Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 49, Chúa nhật 25.6.2006


Các số báo đã phát hành             MỤC LỤC

ÍCH LỢl CỦA VlỆC HỘl NHẬP VĂN HOÁ                                                                                             Vatican 2    

SỰ CHUYỂN HƯỚNG VỀ PHÍA GIÁO DÂN                                                                        Nhà Văn Hương Vĩnh

LÀM SAO SỐNG VỚI CHÚA GIỮA TRĂM NGÀN BẬN RỘN ?                                                        Gs. Lê An Hoà

THÁNH GIOAN TẨY GIẢ, CON NGƯỜI KỲ DIỆU                                                                Lm. Nguyễn hữu An

CON CÁI BÂY GIỜ KHÓ DẠY HAY TẠI MÌNH KHÔNG BIẾT CÁCH DẠY?                          Lm. Lê Văn Quảng

TRÁI TIM NGƯỜI CHA                                                                                                                 Lm. Đỗ Vân Lực

HƯỚNG VỀ CHA TRAO BAN TÌNH CHA                                                                                Lm. Vũ Xuân Hạnh

NGHĨA TRANG ANH HÀI                                                                               Nhà Văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

Cuộc thi đấu trên sân cỏ                                                                                              Lm. Nguyễn Ngọc Long

TRẢ LỜI THẮC MẮC: Xưng tội như thế nào...                                                             Lm. Fx. Ngô Tôn Huấn 

NGƯỜI CHA HÔM NAY                                                                                                        Phó tế Nguyễn Định

Bền Chí                                                                                                                 + Hy. Fx. Nguyễn văn Thuận

BỆNH ĐỜN ÔNG : SỢ !                                                                                           Chuyện phiếm của Gã Siêu


ÍCH LỢl CỦA VlỆC HỘl NHẬP VĂN HOÁ

 

Các thừa tác viên của Giáo hội phải quý trọng việc tông đồ khó khăn của giáo dân. Các ngài phải huấn luyện sao cho giáo dân, với tư cách là chi thể của Đức Ki-tô, ý thức về trách nhiệm của mình đối với tất cả mọi người. Các ngài phải dạy dỗ họ thật sâu xa về mầu nhiệm Đức Kitô, chỉ dẫn họ những phương pháp thực hành; và sát cánh với họ trong những lúc khó khăn, theo tinh thấn của Hiến chê tín lý về Giáo Hội ánh sáng muôn dân và Sắc lệnh về Tông đồ giáo dân.

Vì thế, trong khi vẫn giữ đúng chức vụ và tráoh nhiệm riêng của các vị mục tử và của giáo dân, toàn thể Giáo Hội non trẻ phải trở thành chứng tá duy nhất, sống động và vững chắc về Đức Ki-tô, để trở nên dấu chỉ rõ ràng của ơn cứu độ đã đến với chúng ta trong Đức Ki-tô.

Lời Chúa là hạt giống, nẩy mầm trong đất màu mỡ thấm nhuần sương thiêng, hút lấy nhựa sống, biến đổi và tiêu hoá nhựa đó, để sau cùng sinh nhiều hoa trái. Thật vậy, tương tự như chương trình Nhập Thể, các Giáo Hội non trẻ, được bén rễ trong Đức Ki-tô và xây dựng trên nền tảng các Tông Đồ, thu nhận, để thực hiện một cuộc trao đổi kỳ diệu, tất cả mọi sự phong phú của các dân tộc đã được trao cho Đức Ki-tô làm gia nghiệp (x. Tv 2,8). Các Giáo Hội đó phải rút ra từ những tập quán và truyền thông, từ lẽ khôn ngoan và nền đạo lý, từ nghệ thuật và khoa học của dân tộc tnình, tất cả những gì có thể góp phần vào việc tuyên xưng vinh quang của Tạo Hoá, làm rạng ngời ân sủng củạ Đấng Cứu Chuộc và vào việc tổ chức tốt đẹp đời sống Ki-tô hữu.

(Trích Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội Đến với muôn dân của Công Đồng Va-ti-ca-nô II, số 21 và 22).

VỀ MỤC LỤC
SỰ CHUYỂN HƯỚNG VỀ PHÍA GIÁO DÂN

 

CÔNG ĐỒNG VATICAN II QUA BỐN THẬP NIÊN

- VIII -

SỰ CHUYỂN HƯỚNG VỀ PHÍA GIÁO DÂN

Thừa tác viên trong giáo xứ ngày nay có lẽ đúng hơn là một giáo dân nam hay nữ.

Trước Công Đồng Vatican II, hầu hết những giáo dân liên hệ đến những sinh hoạt thường nhật tại một xứ đạo Công giáo là dọn dẹp nhà thờ cho sạch sẽ và giúp lễ.

Với nhiều linh mục được bổ nhiệm cho giáo xứ và một tu viện có nhiều nữ tu bên cạnh, giáo dân chỉ được làm những công việc thứ yếu, có tính cách mgoại biên, như trả lời điện thoại trong nhà xứ, làm “giám thị” cho các lớp tiểu học hay tình nguyện viên cho Hội Thánh Vincent de Paul.

Chuẩn bị các đôi hôn nhân, sắp xếp phụng vụ, giữ sổ sách tài chánh, dạy dỗ giáo lý tân tòng và thi hành mục vụ như thăm viếng bệnh nhân…đều là công việc của “Cha”. Những phần vụ lớn không do linh mục đảm trách như dạy học ở trường nhà xứ, các lớp giáo lý và những công việc khác liên quan đến giáo dục đều thuộc trách nhiệm các “”.

Thời hậu Công Đồng chuyển cho giáo dân đảm trách hầu hết những phần vụ đó, khởi đầu cách chầm chậm, nhưng trong ít năm gần đây đã lan rộng một cách đột ngột.

Cha Eugene Lauer, giám đốc “Trung Tâm Quốc Gia về Đời Sống Mục Vụ” cho biết cho tới trước năm 1990, ít khi giáo xứ tuyển dụng giáo dân cho những công việc thông thường do linh mục đảm trách, nhưng ngày nay, ở Hoa-Kỳ, số giáo dân giữ những nhiệm vụ đó đã vượt mức linh mục trong phạm vi mục vụ giáo xứ.

Theo cha, có khoảng 31,000 giáo dân hoạt động với tư cách chuyên viên mục vụ tại hai phần ba giáo xứ Hoa-Kỳ. Con số đó không bao gồm các giáo viên, giáo sư và nhân viên điều hành các học đường Công giáo cùng những nhân viên hỗ trợ như thư ký, người quản lý và giữ sổ sách. Cha Lauer cho biết có khoảng 28,000 linh mục hoạt động chủ yếu trong các giáo xứ. “Đó là một sự thay đổi đột ngột từ 15 hay 20 năm trước đây”, cha đã nói với “Cơ Quan Thông Tin Công Giáo” như thế.

