Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 48, Chúa nhật 11.6.2006


 Các số báo đã phát hành            MỤC LỤC

NHlỆM VỤ CHÍNH CỦA GlÁO DÂN LÀ LÀM CHỨNG CHO ĐỨC Kl-TÔ                      Vatican 2

SỰ CHUYỂN HƯỚNG VỀ PHÍA GIÁO DÂN                                                           Hương Vĩnh

ÐỐI THOẠI VỚI NGƯỜI ÐIẾC                                                               Lm. Đỗ Vân Lực, OP.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ CÓ MỘT GIA ĐÌNH ÊM ẤM?                                        Lm. Lê Văn Quảng

Thể thao trong đời sống                                                                   Lm. Nguyễn Ngọc Long

ĐỪNG MỒ CÔI HÓA CHÍNH MÌNH                                                           Lm. Vũ Xuân Hạnh

AI LÀ CHỦ ĐỜI TÔI ?                                                                              Trầm Tĩnh Nguyện

Mỗi ngày                                                                                 Lm. Giuse Ngô Văn Thích, OP.

NHÌN THẤY CHÚA                                                                            Phó tế JB. Nguyễn Định

Trong đời sống                                                                                        Lm. Vũ Xuân Huyên

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC: Nghi Thức RCIA ?                                           Lm. Fx. Ngô Tôn Huấn

Tác Phẩm Đường Hy Vọng:  Bổn Phận                                     + HY Fx. Nguyễn Văn Thuận

CHỒNG,                                                                                       Chuyện phiếm của Gã Siêu


NHlỆM VỤ CHÍNH CỦA GlÁO DÂN LÀ LÀM CHỨNG CHO ĐỨC Kl-TÔ

 

Nhiệm vụ chính của giáo dân, nam cũng như nữ, là làm chứng cho Đức Ki-tô, làm chứng bằng đời sống và lời nói trong gia đình, trong các đoàn thể xã hội, cũng như trong môi trường nghề nghiệp. Thật vậy, họ phải biểu lộ con người mới đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, để sống thực sự trong công chính và thánh thiện (x. Ep 4,24). Nhưng họ phải diễn tả nếp sống mới đó trong môi trường xã hội và văn hoá của quê hương, theo truyền thống của dân tộc mình. Chính họ phải hiểu biêt nền văn hoá đó, sửa chữa, bảo tồn, và cải tiến theo những hoàn cảnh mới, và sau cùng phảt làm cho trở nên hoàn hảo trong Đức Ki-tô, để niềm tin vào Đức Ki-tô và đời sống Giáo Hội không còn xa lạ với xã hội họ sống, nhưng bắt đầu thấm nhập và cải hoá xã hội đó.

Họ phải liên kêt với đồng bào mình bắng tình bác ái chân thành, để trong cách sống của họ xuất hiện một mối dây mới về hiệp nhất và về liên kết đại đồng đã được bắt nguồn từ mầu nhiệm Đức Ki-tô. Họ cũng phải gieo rắc niềm tin vào Đức Ki-tô giữa những người có liên lạc với họ trong đời sống và nghề nghiệp; điều bó buộc này càng khẩn thiết hơn, vì rất nhiều người chỉ có thể nghe Tin Mừng và nhận biêt Đức Ki-tô nhờ giáo dân sống gần họ. Hơn nữa, nơi nào có thể, giáo dân phải sẵn sàng cộng tác trực tiếp hơn với hàng giáo phẩm trong việc hoàn tất sứ mệnh đặc biệt là loan báo Tin Mừng và thông truyền giáo lý Ki-tô giáo, ngõ hầu Giáo Hội mới khai sinh được thêm vững mạnh.

(Trích Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội Đến với muôn dân của Công Đồng Va-ti-ca-nô II, số 21).

VỀ MỤC LỤC
SỰ CHUYỂN HƯỚNG VỀ PHÍA GIÁO DÂN

CÔNG ĐỒNG VATICAN II QUA BỐN THẬP NIÊN

- VIII -

SỰ CHUYỂN HƯỚNG VỀ PHÍA GIÁO DÂN

Thừa tác viên trong giáo xứ ngày nay có lẽ đúng hơn là một giáo dân nam hay nữ.

Trước Công Đồng Vatican II, hầu hết những giáo dân liên hệ đến những sinh hoạt thường nhật tại một xứ đạo Công giáo là dọn dẹp nhà thờ cho sạch sẽ và giúp lễ.

Với nhiều linh mục được bổ nhiệm cho giáo xứ và một tu viện có nhiều nữ tu bên cạnh, giáo dân chỉ được làm những công việc thứ yếu, có tính cách mgoại biên, như trả lời điện thoại trong nhà xứ, làm “giám thị” cho các lớp tiểu học hay tình nguyện viên cho Hội Thánh Vincent de Paul.

Chuẩn bị các đôi hôn nhân, sắp xếp phụng vụ, giữ sổ sách tài chánh, dạy dỗ giáo lý tân tòng và thi hành mục vụ như thăm viếng bệnh nhân…đều là công việc của “Cha”. Những phần vụ lớn không do linh mục đảm trách như dạy học ở trường nhà xứ, các lớp giáo lý và những công việc khác liên quan đến giáo dục đều thuộc trách nhiệm các “”.

Thời hậu Công Đồng chuyển cho giáo dân đảm trách hầu hết những phần vụ đó, khởi đầu cách chầm chậm, nhưng trong ít năm gần đây đã lan rộng một cách đột ngột.

Cha Eugene Lauer, giám đốc “Trung Tâm Quốc Gia về Đời Sống Mục Vụ” cho biết cho tới trước năm 1990, ít khi giáo xứ tuyển dụng giáo dân cho những công việc thông thường do linh mục đảm trách, nhưng ngày nay, ở Hoa-Kỳ, số giáo dân giữ những nhiệm vụ đó đã vượt mức linh mục trong phạm vi mục vụ giáo xứ.

Theo cha, có khoảng 31,000 giáo dân hoạt động với tư cách chuyên viên mục vụ tại hai phần ba giáo xứ Hoa-Kỳ. Con số đó không bao gồm các giáo viên, giáo sư và nhân viên điều hành các học đường Công giáo cùng những nhân viên hỗ trợ như thư ký, người quản lý và giữ sổ sách. Cha Lauer cho biết có khoảng 28,000 linh mục hoạt động chủ yếu trong các giáo xứ. “Đó là một sự thay đổi đột ngột từ 15 hay 20 năm trước đây”, cha đã nói với “Cơ Quan Thông Tin Công Giáo” như thế.

Cha Lauer còn cho biết, chỉ từ năm 1990 thôi, đã có 22,000 giáo dân đảm trách các phần vụ đọc sách, mục vụ giới trẻ, điều hành công tác xã hội và phối kết giáo dục thanh thiếu niên hoặc trong những phần vụ chuyên môn về mục vụ khác. Trước Công Đồng Vatican II, chưa tới một phần trăm những công việc đó ở Hoa Kỳ được các giáo dân đảm trách. Ngài nói: “Đó là một hiện tượng hầu như ít ai biết đến.”

Các nam nữ tu sĩ, đứng trên phương diện kỷ thuật, cũng được định nghĩa như giáo dân, nhưng từ Công Đồng Vatican II, con số tu sĩ đã giảm thiểu đột ngột hơn nhiều so với linh mục.

Một bài nghiên cứu do Trung Tâm Quốc Gia về Đời Sống Mục Vụ trong một số phát hành gần đây, cho thấy kể từ 1990 số nữ tu đảm trách mục vụ giáo xứ đã giảm từ 41 xuống còn 16 phần trăm.

Theo “Trung Tâm Nghiên Cứu Ứng Dụng về Sứ Vụ Tông Đồ” tại Đại Học Georgetown, từ năm 1965, số nữ tu ở Hoa-Kỳ đã giảm từ 180,000 xuống còn 69,000. Số nam tu sĩ giảm từ 12,000 xuống còn độ 5,000. Tổng số 59,000 linh mục trong toàn quốc vào năm 1965 đã xuống còn 43,000.

Trong lúc đó, số giáo dân Hoa-Kỳ đã tăng từ 46 triệu trong 17,700 giáo xứ lên tới 68 triệu trong 18,900 giáo xứ.

Ngày nay giáo dân đảm trách việc thăm viếng mục vụ đối với các bệnh nhân, đặt kế hoạch tổ chức phụng vụ, lo các ca đoàn, lập thời khóa biểu cho các người đọc sách thánh và những thừa tác viên đặc biệt về Thánh Thể cũng như điều hành những chương trình giáo dục thanh thiếu niên, chuẩn bị những đôi nam nữ dự định kết hôn và những trẻ em đi học các trường công lập.

William D’Antonio, một giảng viên thuộc “Viện Nghiên Cứu về Chu Kỳ Đời Sống” tại Đại Học Công Giáo Hoa-Kỳ ở Washington cho biết, mặc dù những văn kiện Công Đồng Vatican II đã mở cửa cho giáo dân dấn thân trong hầu hết mọi lãnh vực về mục vụ giáo xứ, những thay đổi đó không được thực hiện một cách đồng nhất. D’Antonio nói: “Trong một số giáo xứ và giáo phận, số giáo dân liên hệ đến công tác mục vụ xem ra khá cao”, nhưng trong một số nơi khác “vẫn còn nhiều quyền uy lớn lao ở thượng tầng nên ngăn cản dân chúng làm thành Giáo Hội ‘ở hạ tầng’ khiến họ khó có thể dấn thân hơn.”

