôi cầm bản này ra Hà Nội. Nghe đâu bản dịch không ra gì, sai rất nhiều lỗi ngớ ngẩn, và là bản dịch “tệ nhất từ trước tới nay”. Tôi không buồn xem vì nhận thấy diễn tiến vụ việc chỉ là trò kiếm tiền với chiêu thuật rất cũ. Không cẩn thận mình lại bị lừa và “nướng tiền” cho họ. Có lạ gì đâu những kiểu khai thác như vậy, cứ xem các vụ tai tiếng của các nghệ sĩ và cái gì đàng sau các vụ tai tiếng đó hẳn sẽ biết. Cứ xem các phim trinh thám hình sự và các phim tình cảm khai thác những hình ảnh quanh quẩn trên chiếc giường thì hẳn hiểu. Chân dài hay chân ngắn moi được tiền thiên hạ rồi sẽ chóng quên đi.

Những vị có trách nhiệm trong Hội Thánh đã lên tiếng và đề nghị chúng ta không quan tâm, không tò mò, không xem, không đọc, không tuyên truyền cho “cơn hồng thuỷ” đó.

Bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ sáu mùa Phục Sinh lại đề nghị chúng ta một con đường tích cực hơn, đó là sống yêu thương. Cách sống yêu thương mà Chúa Giê-su đề nghị với chúng ta như thế nào thì chúng ta biết rồi, vì thế Hội Thánh chọn thái độ khoan dung và... yêu thương đối với tác giả của “Da Vinci Code” và cả với những người đang tuyên truyền quảng bá cho nó.

Đây là điểm mạnh nhưng đồng thời cũng lại là “điểm yếu”, thậm chí, là... “yếu điểm” của Giáo Lý Chúa Ki-tô. Khai thác, bổ báng Chúa Giê-su và Hội Thánh Công Giáo là chắc ăn nhất, vừa thu được nhiều tiền lại vừa an toàn. Thử đụng đến một số tôn giáo khác coi !

Gio-an Phao-lô II đã gục xuống, máu đã đổ, cả thế giới bàng hoàng, vết đạn đã làm suy sụp sức khoẻ của ngài, nhưng ngay lúc đó và cuối cùng của vụ án là gì ? Tha thứ ! Chỉ có tha thứ mà thôi.

Nhưng tôi muốn nhìn biến cố “cơn hồng thuỷ” này như một tiếng chuông cảnh tỉnh mọi người chúng ta. Xin phép được đặt câu hỏi với mọi người và từng người Công Giáo chúng mình:

-    Trong tủ sách của cá nhân cũng như gia đình, số sách “nhà Đạo” chiếm tỷ lệ bao nhiêu ?

-    Trong một ngày đọc đủ thứ sách báo, số giờ và liều lượng dành cho việc đọc các sách báo “nhà Đạo” chiếm tỷ lệ bao nhiêu ?

-    Số lượng đầu sách “nhà Đạo” được biên tập, xuất bản và phát hành hiện nay ở mức độ nào ? Đã có một động tác nào để khuyến khích, hướng dẫn và tổ chức cho sáng tác văn học nhà Đạo chưa ?

-    Mỗi Giáo Xứ đã có một phòng đọc sách, một tờ báo tường, hoặc một bảng thông tin theo kiểu “Hãy đến mà xem” cho bổn đạo chưa ?...

Hãy bớt một loại vật liệu đắt tiền trong việc đua tranh trang trí nội thất Nhà Thờ để có một tủ sách cho các em thiếu nhi. Hãy chặt ngắn đi cái tháp chuông cao một cách kỳ dị, làm hỏng cả tỷ lệ chung, để lấy kinh phí mở một phòng đọc sách cho giới trẻ. Hãy bớt một vài bàn tiệc sau các dịp Lễ Tạ Ơn rình rang của tân Linh Mục để giúp phát hành một cuốn sách đứng đắn của nhà Đạo. Hãy chọn loại áo lễ vừa phải thay vì cái áo lễ vài triệu để góp vào một giải thưởng Văn Học Công Giáo.

Ngắt bớt đi một tỷ trong gần 20 tỷ để xây một Nhà Thờ thì sẽ có bao nhiêu tủ sách nhà Đạo cho các Giáo Xứ vùng sâu vùng xa ?

Không thể có Đức Tin kiên vững nếu không có một hiểu biết kiên vững. Xin để mỗi người chúng ta cũng suy nghĩ...

Lm. VĨNH SANG, DCCT, những ngày cuối tháng 5 năm 2006

VỀ MỤC LỤC
Ðức Mẹ Maria

 

1. Lời thưa “ fiat” là chìa khóa để hát kinh “ Magnificat”. Vì sẵn sàng “xin vâng” nên suốt đời Mẹ Maria, mỗi ngày đều là một kinh “ca ngợi”. “Fiat” với đau khổ, thì đau khổ sẽ vang lên muôn cung diệu huyền của một bài “mangificat”. Mỗi lần thưa” fiat” là mỗi lần bài ca “ magnificat” lại được xướng lên cách trang trọng cho riêng mình, nhưng chắc chắn nhiều người cũng sẽ nghe “lỏm” được.

2. Nhờ Mẹ Maria mà Thiên Chúa gần gũi với loài người, nên cũng nhờ Mẹ mà loài người gần gũi được với Thiên Chúa.

3. Mẹ Maria chỉ là vị dẫn đường. Mẹ dẫn tới cùng đích mà Mẹ không phải là cùng đích. Một thụ tạo không thể là cùng đích của một thụ tạo khác. Chúa mới là cùng đích. Ai tới Mẹ thì Mẹ dẫn tới Chúa. Sợ tôn kính Mẹ nhiều lãng quên Chúa là “ lo bò trắng răng”, vì ai yêu kẻ dẫn đường thì đã yêu cùng đích trước. Rất vắn tắt và giản dị.

4. Kinh Môi khôi là tiếng “Mẹ! Mẹ ơi!” liên hồi của một đứa con thơ, khi muốn tìm Mẹ. Có người Mẹ nào nghe con mình gọi dồn dập như thế mà lại không muốn đáp lời?

5. Thiên Chúa tự mạc khải như một người Cha. Ngài chọn Mẹ Maria như hình ảnh của một người Mẹ hiền, để tình cảm của con người đối với Thượng Ðế được hài hòa hơn.

6. Nếu kính mến Ðức Mẹ  thì không thể sống lo âu, phiền muộn như một đứa con mồ côi

7. Ðức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa không trong ý nghĩa một thụ tạo đã sinh ra một Tạo Hóa, nhưng là trong ý nghĩa một Thiên Chúa đã xuống làm người nhờ có Mẹ cộng tác.  