Cha Lauer còn cho biết, chỉ từ năm 1990 thôi, đã có 22,000 giáo dân đảm trách các phần vụ đọc sách, mục vụ giới trẻ, điều hành công tác xã hội và phối kết giáo dục thanh thiếu niên hoặc trong những phần vụ chuyên môn về mục vụ khác. Trước Công Đồng Vatican II, chưa tới một phần trăm những công việc đó ở Hoa Kỳ được các giáo dân đảm trách. Ngài nói: “Đó là một hiện tượng hầu như ít ai biết đến.”

Các nam nữ tu sĩ, đứng trên phương diện kỷ thuật, cũng được định nghĩa như giáo dân, nhưng từ Công Đồng Vatican II, con số tu sĩ đã giảm thiểu đột ngột hơn nhiều so với linh mục.

Một bài nghiên cứu do Trung Tâm Quốc Gia về Đời Sống Mục Vụ trong một số phát hành gần đây, cho thấy kể từ 1990 số nữ tu đảm trách mục vụ giáo xứ đã giảm từ 41 xuống còn 16 phần trăm.

Theo “Trung Tâm Nghiên Cứu Ứng Dụng về Sứ Vụ Tông Đồ” tại Đại Học Georgetown, từ năm 1965, số nữ tu ở Hoa-Kỳ đã giảm từ 180,000 xuống còn 69,000. Số nam tu sĩ giảm từ 12,000 xuống còn độ 5,000. Tổng số 59,000 linh mục trong toàn quốc vào năm 1965 đã xuống còn 43,000.

Trong lúc đó, số giáo dân Hoa-Kỳ đã tăng từ 46 triệu trong 17,700 giáo xứ lên tới 68 triệu trong 18,900 giáo xứ.

Ngày nay giáo dân đảm trách việc thăm viếng mục vụ đối với các bệnh nhân, đặt kế hoạch tổ chức phụng vụ, lo các ca đoàn, lập thời khóa biểu cho các người đọc sách thánh và những thừa tác viên đặc biệt về Thánh Thể cũng như điều hành những chương trình giáo dục thanh thiếu niên, chuẩn bị những đôi nam nữ dự định kết hôn và những trẻ em đi học các trường công lập.

William D’Antonio, một giảng viên thuộc “Viện Nghiên Cứu về Chu Kỳ Đời Sống” tại Đại Học Công Giáo Hoa-Kỳ ở Washington cho biết, mặc dù những văn kiện Công Đồng Vatican II đã mở cửa cho giáo dân dấn thân trong hầu hết mọi lãnh vực về mục vụ giáo xứ, những thay đổi đó không được thực hiện một cách đồng nhất. D’Antonio nói: “Trong một số giáo xứ và giáo phận, số giáo dân liên hệ đến công tác mục vụ xem ra khá cao”, nhưng trong một số nơi khác “vẫn còn nhiều quyền uy lớn lao ở thượng tầng nên ngăn cản dân chúng làm thành Giáo Hội ‘ở hạ tầng’ khiến họ khó có thể dấn thân hơn.”

Cha Lauer cho biết những giáo xứ lớn có nhiều tiền lắm bạc nên có nhiều giáo dân trong hội đồng mục vụ là điều dễ hiểu, nhưng cũng còn những sự khác biệt tùy vùng có thể liên hệ đến số linh mục có sẵn. Chẳng hạn, những giáo xứ thuộc Tổng Giáo Phận New York xem ra có ít giáo dân đảm trách mục vụ giáo xứ hơn là những xứ đạo thuộc Tổng Giáo Phận Chicago, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn ở New York có nhiều tổ chức và đại học lớn của Giáo Hội nên có tỷ số linh mục cao hơn và đã bổ khuyết nhu cầu nhân viên.

Cũng theo Cha Lauer, những giáo xứ ở miền Tây và miền Trung Tây Hoa-Kỳ thông thường lớn hơn nên có nhiều giáo dân trong ban nhân viên chuyên môn hơn là ở miền Đông và miền Nam Hoa-Kỳ. Ngài nói: “Có rất nhiều yếu tố để các giáo xứ có thể cung ứng thành phần dân sự thuộc giáo dân.”

Theo nghiên cứu của “Trung Tâm Đời Sồng Mục Vụ”, 41 phần trăm giáo dân làm việc cho giáo xứ có trình độ cao học trong lãnh vực hoạt động của họ, với số lương trung bình khoảng 38,000 đôn một năm. Mức lương đó xem ra hơi thấp so với những người tốt nghiệp đại học. Cha Lauer cho biết, theo sự nghiên cứu, hai phần ba những nhân viên giáo xứ cho rằng mức lương của họ thỏa đáng.

Theo cha nhận xét, với số phụ nữ chiếm tới 80 phần trăm nhân viên giáo xứ, việc làm của họ thường là lợi tức gia đình thứ hai, khiến cho tỷ số lương trên thị trường trở thành ít quan trọng đối với nhiều người.

Cha Lauer cho biết, điều đáng ghi nhận hơn là 85 phần trăm nhân viên giáo dân trong giáo xứ mô tả công việc của họ là có ý nghĩa và họ lấy làm vừa ý. Ngoài ra 95 phần trăm cho biết họ sẽ làm việc cho giáo xứ luôn mãi hay ít nhất trong vài năm tới.

Sự kiện nhiều giáo dân dấn thân nhiều hơn trong mục vụ giáo xứ khiến họ đóng một vai trò quan trọng hơn đối với Giáo Hội và họ được chuẩn bị cho những giáo xứ có ít linh mục hơn.

Một cuộc thăm dò gần đây do “Viện Nghiên Cứu Chu Kỳ Đời Sống” thực hiện cho tạp chí “Phóng Viên Công Giáo Toàn Quốc” cho thấy 89 phần trăm tín hữu Công Giáo Hoa-Kỳ muốn giáo dân nên có quyền tham gia những quyết định về vấn đề chi tiêu đối với lợi nhuận trong giáo xứ. Có 72 phần trăm cho biết giáo dân nên được tham gia trong việc chọn lựa linh mục cho giáo xứ của họ. Và 83 phần trăm ngỏ ý nên để họ tham gia quyết định trong trường hợp giáo xứ phải đóng cửa.