Cha Lauer cho biết những giáo xứ lớn có nhiều tiền lắm bạc nên có nhiều giáo dân trong hội đồng mục vụ là điều dễ hiểu, nhưng cũng còn những sự khác biệt tùy vùng có thể liên hệ đến số linh mục có sẵn. Chẳng hạn, những giáo xứ thuộc Tổng Giáo Phận New York xem ra có ít giáo dân đảm trách mục vụ giáo xứ hơn là những xứ đạo thuộc Tổng Giáo Phận Chicago, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn ở New York có nhiều tổ chức và đại học lớn của Giáo Hội nên có tỷ số linh mục cao hơn và đã bổ khuyết nhu cầu nhân viên.

Cũng theo Cha Lauer, những giáo xứ ở miền Tây và miền Trung Tây Hoa-Kỳ thông thường lớn hơn nên có nhiều giáo dân trong ban nhân viên chuyên môn hơn là ở miền Đông và miền Nam Hoa-Kỳ. Ngài nói: “Có rất nhiều yếu tố để các giáo xứ có thể cung ứng thành phần dân sự thuộc giáo dân.”

Theo nghiên cứu của “Trung Tâm Đời Sồng Mục Vụ”, 41 phần trăm giáo dân làm việc cho giáo xứ có trình độ cao học trong lãnh vực hoạt động của họ, với số lương trung bình khoảng 38,000 đôn một năm. Mức lương đó xem ra hơi thấp so với những người tốt nghiệp đại học. Cha Lauer cho biết, theo sự nghiên cứu, hai phần ba những nhân viên giáo xứ cho rằng mức lương của họ thỏa đáng.

Theo cha nhận xét, với số phụ nữ chiếm tới 80 phần trăm nhân viên giáo xứ, việc làm của họ thường là lợi tức gia đình thứ hai, khiến cho tỷ số lương trên thị trường trở thành ít quan trọng đối với nhiều người.

Cha Lauer cho biết, điều đáng ghi nhận hơn là 85 phần trăm nhân viên giáo dân trong giáo xứ mô tả công việc của họ là có ý nghĩa và họ lấy làm vừa ý. Ngoài ra 95 phần trăm cho biết họ sẽ làm việc cho giáo xứ luôn mãi hay ít nhất trong vài năm tới.

Sự kiện nhiều giáo dân dấn thân nhiều hơn trong mục vụ giáo xứ khiến họ đóng một vai trò quan trọng hơn đối với Giáo Hội và họ được chuẩn bị cho những giáo xứ có ít linh mục hơn.

Một cuộc thăm dò gần đây do “Viện Nghiên Cứu Chu Kỳ Đời Sống” thực hiện cho tạp chí “Phóng Viên Công Giáo Toàn Quốc” cho thấy 89 phần trăm tín hữu Công Giáo Hoa-Kỳ muốn giáo dân nên có quyền tham gia những quyết định về vấn đề chi tiêu đối với lợi nhuận trong giáo xứ. Có 72 phần trăm cho biết giáo dân nên được tham gia trong việc chọn lựa linh mục cho giáo xứ của họ. Và 83 phần trăm ngỏ ý nên để họ tham gia quyết định trong trường hợp giáo xứ phải đóng cửa.

Vì số linh mục thi hành mục vụ cho giáo dân ở Hoa-Kỳ bị giảm thiểu, đa số những người được thăm dò bởi “Viện Nghiên Cứu về Chu Kỳ Đời Sống” tổ chức cho biết trong một chừng mục nào đó có thể chấp nhận được việc đem những linh mục từ các xứ khác vào nước hay chia sẻ những linh mục với các giáo xứ khác. Trong số những chọn lựa khác, đại đa số dân chúng cho biết trong một mức độ nào đó có thể chấp nhận việc có một quản lý viên cho giáo xứ hay có những linh mục thỉnh thoảng thăm viếng, nhập những giáo xứ gần nhau vào một và thỉnh thoảng có một nghi thức Rước Lễ thay vì Thánh lễ.

Đại đa số cho biết họ không thể chấp nhận việc có Thánh Lễ ít hơn một lần trong tuần cũng như việc đóng cửa giáo xứ của họ.

(Phỏng theo Patricia Zapor – Washington – CNS)

Hương Vĩnh

VỀ MỤC LỤC
Phúc Âm Nhật Ký

Ngày 05.06.2006

ÐỐI THOẠI VỚI NGƯỜI ÐIẾC

Mc 12:1-12

Hôm nay vừa bước tới nhà thờ, tôi gặp ngay một bà cụ.  Bà là một giáo dân ngoan đạo, ngày nào cũng đi lễ.  Một cơn gió nhẹ  cũng có thể thổi bà lên.  Vừa thấy bà, tôi liền hỏi : “Bà cụ ơi, bà còn dự mấy thánh lễ nữa thì bà về trời ?!”  Bà cụ cười rồi bước vô nhà thờ. Mấy người con bà cũng cười lớn.  Cuộc đối thoại giữa giữa họ và tôi êm thắm, vì mọi người đều hiểu nhau.  Nếu chẳng may người lạ chứng kiến cảnh đó, có thể tưởng tôi “trù ểm” bà.  Nếu tôi cố biện minh, chưa chắc cuộc đối thoại đã xảy ra.

Có hiểu nhau mới có đối thoại.  Trong dụ ngôn hôm nay, không hề có sự hiểu biết giữa bọn tá điền và ông chủ.  Cuộc đối thoại không bao giờ có thể xảy ra.  Ông đã cố gắng rất nhiều và rất kiên nhẫn.  Bằng chứng ông đã sai nhiều đợt đầy tớ đến nói chuyện với họ.   Các đầy tớ này đã đến “để thu  hoa lợi vườn nho mà họ phải nộp.” (Mc 12:3)  Chuyện đó rất bình thường.  Ông bỏ vốn thì ông phải thu hoạch chứ !  Vậy mà kết quả không bình thường tí nào.  Người thứ nhất không những trở về tay trắng mà còn bị sưng tay sưng chân.  Người thứ hai ôm đầu máu trở về và tai ù vì những lời xỉ vả.   Tình trạng càng ngày càng trầm trọng hơn.  Người thứ ba không ngờ bị mất mạng luôn. 

Sau mỗi lần đầy tớ thất bại như thế,  chẳng lẽ ông chủ không rút được kinh nghiệm ?  Hẳn là ông phải thận trọng lựa chọn những người đầy tớ khôn khéo hơn chứ !  Vậy mà ông vẫn thất bại thê thảm.  Thất bại nhưng ông vẫn kiên trì.  Nhiều đầy tớ khác cũng đã được sai tới, nhưng vẫn chịu chung một số phận như các đợt trước.

Nhưng người đầy tớ đã nói những gì với bọn tá điền ?  Phải chăng họ đã đối xử bất công nên số phận mới bi thảm như vậy ?   Thực tế, cuộc đối thoại hoàn toàn bế tắc, không phải vì những người đầy tớ tắc trách, nhưng vì những người tá điền đã mất hết lương tri.  Không phải họ đã điếc “lòi tù và.”  Nhưng vì quá ồn ào và quay cuồng với những tham vọng đen tối, nên họ không còn nghe thấy gì ngoài những tiếng ác thần đang vang lên trong lòng.  Họ không muốn hiểu và không muốn nghe ai.  Những người đầy tớ có khôn ngoan và thiện chí tới mấy cũng mất công vô ích mà thôi.  Họ không thể nào lôi kéo những người tá điền về đường ngay nẻo chính.  Công lý bị vùi dập.  Lương tâm chai đá và lì lợm. Họ chỉ còn biết mối lợi trước mắt, bất chấp lương tri.  Không còn mưu gian chước độc nào họ không dùng tới.  Nhưng tất cả bọn tá điền đều phun ra những lời vô liêm sỉ và những hành động quái ác. Họ sẵn sàng lừa thày phản bạn để cho mình ngoi lên hay củng cố địa vị. Sự ác lên tới tột độ, khi họ giết con ông chủ.  Thiệt là một cuộc đổ máu không gớm tay !  Niềm hy vọng cuối cùng đã sụp đổ tan tành ! 

Giả sử những người tá điền biết lắng nghe và sẵn sàng đem hoa lợi nộp cho ông chủ, chắc chắn họ sẽ được ông tin tưởng hơn.  Công việc sẽ phong phú.  Mối giao hảo ngày càng tăng triển.  Việc làm của họ sẽ mưu ích cho chính mình, gia đình xã hội.  Ðời sống sẽ hạnh phúc êm ấm.  Tương lai mở rộng trước mắt . . .

Nhưng thực tế thật bi thảm.  Bọn tá điền không những không đoạt được gia tài ông chủ mà còn bị tiêu diệt hoàn toàn.  Tất cả chỉ vì cuộc đối thoại bế tắc.  Nếu họ biết nghe theo lương tri và sống hợp lý, hợp tình, số phận đâu đến nỗi thê thảm như vậy ?!

Thừa lệnh chủ, những người đầy tớ có lẽ đã dùng đủ mọi cách thuyết phục.  Khi  mềm mỏng, lúc ngăm đe.  Khi cứng cỏi, lúc ngọt ngào.  Những lời nói và phương cách có sức thuyết phục tới mấy, cuộc đối thoại với những người điếc làm sao thành công được ?   Làm sao có thể thu hoa lợi cho ông chủ được ?  

Tuy nhiên, thực tế đã không diễn ra theo như ý của bọn tá điền.  Không phải vì những hành động ngu xuẩn và xấu xa của họ mà sự nghiệp ông chủ bị sụp đổ.  Trái lại, một tương lai huy hoàng đã mở ra.  Công trình của ông cuối cùng vẫn tốt đẹp theo đúng hướng ban đầu.  Mọi người sẽ kinh ngạc trước vẻ ngoạn mục và kỳ diệu của công trình ấy.  Tất cả sẽ đảo lộn.  Chính những người tưởng loại bỏ được người khác lại bị loại bỏ.  Còn người bị loại bỏ lại được đưa vào vị trí quan trọng trong nhà Chúa (x. MC 12:12).

