|
I. Thế giới có hai con tàu
khổng lồ, nổi tiếng là Titanic và Alsalem. Cả hai đều có chung
một thảm họa: bị chìm rất nhanh, chỉ trong vòng 30 phút đến 1
giờ sau khi bị nạn. Điều đáng chú ý là Alsalem đã bị cấm hoạt
động vì đã có đến 35 năm hoạt động, còn Titanic chỉ mới ra khơi
lần đầu tiên, được mệnh danh bằng một cái danh đầy kiêu ngạo:
con tàu thế kỷ, hoặc con tàu không bao giờ chìm. Như vậy, khi
cho Alsalem ra khơi, người ta liều lĩnh, mù quáng, bất chấp nguy
hiểm, coi thường tính mạng con người. Đến lúc bị cháy, dù chưa
xa bờ bao nhiêu, vẫn không quay trở lại, cứ tiến tới. Còn
Titanic lại quá ỷ lại, quá chủ quan, quá cậy dựa vào tiến bộ kỹ
thuật, không ngờ rằng, tàu dù lớn nhất, mạnh nhất, mới nhất…,
vẫn chìm. Còn hơn thế, sau khi hoàn thành Titanic, những kẻ lấy
sức người chống sức trời còn ngang ngược đến độ viết ở hai bên
mạn tàu những chữ “không có Thiên Chúa”, “không có Giáo hoàng”
thật to… Như vậy, cả hai, Titanic và Alsalem đều có chung một
nội dung: biểu tượng của sự ngạo mạn, kiêu căng, chỉ cậy dựa vào
sức người… Mạnh hơn, nó còn là biểu tượng của sự chống đối Thiên
Chúa.
Đó là chuyện đã qua. Alsalem hay Titanic đã thuộc về quá khứ. Dù
đã có nhiều kinh nghiệm đổ vỡ về việc lấy sức người chống sức
trời, nhân loại vẫn không ngừng đi theo lối mòn của sự tối tăm.
Sự kiện “The Da Vinci Code” đang nổ ra như một cố gắng của loài
người tìm khẳng định mình, nhằm đối đầu với niềm tin tôn giáo.
Dù đã xảy ra nhiều thất bại do lòng kiêu ngạo, người ta vẫn chưa
nhận ra rằng, càng tách mình khỏi niềm tin, con người càng thất
bại, càng mất phương hướng, càng chao đảo.
“The Da Vinci code” càng thể hiện chính mình, thì càng bộc lộ sự
vùng vẫy trong cái đói niềm tin, càng chứng minh một chân lý
ngàn đời: Khi tạo dựng loài người, Thiên Chúa đã phú ban trong
họ chính hình ảnh của Thiên Chúa, còn hơn thế, Thiên Chúa phú
ban chính Người trong họ, vì thế, họ cứ mãi hướng về Thiên Chúa,
khao khát Thiên Chúa.