Vì số linh mục thi hành mục vụ cho giáo dân ở Hoa-Kỳ bị giảm thiểu, đa số những người được thăm dò bởi “Viện Nghiên Cứu về Chu Kỳ Đời Sống” tổ chức cho biết trong một chừng mục nào đó có thể chấp nhận được việc đem những linh mục từ các xứ khác vào nước hay chia sẻ những linh mục với các giáo xứ khác. Trong số những chọn lựa khác, đại đa số dân chúng cho biết trong một mức độ nào đó có thể chấp nhận việc có một quản lý viên cho giáo xứ hay có những linh mục thỉnh thoảng thăm viếng, nhập những giáo xứ gần nhau vào một và thỉnh thoảng có một nghi thức Rước Lễ thay vì Thánh lễ.

Đại đa số cho biết họ không thể chấp nhận việc có Thánh Lễ ít hơn một lần trong tuần cũng như việc đóng cửa giáo xứ của họ.

(Phỏng theo Patricia Zapor – Washington – CNS)

Hương Vĩnh

VỀ MỤC LỤC
LÀM SAO SỐNG VỚI CHÚA GIỮA TRĂM NGÀN BẬN RỘN ?

 

Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó. Ông Simôn và các bạn kéo nhau đi tìm. Khi gặp Người, các ông thưa:  “Mọi người đang tìm Thầy đấy!” (Mc 1,35-37).

Trước nhà tôi, ngay cạnh chỗ xe đậu, là một miếng đất nhỏ trồng một loại cây mọc sát mặt đất tên là periwinkle, đâm nhiều nhánh và mọc rất dầy, cỏ dại ít chen vào nổi, tôi tạm gọi là “cỏ lan.” Ở ngay mép mảnh đất đó, thỉnh thoảng bánh xe cán lên, nên đất bị nén xuống, cỏ lan không mọc được, nhưng một vài loại cỏ dại lại mọc mạnh và đâm rễ sâu.

Có lẽ đời sống đức tin phần nào cũng giống như việc trồng cỏ lan. Khi ta bận rộn với nhiều công việc thì lòng ta cũng giống như mảnh đất hay bị bánh xe lao công của cuộc đời cán lên, làm cỏ tốt khó mọc, còn cỏ xấu dễ thao túng. Ngay cả khi ta bận rộn với việc tốt, kể cả việc tông đồ, “Mọi người đang tìm Thầy đấy!” lòng chúng ta cũng có thể bị xa Chúa.

Nhiều người cho là triết gia Nietzsche phạm thượng khi ông viết “Thượng Đế đã chết,” nhưng ít người đọc cả đoạn để hiểu rằng ông đang cảnh cáo cả những người có đạo đang đánh mất Chúa, phỏng dịch, “Thượng Đế đã chết, tao nói cho bây nghe, chính chúng ta đã giết Người. Chính chúng ta hành quyết Người. Cách nào? Làm sao chúng ta uống cạn cả đại dương? Ai cho chúng ta cái giẻ lau mất cả chân trời? Đấng thánh nhất và quyền năng nhất mà vũ trụ từng biết đã chảy máu đến chết dưới lưỡi dao của chúng ta… Nhà thờ có khác gì mộ Chúa” (Bản tiếng anh http://www.age-of-the-sage.org/philosophy/friedrich_nietzsche_quotes.html).

Tôi cảm nhận việc Thượng Đế chảy máu đến chết ngay trong hồn tôi và nhiều người chung quanh khi chúng tôi quá bận rộn trong cuộc sống. Ban ngày thì đi làm kiếm cơm. Khi đủ cơm rồi thì kiếm nhà lớn hơn, xe đẹp hơn, đồ chơi hiện đại hơn, phim ảnh và truyền hình tân tiến mới lạ hơn để lấp đầy mọi khe hở về không gian và thời gian trong tâm hồn và cuộc sống; việc tông đồ cuối tuần càng làm bận rộn thêm. Đúng là “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm chủ nhật.”

Khi không sống gần Chúa, thì chuyện bé xé ra to, mất thêm giờ và tâm sức tranh cãi những chuyện không đâu. Đại dương và chân trời, cũng như lòng đạo, không chen vào trong cuộc sống được, mặc dù vẫn đi lễ, dạy giáo lý, và có vẻ sống đàng hoàng, đạo đức.

Khi không thực sự sống tinh thần Phúc Âm thì việc đạo đức cũng có thể trở thành cơ hội cho “cái tôi” được đề cao, cho “ghen tỵ” có đất sống. Từ ghen tỵ đến mưu mô hại người (bằng trăm ngàn cách) chỉ có một bước chân.

Rất may Chúa nhập thể, không những dạy chúng ta với dụ ngôn gieo giống (Mc 4,13-20), mà còn làm gương cho chúng ta nữa: “Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó.”

Kinh nghiệm của một số người cho thấy là giờ cầu nguyện buổi sáng rất giúp ích, cho dù đôi khi phải cố gắng đi ngủ sớm hơn để thức dạy sớm hơn. Lúc đó thân xác chưa mệt mỏi, không khí thành phố còn tương đối trong lành, chúng ta dễ tâm tình với Chúa, cảm nhận Chúa, và bàn với Chúa về một ngày sắp tới. Đây có lẽ là lúc dễ chiêm niệm hơn. Ngược lại, đa số chúng ta khá mệt mỏi vào buổi tối, ngại cầu nguyện và dễ bị chia trí khi chiêm niệm.

“Lạy Chúa này con đây! (1 Sm 3,4), con đã theo Chúa từ ngày còn nhỏ; con đã giữ đạo từ nhiều năm; nhưng Chúa vẫn xa lạ đối với con; Chúa vẫn vắng bóng trong tâm hồn và cuộc sống của con.

“Lạy Chúa, lỗi tại con; vì con đã dành tâm trí, thời gian và sự chú ý của con cho những chuyện khác, chứ không dành ƯU TIÊN cho Chúa! càng không dành TẤT CẢ cho Chúa!

“Chính bằng cách sống ấy mà con đã loại trừ Chúa ngay trong tâm hồn và cuộc sống của con. Con còn mạnh tay loại trừ Chúa bằng cách sống đạo đức giả, miệng nói một đàng mà việc làm một nẻo; miệng nói yêu thương, bác ái, phục vụ nhưng lòng chứa đầy tính toán, mưu mô, xảo quyệt, ghen tỵ, hiềm thù và kiêu ngạo.

 Lạy Chúa, xin giúp con trở về cùng Chúa!”

 

FX. Lê An Hòa, Seattle University, USA.   