Có lúc nào chúng ta có thấy hình ảnh mình trong những người tá điền không?  Có bao giờ chúng ta cũng “điếc” như họ ?  Có lẽ những định kiến, quyền lợi hay địa vị đã che tai bịt mắt chúng ta.  Lúc nào cũng cố “bới lông tìm vết.”  Khi đã có định kiến về một anh em, chúng ta thường khuôn sẵn áp đặt cho họ.  Họ nhận lỗi thì ta cho là giả hình.    Họ đưa lý do thì ta cho là chỉ biện minh và cố chấp.  Nhiều khi bên ngoài sự kiện có thể bị lên án.  Nhưng có thể có một lý do sâu kín nào đó thay đổi ý nghĩa hiện tượng.   Chúng ta không muốn lắng nghe hay thay đổi phạm trù đã có sẵn về người anh em.  Có mở rộng cõi lòng và chấp nhận đươc người anh em, mới có thể đối thoại và xây dựng cho nhau.

Lạy Chúa, xin cho con luôn biết lắng nghe tiếng lương tâm và dẹp bỏ tham vọng, để có thể lập lại tương quan với Chúa và đối thoại với anh em.  Trong vườn nho Chúa, xin cho con biết mình là ai để có thể  nộp hoa lợi cho Chúa và mưu ích cho anh em.  Amen.

đỗ lực

VỀ MỤC LỤC
LÀM THẾ NÀO ĐỂ CÓ MỘT GIA ĐÌNH ÊM ẤM?

 

Có được một mái ấm gia đình hạnh phúc là một điều ai cũng ước mơ. Rất nhiều người thành công trên con đường công danh sự nghiệp, danh vọng tiền bạc dư đầy nhưng lại thất bại trong đời sống hôn nhân, đã khiến cho cuộc sống của họ trở thành bất hạnh. Quả thật, đó là một điều đáng tiếc vì nếu họ có được một gia đình đầm ấm bên cạnh những giàu sang phú quí và danh vọng tràn đầy như họ đang có thì quả thật còn gì lý tưởng hơn. Nhưng không, họ đã không có được cái may mắn đó. Vậy đâu là lý do? Và làm thế nào để có được một gia đình êm ấm? 

Có rất nhiều nguyên nhân và cũng có nhiều phương cách khác nhau. Nhưng ở đây tôi chỉ xin trình bãy một vài nguyên tắc thiết thực mà chúng ta cần nên biết để áp dụng nếu chúng ta muốn có được một gia đình lý tưởng như chúng ta ước mơ.

Sự Bình Đẳng Trong Tương Quan Vợ Chồng.

Chúng ta đang sống trong một đất nước tự do và dân chủ. Chúng ta cần phải thích nghi với sự tự do và dân chủ của xã hội chúng ta đang sống. Tất nhiên, điều đó không phải dễ, nhất là khi chúng ta càng đi gần đến sự bình đẳng thì những xung đột và căng thẳng càng trở nên rõ rệt. Chúng ta cảm thấy khó sống một cách bình đẳng với những đồng bạn chúng ta vì những đặc tính tương quan kẻ trên người dưới của xã hội phong kiến vẫn còn ăn sâu trong con người, trong tư tưởng, cũng như trong quan niệm của chúng ta.

Trong xã hội phong kiến, những gia chủ cũng như những vị lãnh đạo xã hội cố gắng áp đặt ý muốn của mình lên trên người khác. Trong xã hội dân chủ, điều đó không còn mang lại những kết quả lâu bền nữa. Người chồng không còn có thể áp đặt luật cho vợ. Cha mẹ cũng nhận thấy rằng mình không còn có một quyền hành lớn lao trên con cái như trong xã hội ngày xưa nữa. Nhưng thường thì đàn ông vẫn thích tư tưởng này là nam giới thì đồng nghĩa với sức mạnh và quyền hành, cũng như cha mẹ thường cũng thích nghĩ rằng mình có quyền điều khiển con cái theo ý muốn và lợi ích của mình.

Trên bình diện xã hội, những tranh đấu quyền hành như thế cũng tạo nên những xung khắc giữa chủ và thợ hay giữa giới tư bản và công nhân. Chúng ta biết rằng bất cứ ở đâu khi còn có một nhóm người nắm giữ quyền hành trên người khác, ở đó sẽ còn có đấu tranh. Dĩ nhiên, đối với những người đang được ăn trên ngồi trốc, họ không thích có sự bình đẳng bỡi lẽ chính sự bình đẳng sẽ làm mất đi rất nhiều quyền lợi của họ. Nhưng những người đang bị áp bức bao giờ cũng muốn sớm thoát ra khỏi tình trạng bi đát khốn nạn đó.

Trong xã hội phong kiến, thưởng và phạt là những phương cách để giữ được trật tự trong xã hội. Những cách thức đó rất thích hợp và có hiệu quả. Lời hứa và sự đe dọa làm cho cấp dưới sợ sệt lo tuân giữ lề luât được áp đặt trên người họ. “Hãy làm như ta bảo và sẽ được khen thưởng. Nếu ngươi bất tuân ngươi sẽ bị phạt.” Đó là luật trong xã hội phong kiến và đó cũng là truyền thống mà những người quyền thế vẫn còn muốn bám víu. Nhưng những điều đó không còn thích hợp trong xã hội dân chủ và tự do hôm nay.

Chúng ta có thể nói nguyên nhân căn bản gây ra xung khắc giữa người với người là sự bất bình đẳng giữa cá nhân với cá nhân hoặc giữa nhóm nầy với nhóm khác. Những xung khắc có thể tức thời được giải quyết nhưng cũng có thể vẫn còn kéo dài mãi bao lâu sự bất bình đẳng chưa được giải quyết một cách tốt đẹp. Chỉ có sự bình đẳng, nền tảng của dân chủ mới có thể mang lại cho con người sự hòa hợp và bình an cũng như mối tương quan bền vững và tốt đẹp. Điều đó quả thật rất đúng trên mọi lãnh vực: hôn nhân, gia đình, và xã hội.

Để sống bình đẳng với người bạn của mình, chúng ta không nên dùng áp lực và quyền bính nhưng chúng ta phải thay thế bằng một phương pháp mới: đó là sự cộng tác. Sự cộng tác trong một xã hội dân chủ phải đặt nền tảng trên sự quan tâm đến quyền lợi và lợi ích của người khác cũng như quyền lợi của chính cá nhân mình. Đây chính là công thức cần thiết cho sự bình đẳng, và sự kính trọng lẫn nhau chính là tiền đề của nó.

Sự trọng kính quyền lợi của nhau là điều kiện tất yếu cho sự hòa hợp hòa giải tốt đẹp đối với những xung đột đang có. Tóm lại, những cố gắng hoặc tạo cho mình những quyền hành trên người khác, hoặc chủ trương đầu hàng, hoặc nhượng bộ trước những áp lực, ngày xưa có thể là những phương thức giải quyết những xung đột, bây giờ không còn thích hợp để giải quyết vấn đề nữa. Những xung khắc đó chỉ có thể được giải quyết bằng sự thõa thuận tự nguyện với nhau. Nhưng để đạt được sự thõa thuận tự nguyện đó, nó đòi hỏi một sự thay đổi hoàn toàn trong thái đô cũng như trong tiến trình đi đến hòa giải của mỗi một người chúng ta.

Những cố gắng giải quyết vấn đề dựa trên phương cách hoặc không kính trọng người khác hoặc không kính trọng chính mình, tất cả đều là sai lầm. Cố gắng khống chế người khác ám chỉ sự không kính trọng quyền lợi và nhân phẩm của người đó, trong khi quá nhượng bộ cũng ám chỉ một sự thiếu kính trọng chính mình. Bằng sự kính trọng và cảm thông lẫn nhau, chúng ta sẵn sàng chấp nhận người khác có quyền tư tưởng theo lối riêng của họ cũng như chúng ta có lối nhìn riêng của chúng ta.

Có điều chắc chắn này là trong chế độ dân chủ thật sự không ai có thể chiếm được cùng đích của mình bằng đường lối bạo hành và áp lực. Nền tảng căn bản cho sự hòa hợp, cho sự cảm thông lẫn nhau cũng như để đạt được những giải quyết bền vững lâu dài không gì khác hơn là sự đồng thõa thuận giữa những người được xem là bình đẳng với nhau. Một số người nghĩ rằng điều đó khó có thể đạt được nhưng riêng tôi, tôi xin quả quyết rằng không những nó có thể đạt tới một sự thõa thuận mà còn có thể hoàn thành được những điều mà chúng ta thõa thuận với nhau nữa.

Phương Cách Giải Quyết Những Xung Đột Trong Cuộc Sống Hôn Nhân:

Thay Đổi Chính Con Người Mình Chứ Không Phải Thay Đổi Người Khác.