Cố Lm. Vũ xuân Huyên

VỀ MỤC LỤC

NHNG BIN CHNG CA CON TR DO VIC THAY NGÔI ĐỔI VỊ

 

 

Con người một khi đã lên ngôi rồi, ít có ai muốn xuống. Lý do là vì khi xuống ngôi người ta phải hy sinh tất cả những đặc quyền, đặc lợi mà người ta đã một thời được hưởng. Nhưng nếu họ bị cưỡng ép, bị tước đoạt, cái gì sẽ xảy ra? Nếu không được chuẩn bị tinh thần, chắc chắn nhiều biến chứng sẽ xảy ra cho họ. Đó là lý do tại sao con trẻ chúng ta sinh chứng khi ngai vàng của chúng bị cưỡng chiếm. 

 

Vị Thứ Trong Gia Đình

 

Danh từ vị thứ chỉ đến sự liên quan và vị trí của những đứa con trong gia đình. Trong tương quan ảnh hưởng và đáp trả giữa những phần tử trong gia đình phát sinh những cá tính khác biệt. Vị trí mỗi cá nhân, vai trò và bổn phận phải làm có một ảnh hưởng rất lớn trên cá tính của mỗi người cũng như trên mẫu mực của toàn thể gia đình. Một gia đình bắt đầu với người mẹ, cha, và một trẻ sơ sinh. Vai trò của người mẹ thì khác với vai trò của người vợ. Vai trò của người cha thì khác với vai trò của người chồng. Sự hiện diện của đứa bé cho thấy chiều kích mới trong tương quan giữa vợ và chồng. Nếu nó là đứa con đầu lòng mọi người ?ều chú ý đến nó. Mẹ và cha nó đều để ý đến nó như là bố mẹ của đứa con duy nhất. Nếu có sự xung khắc, cĩ thể là một trong bố mẹ sẽ ở về phía đứa trẻ. Sự đồng minh như thế thường được mang lại bỡi mối tình đặc biệt bố mẹ dành cho nó. Khi đứa thứ hai ra đời, vị thế của nó bị thay đổi. Ngai vàng của nó đã bị cưỡng chiếm. Có một cái gì mới đi vào trong tất cả những tương quan như một kết quả của sự thay đổi vị trí trong gia đình. Đứa trẻ mới sinh, dĩ nhiên được ưu tiên hơn, nên đứa lớn cảm thấy cần phải tái tạo cho nó một chỗ đứng mới, một vị thế có giá trị hơn trong hai đứa. Đứa bé sinh sau sẽ khám phá ra vị thế của nó như là một đứa nhỏ nhất trong gia đình. Điều đó có nghĩa là còn có một người anh hoặc một chị khác lớn hơn nó và có nhiều kinh nghiệm hơn nó.

    

Khi người con thứ ba ra đời, một lần nữa có sự thay đổi vị thế cũng như tương quan giữa các phần tử trong gia đình. Bố và mẹ là cha mẹ của ba đứa trẻ. Đứa lớn nhất xuống ngôi trước và rồi đến đứa thứ hai. Cứ mỗi lần một đứa mới sinh ra, vị trí trong gia đình mang lấy sự xếp đặt mới với một tương quan mới và một ý nghĩa mới. Đây là lý do tại sao chúng ta thấy tính tình con trẻ trong một gia đình không giống nhau dẫu chung môi trường và cảnh sống giống nhau. Chúng ta thường thấy có những nét tương đồng giữa những đứa trẻ lớn nhất của những gia đình khác nhau hơn là giữa đứa thứ nhất và đứa thứ hai trong cùng một gia đình. Như một nhóm sao xuất hiện, mỗi đứa đều cố tìm vị thế của mình trong cách thế riêng tư của nó. Như đám cỏ được xem từ làng xa, vị thế của đứa đến sau được xem là tốt hơn, được bố mẹ ưu đãi hơn. Đứa trẻ sau được coi là sự đe dọa của đứa trước. Ở đây cũng vậy, cũng như sự thích nghi vào những khuyết tật bẩm sinh, đứa trẻ thứ nhất hoặc sẽ đầu hàng hoặc cần phải bổ túc vào những khiếm khuyết trong một số lãnh vực nào đó. Điều đó cũng xảy ra như vậy cho đứa thứ hai trong tương quan với đứa thứ nhất. Nó thường ganh ghét sự đi trước của đứa thứ nhất nên sẽ tìm cách để vượt mặt hoặc sẽ đầu hàng bỏ cuộc. Thường thì đứa thứ nhất và đứa thứ nhì căng thẳng với nhau nên mỗi đứa hành động trong chiều hướng nghịch nhau. Chúng càng căng thẳng hơn nếu bố mẹ đặt đứa nầy chống lại đứa khác với tư tưởng sai lầm nầy là để khiến chúng nó cố gắng hơn. Nhưng chúng sẽ làm ngược lại. Nếu thấy mình thua kém, nó sẽ nhường trận chiến cho người kia và trong sự mất can đảm nó sẽ đi tìm một chiến thuật ngược lại.

    

Tuấn Nguyễn và Tuyền Phạm lấy nhau. Cả hai đều xuất thân từ Đại Học hoạt động, lanh lợi, và có nhiều tài năng. Khi cô bé Ái Vy được sinh ra, họ hoàn toàn phấn khởi và dĩ nhiên mong đợi nhiều điều nơi cô bé. Mỗi giai đoạn lớn lên của đứa bé là một niềm hy vọng của bố mẹ. Mới mười tháng rưỡi Ái Vy bước được bước đầu tiên nên bố mẹ nó hãnh diện lắm. Hơn một tuổi thì được mẹ huấn luyện đi vệ sinh. Mọi người đều cảm thấy vui sướng với đứa bé khôn lanh nầy. Ái Vy cảm thấy bố mẹ vui thích nên cố gắng để tiến lên. Khi nó được một tuổi rưỡi, Tiến em nó được sinh ra. Ngay từ đầu, bé Tiến xem ra gầy còm xanh xao hơn Ái Vy. Nó không cân nặng như tuổi nó đòi hỏi và mọc răng cũng chậm nữa. Bố mẹ nó lo lắng cho nó. Ái Vy nhận thấy đươc tình thế. Khi Tiến lớn lên, cô bé cảm thấy mình cần phải làm một cái gì hơn nữa. Dẫu sao, Tiến em nó cũng còn là một cái gì đe doạ cho nó. Vậy thì làm cách nào Ái Vy có thể giữ được vị thế của mình đối với bố mẹ nó? Dĩ nhiên, nó không thể lý luận và nghĩ ra điều gì. Nó chỉ biết cảm nhận và đáp trả theo phản ứng tự nhiên của nó. Nó nhận thấy được sự thất vọng của ba nó đối với đứa em gầy còm yếu ớt của nó nên cô bé chú trọng đến việc tăng những hoạt động đầy sinh lực hơn. Và cứ mỗi lần em nó làm được những tiến bộ mới, nó cảm thấy cần phải canh phòng hơn. Bấy giờ, nó cũng cố gắng làm cho được một cái gì mới mẻ hơn để đi đầu, để giữ vị thế nhất. Với thời gian trôi qua, cô bé ngày càng trở nên cố gắng hơn để thỏa đáp đuợc những tiêu chu?n của bố mẹ và để dẫn đầu trước em nó. Dần dần, cô bé đã phát triển niềm tin sai lầm nầy là: cô phải là đầu và là tốt nhất. Cô bé cũng khám phá ra những cách cản trở và làm nhụt chí em Tiến của nó và cô đã làm như thế một cách vô ý thức.