VỀ MỤC LỤC
THÁNH GIOAN TẨY GIẢ, CON NGƯỜI KỲ DIỆU
 

THÁNH GIOAN TẨY GIẢ, CON NGƯỜI KỲ DIỆU

LỄ SINH NHẬT GIOAN TẨY GIẢ

Trong năm phụng vụ chỉ có 3 lễ mừng sinh nhật .Đó là Giáng Sinh của Đức Giêsu ( 25.12).Sinh nhật của Đức Maria ( 8.9) và Sinh nhật của Gioan Tẩy Giả ( 24.6) .

Cuộc đời và sứ mạng của Gioan gắn liền với cuộc đời và sứ mạng của Chúa Giêsu nên Giáo hội có lý do để sắp đặt việc mừng Sinh nhật của Vị Tiền Hô của Đấng Cứu Thế trở thành một Lễ Trọng trong niên lịch phụng vụ.

 Gioan được sinh ra kỳ diệu và ơn gọi cũng kỳ diệu trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

1 .Sinh nhật kỳ diệu

Thánh Luca đã nói tới ngày sinh với những dấu hiệu kỳ diệu của Gioan “ Nhiều người cũng được hỷ hoan ngày con trẻ chào đời” ( Lc 1,14).

a. Dacaria bị câm :

Thân phụ của Gioan bị câm vì nghi ngờ lời Truyền tin của Sứ Thần đang khi ông đang dâng hương trong đền thờ theo phiên của mình ( Lc 1,5- 23)

b. Khỏi Tội Nguyên tổ

Bà Isave có thai được 6 tháng ,Đức Maria đã đến viếng thăm ,vừa nghe lời của Đức  Maria chào thì thai nhi Gioan đã nhảy mừng trong dạ mẹ ( Lc 1,41) và được đầy tràn Thánh Thần ( Lc 1,15).Hồng An này được Giáo hội hiểu là Gioan đã khỏi tội nguyên tổ ,một ân huệ cao cả mà ngoại trừ Đức Maria cả nhân loại không ai có được .

c. Son sẻ mà có con

Hai ông bà Dacaria và Isave là người công chính trước mặt Thiên Chúa , nhưng họ lại không con ,vì Bà Isave là người hiếm hoi ,cả hai đều đã cao niên ( Lc 1,6- 7).

Vậy mà Bà đã sinh con “ Bà sinh hạ một con trai,nghe biết Chúa đã quá thương bà như vậy,láng giềng và thân thích đều chia vui với bà” (Lc 1,57 – 58) .

Trong Cưụ ước cũng có những bà mẹ sinh con kỳ diệu như vậy .Bà Sara mẹ Isaac ( St 11,30;21,1- 7).Bà Rebecca mẹ của Esau và Giacop ( St 25,21- 26).Bà Rakhel mẹ của Giuse ( St 29,21; 30,22- 24).Bà Anna mẹ của Samuel ( 1Sm 1,2- 20)

d. Tên Gioan và hết câm

Gioan sinh được tám ngày ,chịu cắt bì và đặt tên là Dacaria  nhưng bà mẹ lên tiếng ‘ Không ,phải đặt tên cháu là Gioan”.Một tên gọi thật lạ lùng khiến mọi người kinh ngạc vì trong họ hàng của bà không có ai tên đó cả.Khi Dacaria viết tên Gioan trên tấm bảng ,thì miệng lưỡi ông được mở ra,ông hết câm và nói lại được như trước kia ( Lc 1,59- 65).

Mọi biến cố đều kỳ diệu từ khi cưu mang cho đến lúc sinh ra của Gioan vì “ Quả thật,có bàn tay Chúa phù hộ em” ( Lc 1,66).

Sinh nhật Gioan kỳ diệu cũng đúng thôi vì Gioan sẽ lãnh nhận một ơn gọi kỳ diệu là làm Tiền Hô cho Đấng Cứu Thế.

2 . Ơn Gọi kỳ diệu

a  Ngôn sứ Isaia loan báo

“ Có tiếng hô từ  nơi hoang địa: hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa,sửa lối cho thẳng để Ngài đi.Mọi thung lũng phải lấp cho đầy,mọi núi đồi phải bạt cho thấp,khúc quanh co phải uốn cho ngay,đường lồi lõm phải san cho phẳng .Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” ( Is 40,3- 5; Mc 1,3; Lc 3,4-6; Mt 3,3) .Isaia đã giới thiệu về Gioan như một vị Tiền Hô dọn đường cho Đấng Thiên Sai đến.

b. Ngôn sứ Malakia tiên báo

“ Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt con,người sẽ dọn đường cho con đến để làm lòng cha ông quay về với con cháu” ( Ml 3,1- 24 ;Mt 1,10; Lc 1,17;7,27). Lời Ngôn sứ Malakia nhắc nhở cho người đương thời và hậu thế về ơn gọi của Gioan như vị sứ giả dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến .

c. Sứ Thần Truyền Tin xác nhận

Sứ Thần của Chúa hiện ra với Dacaria,đứng bên phải hương án,xác nhận với ông rằng người con trai của ông sắp chào đời là Gioan Tẩy Giả “ Sẽ đi trước mặt Chúa và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa”( Lc1,17).

e. Thân phụ Dacaria

Dưới tác động của Thánh Thần,Dacaria đã hát lên bài ca chúc tụng”Benedictus” về ơn gọi  của người con trai mình “Hài Nhi hỡi,con sẽ đi trước mặt Chúa,mở lối cho Người,bảo cho dân Chúa biết,Người sẽ cứu độ và tha thứ cho họ hết mọi tội khiên” ( Lc 1,76- 77).

f. Gioan khẳng định

Trong một cuộc tranh luận giữa các môn đệ của Gioan và một người Do thái về việc thanh tẩy,tại Enon,gần Salem thuộc miền Giuđê,chính Gioan đã xác nhận ơn gọi của mình : “ Chính anh em làm chứng cho Thầy là Thầy đã nói : Tôi đây không phải là Đấng Kitô mà là kẻ được sai đi trước mặt Ngài” ( Ga 3,28).

Qua sinh nhật  và ơn gọi kỳ diệu của Gioan,Thiên Chúa đã đặt Gioan làm gạch nối giữa Cựu ước và Tân ước với sứ vụ đặc biệt đó là Tiền Hô cho Đấng Cứu Thế.

Là một ngôn sứ trong một đất nước đang thời nhiễu nhương,bị đế quốc Roma cai trị hà khắc,nhiều phe nhóm trong dân nổi loạn ,dân chúng lầm than,Gioan cũng mang nặng những ưu tư những trăn trở yêu nước thương dân.