Trong cái nhìn của người lãnh hội niềm tin, tôi nghĩ “The Da
Vinci Code” chỉ là một hội chứng như bao hội chứng khác đã từng
nổ ra trên thế giới trong sự tự nỗ lực đi tìm mình. Mà những nỗ
lực đi tìm mình, đặc biệt, đi tìm và xác định chính mình trong
bóng dáng của lịch sử niềm tin như “The Da Vinci Code”, là hiện
tượng cho thấy niềm khao khát mãnh liệt hướng về Thiên Chúa,
khao khát tìm về sự thật tuyệt đối. Nhưng sự vùng vẫy bởi chính
lý trí của mình thôi chưa đủ. Đi ngoài chân lý niềm tin, lý trí
chỉ là một thứ lý trí què quặt, tật nguyền. Vì thế, trong sự
vùng vẫy của “The Da Vinci Code”, bộc lộ hoàn toàn cái đói niềm
tin. Nhưng như một nghịch lý về sự tự khẳng định mình: một mặt
con người đang đói niềm tin, mặt khác, nó cứ muốn đẩy chân lý ấy
ra xa lòng mình. Con người càng đói, càng bộc lộ sự cứng cỏi đến
độ chối từ niềm tin, đứng bên ngoài niềm tin, thậm chí tìm cách
đặt mình lên trên chân lý của niềm tin, như là mình có đầy đủ
phương tiện, đầy đủ tư cách để giải quyết rạch ròi chân lý của
niềm tin ấy. Con người không ngờ rằng, trong chính sự vùng vẩy
của cái đói, của sự mất nền tảng ấy, càng làm cho nó rơi vào vô
định, hụt hẩng. Bởi một khi đánh mất Thiên Chúa, con người cũng
đánh mất chính mình. Nguy hiểm của sự tự đánh mất chính mình, đó
là con người chỉ còn biết ngụp lặn, vẫy vùng trong một ao tù
không lối thoát. Họ chỉ có thể vươn lên khi nào họ chấp nhận sự
thật rằng, chân lý niềm tin là chân lý chi phối đời người, nâng
cao giá trị đời người.
II. Trong Tin Mừng thứ tư,
Chúa Kitô thoáng cho thấy sự chống đối của loài người, khi ám
chỉ hình ảnh của Giuđa trong lời Thánh vịnh: “Kẻ đã cùng con
chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con”. Giuđa đã đang tâm
chống lại Chúa Kitô, chống lại Chúa và Thầy của mình.
Nhưng đâu chỉ một mình Giuđa. Từ thuở tạo thiên lập địa, những
con người đầu tiên của nhân loại đã chống đối Thiên Chúa. Adong,
Evà đã làm một hành vi không thể tưởng tượng: đòi ngang hàng với
Đấng Sáng Tạo nên mình. Hành vi phản bội và chống đối của Adong,
Evà đã khai màu cho cả một dòng lịch sử, mà trong đó, con người
là kẻ không ngừng bội phản, đối lại lòng yêu thương tha thứ
không ngừng của Thiên Chúa…
Tiếp theo sau Adong, Evà, Thánh Kinh còn chứng minh rất nhiều sự
thất bại của con người khi tự mình vuột khỏi tầm tay của Thiên
Chúa. Đại lụt hồng thủy, tháp Babel, nô lệ ở Aicập, hoặc hai
cuộc lưu đày lớn của dân Thiên Chúa… là tất cả câu trả lời cho
đường lối mà con người tự vạch ra cho mình, nhằm thoát ly Thiên
Chúa của mình.
Thảm họa của Titanic và Alsalem vẫn còn đó như là bằng chứng
hùng hồn tố cáo sự manh động của nhân loại. Vậy mà trải qua năm
tháng, nhân loại, kể cả nhiều thành viên của Hội Thánh Chúa
Kitô, cá nhân hay tập thể, vẫn không ngừng tìm cách “giết chết”
Thiên Chúa để tự do làm chủ cuộc đời và vận mạng của mình cũng
như của thế giới.