Chúng ta nên biết rằng chúng ta chỉ có thể làm thay đổi cuộc sống và thái độ  của những người chung quanh chúng ta  bằng cách thay đổi chính con người của chúng ta mà thôi. Nhưng điều đó không phải là dễ. Sự thăng tiến chỉ có thể có được khi sự khởi đầu nơi chính mình được nhận thức và được chấp nhận. Thông thường người ta chỉ muốn cố gắng giáo dục và sửa đổi người khác. Nhưng hãy nhớ rằng chỉ bằng thái độ riêng của chúng ta, chúng ta mới có thể ảnh hưởng đến những người cùng chung sống với chúng ta. Bất cứ điều gì xảy ra trong tương quan vợ chồng cũng đều cho thấy mối tương giao của hai người phối ngẫu. Chúng ta không nên nói rằng nếu anh ấy hay chị ấy thay đổi, tôi cũng sẽ sẵn sàng thay đổi. Chúng ta nên biết rõ sự thật nầy là nếu tôi thay đổi thái độ của tôi, chắc chắn anh ấy hay chị ấy không thể tiếp tục cách sống của họ nữa. Ngay dầu chỉ một chút thay đổi trong thái độ sống của chúng ta, nó cũng sẽ ảnh hưởng tức khắc đến thái độ sống của người khác.

Nên biết rằng không ai hoàn toàn xấu cũng không ai hoàn toàn tốt cả! Cái khả năng trở nên tốt hoặc xấu đều nằm sẵn trong mỗi con người chúng ta. Chính người chồng cũng như người vợ đều có khả năng để làm cho cái tốt hoặc cái xấu của người bạn mình chổi dậy. Nhưng rồi, họ biết gì về người bạn của mình?

Cứ sự thường họ chỉ biết về những thói xấu của nhau như thích nắm quyền, thích phàn nàn, thích tiêu tiền, thích làm đẹp, thích cờ bạc, thích rượu chè, không thích làm việc…nhưng họ không biết được nguyên nhân nào đã làm cho người bạn mình có thái độ sống như vậy.

Chính việc không biết đến những quyền lợi căn bản của người khác đã làm cho họ cứ tiếp tục tranh đấu cho quyền lợi cá nhân riêng mình. Dĩ nhiên, điều mà họ nói về người khác thường thì đúng dẫu những tường thuật giữa họ xem ra là mâu thuẫn với nhau. Nhưng hãy nhớ rằng điều quan trọng không phải là ai sai ai đúng, vì mỗi ngưòi đều đúng dưới cái nhìn của riêng mình nhưng lại sai dưới cái nhìn của đối phương. Nếu chúng ta yêu một người nào chúng ta sẽ không hỏi người đó đúng hay sai. Đó là lý do tại sao người ta thường nói yêu là mù quáng. Nhưng tình yêu thì không mù quáng. Chúng ta thường nói: anh yêu em dẫu em có bất toàn. Điều đó có nghĩa là anh yêu em và chấp nhận em dẫu em có là gì đi nữa, dẫu em đẹp hay em không đẹp, em tốt hay em xấu anh vẫn yêu em. Nhưng sau đó, khi quyền lợi của chúng ta bị đe dọa, chúng ta không thích chấp nhận nhau như trước nữa. Trái lại, để tranh đấu cho ưu thế của chúng ta, chúng ta thường đi tìm những lỗi lầm nơi người bạn chúng ta và dùng những cái đó như những lý do chính đáng để chấm dứt sự cộng tác của chúng ta. Hãy nhớ rằng đối với sự hạnh phúc của hôn nhân, câu hỏi sai hay đúng không phải là quan trọng nhưng biết chấp nhận cái xấu cũng như cái tốt của người khác mới là quan trọng. Chúng ta cần nhớ rõ điều đó khi có sự bất đồng ý kiến hoặc sự chán nản đang đe dọa đời sống hôn nhân của chúng ta.

Bước đầu tiên cũng như điều kiện trước tiên cho mọi cuộc thăng tiến là chấp nhận tình trạng hiện đang có. Cần phải đối diện vấn đề một cách can đảm là điều kiện thiết yếu cần có trước nhất để có một lối thoát cho vấn đề đang gặp phải. Điều đó dĩ nhiên không phải là dễ. Nhưng chạy trốn thực tại thì không phãi là cách thế thực tế. Không có vấn đề nào được giải quyết bằng cách thế đó. Một khi chúng ta đã quyết đối diện vấn đề là chúng ta đang đi đúng đường.

Thắng vượt được cảm giác đầu hàng, loại bỏ được ảo giác chúng ta có thể thành công bằng một cuộc chiến, và biết rằng người khác cũng đau khổ như chúng ta đang đau khổ, những tư tưởng đó sẽ giúp chúng ta tìm ra được những giải pháp tốt đẹp cho chính chúng ta. Tuy chậm nhưng với sự can đảm gia tăng, chính sự tự tin sẽ làm cho chúng ta ít bị thương tổn và giúp chúng ta ngày càng đạt được kết quả tốt đẹp hơn.

Mẫu chuyện sau đây sẽ giúp chúng ta ít nhiều kinh nghiệm trong việc đối đầu với những lủng củng, lục đục của chúng ta trong đời sống hôn nhân. Những lủng củng đó có thể được loại bỏ hoặc giải quyết một cách dễ dàng nếu hai người phối ngẫu hiểu được những động lực sâu xa đang tiềm ẩn đằng sau những biến chứng đang xảy ra. Một khi họ nhận thức được tất cả những nguyên nhân đó, họ sẽ không còn giận dữ và lên án nhau nữa. Trái lại, họ cố gắng đi tìm những cách thế để thay đổi tình huống một cách tốt đẹp.

Chị Anna Nguyễn là một người đàn bà Việt Nam. Chị có một vấn đề xem ra không có gì là quan trọng, nhưng đang đe dọa đời sống hôn nhân của chị. Chị lấy chồng được một năm và xem ra rất hài hòa trong đời sống vợ chồng cũng như trên bình diện xã hội. Nói chung, vợ chồng chị sống vui vẻ với nhau ngoại trừ một vấn đề bất ổn nho nhỏ dần dần đã làm cho cuộc hôn nhân của họ mất đi hòa khí và trở thành nặng nề.

Chị ta cho biết rằng dầu chị đã cố gắng hết sức, chị cũng không thể làm cách nào để chồng chị trao tiền cho chị mua thức ăn cũng như trang trải những chi phí khác đúng thời hạn. Chị ta cứ phải hỏi tiền mỗi tuần nhiều lần. Nếu chị ta không hỏi, anh ta quên đưa tiền cho chị cho tới khi tuần đó qua đi. Chị có đem chuyện đó ra nói với anh ta, rồi còn năn nỉ và hăm dọa anh ta nữa nhưng tất cả đều vô ích. Chị càng gây lộn với anh thì anh càng ít đưa tiền cho chị. Vậy chị ta nên phải làm gì? Bây giờ thì anh ta bắt đầu tố cáo chị tiêu tiền quá nhiều. Chị ta phải làm gì để tránh chiến tranh bùng nổ?

Chúng ta có thể hiểu được tình cảnh khó khăn của chị. Chị không thể nào đự trù được ngân quỹ của chị ngay cả đến những bữa ăn. Chị ta phải đi mượn tiền, phải đi vay nợ, đó là những điều mà chị rất ghét nhưng chị ta cũng không thể làm gì khác hơn là năn nỉ và đe dọa.

Thật rõ ràng: đó là một thái độ phi lý của người chồng. Người chồng xem ra là kỳ cục nếu chỉ được nhìn trên bình diện lý trí. Anh ta không có quyền cũng như không có lý do chính đáng để hành động như thế. Nhưng tình huống có thể là khác hẳn nếu được nhìn dưới nhãn quan tâm lý. Anh ta yêu vợ và hy sinh cho vợ rất nhiều đến nỗi chị ta có thể thuyết phục anh ta làm bất cứ điều gì chị ta muốn, và chị đã làm được như thế ngoại trừ trong vấn đề nầy, bỡi lẽ chỉ còn có một lãnh vực duy nhất mà anh ta cảm thấy mình còn giữ được chút uy thế, còn giữ được thế thượng phong, đó là vai trò cung cấp. Anh ta muốn lợi dụng vai trò nầy để giữ được ưu thế của mình trên người vợ, nhưng anh ta hoàn toàn không ý thức gì về chuyện đó. Anh chỉ muốn được hỏi và được xin. Nếu anh ta trao cho chị số tiền ngay vào đầu tuần, uy quyền của anh sẽ không còn. Nhưng anh ta không có thể cắt nghĩa điều đó cho chị ta được vì anh ta hoàn toàn vô ý thức về vấn đề nầy. Anh ta thật sự hoàn toàn vô thức về động lực tâm lý của mình. Vì thế, khi chị ta tố cáo anh ta, anh ta phải đi tìm những lý do loanh quanh để cắt nghĩa. Nhưng những lý do loanh quanh đó chỉ làm cho chị ta thêm tức giận mà thôi. Do đó, họ đã đi đến chỗ bế tắc trong cuộc chiến tranh lạnh và xem ra cũng rất nguy hiểm cho cuộc hôn nhân của ho, vì có thể một ngày nào đó nó sẽ làm cho cuộc hôn nhân của họ đi đến chỗ tan vỡ.

Sau khi đã nghe chị trình bày tất cả, tôi hiểu được động lực tâm lý nằm đằng sau vấn đề, và vì thế tôi đã giúp chị hiểu rõ những lý do tại sao chồng chị đã làm như thế. Sau đó, chị ta không còn buồn phiền và giận dữ nữa vì chị đã nghĩ ra một phương cách để giải quyết vấn đề một cách thích thú. Trở về nhà, từ hôm đó chị tỏ ra luôn vui vẻ và lịch sự hỏi anh ta tất cả những điều chị cần đến. Anh ta cũng rất vui vẻ và sung sướng thõa mãn tất cả những gì chị ta yêu cầu. Và nếu đó là cách làm cho anh ta cảm thấy vui sướng thì tại sao chị lại không cứ như thế mà làm. Chị có thể lấy một vài trăm đô một cách dễ dàng nếu chị chịu khó vui vẻ hỏi nhiều lần. Quả thật, anh ta rất rộng rãi với chị và yêu thương chị. Vì thế, sau đó chị đã không những lấy một vài trăm mà ngay cả một vài ngàn một cách dễ dàng vui vẻ để chi trong những công việc cần thiết mà không có gì rắt rối.