Vị vua Hêrôđê,một hôn quân bạo chúa,sống loạn luân ,lấy vợ của anh mình là Hêrôđiađê.Lương tâm ngôn sứ đã thúc đẩy Gioan lên tiếng can ngăn và tố cáo những hành vi sai trái của nhà vua,kêu gọi vua trở về nẻo chính đường ngay.Vì thế Gioan đã bị vua chém đầu.

Trước mặt người đời,Gioan là kẻ thất bại.Sứ mạng của ông không hoàn thành,bị những kẻ gian ác ghen ghét hãm hại,cuối cùng chịu chết chém trong tù.Thế nhưng Đức Giêsu đã nói về ông: “ Trong các con cái người nữ sinh ra,chưa từng một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy giả”(Lc 7,28).Như vậy điều quan trọng trước mặt Thiên Chúa chẳng phải là danh giá hay thành tích mà là thái độ sống.Thái độ sống của Gioan là bất khuất trước bạo lực,dám nói sự thật bảo vệ công lý,cho dù sự thật đó dẫn đến tù đày và cái chết.

Sứ mạng ngôn sứ thời nào cũng thế.Đức Giêsu ,vị ngôn sứ làm chứng cho sự thật cũng bị bắt bớ ,bị hành hạ và bị đóng đinh thập giá.Các Thánh Tử Đạo cũng đã làm chứng cho sự thật ,tiếp nối con đường Thầy mình đã đi ,cũng gánh lấy tù tội và cái chết.Bởi lẽ “Nếu thế gian đã ghét Thầy,thì thế gian sẽ ghét các con vì các con sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian” ( Ga 15,18 - 19 )

Được sinh ra và lớn lên trong bàn tay phù hộ của Thiên Chúa.Gioan đã sống vai trò ngôn sứ dọn đường cho Chúa Cứu Thế và đã chết vì chân lý.

Người Kitô hữu chúng ta không cần phải làm được những chuyện kỳ vĩ như Gioan hay như các Thánh Tử Đạo ,nhưng với tư cách ngôn sứ chúng ta có thể làm chứng cho chân lý ,cho công lý ,cho tình yêu.Với tư cách là Tẩy Giả,chúng ta có thể góp một chút bột giặt tình yêu tha thứ để làm sạch tấm chăn môi trường đang bị ô nhiễm trầm trọng bởi những thứ bụi bẩn rác rưới ích kỷ,vụ lợi, hưởng thụ sa đoa,ghen ghét hận thù ,dối trá lọc lừa.Và như thế chính là góp phần mở đường dọn lối cho Chúa đến.

Cuộc đời Gioan Tẩy Giả luôn mãi là tấm gương cho chúng ta.Không chỉ rao giảng bằng lời nói mà bằng cả cụôc sống.Chúng ta được mời gọi sống lý tưởng của Gioan : Ngài phải lớn lên, còn tôi phải lu mờ đi.

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

VỀ MỤC LỤC

CON CÁI BÂY GIỜ KHÓ DẠY HAY TẠI MÌNH KHÔNG BIẾT CÁCH DẠY?

 

Tôi có một cô em họ. Cô ta lấy chồng sớm nên sớm sinh con. Đứa con đầu lại là một bé gái. Cô bé lớn lên cũng bắt chước gương mẹ, có gia đình sớm nên cũng sớm có cháu. Vì thế, cô em họ của tôi mới chỉ có bốn chục tuổi đã có những hai cháu ngoại. Những ngày cuối tuần cô phải trông coi các cháu để bố mẹ chúng nó đi làm nên cô ta thường hay phàn nàn:

-  Đi làm suốt tuần đã mệt nhưng cuối tuần lại mệt hơn. Không coi thì thấy tội nghiệp chúng nó, mà coi thì lại tội nghiệp mình. Hình như con nít bây giờ khó dạy hơn chúng ta ngày xưa.

Có thể đây cũng là kinh nghiệm của rất nhiều người Việt Nam đang sống ở trong các nước Âu Mỹ, vẫn có cảm giác rằng ngày xưa mình có đông con nhiều cháu nhưng nói đâu chúng nghe đó. Bây giờ cháu con ít nhưng chúng nó lại không nghe, khiến họ có cảm giác con trẻ bây giờ xem ra khó dạy. Nhưng thật ra, có phải con cháu bây giờ khó dạy hơn chúng ta ngày xưa, hay tại chúng ta không biết cách dạy dỗ?

Giáo dục con cái trong thời đại hôm nay thật sự không phải là một vấn đề dễ dàng, và đó là điều mà hầu hết chúng ta đều ưu tư. Chúng ta thường không biết phải làm thế nào để hướng dẫn con em chúng ta. Hãy nghĩ đến những lúc chúng ta đi picnic ngoài công viên. Ít người xem ra có thời gian an nhàn, thảnh thơi vì con trẻ chạy rông, la hét, phá phách khiến cha mẹ không chịu nổi, phải la mắng và có khi còn phải phết đít cho đỡ tức. Khi vào siêu thị hoặc quán ăn cũng vậy, chúng nó chạy lung tung, lục lọi phá phách, đôi khi còn chọc phá những thực khách, chân tay không lúc nào yên, bố mẹ chỉ biết lắc đầu than vãn. Ở nhà, trẻ con xem ra thiếu cộng tác, không muốn nghe lời bố mẹ. Nhiều trẻ từ chối không chịu làm bài, học bài, lúc nào cũng thích nghịch ngợm, đôi khi còn tỏ ra bất kính đối với bố mẹ, xúc phạm đến những người lớn tuổi. Ở trường học, chúng không lo học hành, cứng đầu, bướng bỉnh. Chúng ta chịu đựng, chúng ta năn nỉ. Có lúc chịu đựng hết nổi, chúng ta đánh, chúng ta phạt. Chính vì thế, nhiều cha mẹ đã trở nên nóng nảy, gắt gỏng, và cộc cằn. Họ vốn hy vọng dạy con cái họ trở thành những đứa con ngoan, nhưng trái lại họ thấy con cái họ ngày càng trở thành những đứa trẻ bướng bỉnh và khó dạy.