Biểu trưng cho những hành vi chống đối của thời đại là thái độ
vô thần; lãnh đạm, lạnh lùng trước vấn đề đức tin; bắt bớ, chống
đối, hạn chế tự do của người có tôn giáo; tạo nên cả một hệ
thống lý luận của lý trí nhằm bài xích tông giáo; đem những mốc
lịch sử đen tối của Hội Thánh để tuyên truyền cứ y như là Hội
Thánh chỉ có cái xấu mà thôi vậy; Thái độ vô luân, hưởng thụ,
thực nghiệm, thực dụng, đề cao khoa học kỹ thuật…, hoặc sự chiếm
đoạt quyền và của cải của Hội Thánh, chiếm đoạt cả ảnh hưởng và
tình yêu mà Hội Thánh của Chúa Kitô gieo rắc trong lòng người…
cũng nằm trong chiều hướng chống đối đức tin, chống đối Thiên
Chúa mà Hội Thánh trung thành rao giảng. Hoặc đem lịch sử của
Hội Thánh để gán ghép vào đó những suy tư man trá, gán ghép vào
đó những vu khống, tương tự như sự man trá và vu khống trắng
trợn của “The Da Vinci Code” nhằm bôi nhọ Hội Thánh, kể cả phỉ
báng Thiên Chúa, …
Điều mỉa mai đau đớn là, chính lúc người ta không ngừng tìm cách
giết chết Thiên Chúa trong lương tâm, trong cuộc đời cá nhân
cũng như thế giới, là chính lúc nhân loại càng xuống cấp về
thuần phong mỹ tục, về tình yêu, về những giá trị nhân văn, giá
trị đạo đức. Càng ra sức loại trừ Thiên Chúa, loại trừ đức tin
ra khỏi cuộc đời mình, con người càng chao đảo, càng mất bình
an, càng bị dìm vào đáy sâu của bạo lực, hận thù, khủng bố,
chiến tranh. Tắt một lời: không có Thiên Chúa trong cuộc đời,
thì chính cuộc đời con người đảo lộn.
Nếu sau khi chống đối Thiên Chúa, Ađam, Evà đã lôi kéo sự thảm
bại theo mình ra khỏi hạnh phúc địa đàng; Nếu sự chống đối của
dân riêng trong Cựu Ước đã đẩy họ đi từ nhục nhã, đau đớn này
đến nhục nhã, đau đớn khác; Nếu sự phản bội của Giuđa đi đến kết
cục là cái chết oan uổng; Và nếu sự ngạo mạn đáng tội của
Titanic và Alsalem làm cho nó phải trả giá quá đắt: muôn đời nằm
lại giữa lòng đại dương, thì thái độ kiêu ngạo, đòi “giết chết”
Thiên Chúa của loài người hôm nay phải mang bản án là những mỉa
mai đau đớn (mà chúng ta vừa nói bên trên), quay lại hành hạ
chính mình chẳng có gì là khó hiểu. Bởi một lẽ rất đơn giản: Con
người chống lại Thiên Chúa, lập tức hành vi chống đối ấy cũng
chính là hành vi chống đối chính họ.
Vì thế, cái chết của “The Da Vinci Code” về mặt niềm tin là một
đòn chí tử giáng trên chính những ai mơ mộng dệt một thế giới do
chính mình điều khiển: Nó sẽ là thế giới mà sự mất bình an cả về
đời sống, về tương quan con người, tương quan xã hội, đến mất cả
bình an nội tâm lên ngôi. Đàng khác, một khi đã chết về mặt niềm
tin, người ta cũng sẽ cùng lúc kiệt quệ về niềm hy vọng. Một thế
giới không bình an, không niềm tin, không niềm hy vọng, làm sao
lại là một thế giới lý tưởng? Hay nó chỉ là một thế giới của
những kẻ đang trên bờ vực của sự chết. Mà cái chết lớn nhấn sẽ
như một cú đấm mạnh, đấm thẳng vào khuôn mặt của nhân loại, đó
là chết tình người, chết lòng yêu thương!
Hiểu được bài học và cái giá đau đớn mà loài người phải trả cho
sự chống đối Thiên Chúa, người Kitô hữu cần khẳng định lại đức
tin của mình. Thêm một lần khẳng định, để một lần nữa, ta quyết
tâm khám phá khuôn mặt đầy lòng nhân từ yêu thương của Thiên
Chúa. Một trong những khía cạnh của lòng nhân từ yêu thương đó,
chính là thái độ kiên nhẫn chờ đợi đến vô cùng của Thiên Chúa
đối với con người đầy phụ bạc, bất nghĩa.