    

Trong khi đó, cậu bé Tiến cũng lớn dần và bắt đầu ý thức được về thế giới bên ngoài cũng như bên trong đang tăng trưởng. Nó cảm thấy được rằng một cách nào đó nó không thể theo kịp điều mà bố mẹ nó mong muốn. Nó cũng cảm thấy ganh ghét sự khôn ngoan và khả năng của chị nó. Nó ráng cố gắng làm nhiều điều nhưng không thể thành công. Nó trở nên chán nản và ít nhiều muốn đầu hàng. Nó dần dần phát triển niềm tin lầm lẫn nầy là nó đã không có nhiều cơ may. Khi bố mẹ nó nói: “Chị Ái Vy có thể làm được điều đó ở vào lứa tuổi của con. Tại sao con lại không?” Nó cảm thấy thất vọng và muốn ganh tỵ với chị nó. Thay vì cảm thấy thách thức để cố gắng hơn lên, nó chấp nhận những lời phê bình đó như một bằng chứng của niềm tin rằng nó đã không có những cơ may.

    

Đến đây, chúng ta có thể thấy rằng đối với Ái Vy, bé Tiến em nó không còn là một đe dọa đáng sợ nữa. Cô bé đã giải quyết vấn đề bằng cách gia tăng gấp đôi sự số gắng để hoàn thành những ước muốn của bố mẹ. Trong khi đó, bé Tiến thì không như vậy. Có cùng bố mẹ với cùng những tiêu chuẩn phải hoàn thành như nhau, nhưng với sức khoẻ yếu kém vì bệnh tật, bé Tiến đánh giá tình huống một cách khác hẳn. Nó xem ra không thể vượt được những trở ngại và cũng không thể cạnh tranh được với chị nó, nên nó đâm ra thất vọng và tin rằng nó hoàn toàn không được may mắn. Vậy làm cách nào nó tìm được một chỗ đứng đối với bố mẹ? Nhìn thấy bố mẹ tỏ ra quan tâm nhiều đối với sự thiếu khả năng của nó nhất là mẹ nó luôn bận rộn với nó, nó đáp lại sự thương tình của bố mẹ bằng cách khóc nhiều. Và bố mẹ đã cảm thấy tội nghiệp nên chú ý tới nó, săn sóc nó, và vì thế làm nó dừng lại ở đó.

    

Khi Ái Vy được 3 tuổi 3 tháng thì Ái Vân được sinh ra. Ai Vy ý thức về sự kiện nầy là: nó có một cô gái khác cần phải tranh đua. Sự hiểu biết của Ái Vy về cuộc sống đã tăng dần và với kiến thức đó Ái Vy đã thấy được đứa bé mới sinh l vô dụng. Ái Vy cố gắng giúp mẹ trong việc chăm sóc đứa trẻ sơ sinh đó. Nhưng khi Ái Vân lớn lên và phát triển tài năng, Ái Vy trở nên lo lắng. Bây giờ có cái gì đã thay đổi, có cái gì cần phải cảnh giác hơn. Ái Vy có hai đứa em ở đàng trước. Bất cứ sự phát triển nào của một trong hai đứa đó đều trở nên một sự đe doạ cho nó. Cô bé bắt đầu ganh tỵ đối với những đứa nầy khi chúng nó chiếm được sự khen thưởng. Tuy nhiên, việc diễn tả sự ganh tỵ đó chỉ mang lại cho nó sự khiển trách mà thôi. Vì thế, để thuyết phục được chướng ngại nầy, cô bé đã bắt đầu đóng kịch làm ngơ đi cho xong.

    

Riêng bé Tiến khi thấy Ái Vân lớn lên như một cô gái thông minh khác thường, nó càng cảm thấy thêm thất vọng về vị trí của nó. Sự trổi vượt của nó như một đứa trẻ nam đã không giúp ích được nhiều cho nó vì nó đã không có nhiều đặc nét của một đứa con trai. Bé Tiến bây gi? không còn là đứa út nữa nhưng ? trở thành đứa giữa. Nó không là một đứa gái thông minh như em nó mà cũng không là một đúa trai có nhiều nam tính. Nó hay khóc. Mọi người đều quở mắng nó giống như con gái. Nó càng thu mình vào hơn nữa và chỉ còn cố gắng một nửa để ứng phó với cuộc đời. Nó chơi nhiềi với Ái Vy hơn là với Ái Vân, sẵn sàng chấp nhận vai trò làm em để Ái Vy làm chủ nó.

    

Ái Vân rất là khôn lanh và hấp dẫn nữa . Vì thế, cô bé là trọng tâm của sự chú ý của mọi người trong suốt thời của nó. Ái Vân có 4 người phục vụ. Khi biết nhận thức về môi trường bên ngoài, nó thấy được những tiêu chu?n mà bố mẹ nó đòi hỏi phải hoàn thành. Nó cũng cảm thấy rằng Ái Vy có đầu óc khá thông minh còn Tiến thì klhông. Nhưng trên hết, nó cảm thấy cả Ái Vy và Tiến đều bị quở mắng. Khi Ái Vân được hai tuổi, cô khám phá ra rằng cô có thể là một người tốt, một người hạnh phúc trong gia đình và nhờ thế cô đã tìm ra được chỗ đứng của cô ta.

   

Khi Ái Vy lên 6, cô bắt đầu đi học và cảm thấy mình trở thành quan trọng thì Nhi được sinh ra. Ái Nhi cũng sẽ là một đe dọa cho Ái Vy nhưng không đến nỗi quá lớn vì lúc nầy Ái Vy có thể xếp đặt mọi sự chu đáo. Điều quan trọng đối với Ái Vy là làm mọi cách để giữ cô b i Nhi vẫn luôn là một đứa bé sơ sinh. Một hôm mẹ bảo Ái Vy giúp em bé, Ái Vy cảm thấy sung sướng làm điều đó như ý mình muốn. Ngày tháng trôi qua, Ái Vy lớn dần, mẹ bảo Ái Vy dạy cho em cách cột giây giày, nhưng Ái Vy chỉ tìm cách cản trở. Trong lúc dạy cho em nó, Ái Vy chỉ tìm cách cho Ái Nhi thấy nó đần độn là chừng nào.

    

Bé Tiến thì khác. Cậu bé không để ý đến Ái Nhi mấy. Mẹ nó thường bảo: “Cu Tiến dường như nửa tỉnh nửa mê.” Còn Ái Vân chỉ thích chơi một mình, có nhiều phát minh và ít khi bị khiển trách. Ái Vân không trổi vượt ai, cũng không quấy rầy ai trong khi Ái Nhi vẫn còn là đứa bé sơ sinh nên được mọi người trong nhà chú ý và cưng chìu.