Điều mà chị ta học được từ kinh nghiệm nầy là cần làm một cái gì khác hơn là giải quyết vấn đề tiền bạc. Chị đã khám phá ra rằng cái nguy hiểm thật của họ nằm trong chỗ tranh chấp quyền hành và anh ta thật sự lo sợ chị nắm quyền trên anh ta. Nhờ yếu tố tâm lý, chị ta đã hiểu được cái gì là động lực sâu xa, đâu là lý do đã khiến anh ta hành động như vậy. Và sau khi đã khám phá ra được điều đó, chị đã có thể tìm được một phương cách để giải quyết vấn đề của chị một cách thành công và dễ dàng.

Xin cầu chúc quý anh chị đang gặp phải những khó khăn trong đời sống hôn nhân cũng tìm được một lối thoát tốt đẹp cho cuộc hôn nhân của chính mình cũng như cho sự hạnh phúc của con cái trong gia đình mình.

Lm. Lê Văn Quảng.

VỀ MỤC LỤC
Thể thao trong đời sống

 

Con người ai cũng muốn sống khoẻ mạnh và sống yêu đời. Thể thao giúp vào việc đó. Thể thao giúp luyện tập không chỉ cho thân xác được dẻo dai cường tráng, nhưng cả tinh thần trí tuệ, chí khí cũng vui tươi phấn khởi lên. Theo cách nói ngày nay là „fit and fun“. Người xưa cũng đã có câu phương châm khuyến khích đời sống vươn lên: „ Mens sana in copore sano – Tâm hồn lành mạnh trong thân xác khoẻ mạnh“   

Thể thao phổ thông dành cho mọi người. Và xưa nay đều có những trờng huấn luyện thể thao, những cuộc tranh tài thể thao nhằm khuyến khích nâng cao thành tích tập luyện, cùng cải tiến kỹ thuật bộ môn thể thao cho thêm hấp dẫn.

Bộ môn Bóng Ðá là một trong những bộ môn thể thao phổ thông khắp mọi nơi. Bộ môn này ngày càng ăn sâu vào nền văn hóa cuộc sống của con người ở khắp năm châu. Vì thế có những cuộc tranh tài Bóng Ðá ở mỗi quốc gia, giữa các quốc gia trong vùng hay trong một châu lục,và giữa các quốc gia trên toàn thế giới.

Năm nay từ ngày 09.06. 2006 – 09.07. 2006 diễn ra cuộc tranh tài Bóng Ðá quốc tế Word cup 2006, ở nước Ðức với khẩu hiệu: Die Welt zu Gast bei Freunden –Xin tạm dịch: Lòng hiếu khách

1. Mối tương quan giữa thể thao và niềm tin đạo Công giáo 

Giáo Hội Công giáo do Chúa Giêsu Kitô sáng lập ở trần gian cho con người. Giáo hội ở giữa con người lo cho con người phần tinh thần niềm tin đạo giáo được bình an 

Những hội đòan Câu lạc bộ của các bộ môn Thể thao do con người tự thành lập ra, trước hết chú trọng đến phần luyện tập thân thể con người sao cho khoẻ mạnh. Và qua đó tinh thần trí tuệ trở nên minh mẫn, có một đời sống được mãn nguyện.  

Cả Giáo hội lẫn Hội đoàn Thể thao đều hướng về mục đích hướng dẫn con người. Qua những luật lệ cách sống, hội nhập vào cuộc sống văn hóa và niềm tin, nhất là về đời sống luân lý lành mạnh, đức tính thành thật thẳng thắn, sống chung hòa bình, tình bạn vui tươi, công bằng và sẵn sàng giúp nhau trong đời sống.

Cả hai đều đặt con người gồm có thân xác và tâm hồn là một không thể phân chia tách rời nhau ra lên hàng đầu quan trọng. Cho dù cả hai có những nhận xét lối nhìn riêng rẽ khác nhau về con người.

Theo Giáo hội con người là tạo vật do Thiên Chúa dựng nên có hồn và xác, và sau cùng trở về với Người. Cuộc sống tâm hồn lành mạnh có niềm tin yêu vào Thiên Chúa giúp cho thân xác sống theo tự chế tuân theo kỷ luật.

Thể thao nhìn con người là một đơn vị có thân xác và tinh thần. Ðơn vị này nếu được luyện tập, thân xác sẽ trở nên khoẻ mạnh cân đối, mang lại thành tích cao, và giúp cho đời sống tinh thần vươn lên.  

Cho dù Thể thao khuyến khích đòi hỏi nâng cao thành tích cố vươn lên. Nhưng cũng như Giáo hội, cả hai đều nhìn nhận khả năng giới hạn của cả thân xác lẫn tinh thần, và biết chấp nhận thất bại mà không nản lòng, không tiêu hao mất niềm vui tươi. 

Cho dù Giáo hội và Thể thao đều hướng tới hạnh phúc, sự mãn nguyện của con người, nhưng cả hai có điểm khác biệt nhau.

Theo Giáo hội, hạnh phúc con người mong muốn đạt tới có nguồn gốc thâm sâu hơn, chỉ có nơi Thiên Chúa và duy chỉ mình Ngài mới làm thỏa mãn tràn đầy ước vọng lâu dài của con người được. 

Niềm vui tươi phấn khởi do Thể thao mang lại, như khi thắng trận, thắng điểm tranh tài, chỉ là hình bóng hạnh phúc do Thiên Chúa ban cho con người thôi. Niềm vui tươi phấn khởi đó có giới hạn về thời gian cùng tâm trạng cuộc sống lúc diễn ra. Như thế Thể thao không thể nào thay thế vào chỗ cho niềm tin đạo giáo và cũng không được trở nên một ý thức hệ lôi kéo con người sống xa rời niềm tin tôn giáo.

Về phương diện giáo dục, Thể thao là một bộ môn hữu ích cần thiết cho sự phát triển tâm sinh lý người trẻ, cũng như tập luyện nếp sống kỷ luật cùng tinh thần đồng đội.

Thể thao là phương tiện giúp cuộc sống con người luyện tập sống khỏe mạnh có niềm vui, có kỷ luật. Thể thao cho con người, chứ không phải con người cho Thể thao.

2. Lời của trái banh

2.1. Những miếng da khâu bện nối liền

Trái banh lăn trên sân cỏ trong cuộc thi đấu không nói lên ngôn từ gì. Nhưng nhìn trái banh tròn lăn trên mặt sân cỏ được những cặp giò chuyền đưa đá từ vị trí này đến vị trí khác, mục đích tối hậu là lọt tung lưới khung thành đối phương, lại nói với chúng ta những tình tự thân thương.

Trái banh đá hình tròn, nhưng lại được khâu bện bởi nhiều mảnh da có hình lục giác lại với nhau. Theo luật lệ FIFA, Hội túc cầu thế giới, trái banh đá có chu vi tối đa 71 cm và không được nhỏ hơn 68 cm; sức cân nặng tối đa 453 Gramm, nhưng không được nhẹ hơn 386 Gramm, và hơi trong banh có sức chịu hoặc 0,6 hay 0,7 atü. Trái banh phải làm bằng chất liệu không thấm nước, luôn giữ cho hình tròn đều đặn.

Những miếng da chất Neopren được khâu bện dính chặt liền với nhau, không chỉ tạo nên vẻ đẹp trái banh, nhưng  giúp bảo vệ cho bên trong trái banh không bị hư hại và không bị bùn đất cát thẩm thấu vào.

Ðây là cũng là lời nói trước tiên của trái banh: các cầu thủ đội thi đấu cũng phải có tình thần đoàn kết đồng đội gắn bó với nhau, mới mong tạo nên vẻ đẹp và dành được chiến thắng!

Mội đội banh phải đồng lòng chơi thi đấu chung. Không cầu thủ nào được xé lẻ chơi riêng giữ banh một mình. Nhưng giúp nhau chuyền banh chơi chung. Vì thế có những vai trò vị trí khác nhau trong đội hình thi đấu.

2.2. Hơi trong trái banh

Khi một trái banh bị gai đâm thủng hay bị tàn phá, hơi bên trong sẽ thoát ra ngoài. Trái banh sẽ không còn hình tròn; không còn sức đàn hồi dùng chân đá chuyền lăn trên sân cỏ hay trong không gian. Trái banh lúc đó nằm ẹp một chỗ, không còn xử dụng được nữa.

Cũng vậy, một đội tuyển đá banh, khi thiếu hay không còn khí thế tinh thần, niềm vui phấn khởi thi đấu nữa, không còn nhuệ khí hăng say chơi thi đấu…Họ khác nào như một trái banh bị lủng hết hơi nằm ẹp trên sân cỏ!

Tinh thần đồng đội, niềm vui phấn khởi, khác nào như hơi bên trong làm cho trái banh trở nên nhẹ nhàng sống động lăn trên sân cỏ, bay trong không khí!

2.3. Chăm sóc trái banh

Dù những miếng da được khâu bện chặt vào nhau làm nên hình thù trái banh. Nhưng trái banh cũng cần phải được chăm sóc, tắm rửa, lau chùi phơi khô và sửa chữa nữa. Nếu không, trái banh sau một thời gian sẽ không còn là trái banh nữa!

Một đội banh không phải chỉ gồm có đủ người là đã tạo nên một đội tuyển được. Không có luyện tập, không có kỷ luật cùng kỹ thuật chơi, không có hy sinh từ bỏ, không có tinh thần đồng đội, không một đội tuyển nào có thể thành hình sống còn cùng tạo những chiến thắng vẻ vang được.