III. Lòng kiên nhẫn chờ đợi
của Thiên Chúa dành cho loài người là điều có thật. Thánh Kinh
nhiều lần chứng minh lòng kiên nhẫn ấy. Nếu đi ngược về thời
gian Cựu Ước, càng chứng tỏ lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa thật
lớn lao, thật huyền diệu. Người chịu đựng đám dân đầy phản bội,
luôn xúc phạm Thiên Chúa của mình bằng vô số lần phạm tội.
Chính vì thế, trải dài đằng đẳng của cả một thời gian Cựu Ước,
là sự trải dài của lòng kiên nhẫn cao độ của Thiên Chúa. Lòng
kiên nhẫn, nỗi trông chờ tha thiết của Thiên Chúa đối với sự trở
lại của loài người, đã dệt nên cả một dòng lịch sử vĩ đại, lịch
sử của ơn cứu độ, lịch sử tình yêu hải hà của Thiên Chúa đối với
loài người không ngừng vấp phạm. Lòng yêu thương ấy và thái độ
bội phản của loài người cứ như một điệp khúc: Thiên Chúa yêu
thương – loài người sa ngã – Thiên Chúa lại mời gọi, lại kiên
nhẫn đợi chờ - có lúc Người nổi giận – sau đó Người lại tha thứ
- sự ân hận của loài người - rồi loài người lại vấp phạm – Thiên
Chúa lại trông chờ họ trở về, lại tha thứ… Cứ như thế mà dòng
lịch sử ghi đậm nét của một tình yêu đầy kiên nhẫn, đầy sức chịu
đựng của một vì Thiên Chúa Tối Cao.
Sau này, để minh họa cho tình yêu đầy lòng kiên nhẫn, chịu đựng
và tha thứ của Thiên Chúa, Chúa Kitô đã kể dụ ngôn Người Cha
Nhân Hậu (Lc 15, 11-32). Trong dụ ngôn, ngoài những nét chính đó
là lòng yêu thương kiên nhẫn, tha thứ của Thiên Chúa, Chúa Kitô
còn cho thấy Thiên Chúa là Thiên Chúa từ bi, Thiên Chúa khiêm
nhường, Thiên Chúa đau khổ vì tội lỗi của loài người, Thiên Chúa
đau khổ vì loài người vong ân và vong thân, Thiên Chúa đau khổ
vì loài người lìa xa Người, Thiên Chúa hy vọng, Thiên Chúa hạnh
phúc khi loài người trở về với Người…
Không chỉ mạc khải về lòng yêu thương kiên nhẫn của Thiên Chúa
mà thôi. Rất nhiều lần, Chính Chúa Kitô đã chứng minh lòng yêu
thương kiên nhẫn đó nơi bản thân của Người.
Trong một lần, đang trên đường lên Giêrusalem, khi ngang qua
Samaria, Chúa Kitô và các môn đệ bị nguời Samaria bạc đãi khiến
hai tông đồ Giacôbê và Gioan tức giận ghê lắm. Tức giận đến nỗi,
họ đòi: “Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu
rụi bọn chúng không?”. Trong khi thái độ của Chúa Giêsu lại
từ tốn hết sức: “Con Người đến không phải để hủy diệt linh
hồn người ta mà là để cứu chữa” (Lc 9, 54-56). Chúa Kitô đã
kiên nhẫn, dung thứ đối với người Samaria.
Hoặc lần khác, trong những lời đối thoại với những người Dothái,
ta lại thấy thái độ nhân từ kiên nhẫn của Chúa Kitô. Những người
Dothái không những không tin Chúa mà còn luôn muốn đối đầu với
Chúa. Còn Chúa, lời của Người vừa rất cương nghị, nhưng cũng
mang âm hưởng của sự cầu xin tha thiết lòng tin của họ: “Tôi
đã nói với các ông mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân
danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông
không tin, vì các ông không thuộc về đàn chiên của tôi. Chiên
của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi…”
(Ga 10, 23-30).