    

Lúc Ái Nhi lên 3 thì bố mẹ đều có thể nhận thấy được cá tính của từng đứa. Ái Vy 9 tuổi rưỡi, một đứa bé thông minh, làm việc có hiệu năng, có tương lai rực sáng với một niềm tin: cuộc đời chỉ có ý nghĩa nếu mình là nhất, là tuyệt vời. Cu Tiến 8 tuổi rưỡi, yếu ớt, vô hiệu năng, mất niềm tin, và hay khóc vì nó tin rằng nó chỉ có thể sống được nếu mọi người còn thương hại nó và cưng chìu nó. Ái Vân 6 tuổi, ở giữa, lạc quan, hạnh phúc, bằng lòng với những gì mình có, không quan tâm nhiều với những đòi hỏi cao siêu. Ái Nhi 3 tuổi, nhỏ và còn khờ khạo nhưng cũng kháu khỉnh dễ thương. Mỗi đứa có một chỗ đứng riêng biệt, có một vai trò riêng biệt, và một cảm giác rõ ràng về cách thức nó biểu lộ cuộc sống.

    

Thật ra, không phải tất cả các gia đình có 4 đứa trẻ đều phát triển giống hệt như vậy. Ở đây tôi chỉ muốn đưa ra một trường hợp cụ thể của một gia đình đã sống. Rất có thể trong những gia đình khác, đứa con đầu xem ra th?t vọng và đứa con thứ hai sẽ thành công, trổi vượt hơn. Chẳng hạn, đứa con đầu có thể là một đứa gái rất bình thường trong khi đứa thứ hai cũng là đứa gái nhưng rất dễ thương và thành công trong việc thu hút, hấp dẫn hơn chị nhiều. Cái gì đã làm chúng nó có sự khác biệt? Cái gì đã làm chúng nó phát triển và có một vị thế đặc biệt trong gia đình, đó chính là cách cắt nghĩa mà mỗi đứa gán cho hoàn cảnh riêng biệt của nó cũng như những quyết định mà nó đã làm để đáp ứng với hoàn cảnh đó. Nếu Ái Vy cảm thấy rằng những đòi hỏi của bố mẹ thì quá đáng, hoặc nếu cảm thấy em nó là một đe dọa lớn lao cho nó, nó có thể bỏ cuộc hoặc giới hạn những lãnh vực phải làm. Nếu cu Tiến cảm thấy rằng con đường học vấn là cần cho nó và nó phải trở nên xuất sắc trong trường như một sự bù đắp cho sức khoẻ yếu kém của nó thì quả thật nó đã có lối sống khác. Hoặc nếu Ái Vân đã quyết định trở nên một đứa trẻ có ý chí sắt đá hơn thì rất có thể đã ảnh hưởng đến Ái Nhi rất nhiều trong việc trở thành một đứa trẻ ngoan trong gia đình. Mỗi đứa trong vị thế của nó đã hành động theo cách thức mà nó quan niệm và nhìn thấy về vai trò của nó trong gia đình. Cùng lúc đó, cách cư xử của nó cũng ảnh hưởng đến cách cư xử của những đứa trẻ khác.

    

Chính vì thế, quyết định của mỗi đứa về cách sống mà nó chọn lựa tất nhiên bị ảnh hưởng bỡi quan iệm của nó về cuộc đời, cũng như bỡi lối sống của những đứa trẻ chung quanh nó. Nếu quan niệm của nó sai lệch, người ta có thể dễ dàng nhìn thấy hướng đi lệch lạc của nĩ. Thường thì cha mẹ dễ dàng nhận ra những hướng đi cũng như những cách sống sai lệch đó, nên họ sẽ hướng dẫn con trẻ có những cái nhìn cũng như những tư tưởng chính xác hơn.

 

    

Một vài mẫu chuyện sau  đây sẽ dần dần giúp chúng ta hiểu được tâm lý của con em chúng ta và hy vọng sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong việc giáo dục chúng.

    

Suốt mùa hè, mẹ giao cho Hưng 10 tuổi và Hùng 7 tuổi có trách nhiệm chăm sóc vườn cỏ chung quanh nhà. Hưng lo phía sau và Hùng lo phía trước. Cứ 2 tuần, bà mẹ bảo chúng nó cắt cỏ một lần. Mẹ nó thường không cho phép chúng nó đi chơi cho tới khi cắt cỏ xong. Hôm đó vào buổi trưa, sau khi cắt cỏ xong Hùng đi vào và tuyên bố: “Mẹ, con đã làm xong công việc cắt cỏ của con. Con quả là một đứa con tốt.” Trong khi đó, Hưng anh nó đang chạy chơi trên đường và chẳng màng gì đến bổn phận của nó. Bấy giờ, mẹ nó trả lời cho Hùng: “Vâng, cưng, con luôn là một đứa con tốt. Con hãy đi tìm Hưng cho mẹ và bảo anh con rằng mẹ muốn gặp nó.” Hùng chạy đi tìm anh và bảo: “Mẹ muốn gặp anh đó. Em dã làm xong phần anh rồi, còn anh thì chưa.” Bấy giờ, Hưng sừng sộ lên và đấm em một đấm. Trận chiến diễn ra. Khi chúng về nhà, Hùng mách với mẹ rằng Hưng đã đánh nó. Bà mẹ quay sang Hưng và bảo: “Hưng tại sao con lại như thế? Tại sao con không làm tròn bổn phận của con? Tụi con phải yêu mến nhau thay vì đánh nhau nghe chưa!”

    

Lúc Hưng được 2 tuổi thì Hùng được sinh ra, và cũng từ đó Hưng trở nên bất trị. Nó trở nên thô lỗ, phá phách và hay gây gỗ trong khi Hùng là một đứa trẻ thơ ngây và hạnh phúc khác thường. Một cách nhanh chóng, Hùng đáp trả lại tình yêu mà mẹ nó dành cho nó. Nó vui thích cười nói với mẹ nó. Mẹ nó hiểu một cách mù mờ rằng Hưng, anh nó ganh tỵ với em vì bà dành quá nhiều thời giờ cho Hùng. Thật ra, Hưng cảm nhận được điều nầy là: bé Hùng đã chiếm mất vị thế của nó và mẹ nó luôn dành nhiều tình cảm tốt đẹp cho em nó nên nó muốn phản chứng để chiếm lại được sự chú ý của mẹ nó. Khác hẳn với anh, Hùng luôn tỏ ra là một đứa con ngoan và cũng thông minh nữa. Nó khéo xử sự để anh nó thích đánh lộn với nó và như thế mẹ nó càng yêu thích nó hơn. Dĩ nhiên, vị thế của nó càng trở nên vững chắc hơn. Còn Hưng thì khác, nó muốn đánh lộn để hạ bệ em nó và để được như em nó. Cả hai làm bố mẹ phải quan tâm, nhức đầu, nhưng mỗi đ?a có cách thế riêng của nó. Mỗi đứa hành động theo cách nhìn và cách cắt nghĩa của nó cũng như hợp tác với đứa kia để giữ thế quân bình.