Trong cố gắng làm một cái gì để giúp cha mẹ cải thiện tình thế, tôi xin ghi lại đây những nét căn bản cho thấy lý do tại sao con cái chúng ta ngày hôm nay khác xa với chúng ta ngày trước, và để giáo dục con cái một cách hữu hiệu, chúng ta cần phaỉ biết: mình nên phải làm gì?

nh Hưởng Của Nền Văn Minh Dân Chủ

Từ cuộc cách mạng Pháp và Mỹ, người ta dần dần nhận thấy rằng con người được sinh ra bình quyền không những trước pháp luật nhưng trong cái nhìn của con người nữa. Dân chủ không chỉ là một lý tưởng chính trị mà còn là một cách sống. Ảnh hưởng của nền văn minh dân chủ đã cải biến xã hội chúng ta và đã làm cho phương pháp giáo dục cổ truyền trở nên lỗi thời. Chúng ta không còn có những người cai trị như trong xã hội độc tài. Trong xã hội bình quyền dân chủ, chúng ta không còn cai trị người khác. Sự bình quyền có nghĩa là mỗi người tự quyết định cho chính mình. Trong xã hội độc tài, người cai trị vượt lên trên và có quyền trên kẻ bị trị. Người cha trong gia đình cai trị các phần tử trong gia đình ngay cả người vợ. Ngày nay, trong xã hội dân chủ điều đó không còn thích hợp nữa. Các bà đã bình quyền với các ông. Chồng không còn trên vợ và ngay cả bố mẹ không còn nhiều quyền hành trên con cái.

Những thay đổi như thế đã được nhận ra cách rõ ràng trong xã hội dân chủ chúng ta. Những người lớn tuổi thường cảm thấy khó chịu với quan niệm bình quyền đó. Họ không chấp nhận các quan niệm đó vì họ cho rằng họ biết nhiều hơn con trẻ. Dĩ nhiên, trẻ con không thể bằng người lớn trên phương diện trí thức, kinh nghiệm, hay tài năng. Sự bình đẳng không có nghĩa là sự đồng nhất trên phương diện kiến thức hay tài năng. Sự bình đẳng có nghĩa là dù cho có sự khác biệt về khả năng, màu da, chủng tộc, mọi người đều có quyền đòi hỏi một sự kính trọng và phẩm giá như nhau. Thật ra quan niệm “chúng ta ở trên con trẻ” đến từ di sản văn hóa nầy là: người ta có giá trị hay không tuỳ thuộc vào sự xuất thân, tiền bạc, phái tính, màu da, tuổi tác, và tài năng của họ. Nhưng đúng ra không có một tài năng hay một nét đặc thù nào có thể bảo đảm được sự cao vượt hoặc quyền thống trị trên kẻ khác.

Trẻ con rất nhạy cảm với bầu khí dân chủ của xã hội nầy. Chúng rất nhanh chóng bắt ngay được ý tưởng rằng chúng chia xẻ quyền bình đẳng của mọi người. Chúng cảm được sự bình quyền của chúng với người lớn và không còn phải chịu một tương quan thống trị và bị trị một cách độc đoán nữa. Cha mẹ cũng vậy, một cách nào đó cũng đã nhận thức được sự bình quyền đó nên đã bớt đi áp lực của các kiểu mẫu giáo dục của thời xa xưa ấy nữa. Trong lúc đó, họ lại thiếu phương pháp mới xây dựng trên nguyên tắc dân chủ để hướng dẫn và giáo dục con cái sao cho phù hợp với xã hội văn minh nầy. Vì thế, họ phải đối diện với sự khủng hoảng giáo dục hiện tại.

Sự thay đổi từ tương quan hơn kém, thống trị và bị trị đến tương quan bình đẳng của dân chủ được quan tâm bỡi các nhà giáo dục. Họ thật sự muốn dân chủ. Tuy nhiên, có một sự lẫn lộn về việc áp dụng những nguyên tắc dân chủ. Đối với nhiều người, dân chủ có nghĩa là tự do làm như mình thích. Nếu mỗi phần tử trong gia đình đều làm theo sở thích, chúng ta sẽ có một gia đình đầy những bạo chúa với một cuộc sống vô kỷ luật. Khi mỗi người sống như mình thích, chắc chắn sẽ xâm phạm đến tự do của người khác và như vậy sẽ có sự xung khắc, sẽ tạo ra sự giận dữ, căng thẳng, và hận thù. Tự do là một phần của dân chủ. Chúng ta không thể có tự do nếu chúng ta không kính trọng sự tự do của người khác. Để mọi người có được tự do, chúng ta phải có trật tự, kỷ luật. Trật tự mang lại sự giới hạn và bổn phận phải làm.

Tự do ám chỉ trách nhiệm. Chẳng hạn, tôi tự do lái một chiếc xe hơi, nhưng nếu tôi không tuân giữ những luật lệ an toàn của giao thông, sự tự do của tôi cũng sẽ kết liễu sớm. Sự tự do lái xe hơi ám chỉ rằng tôi chấp nhận những giới hạn theo những luật lệ an toàn cho mọi người. Chúng ta có thể được tự do với điều kiện trật tự phải được tuân giữ. Trật tự nầy không phải được áp đặt bỡi một quyền hành độc đoán cho quyền lợi cá nhân của kẻ có quyền nhưng cho lợi ích của tất cả mọi người.

Việc để cho con cái có sự tự do quá trớn sẽ tạo cho chúng trở thành những bạo chúa và cha mẹ sẽ trở thành nô lệ. Những trẻ nầy lo hưởng thụ mọi sự trong khi bố mẹ phải gánh tất cả trách nhiệm. Hãy nhớ rằng trẻ con chưa nếm mùi những gian khổ cũng như những phiền toái bỡi thế giới bên ngoài, sẽ dễ trở thành ích kỷ và vô trật tự vì không có một cương lĩnh nào có thể hướng dẫn chúng. Chúng sẽ trở nên quan tâm nhiều đến việc xử dụng những phương cách thích hợp cho cuộc sống riêng của mình hơn là học những nguyên tắc và cương lĩnh cần cho nếp sống tập thể. Chính vì thế, bổn phận của chúng ta là làm sao giúp con trẻ hiểu được ý nghĩa đích thực của hai chữ TỰ DO. Và để làm được điều đó, chúng ta phải biết cách giáo dục, chúng ta phải bỏ phương cách giáo dục độc đoán đòi hỏi sự vâng phục tuyệt đối và thay thế bàng những phương cách mới đặt căn bản trên nguyên tắc tự do và trách nhiệm. Như thế, con trẻ của chúng ta sẽ không còn bị ép buộc phải tuân phục, nhưng chúng sẽ được khuyến khích tự nguyện tuân giữ kỷ luật trong tinh thần trách nhiệm.