Đó chỉ là một trong số rất nhiều lần Tin Mừng chứng minh lòng
kiên nhẫn của Chúa Kitô trước thái độ đối đầu của người Dothái…
Bởi suốt những năm rao giảng Nước Trời, Chúa không ngừng chịu
đựng thái độ cứng tin, chậm hiểu biết, lối hành xử đầy bốc đồng…
của các tông đồ. Chúa cũng đã chịu đựng những kẻ chống đối Chúa,
chịu đựng sự vô ơn của những kẻ được Chúa chữa lành…
IV. Thật lạ lùng, lạ lùng
đến mức không thể hiểu nổi, đến mức trở thành nghịch lý. Bởi đối
diện với tình yêu, lòng kiên nhẫn, sự tha thứ của Thiên Chúa, lẽ
ra loài người phải cúi mình thật sâu để biết ơn Thiên Chúa, để
ca tụng Thiên Chúa, để yêu mến Thiên Chúa, để tôn thờ Thiên
Chúa, thì họ lại quay ra chống đối Thiên Chúa, Đấng chỉ có tình
yêu và chỉ biết yêu mà thôi.
Để quay lưng lại với chính Thiên Chúa, chối từ tình yêu của
Người, con người qua mọi thời đại, đã có quá nhiều những chủ
trương chống lại đức tin bằng mọi hình thức, từ chủ nghĩa duy
vật, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa thực dụng,
đến cả một não trạng duy thực nghiệm, tôn thờ khoa học, tôn thờ
các kỹ thuật hiện đại, tôn thờ thần tượng của giác quan, của tri
thức do lý trí sản sinh, kể cả việc cuốn quýt chạy theo các loại
tri thức giác quan, rồi để cho nó lên ngôi, quay lại điều khiển
chính mình. Vì thế, trong thời đại chúng ta, đi từ nghịc lý của
việc chối từ Thiên Chúa, con người sa vào một nghịch lý khác lớn
không sao kể hết: con người đi từ sự tôn thờ dẫn đến nô lệ những
phương tiện do chính mình tạo ra. Cái bi đát lớn hết sức, khốn
cùng hết sức nằm ở chỗ, con người thời đại đang làm nô lệ, mà
không nhận ra mình nô lệ, lại còn vênh váo cho rằng mình tự do,
mình sung sướng.
Bạn thân mến, là Kitô hữu, Chúa muốn chúng ta tin Chúa, tin thật
chắc vào Người. Nhờ đức tin, ta can đảm sống đời chứng nhân cho
Chúa, cho tình yêu, lòng kiên nhẫn, sự tha thứ của Chúa đối với
loài người của thời đại. Bởi cả họ và chúng ta, đều được Chúa
mời gọi hãy “thuộc đàn chiên” của Chúa (Ga 10, 22 tt). Vì
thế, loài người càng cứng đầu bao nhiêu, xã hội loài người càng
chống đối Thiên Chúa bao nhiêu, ta càng chấp cánh cho đức tin
của mình mạnh mẽ bấy nhiêu.
Hãy nhớ, Chúa luôn luôn kiên nhẫn đợi chờ ta. Người yêu thương
kiên nhẫn đợi chờ mọi tội nhân. Thiên Chúa muốn ôm vào lòng ngay
cả những kẻ chống đối, thậm chí tìm cách sỉ nhục Người. Biết
rằng, Thiên Chúa cao cả là thế, lại cúi mình trước thụ tạo để
kiên nhẫn, để đợi chờ, ta sẽ không dám cứng đầu, không dám ở lỳ
trong tình trạng cứng tin của mình.
Loài người hãy mau về với Chúa, hãy khuất phục Thiên Chúa, hãy
để cho tình yêu của Người độ trì mình, ấp ủ và chở che mình…
Loài người đừng dại khờ tự mồ côi hóa
chính mình…
Lm. VŨ XUÂN HẠNH
|