    

Trong một gia đình 3 đứa con, đứa con thứ hai đã một lần chiếm được ưu thế so với đứa thứ nhất. Giờ đây phải đành xuống ngai để dành chỗ ưu tiên đó cho em nó. Nó trở thành đ?a ở giữa. Vị thế của nó quả thật là khó khăn. Đứa thứ nhất và đứa thứ ba luơn là đồng minh chống lại kẻ thù chung nên đứa thứ hai ở trong vị thế khó xử. Nó bỗng nhiên khám phá ra rằng nó không có cái lợi của đứa đầu cũng không có cái lợi của đứa cuối. Như một kết quả, nó có khuynh hướng cảm thấy mình bị coi thường và lạm dụng nên nó có ấn tượng rằng cuộc đời là một bất công. Ngoại trừ nó tìm ra phương cách thay đổi não trạng, nó sẽ luôn xác tín rằng con người thì bất công và nó sẽ không có cơ may để có chỗ đứng trong cuộc đời. Tuy nhiên, nếu nó được may mắn, thành công hơn những đứa kia nó sẽ quan tâm hơn đến sự công bình. Trong một gia đình mà người mẹ đặt ra những tiêu chuẩn cao, đứa con gái nếu là giữa 2 đứa trai có thể bắt chước mẹ nó nên có khuynh hướng hoàn hảo. Nó có thể dùng bản tính nữ giới để chiếm được sự trổi vượt trước nhất trong gia đình, sau đó ngoài xã hội. Nhưng nếu nam tính được đề cao trong gia đình, cô gái ở giữa có thể cạnh tranh với anh và em trai nó nên dễ trở thành một trẻ gái thô bạo và dễ có nam tính hơn bất cứ đứa nào khác. Nếu cha mẹ cảm thấy thất vọng vì không có con trai, một đứa con gái có thể cố gắng để được sự ưu đãi bằng cử chỉ của con trai. Một đứa con trai giữa 2 đứa con gái có thể mang hình ảnh đảo ngược. Nếu nó trổi vượt hơn chị và em gái nó bằng cách là một đứa thật là con trai, nó có nhiều lợi điểm ngay dù nó là đứa giữa. Tuy nhiên, nếu người mẹ là người thống trị trong gia đình và đứa con trai ở giữa cảm nhận được hành động uy quyền của bà trên người cha vô hiệu năng, nó sẽ cảm thấy nó ở trong một tình trạng khó khăn cực kỳ. Nó có thể tưởng tượng ra rằng đàn ông không đáng kể mấy. Bấy giờ, hoặc là nó đồng minh với mẹ nó chống lại bố nó, hoặc đồng minh với bố đánh bại mẹ nó và quyền lực của bà. Sự phát triển của nó sẽ tuỳ thuộc vào sự cắt nghĩa về những hoàn cảnh và những quyết định không ý thức của nó.

    

Trong một gia đình 4 đứa con, đứa con thứ 2 và đứa con thứ 4 thường là bạn đồng minh. Chúng ta có thể nhận ra được điều nầy khi thấy 2 đứa trẻ tỏ ra có cùng sở thích, cùng nhân cách. Có sự cạnh tranh giữa những đứa trẻ là do bỡi những khác biệt cá tính và sở thích. Không có luật chung như đến mức độ nào sẽ có sự liên minh hoặc sẽ có sự tranh giành xảy ra giữa những đứa trẻ. Tuy nhiên, điều đó cũng rất quan trọng cho toàn thể bức tranh gia đình.

    

Đứa trai duy nhất trong số đông con gái, cho dù ở vị thứ nào, phái tính của nó có nhiều thuận lợi nhưng cũng còn tuỳ thuộc vào sự thẩm định về khả năng của nó có thể hoàn thành được vai trò nam giới của nó trong gia đình hay không. Điều đó cũng áp dụng cho đứa con gái duy nhất trong một gia đình có nhiều con trai. Một đứa trẻ yếu ớt, bệnh tật giữa những đứa trẻ khoẻ mạnh, lực lưỡng có thể khám phá ra cái lợi thế của nó nếu những người trong gia đình thương hại nó. Nhưng nếu sức khoẻ là một tiêu chuẩn có giá trị đối với gia đình, và bệnh tậ yếu ớt thường bị khước từ thì đứa trẻ bệnh tật sẽ cảm thấy mặc cảm vì phải đối diện với một chướng ngại. Nó sẽ có sự lựa chọn giữa đầu hàng và phấn đấu – hoặc đầu hàng và sống trong mặc cảm với cảm giác rằng cuộc đời đã lạm dụng nó và không có chỗ cho nó – hoặc sẽ cố gắng để khuất phục trở ngại và thich ứng với những hoạt động của những đứa trẻ khoẻ mạnh. Trong một gia đình đầy sinh lực, bất cứ chọn lựa nào cũng cho thấy những khó khăn. Chẳng hạn, nếu đứa trẻ có bệnh tim, không cố gắng nào có thể mang lại cho nó một chỗ đứng giữa những đứa khoẻ mạnh. Nhưng nếu nó đầu hàng nó sẽ bị coi thường. Chính vì thế, nó đi tìm một chỗ đứng qua một cố gắng phi thường như sẽ trở thành một nhà trí thức giữa những lực sĩ.

    

Nếu một đứa trẻ được sinh ra sau cái chết của đứa con đầu lòng, nó có một sự ngẫu nhiên gấp bội phải đối diện. Thực ra, nó là một đứa thứ hai, nhưng nó cũng có vị thế của đứa con đầu. Thêm vào đó, kinh nghiệm mất đứa con đầu sẽ khiến cho bố mẹ nó quá lo lắng bảo vệ nó nên cố gắng bọc nó trong chiếc mền nhung. Nó có thể chọn lựa hoặc nằm yn trong bầu khí cưng chìu đó hoặc cố gắng vùng vẫy cho sự độc lập của chính mình.

    

Đứa trẻ trong gia đình có một chỗ đứng độc nhất vô nhị. Không bao lâu nó sẽ khám phá ra rằng vì ngay từ lúc đầu nó không làm được gì nên có nhiều kẻ phụng sự nó. Bố mẹ cần phải ý tứ, nếu không rất dễ cho nó bị cám dỗ giữ mãi vị thế được ưu đãi đó, khiến những phần tử khác của gia đình phải bận rộn phục vụ cho nó. Và như thế rất nguy hiểm cho tương lai của nó.

    

Đứa con độc nhất thường phải đối diện với một tình trạng cực kỳ khó khăn. Nó là một đứa trẻ trong thế giới người lớn, một đứa bé bị bao vây bỡi những ông khổng lồ. Nó không có anh chi em để thiết lập nột quan hệ gần gũi với tuổi nó. Mục tiêu của nó là trở nên một trong số những người lớn muốn lèo lái và làm vui lòng kẻ khác. Chính vì thế, nó gặp phải khó khăn hoặc là phát triển những cái nhìn của người lớn với hy vọng đạt tới mức độ người lớn, nhưng như vậy thì quá sớm so với tuổi nó, hoặc sẽ mãi là một đứa bé luôn mang mặc cảm với người khác. Do đó, tương quan nó với những đứa trẻ khác không mấy tự nhiên và không có gì bảo đảm. Nó không hiểu được chúng và chúng cảm thấy nó giống như con gái rụt rè nhút nhát. Nó không phát triển cái cảm giác thuộc về những đứa trẻ, ngoại trừ nó sớm được cho đi tham dự những sinh hoạt chung với trẻ.