Số lượng hình thức vẻ bên ngoài cần thiết. Nhưng chất lượng là yếu tố quyết định cần thiết hơn hết giúp giữ gìn trái banh đẹp lâu bên và cho đội banh phát triển đi lên.

Trong niềm tin đạo giáo và cuộc sống làm người, Thánh Phaolo đề nghị lối sống chất lượng tình đồng đội: „Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính,  anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo!“ (Col 3, 12-14).

Ðức Quốc mùa World Cup 2006

Lm. Nguyễn ngọc Long

VỀ MỤC LỤC
ĐỪNG MỒ CÔI HÓA CHÍNH MÌNH

 

I. Thế giới có hai con tàu khổng lồ, nổi tiếng là Titanic và Alsalem. Cả hai đều có chung một thảm họa: bị chìm rất nhanh, chỉ trong vòng 30 phút đến 1 giờ sau khi bị nạn. Điều đáng chú ý là Alsalem đã bị cấm hoạt động vì đã có đến 35 năm hoạt động, còn Titanic chỉ mới ra khơi lần đầu tiên, được mệnh danh bằng một cái danh đầy kiêu ngạo: con tàu thế kỷ, hoặc con tàu không bao giờ chìm. Như vậy, khi cho Alsalem ra khơi, người ta liều lĩnh, mù quáng, bất chấp nguy hiểm, coi thường tính mạng con người. Đến lúc bị cháy, dù chưa xa bờ bao nhiêu, vẫn không quay trở lại, cứ tiến tới. Còn Titanic lại quá ỷ lại, quá chủ quan, quá cậy dựa vào tiến bộ kỹ thuật, không ngờ rằng, tàu dù lớn nhất, mạnh nhất, mới nhất…, vẫn chìm. Còn hơn thế, sau khi hoàn thành Titanic, những kẻ lấy sức người chống sức trời còn ngang ngược đến độ viết ở hai bên mạn tàu những chữ “không có Thiên Chúa”, “không có Giáo hoàng” thật to… Như vậy, cả hai, Titanic và Alsalem đều có chung một nội dung: biểu tượng của sự ngạo mạn, kiêu căng, chỉ cậy dựa vào sức người… Mạnh hơn, nó còn là biểu tượng của sự chống đối Thiên Chúa.

Đó là chuyện đã qua. Alsalem hay Titanic đã thuộc về quá khứ. Dù đã có nhiều kinh nghiệm đổ vỡ về việc lấy sức người chống sức trời, nhân loại vẫn không ngừng đi theo lối mòn của sự tối tăm. Sự kiện “The Da Vinci Code” đang nổ ra như một cố gắng của loài người tìm khẳng định mình, nhằm đối đầu với niềm tin tôn giáo. Dù đã xảy ra nhiều thất bại do lòng kiêu ngạo, người ta vẫn chưa nhận ra rằng, càng tách mình khỏi niềm tin, con người càng thất bại, càng mất phương hướng, càng chao đảo.

“The Da Vinci code” càng thể hiện chính mình, thì càng bộc lộ sự vùng vẫy trong cái đói niềm tin, càng chứng minh một chân lý ngàn đời: Khi tạo dựng loài người, Thiên Chúa đã phú ban trong họ chính hình ảnh của Thiên Chúa, còn hơn thế, Thiên Chúa phú ban chính Người trong họ, vì thế, họ cứ mãi hướng về Thiên Chúa, khao khát Thiên Chúa.

Trong cái nhìn của người lãnh hội niềm tin, tôi nghĩ “The Da Vinci Code” chỉ là một hội chứng như bao hội chứng khác đã từng nổ ra trên thế giới trong sự tự nỗ lực đi tìm mình. Mà những nỗ lực đi tìm mình, đặc biệt, đi tìm và xác định chính mình trong bóng dáng của lịch sử niềm tin như “The Da Vinci Code”, là hiện tượng cho thấy niềm khao khát mãnh liệt hướng về Thiên Chúa, khao khát tìm về sự thật tuyệt đối. Nhưng sự vùng vẫy bởi chính lý trí của mình thôi chưa đủ. Đi ngoài chân lý niềm tin, lý trí chỉ là một thứ lý trí què quặt, tật nguyền. Vì thế, trong sự vùng vẫy của “The Da Vinci Code”, bộc lộ hoàn toàn cái đói niềm tin. Nhưng như một nghịch lý về sự tự khẳng định mình: một mặt con người đang đói niềm tin, mặt khác, nó cứ muốn đẩy chân lý ấy ra xa lòng mình. Con người càng đói, càng bộc lộ sự cứng cỏi đến độ chối từ niềm tin, đứng bên ngoài niềm tin, thậm chí tìm cách đặt mình lên trên chân lý của niềm tin, như là mình có đầy đủ phương tiện, đầy đủ tư cách để giải quyết rạch ròi chân lý của niềm tin ấy. Con người không ngờ rằng, trong chính sự vùng vẩy của cái đói, của sự mất nền tảng ấy, càng làm cho nó rơi vào vô định, hụt hẩng. Bởi một khi đánh mất Thiên Chúa, con người cũng đánh mất chính mình. Nguy hiểm của sự tự đánh mất chính mình, đó là con người chỉ còn biết ngụp lặn, vẫy vùng trong một ao tù không lối thoát. Họ chỉ có thể vươn lên khi nào họ chấp nhận sự thật rằng, chân lý niềm tin là chân lý chi phối đời người, nâng cao giá trị đời người.

II. Trong Tin Mừng thứ tư, Chúa Kitô thoáng cho thấy sự chống đối của loài người, khi ám chỉ hình ảnh của Giuđa trong lời Thánh vịnh: “Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con”. Giuđa đã đang tâm chống lại Chúa Kitô, chống lại Chúa và Thầy của mình.

Nhưng đâu chỉ một mình Giuđa. Từ thuở tạo thiên lập địa, những con người đầu tiên của nhân loại đã chống đối Thiên Chúa. Adong, Evà đã làm một hành vi không thể tưởng tượng: đòi ngang hàng với Đấng Sáng Tạo nên mình. Hành vi phản bội và chống đối của Adong, Evà đã khai màu cho cả một dòng lịch sử, mà trong đó, con người là kẻ không ngừng bội phản, đối lại lòng yêu thương tha thứ không ngừng của Thiên Chúa…

Tiếp theo sau Adong, Evà, Thánh Kinh còn chứng minh rất nhiều sự thất bại của con người khi tự mình vuột khỏi tầm tay của Thiên Chúa. Đại lụt hồng thủy, tháp Babel, nô lệ ở Aicập, hoặc hai cuộc lưu đày lớn của dân Thiên Chúa… là tất cả câu trả lời cho đường lối mà con người tự vạch ra cho mình, nhằm thoát ly Thiên Chúa của mình.

Thảm họa của Titanic và Alsalem vẫn còn đó như là bằng chứng hùng hồn tố cáo sự manh động của nhân loại. Vậy mà trải qua năm tháng, nhân loại, kể cả nhiều thành viên của Hội Thánh Chúa Kitô, cá nhân hay tập thể, vẫn không ngừng tìm cách “giết chết” Thiên Chúa để tự do làm chủ cuộc đời và vận mạng của mình cũng như của thế giới.

Biểu trưng cho những hành vi chống đối của thời đại là thái độ vô thần; lãnh đạm, lạnh lùng trước vấn đề đức tin; bắt bớ, chống đối, hạn chế tự do của người có tôn giáo; tạo nên cả một hệ thống lý luận của lý trí nhằm bài xích tông giáo; đem những mốc lịch sử đen tối của Hội Thánh để tuyên truyền cứ y như là Hội Thánh chỉ có cái xấu mà thôi vậy; Thái độ vô luân, hưởng thụ, thực nghiệm, thực dụng, đề cao khoa học kỹ thuật…, hoặc sự chiếm đoạt quyền và của cải của Hội Thánh, chiếm đoạt cả ảnh hưởng và tình yêu mà Hội Thánh của Chúa Kitô gieo rắc trong lòng người… cũng nằm trong chiều hướng chống đối đức tin, chống đối Thiên Chúa mà Hội Thánh trung thành rao giảng. Hoặc đem lịch sử của Hội Thánh để gán ghép vào đó những suy tư man trá, gán ghép vào đó những vu khống, tương tự như sự man trá và vu khống trắng trợn của “The Da Vinci Code” nhằm bôi nhọ Hội Thánh, kể cả phỉ báng Thiên Chúa, …

Điều mỉa mai đau đớn là, chính lúc người ta không ngừng tìm cách giết chết Thiên Chúa trong lương tâm, trong cuộc đời cá nhân cũng như thế giới, là chính lúc nhân loại càng xuống cấp về thuần phong mỹ tục, về tình yêu, về những giá trị nhân văn, giá trị đạo đức. Càng ra sức loại trừ Thiên Chúa, loại trừ đức tin ra khỏi cuộc đời mình, con người càng chao đảo, càng mất bình an, càng bị dìm vào đáy sâu của bạo lực, hận thù, khủng bố, chiến tranh. Tắt một lời: không có Thiên Chúa trong cuộc đời, thì chính cuộc đời con người đảo lộn.