Thật vậy, vấn đề giáo dục con em trong xã hội chúng ta đang sống không phải là một vấn đề dễ dàng. Nhiều người thành công trong nhiều lãnh vực nhưng đã hoàn toàn thất bại trong lãnh vực giáo dục con cái. Chính vì thế, để việc giáo dục con em chúng ta có hiệu quả, chúng ta cần chú ý đến những nét tâm lý căn bản sau đây : 

Mỗi Hành Động Đều Có Mục Đích:

a. Muốn được chú ý:

Tôi xin ghi lại đây những mẫu chuyện cụ thể sống động, hy vọng qua việc phân tích tâm lý những nhân vật trong mẫu truyện, sẽ giúp chúng ta hiểu biết thêm về tâm lý cũng như phương cách giáo dục con trẻ.

Cu Tí 6 tuổi ngồi ở bàn đang dùng những cây viết chì màu tô màu trong lúc bà mẹ đang ngồi viết thực đơn cho cả tuần. Tí bắt đầu nhịp chân trên sàn nhà. Mẹ nó quát nó: “Đừng có làm ồn!” Tí ngưng nhịp với một cái nhún vai. Nhưng không bao lâu nó lai nhịp chân nữa. Mẹ nó lại mắng nó: “Mẹ bảo con không được làm ồn”. Tí lại ngưng. Nhưng một lát sau, nó lại nhịp nữa. Mẹ nó đặt viết xuống đi lại phát cho nó một phát vào mông và la lên: “Mẹ bảo con giữ yên lặng, tại sao con cứ làm phiền mẹ mãi? Tại sao con không ngồi yên được?”  

Cu Tí không biết tại sao nó lại nhịp chân. Nó không thể trả lời cho mẹ nó. Nhưng chắc chắn là có lý do và cũng có cách để chúng ta làm chủ được nó. Tuy nhiên, để biết cách kích thích con trẻ cộng tác làm việc một cách hữu hiệu, chúng ta phải biết những động lực tâm lý nào liên quan đến những hành động đó.

Như chúng ta biết: mọi cử chỉ, hành động của con người đều có mục đích. Có lúc chúng ta nhận ra được, nhưng cũng có lúc chúng ta không biết. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm nầy là: có một cái gì trên thế gian nầy đã khiến mình làm công việc đó. Chúng ta hành động do một lý do nằm ẩn nấp trong vô thức. Con trẻ cũng vậy. Nếu chúng ta muốn con trẻ đổi hướng đi của nó, chúng ta phải hiểu cái gì làm nó chuyển động. Ngoại trừ chúng ta nhận thức được cái động lực nằm ẩn sau những cách cư xử của nó, chúng ta khó có thể thay đổi được nó. Đôi khi chúng ta có thể khám phá ra mục đích của hành động đứa trẻ bằng cách xem xét những kết quả mà nó có.

Trong mẫu chuyện trên, mẹ cu Tí trở nên chán chường. Cậu bé muốn làm bà mẹ chán nản, dĩ nhiên một cách vô ý thức. Việc bà mẹ la mắng và phết đít nó chỉ ghi một chiến thắng cho nó vì nó đã gây được sự chú ý của mẹ nó. Vậy tại sao nó không làm? Hãy thử nhìn những kết quả nó đạt được. Nó đã làm cho mẹ nó bận rộn với nó. Đây chính là mục đích ẩn nấp đằng sau hành động của nó. Cậu bé hành động một cách vô ý thức, nhưng nó hành động theo mục đích nầy trăm lần một ngày. Khi mẹ nó đáp lại như bà đã làm, bà càng củng cố thêm mục đích của nó. Nếu nó biết rằng việc làm của nó không thành công, nếu cái nhịp chân của nó không chọc tức mẹ nó được thì thật là vô nghĩa nếu nó tiếp tục làm như vậy, nên nó sẽ bỏ tức khắc. Và nếu giây phút ngồi yên lặng của nó mang lại một nụ cười đầm ấm, một cái ôm thân tình, và một lời khen tặng khích lệ, chắc chắn điều đó sẽ làm bớt đi hành động phiền toái của nó. Nhưng nếu người mẹ cố gắng ngăn cản nó hoặc cho nó thấy sự thất bại của bà bằng cách la mắng nó, bà chỉ làm tăng thêm động lực muốn làm phiền bà mà thôi. Nhịp chân của cu Tí đang diễn tả cảm giác của nó: “Hãy nhìn tôi, hãy nói một cái gì với tôi thay vì chúi đầu vào tập thực đơn.” Nếu bà mẹ nhận thức được điều đó, chắc hẳn bà biết động lực đó là gì. Nó tìm một vị thế bằng cách muốn sự chú ý của bà. Với kiến thức nầy, bà mẹ có cơ hội tốt hơn để giải quyết tình huống. Thật là một sai lầm lớn nếu chỉ muốn theo dõi và la mắng nó, nó sẽ chỉ tiếp tục quấy rầy mà thôi. Chúng ta sẽ khám phá ra nhiều cách thế để đối phó với những yêu sách của đứa trẻ.

b. Mun được thuộc về:

Vì con trẻ là một hữu thể xã hội, động lực mạnh nhất của nó là ước muốn thuộc về. Nó cảm thấy an toàn hoặc thiếu an toàn là tùy thuộc vào cảm giác cĩ thuộc về nhóm ho?c cộng đoàn của mình hay khơng. Đây là đòi hỏi căn bản. Mọi sự nó làm đều được nhắm  vào việc tìm một chỗ đứng cho nó. Ngay từ lúc ấu thơ, nó luôn bận rộn đi tìm những cách thế để trở thành một thành phần trong gia đình nó. Từ sự quan sát và những lần thử nghiệm, nó rút ra kết luận nầy: “không phải bằng lời nói nhưng bằng hành động cụ thể rõ ràng – À, thì ra đây là cách thế tôi có thể thuộc về. Đây là cách thế tôi trở nên có ý nghĩa.” Và nó đã chọn phương cách mà nhờ đó nó hy vọng chiếm được mục đích căn bãn của nĩ. Ngay tức khắc, phương cách hành động trở thành mục đích và tạo căn bản cho hành vi của nó. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng mọi hành vi của đứa trẻ đều có mục đích, nhưng nó không bao giờ ý thức về động lực đứng đằng sau hành vi của nó. Khi chúng ta hỏi tại sao nó nhịp chân, nó rất thành thật trả lời nó hoàn toàn không biết. Nó không thể lý luận, cũng không thể nghĩ ra tại sao. Nó hành động từ một sự kích động nội tâm. Nó học được những kinh nghiệm từ những hành động thí nghiệm của nó. Nó sẽ lập lại những hành vi đã mang lại cho nó một ý nghĩa và tạo cho nó một chỗ đứng, và bỏ đi cái đã mang lại cho nó cảm giác bị bỏ rơi bên ngoài. Chính ở đây, chúng ta có được nền tảng căn bản cho việc hướng dẫn hành động cho những con trẻ của chúng ta.