    

Không có mức độ bao nhiêu người là gia đình lý tưởng. Không thành vấn đề có bao nhiêu đứa con. Gia đình nào cũng có những vấn đề riêng. Những trở ngại nầy tuỳ thuộc vào con số trong gia đình và tuỳ thuộc vào sự cắt nghĩa mà mỗi đứa trẻ có về vị thế của nó. Không thành vấn đề về tầm cỡ lớn nhỏ của gia đình, ở đâu cũng cho thấy những ảnh hưởng cũng như những áp lực giữa những phần tử trong gia đình. Không phải chỉ một yếu tố đơn độc ảnh hưởng đến sự phát triển của bất cứ một đứa trẻ nào, mà tất cả trẻ con đều ảnh hưởng đến nhau ngay cả cha mẹ cũng vậy.

    

Mỗi đứa đều là chủ động trong việc quyết định cách thế mà nó và những đứa khác phát triển như đã được cho thấy trong trường hợp của Hưng và Hùng. Hưng nhìn thấy tình thế bất ổn bỡi mẹ nó yêu em nó hơn nó. Với cái nhìn của nó, nếu nó trở thành một đứa trẻ tốt và ngoan có lẽ không lợi gì nên nó sẵn sàng bị mẹ nó quở trách cũng còn tốt hơn là mẹ nó không đoái hoài gì đến nó như nó thấy. Hưng bây giờ muốn là một đứa trẻ xấu vì điều đó phục vụ cho mục đích của nó là thiết lập một chỗ đứng cho chính nó trong gia đình. “Tôi là đứa trẻ xấu. Họ không thể làm gì tôi. Ý nghĩa của đời tôi nằm ở điều nầy.” Dĩ nhiên, Hưng không nghĩ ra một cách rõ ràng những dòng chữ nầy nhưng đây là điều mà nó tin. Chỉ trong cách thế đó nó mới gặp được sự chú ý của mẹ nó. Nhưng rồi nó không hạnh phúc. Nó gặp một chướng ngại và không thể khất phục, nó đâm ra mất can đảm, mất nghị lực để rồi đi tìm một câu trả lời cho vấn đề trong cách thế tiêu cực. Khác với em nó, nó thấy không có lối nào khác để khuất phục chướng ngại. Nó không nhận thấy rằng nó có nhiều lợi điểm hơn như có thể làm được nhiều điều hơn em nó. Khi mẹ nó rầy mắng nó để đáp trả lại hạnh kiểm xấu của nó, mẹ nó đã vô tình khuyến khích nó. Nếu bố nó thêm lời quở trách: tại sao con không như em con? Nó cng khám phá ra rằng nó đã lôi kéo được sự chú ý của bố mẹ bỡi việc trở thành xấu, và càng rõ ràng đối với nó là em nó thì tốt đối với bố mẹ nĩ, còn nó thì xấu. Hùng klhi lớn lên, trở thành đứa trẻ ngoan hơn anh, đã đặt một áp lực trên anh khiến anh nó càng không thích vâng lệnh bố mẹ, những nguời đã yêu em nó, một đứa trẻ xem ra là kẻ thù địch đã đẩy nó xuống khỏ ngai vàng. Hùng giữ vững chỗ đứng bằng cách cố gắng ngoan ngoãn đối với bố mẹ nên làm cho Hưng càng trở nên xấu hơn. Bố mẹ đẵ giúp vào trong quan hệ bằng cách khiển trách đứa xấu và đề cao đứa tốt khiến con cái ngày càng thêm chống đối nhau.

 

Sự Đáp Trả Của Đứa Trẻ

    

Rất nhiều sách vở đã được viết và nói về việc đào tạo nhân cách cho một đứa trẻ. Dường như đứa trẻ là một mẫu đất sét và chúng ta làm công việc nhào nặn nó thành một hữu thể có thể chấp nhận được trong xã hội. Đây là một quan niệm sai lầm như chúng ta đã trình bày trước đây và điều ngược lại có thể là đúng. Không phải chỉ có chúng ta những người làm bố mẹ mà cả chúng cộng với môi trường chúng đang sống, tất cả đã tạo ra con người của chúng. Mỗi đứa trẻ là một hữu thể độc đáo và năng động. Một cách bình đẳng nó chia xẻ và thiết lập tương quan giữa nó và những người chung quanh trong môi trường nó sống. Mỗi tương quan là một độc đáo đối với nó tuỳ thuộc hoàn toàn vào sự đóng góp của mỗi người. Mối liên hệ nẩy sinh qua những hành động giữa hai người, người lớn với người lớn, trẻ với trẻ, hoặc trẻ với người lớn. Những yếu tố của hành động tương quan cá nhân có thể bị thay đổi bỡi một bên, do đó cũng làm thay đổi cả toàn bộ quan hệ.

    

Trẻ con phát triển những mối tương quan với người khác qua viêc xử dụng sức sáng tạo của chúng trong cố gắng tạo cho mình một chỗ đứng. Đứa trẻ cố gắng làm một cái gì. Nếu việc làm đó có tác dụng và thích hợp với mục đích, nó sẽ giữ đó như một phương cách để tìm căn tính cá nhân của nó. Thỉnh thoảng đứa trẻ có thể khám phá ra rằng cùng một kỷ thuật không thể có tác dụng với hết mọi người. Bấy giờ nó có hai con đường mở ra cho nó. Nó có thể hoặc rút lui và từ chối cộng tác với một người như thế, hoặc có thể dùng một kỷ thuật mới và phát triển một tương quan hoàn toàn khác biệt.

    

Tuyến 9 tuổi là đứa con một. Nó vui vẻ và đồng ý ở nhà. Nó giúp mẹ nó làm công việc nhà và sẵn sàng làm mọi sự nó có thể để làm vui lòng bố mẹ nó. Nó nói ít, lễ phép, vâng lời, trật tự trong phòng, v không ham thích đồ chơi. Tuy nhiên nó gặp khủng hoảng ở trường. Thầy giáo nói nó rụt rè, nhút nhác, và không cộng tác. Nó không bao giờ quay rầy nhưng nó ngồi mơ mộng thay vì làm công việc trong lớp. Nó cần sự giúp đỡ của thầy cô. Nó không có bạn trong số các bạn học của nó, từ chối tham gia đánh banh hoặc đóng góp vào những sinh hoạt của lớp.