Nếu sau khi chống đối Thiên Chúa, Ađam, Evà đã lôi kéo sự thảm bại theo mình ra khỏi hạnh phúc địa đàng; Nếu sự chống đối của dân riêng trong Cựu Ước đã đẩy họ đi từ nhục nhã, đau đớn này đến nhục nhã, đau đớn khác; Nếu sự phản bội của Giuđa đi đến kết cục là cái chết oan uổng; Và nếu sự ngạo mạn đáng tội của Titanic và Alsalem làm cho nó phải trả giá quá đắt: muôn đời nằm lại giữa lòng đại dương, thì thái độ kiêu ngạo, đòi “giết chết” Thiên Chúa của loài người hôm nay phải mang bản án là những mỉa mai đau đớn (mà chúng ta vừa nói bên trên), quay lại hành hạ chính mình chẳng có gì là khó hiểu. Bởi một lẽ rất đơn giản: Con người chống lại Thiên Chúa, lập tức hành vi chống đối ấy cũng chính là hành vi chống đối chính họ.

Vì thế, cái chết của “The Da Vinci Code” về mặt niềm tin là một đòn chí tử giáng trên chính những ai mơ mộng dệt một thế giới do chính mình điều khiển: Nó sẽ là thế giới mà sự mất bình an cả về đời sống, về tương quan con người, tương quan xã hội, đến mất cả bình an nội tâm lên ngôi. Đàng khác, một khi đã chết về mặt niềm tin, người ta cũng sẽ cùng lúc kiệt quệ về niềm hy vọng. Một thế giới không bình an, không niềm tin, không niềm hy vọng, làm sao lại là một thế giới lý tưởng? Hay nó chỉ là một thế giới của những kẻ đang trên bờ vực của sự chết. Mà cái chết lớn nhấn sẽ như một cú đấm mạnh, đấm thẳng vào khuôn mặt của nhân loại, đó là chết tình người, chết lòng yêu thương!

Hiểu được bài học và cái giá đau đớn mà loài người phải trả cho sự chống đối Thiên Chúa, người Kitô hữu cần khẳng định lại đức tin của mình. Thêm một lần khẳng định, để một lần nữa, ta quyết tâm khám phá khuôn mặt đầy lòng nhân từ yêu thương của Thiên Chúa. Một trong những khía cạnh của lòng nhân từ yêu thương đó, chính là thái độ kiên nhẫn chờ đợi đến vô cùng của Thiên Chúa đối với con người đầy phụ bạc, bất nghĩa.

III. Lòng kiên nhẫn chờ đợi của Thiên Chúa dành cho loài người là điều có thật. Thánh Kinh nhiều lần chứng minh lòng kiên nhẫn ấy. Nếu đi ngược về thời gian Cựu Ước, càng chứng tỏ lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa thật lớn lao, thật huyền diệu. Người chịu đựng đám dân đầy phản bội, luôn xúc phạm Thiên Chúa của mình bằng vô số lần phạm tội.

Chính vì thế, trải dài đằng đẳng của cả một thời gian Cựu Ước, là sự trải dài của lòng kiên nhẫn cao độ của Thiên Chúa. Lòng kiên nhẫn, nỗi trông chờ tha thiết của Thiên Chúa đối với sự trở lại của loài người, đã dệt nên cả một dòng lịch sử vĩ đại, lịch sử của ơn cứu độ, lịch sử tình yêu hải hà của Thiên Chúa đối với loài người không ngừng vấp phạm. Lòng yêu thương ấy và thái độ bội phản của loài người cứ như một điệp khúc: Thiên Chúa yêu thương – loài người sa ngã – Thiên Chúa lại mời gọi, lại kiên nhẫn  đợi chờ - có lúc Người nổi giận – sau đó Người lại tha thứ - sự ân hận của loài người - rồi loài người lại vấp phạm – Thiên Chúa lại trông chờ họ trở về, lại tha thứ… Cứ như thế mà dòng lịch sử ghi đậm nét của một tình yêu đầy kiên nhẫn, đầy sức chịu đựng của một vì Thiên Chúa Tối Cao. 

Sau này, để minh họa cho tình yêu đầy lòng kiên nhẫn, chịu đựng và tha thứ của Thiên Chúa, Chúa Kitô đã kể dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu (Lc 15, 11-32). Trong dụ ngôn, ngoài những nét chính đó là lòng yêu thương kiên nhẫn, tha thứ của Thiên Chúa, Chúa Kitô còn cho thấy Thiên Chúa là Thiên Chúa từ bi, Thiên Chúa khiêm nhường, Thiên Chúa đau khổ vì tội lỗi của loài người, Thiên Chúa đau khổ vì loài người vong ân và vong thân, Thiên Chúa đau khổ vì loài người lìa xa Người, Thiên Chúa hy vọng, Thiên Chúa hạnh phúc khi loài người trở về với Người…

Không chỉ mạc khải về lòng yêu thương kiên nhẫn của Thiên Chúa mà thôi. Rất nhiều lần, Chính Chúa Kitô đã chứng minh lòng yêu thương kiên nhẫn đó nơi bản thân của Người.

Trong một lần, đang trên đường lên Giêrusalem, khi ngang qua Samaria, Chúa Kitô và các môn đệ bị nguời Samaria bạc đãi khiến hai tông đồ Giacôbê và Gioan tức giận ghê lắm. Tức giận đến nỗi, họ đòi: “Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu rụi bọn chúng không?”. Trong khi thái độ của Chúa Giêsu lại từ tốn hết sức: “Con Người đến không phải để hủy diệt linh hồn người ta mà là để cứu chữa” (Lc 9, 54-56). Chúa Kitô đã kiên nhẫn, dung thứ đối với người Samaria.

Hoặc lần khác, trong những lời đối thoại với những người Dothái, ta lại thấy thái độ nhân từ kiên nhẫn của Chúa Kitô. Những người Dothái không những không tin Chúa mà còn luôn muốn đối đầu với Chúa. Còn Chúa, lời của Người vừa rất cương nghị, nhưng cũng mang âm hưởng của sự cầu xin tha thiết lòng tin của họ: “Tôi đã nói với các ông mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đàn chiên của tôi. Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi…” (Ga 10, 23-30).

Đó chỉ là một trong số rất nhiều lần Tin Mừng chứng minh lòng kiên nhẫn của Chúa Kitô trước thái độ đối đầu của người Dothái… Bởi suốt những năm rao giảng Nước Trời, Chúa không ngừng chịu đựng thái độ cứng tin, chậm hiểu biết, lối hành xử đầy bốc đồng… của các tông đồ. Chúa cũng đã chịu đựng những kẻ chống đối Chúa, chịu đựng sự vô ơn của những kẻ được Chúa chữa lành…

IV. Thật lạ lùng, lạ lùng đến mức không thể hiểu nổi, đến mức trở thành nghịch lý. Bởi đối diện với tình yêu, lòng kiên nhẫn, sự tha thứ của Thiên Chúa, lẽ ra loài người phải cúi mình thật sâu để biết ơn Thiên Chúa, để ca tụng Thiên Chúa, để yêu mến Thiên Chúa, để tôn thờ Thiên Chúa, thì họ lại quay ra chống đối Thiên Chúa, Đấng chỉ có tình yêu và chỉ biết yêu mà thôi.

Để quay lưng lại với chính Thiên Chúa, chối từ tình yêu của Người, con người qua mọi thời đại, đã có quá nhiều những chủ trương chống lại đức tin bằng mọi hình thức, từ chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa thực dụng, đến cả một não trạng duy thực nghiệm, tôn thờ khoa học, tôn thờ các kỹ thuật hiện đại, tôn thờ thần tượng của giác quan, của tri thức do lý trí sản sinh, kể cả việc cuốn quýt chạy theo các loại tri thức giác quan, rồi để cho nó lên ngôi, quay lại điều khiển chính mình. Vì thế, trong thời đại chúng ta, đi từ nghịc lý của việc chối từ Thiên Chúa, con người sa vào một nghịch lý khác lớn không sao kể hết: con người đi từ sự tôn thờ dẫn đến nô lệ những phương tiện do chính mình tạo ra. Cái bi đát lớn hết sức, khốn cùng hết sức nằm ở chỗ, con người thời đại đang làm nô lệ, mà không nhận ra mình nô lệ, lại còn vênh váo cho rằng mình tự do, mình sung sướng.

Bạn thân mến, là Kitô hữu, Chúa muốn chúng ta tin Chúa, tin thật chắc vào Người. Nhờ đức tin, ta can đảm sống đời chứng nhân cho Chúa, cho tình yêu, lòng kiên nhẫn, sự tha thứ của Chúa đối với loài người của thời đại. Bởi cả họ và chúng ta, đều được Chúa mời gọi hãy “thuộc đàn chiên” của Chúa (Ga 10, 22 tt). Vì thế, loài người càng cứng đầu bao nhiêu, xã hội loài người càng chống đối Thiên Chúa bao nhiêu, ta càng chấp cánh cho đức tin của mình mạnh mẽ bấy nhiêu.

Hãy nhớ, Chúa luôn luôn kiên nhẫn đợi chờ ta. Người yêu thương kiên nhẫn đợi chờ mọi tội nhân. Thiên Chúa muốn ôm vào lòng ngay cả những kẻ chống đối, thậm chí tìm cách sỉ nhục Người. Biết rằng, Thiên Chúa cao cả là thế, lại cúi mình trước thụ tạo để kiên nhẫn, để đợi chờ, ta sẽ không dám cứng đầu, không dám ở lỳ trong tình trạng cứng tin của mình.

Loài người hãy mau về với Chúa, hãy khuất phục Thiên Chúa, hãy để cho tình yêu của Người độ trì mình, ấp ủ và chở che mình…

Loài người đừng dại khờ tự mồ côi hóa chính mình…

Lm. VŨ XUÂN HẠNH

VỀ MỤC LỤC
AI LÀ CHỦ ĐỜI TÔI ?