    

Ở nhà, Tuyến nổi bậc là một đứa trẻ giữa một thế giới người lớn, và nó đã tạo ra chỗ đúng của nó bằng cách làm vui lòng những người chung quanh nó. Nhưng ở trường, nó được bao vây bỡi những bạn bè nó, thích trêu chọc nó nhưng nó không màng tới chúng và xa cách chúng. Những cố gắng đầu tiên của nó để làm vui lòng chúng đã không gây được một ấn tượng nào lớn. Thầy giáo không xem nó ngoại lệ, cũng không cho nó một chỗ đứng đặc biệt nào giữa những đứa trẻ khác. Nó hoàn toàn không có chút tư tưởng về cách thế giao tranh trong các trận chơi như các bạn nó. Nó không thể ném một trái banh, cũng không thể gây cho các bạn nó một ấn tượng tốt về phong cách của nó. Nó rút mình trong mơ và tránh những cố gắng để tạo một quan hệ mới.

    

Một mẫu chuyện khác giúp chúng ta thấy được trẻ con có thể phát triển những quan hệ khác biệt với mỗi bố mẹ. Cương và Cường suốt ngày quanh quẩn bên mẹ. Đứa thì đòi cái nầy đứa thì đòi cái khác. Khi chúng muốn một cái gì, đầu tiên chúng đòi hỏi với giọng lè nhè, rồi khóc, sau cùng làm trận cho tới khi được điều mình muốn. Tuy nhiên, khi bố ở nhà chúng xem ra rất ngoan. Ông không thể nào hiểu được những mẫu chuyện mà bà mẹ thuật lại cho ông mỗi khi ông trở về nhà. Chỉ một cái nhìn của ông cũng làm chúng sợ và nên ngoan ngoãn. Chúng luôn luôn để ý đến ông.

    

Trẻ con biết r?ng người mẹ sẽ chìu chúng và chỉ khiển trách đối với những hành vi sai lầm, còn bố thì lưu ý đến điều ông đã nói. Bố thì cứng rắn còn mẹ thì dễ dàng.

    

Bất cứ tình huống khó khăn và chán nản nào cũng đều phát xuất từ những cá tính khác biệt trong gia đình, nó có thể được cải tiến, nếu những người trong gia đình cùng nhau làm việc để xây đắp một lối sống hoà điệu. Không có một tương quan nào hoàn toàn. Cái mà chúng ta hy vọng nhất là làm việc để thăng tiến. Nếu cha mẹ thấy rằng đứa con giữa cảm thấy mình bị đẩy ra rìa, cha mẹ phải tìm cách để giúp nó tìm được một chỗ đứng bằng những đóng góp hữu ích. Khi thấy rằng đứa đầu bị thất đãm bỡi sự tiến nhanh của đứa thứ nhì, bố mẹ cần tăng thêm sự khuyến khích cho nó để có được sự tự tin vào khả năng của nó. Khi thấy rằng đứa con út có xu hướng muốn được phục vụ và cưng chìu, bố mẹ cần phải giúp nó ý thức rằng nó cũng có thể làm được những điều đó mà không cần phải nhờ đến những người khác phục vụ cho mình.

    

Sự cắt nghĩa và sự đáp trả của đứa trẻ về vị thứ của nó được xem là quan trọng trong việc ảnh hưởng đến cá tính của nó trong tương lai.

 

Đến đây chúng ta đã có một kinh nghiệm khá dồi dào về những yếu tố ảnh hưởng đến việc tạo thành tính tình của mỗi đứa trẻ. Hy vọng những kinh nghiệm nầy có thể giúp ích chúng ta nhiều trong việc giáo dục con cháu chúng ta. Một mái ấm gia đình bên cạnh người vợ hiền và những đ?a con khôn là một lý tưởng tuyệt vời mà mọi người chúng ta đều mơ ước. Cầu chúc cc bạn luôn có một cuộc sống an vui và một mái ấm gia đình hạnh phúc trong những tháng ngày sống xa quê hương và xa những người thân yêu trên những miền đất đầy băng giá và lạnh buốt tình người.

 

Lm.levanquang

VỀ MỤC LỤC

TAY TRẮNG

  

Da Vinci! Thứ tàng hình quỉ ám!

Da Vinci! Thứ ma quái hiện hình!

Chúng cố tình muốn cướp những sinh linh

Những linh hồn đã từ lâu yêu Chúa!

 

Da Vinci! Dao găm bọc khăn lụa!

Chúng cố tình phá hỏng mọi đức tin

Chúng tạo ra những nhân vật bù nhìn

Từ hư cấu, kiểu khoa học giả tưởng!

 

Nhiều trăm năm, chúng vô cùng thất vọng

Giáo hội Cha mỗi ngày rộng lớn ra

Đem tình thương đến dân tộc, quốc gia

Để con người sống cuộc đời đáng sống!

 

Chúng chỉ muốn Giáo hội đi lạc hướng

Sa đà theo những hủ bại đương thời

Chọn con đường buông thả thích ăn chơi

Sẽ tha hóa và có cơ chìm đắm!

 

Biết gian ý ta không hề nao núng

Mà dâng lên Chúa  lời nguyện nhiều hơn!

Xiết tay nhau trước ảnh Mẹ dịu hiền

Phá sự dữ! Giáo hội rồi vinh thắng!

 

Quỉ hỏa ngục cũng ra về tay trắng!

5-19-2006

Xuân Vũ  TRẦN ĐÌNH NGỌC

VỀ MỤC LỤC
NHỮNG NHÂN ĐỨC CỦA MẸ MARIA

 

1- Đức Ái: Khi Mẹ còn ở thế gian đã ẵm bế Chúa Giêsu trong cánh tay mình, với tình yêu như lửa. (Nhã Ca)

2- Đức Khiêm nhường: Trong giây phút nghiêm trọng của Sự Truyền Tin, Mẹ tuyên xưng chỉ là tôi tớ của Chúa.

3- Đức Tin: Mẹ nhận Ngôi Lời Nhập Thể, là Đức Tin của Mẹ lớn lao bằng mọi người và các Thiên thần. (Lc 1)

4- Đức Vâng lời: Bởi sự vâng lời của Mẹ là nguyên nhân cứu rỗi cho chính Mẹ và cho tất cả nhân loại nữa.

5- Đức Hy vọng: Khi sinh con trong chuồng súc vật, Mẹ không phàn nàn, đã hoàn toàn phó thác nơi Thiên Chúa.

6- Đức Nhiệt thành: Trong tiệc cưới Cana, lòng Nhiệt thành tỏ giúp đỡ người khác mà Mẹ đã thực hiện. (Gioan 2)

7- Đức Hy sinh: Mẹ Maria là một người tử đạo không bởi lưỡi gươm của lý hình; nhưng bởi hy sinh của trái tim.

8- Đức Thăm viếng: Mẹ đã thăm bà Êlisabet xa xôi mà vẫn còn đang thăm viếng và dẫn các linh hồn đến với Chúa.

9- Đức Cẩn thận: Qua Lời Sứ thần, Mẹ đã yêu cầu cách thận trọng điều ấy xảy ra, vì Mẹ không biết người nam.

10- Đức Can đảm: Mẹ đã can đảm suốt ba giờ liền nơi đồi Canvê, mẹ chấp nhận cái chết đau thương của Chúa.