 

Tự chủ là một bí quyết quan trọng để có thể sống một cuộc sống an định không chao đảo, bởi thế con người không ngừng nỗ lực để làm chủ đời mình : làm chủ tư tưởng, làm chủ lời nói, làm chủ hành động…

Con người cố gắng để làm chủ hiện tại và đồng thời cũng có những dự phóng để xây dựng và làm chủ đời mình trong tương lai. Tất cả những nỗ lực ấy đều rất đáng khuyến khích cổ vũ. Tuy nhiên, nếu tôi là một Ki-tô hữu thì tôi không được phép dừng lại ở đó : tôi không tự chủ đời mình để rồi tự “phong vương” cai trị lấy mình. Tôi tự chủ là để dâng hiến đời tôi làm thần dân Thiên Chúa, vì chỉ có Ngài mới là Chủ Tể đời tôi, chỉ có Ngài mới thực sự có quyền định đoạt đời tôi.

Tự chủ là một đức tính tốt, nhưng nếu quá cực đoan trong nỗ lực làm chủ chính mình thì tôi sẽ dễ rơi vào các thái cực nguy hiểm : tự mãn, tự cao, tự quyết đoán… và từ đó lấy mình làm tiêu chuẩn cho chính mình cũng như cho người khác khi hành xử với họ.

Khi chọn mình làm tâm điểm, tôi mặc nhiên đánh bật Thiên Chúa khỏi vị trí phải có của Ngài trong cuộc đời tôi : tôi là chính, còn Thiên Chúa chỉ là thứ yếu ! Và một khi Thiên Chúa đã bị tôi cho “xuống cấp” thì tha nhân là gì để tôi phải yêu thương tôn trọng ? Đức ái huynh đệ của tôi vì thế cũng không còn tinh ròng nữa : tôi sẽ bắt mọi người qui phục tôi, và giả như tôi có qui phục người nào thì cũng chỉ vì một lợi thú nào đó của tôi !

Thiên Chúa mới là Chủ, còn tôi là con dân Ngài. Đó chính là chỗ đứng đích thực và xứng đáng nhất của tôi trên đời.

Lạy Chúa, xin cho con luôn biết chọn Chúa làm Chủ Tể đời con. A-men ./.

Trầm Tĩnh Nguyện

VỀ MỤC LỤC
Mỗi ngày

 

Mỗi ngày, xin hãy phó thác cho Chúa.

Mỗi ngày, tôi sẽ bắt đầu bằng lời cầu nguyện “hôm nay là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118:24).

Mỗi ngày, tôi sẽ nói: “tôi làm được mọi sự với Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Pl 4:13).

Mỗi ngày, tôi sẽ không còn lo lắng, vì “Chúa của tôi sẽ thỏa mãn mọi nhu cầu của anh em một cách tuyệt vời, theo sự giàu sang của Người trong Đức Kitô Giêsu” (Pl 4:19).

Mỗi ngày, tôi sẽ không còn sợ hãi, vì “Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ” (2 Tm 1:7).

Mỗi ngày, tôi sẽ không còn nghi ngại, vì “không có đức tin, thì không thể làm đẹp lòng Chúa, vì ai đến gần Chúa, thì phải tin là có Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người” (Dt 11:6).

Mỗi ngày, tôi sẽ không còn khiếp sợ, vì “Chúa là thành lũy bảo vệ đời tôi, tôi khiếp gì ai nữa? (Tv 27:1).

Mỗi ngày, tôi sẽ không còn lo thất bại, vì “Chúa hằng cho chúng tôi tham dự cuộc khải hoàn trong Đức Kitô” (2 Cr 2:14).

Mỗi ngày, tôi sẽ không thiếu khôn ngoan, vì “nếu ai trong anh em thiếu đức khôn ngoan, thì hãy cầu xin Chúa, Người sẽ ban cho. Và Người ban cho mọi người cách rộng rãi, không quở trách” Gc 1:5). 

Mỗi ngày, tôi sẽ không còn sợ bị lên án, vì “giờ đây, những ai ở trong Đức Kitô Giêsu, thì không còn bị lên án nữa” (Rm 8:1).

Mỗi ngày, tôi sẽ không còn lo âu, nản chí, vì “mọi âu lo, hãy trút cả cho Chúa, vì Người chăm sóc anh em” (1 Pr 5:7).

Mỗi ngày, tôi sẽ không còn phiền muộn, vì “lòng thương xót của Chúa mãi không vơi. Sáng nào Người cũng ban ân huệ mới. Lòng trung tín của Người cao cả biết bao!” (Ac 3:22-23).

Mỗi ngày, tôi sẽ không còn cô đơn, vì Chúa Giêsu đã nói “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế." (Mt 28:20).

Mỗi ngày, tôi sẽ không còn bất mãn, vì “tôi đã học sống hài lòng trong bất cứ hoàn cảnh nào” (Pl 4:11). 

Mỗi ngày, tôi sẽ không còn cảm thấy bất xứng, vì “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2 Cr 5:21).

Mỗi ngày, tôi sẽ không còn bối rối, vì “Chúa không phải là Chúa gây hỗn loạn, nhưng là Chúa tạo bình an” (1 Cr 14:33). 

Mỗi ngày, tôi sẽ không để những gánh nặng của cuộc đời làm phiền lòng tôi, vì Chúa Giêsu đã nói “trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16:33b).

Mỗi ngày, tôi sẽ không còn cảm thấy thất bại, vì “trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta” (Rm 8:37).

01-06-2006

Lm. Giuse Ngô Văn Thích, OP.

VỀ MỤC LỤC
NHÌN THẤY CHÚA

 

Sau đệ nhị thế chiến, những sinh viên Đức tiên phong trong trong công tác tái tạo một ngôi nhà thờ ở Anh, một trong những nơi bị bom Luftwaffe tàn phá.

Khi công việc đang tiến triển tốt đẹp, có một vấn đề được đưa ra tranh luận đó là làm cách nào phục chế lại bức tượng lớn Chúa Giêsu với cánh tay dang rộng mang dòng chữ: Hãy đến cùng Ta”. Họ có thể sửa chữa mọi chỗ, chỉ trừ hai cánh tay đã bị những mảnh bom tàn phá. Phải làm sao để có thể để tái tạo hai cánh tay này đây?

   Cuối cùng, họ đi đến quyết định là sẽ làm tượng Đức Giêsu không có cánh tay. Và dòng chữ bên dưới pho tượng đưọc chú thích như sau: “Chúa không còn cánh tay; nhưng chúng ta thì còn.”

* Đôi hàng Cảm nghiệm: Chúa muốn tôi tiếp tục cộng tác với Ngài, Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần sẽ đến nhắc bảo tôi làm những công việc của Ngài. Chúa Giêsu muốn tôi tin vào Ngài thì sẽ làm được những việc Ngài làm, đó là bởi quyền năng Chúa Thánh Linh.

Thần Khí của Đức Giêsu giúp các Tín hữu được công chính hoá bởi Thần Khí nhân danh Đức Kitô(1Cor 6,11). Mỗi bữa tiệc Lời Chúa và Thánh Thể trong Thánh lễ ngày Chúa nhật, bạn cần mang ngay cho bữa tiệc sự sống con người, Giáo hội là bến mong chờ cho mọi người. Bạn sùng kính Thánh Thể chưa đủ, bạn cần Sống Mầu Nhiệm Thánh Thể, chính là biết quên mình vì mọi người như Chúa.

Hãy xử dụng đội tay và ân sủng Chúa dành cho bạn, đừng nghĩ rằng mình phải làm gì to lớn mới làm cho Chúa. Nhiều người chung quanh đang cần sự cứu giúp, họ chính là hình ảnh của Thiên Chúa. bạn có nhìn thấy Chúa trong họ không?

Dẫu họ là người xấu xa, nghèo khổ hoặc đáng ghê tởm, bạn hãy nhớ luôn: “mỗi lần các ngươi làm như thế cho những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25,40) 

Phó tế GB Nguyễn văn Định

VỀ MỤC LỤC
Trong đời sống

 

1. Cuộc đời không chỉ toàn hạnh phúc, không chỉ toàn đau khổ. Cuộc đời không chỉ toàn tiếng cười, không chỉ toàn tiếng khóc. Người cười suốt đời là ngưòi khùng, người khóc suốt đời là người bệnh.

2. Cuộc đời chắp nối bằng những mảnh vụn buồn, vui sướng khổ… Hãy cẩn thận chắt chiu từng mảnh một. Mỗi mảnh có gía trị riêng của nó. Mỗi mảnh có mầu sắc riêng của nó. Hãy gom lại và xếp thành tấm kiếng mầu vĩ đại và hài hòa tuyệt diệu.

3. Cuộc đời vĩ đại là cuộc đời không vất bỏ một mảnh vụn nhỏ nào. Nhưng khéo tay xếp đặt cách tuyệt vời dưới con mắt nghệ thuật của Ðức Tin và ghép chúng lại bằng chất keo Thiên Chúa.

4. Cuộc đời là một ván cờ. Dám chơi chấp, bạn là người cao tay. Có thua, cũng danh dự.

5. Ðời là một cuộc chơi không có quyền xóa bàn làm lại.

6. Ðời là một bông hồng có gai. Nếu yêu hồng thì đừng sợ gai. Nếu sợ gai thì đừng ghét hồng.

7. Cơ may cuộc đời vẫn đến đều như những chuyến xe buýt vào trạm. Mỗi xe đều mang số ấn định tuyến đường. Người nhìn đúng số và lên đúng xe sẽ tới được bến mong chờ. Người nhìn lầm số lên lầm xe sẽ tới nơi chẳng muốn tới. Người rụt rè không dám bước lên xe sẽ bị đời bỏ lại, đứng đón hoài nơi bến vắng tới chiều hôm.