11- Đức Vui mừng: Mẹ la sự vui mừng và đáng yêu cho Thiên Chúa khi ở Belem, sang Ai cập và tại Nazarét.

12- Đức Thông cảm: Mẹ thông cảm với thánh Giuse tại Belem, tới xứ Ai cập và đôi bạn trẻ tại tiệc cưới Cana.

13- Đức Hoan lạc: Mẹ là niềm vui vì đã trao ban Chúa Kitô cho thế gian, Mẹ là Đấng trung gian các ân sủng.

14- Đức Khôn ngoan: Mẹ là Tòa Đấng Khôn Ngoan, vì suốt ba mươi năm là người ngồi lắng nghe lời Chúa.

15- Đức Kính sợ: Trong Đền thờ mẹ đã tỏ sự kính sợ Chúa: “này con, vì sao Con làm cho chúng ta như thế?”(Lc2,48)

16- Đức Tử tế: Sự tử tế của mẹ là ở lại độ ba tháng để chăm sóc giúp đỡ bà Êlizabet, là linh hồn tôi ngơi khen Chúa!

17- Đức Đơn sơ: Mẹ đã cầu xin một cách đơn giản: “ Này tôi là tôi tớ Chúa, xin hãy thực hiện nơi tôi theo...”

18- Đức Biết ơn: Khi Mẹ  dâng mình cho Chúa: “Người yêu của tôi trao hiến cho tôi và tôi hiến thân cho Người. (Dtc 2, 16) Đời sống của Mẹ là một đời sống tạ ơn.

 

KINH THÁNH HÓA CÁC GIA ĐÌNH

Lạy Thánh gia là gương mẫu đời sống gia đình, công  bình và yêu thương. / Xin cho Gia đình chúng con nên nơi đào tạo các nhân đức / sống trong hiền hòa, phục vụ và cầu nguyện./ Xin cho chúng con xây dựng Gia đình thành nơi an úi / trong cuộc đời đầy thử thách,/  biết sống gương mẫu trong Gia đình / để góp phần vào việc xây dựng Giáo hội và cộng tác trong việc phát triển Xã hội.

Xin Ba Đấng luôn hiện diện trong Gia đình chúng con,/ khi vui cũng như lúc buồn,/ khi làm việc cũng như lúc nghi ngơi,/ khi lo âu cũng như lúc hy vọng,/ và mọi lúc thăng trầm trong cuộc sống./ cho chúng con luôn ca ngợi Chúa trong mọi lúc./ Để hôm nay và ngày sau được kết hợp và xum họp với Ba Đấng trong Nước Trời./ Amen

Phó tế JB. Nguyễn Định

VỀ MỤC LỤC
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC về Phim  DA VINCI CODE

 

Hỏi: xin Cha giải thích vắn gọn những sai lầm lớn trong cuốn phim Da Vinci Code đang gây chú ý trong dư luận thế giới và Giáo Hội

Trả lời: Câu chuyện bắt đầu với bức tranh  “The Last Supper” ( Bữa Tiệc Cuối Cùng Chúa Giêsu ăn với 12 Tông Đồ) của một  danh họa người Ý tên là Leonardo da Vinci (1452-1519). Tác phẩm này ra đời vào năm 1598.

Trong bức họa này, Leonardo  đã  chọn một thanh niên  có khuôn mặt giống  gái nhiều hơn là trai, rất trẻ đẹp ,tóc dài để đóng vai thánh Gioan ngồi tựa đầu cách lả lơi tình tứ vào ngực Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly ... Chính hình ảnh này đã gợi cảm hứng và  trí tưởng tượng phong phú  cho  Dan Brown, (sinh năm 1964 taị Exeter,Tiểu Bang  New Hampshire) để viết cuốn tiểu thuyết nhan đề “The Da Vinci Code” (có nghĩa là Mật mã của DaVinci), xuất bản vào tháng 3 năm 2003 và đã có mức bán kỷ lục. Mới đây, tác phẩm này đã được Hãng Sony Pictures đóng thành phim và đang được trình chiếu  ở Mỹ và nhiều nơi khác.

Sở dỉ cuốn tiểu thuyết của Dan Browm và phim The DaVinci Code được nhiều người chú ý và đang gây ra những phản ứng trái ngược trong  dư luận cũng như sự phản đối của nhiều cấp lãnh đạo Giáo Hội là vì nội dung xuyên tạc trắng trợn lịch sử, nhằm  mục đích bôi xấụ Kitô Giáo của tác phẩm này.

Sau đây là tóm tắt những sai lầm lớn của Dan Brown có chủ đích lăng mạ chính Chúa Giêsu và niềm tin KitôGiáo nói chung qua cuốn tiểu thuyết và phim ảnh này :

1- Chúa Giêsu không phải chết trên thập giá mà đã lấy bà Maria Magdalene và có con với bà này. Đây là một sự lăng mạ ,xỉ nhục thô bạo nhất xúc phạm đến Chúa Giêsu vì tuyệt đối không có tài liệu xác thực nào của Giáo Hội  kể cả các ngụy thư (apocryphas) đã đề cập  đến việc này. Đây hoàn toàn chỉ là điều tưởng tượng, bịa đặt của Dan Brown sau khi nghiên cứu bức tranh “the Last Supper” của Leonardo da Vinci và cho rằng thánh Gioan chính là Maria Magdalene ngồi tựa đầu cách lã lơi vào ngực Chúa Giêsu qua nét vẽ lãng mạn của Leonardo mà thôi.

2- Xúc phạm nặng nề niềm tin của Giáo Hội Công Giáo nói riêng và của toàn thể Kitôgiáo  nói chung về Thiên tính (Divinity) của Chúa Giêsu khi cho rằng Chúa chỉ là người phàm và chỉ được coi là có “thần tính” nhờ áp lực của Hoàng Đế Contantine tại Nicaea năm 325 : Đây là sự xuyên tạc trắng trợn sự kiện lịch sử là năm 325 Công Đồng chung Nicaea được triêu tập theo đề nghị của Đại Đế Constantine và được Đức Giáo Hoàng chấp thụân để lên án lạc thuyết (heresy) của Arius, một linh mục ở Alexandria, đã chối bỏ Thiên tính của Chúa Giêsu qua tác phẩm Thalia của ông... Công Đồng Nicaea năm 325 đã lên án lạc thuyết này, đã khai trừ Arius, và  công bố Kinh Tín Kinh tuyên xưng  Chúa Giêsu “ là Thiên Chúa thật bởi  Thiên Chúa thật, đồng bản tính (consubstantialis) với Đức Chúa Cha...” như chúng ta ngày nay đọc trong Kinh tin kính  các ngày Chúa Nhật và Lễ Trọng. Đây là kinh tuyên xưng đức tin của Công Đồng Nicaea (the Nicene Creed) tức của Giáo Hội  về Thiên Tính của Chúa Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể (The Incarnate Word).

3- Về Hội Dòng  Opus Dei: Dan Brown đã mù quáng vu khống cho Opus Dei là một “Hội kín”