Quan Sát Và Kết Luận

Trẻ con là những quan sát viên rất tinh tường nhưng có nhiều lỗi lầm trong việc cắt nghĩa những gì chúng quan sát. Chúng thường rút ra những kết luận sai lầm và chọn những cách thế sai lầm để tìm chỗ đứng của mình.

Bé Tuyết 3 tuổi là một đứa trẻ vui vẻ, phấn khởi, và hạnh phúc. Nó phát triển rất nhanh đến nỗi cô bé là niềm vui cho cha mẹ của bé. Bé Tuyết biết đi khi chưa đầy một tuổi và học đi vệ sinh vào lúc một tuổi rưỡi. Lên 2 tuổi, cô bé nói được rõ ràng và nói thành câu gọn gàng. Mọi người đều thích bé có những kiểu cách dễ thương cũng như khả năng có thể làm được những chuyện đó. Đột nhiên, cô bé phản chứng, hay khóc đòi cho được cái mà nó muốn và hay nghịch đất cát coi bộ dơ dáy. Hai tháng trước khi tính tình thay đổi, em bé trai của nó được sinh ra. Ba tuần lễ đầu nó rất thích thú em nó. Cô bé nhìn chăm chú khi mẹ nó thay tã, tắm rửa, và cho em nó ăn. Mỗi khi bé Tuyết muốn giúp, mẹ nó đều từ chối. Dần dần cô bé xem ra mất đi sự thích thú và nó không còn đến giúp mẹ cho em nó ăn nữa. Sau đó một thời gian ngắn nó bắt đầu đổi tính, sinh phản chứng.

Bé Tuyết đã nhìn thấy tất cả sự chú ý mà mẹ nó dành cho em nó. Nó thình lình nhận thấy rằng em nó đã dành mất đi mẹ nó. Tất cả sự chú ý ngày xưa mẹ dành cho nó bây giờ đã chuyển sang cho em nó. Sự quan sát của cô bé là đúng. Mẹ nó đã để hết thời giờ lo cho đứa em bé sơ sinh. Nhưng cô bé đã sai lầm khi nghĩ rằng nó đã mất chỗ đứng và rằng những quần áo dơ bẩn cũng như việc không giúp mẹ nữa có thể làm cho nó trở thành người quan trọng. Nó tưởng rằng nó có thể lấy lại được vị thế đã mất bằng cách biến mình trở thành một đứa trẻ sơ sinh như em nó.

Một ví dụ khác: Cu Tuấn 5 tuổi cứng đầu và thích cãi lại lời mẹ. B?t c? điều gì mẹ nó bảo nó làm, nó đều khước từ. Tính tình nó trở nên hung dữ và bạo động. Nó thường đập bể đồ chơi chén đĩa, và bàn ghế. Nó rất khéo léo tránh né những công việc nhà mà mẹ nó phân chia, và thường hay bị quở phạt. Mẹ nó khó xử vì chính bà là một mẫu gương không mấy tốt đẹp đối với nó. Cậu bé đã nhanh chóng khám phá ra rằng bất cứ cái gì mẹ nó nói đều là luật đối với ba nó, một người luôn phục tùng áp lực của mẹ nó để có được sự yn lành trong gia đình. Ba nó không thích sự gây gỗ. Một số trường hợp mẹ nó cứng rắn với nó, cha nó cố gắng năn nỉ.

Cậu bé quan sát và ngưỡng phục uy quyền của mẹ nó. Có một ấn tượng trong đầu nó là: Người ta có một vị thế quan trọng nếu họ có uy quyền. Vì thế, nó cũng cố gắng tìm kiếm một chỗ đứng như vậy. Nó bắt chước mẹ nó bằng cách dùng sự giận dữ như một phương tiện để chiếm lấy uy quyền. Mẹ nó không thể khắc phục được nó. Nó cảm thấy được điều đó, nhưng me nó thì không. Mẹ nó nghĩ rằng khi bà phạt nó, bà có uy quyền hơn nó mà không nhận thức ra rằng hành vi kế tiếp của nó là trả thù, và sẽ có một vòng đọ sức khác giữa mẹ và con. Bé Tuấn đi đầu trong trận chiến vì những phương pháp nó dùng để tỏ uy quyền xem ra thành công. Vậy sai lầm của nó ở chỗ nào? Chính ở chỗ nó có thể được xem là một đứa trẻ hạnh phúc hay không? Và liệu nó có thể giải quyết được mọi trường hợp với tính tình ngang ngược như thế không? ?ĩ l ?i?u m chng ta c?n ph?i bi?t ?? h??ng d?n nĩ. 

Hướng Dẫn Của Bố Mẹ và Quyết Định Của Đứa Trẻ

Đứa trẻ nhìn mọi sự xảy ra chung quanh nó. Nó rút ra cho mình kết luận riêng từ những gì nó nhìn thấy và tìm những đường lối hướng dẫn cho cách sống của nó. Suốt thời thơ ấu, nó phải thích nghi và học cách làm chủ đư?c cả môi truờng bn ngoài cũng như trong con người nó. Nó mất gần cả một năm đầu ?? học làm chủ được cơ thể của nó. Nó h?c cách cử động chân tay để có thể thay đổi vị thế và nắm lấy cái nó muốn. Nó học cách làm cho cơ thể có tác dụng như nó muốn. Nó học để thấy và cắt nghĩa điều nó thấy. Với thời gian, nó học cách dùng sự thông minh và làm trọn những bổn phận phải làm. Trong tất cả những thực hiện nầy, nó học cách làm chủ con người bn trong của nó. Nó khám phá ra khả năng và khiếm khuyết của nó. Nếu nó gặp phải những khó khăn hay đối diện với một khuyết tật, hoặc nó đầu hàng hoặc cố gắng để bổ túc vào khuyết tật đó. Có khi đứa trẻ tạo một tài năng đặc biệt khi nó đối diện với một khuyết tật của nó.

Loan và Lan là hai đứa bé sinh đôi. Lan có đủ tứ chi còn Loan thì thiếu mất một tay phải. Không m?c cảm bỡi khuyết tật trầm trọng nầy, Loan học làm mọi sự với một tay. Suốt thời gian bò, nó vẫn cố theo kịp bé Lan bằng các dng chân và bụng của nó. Nó tập mặc đồ, thắt nt, thắt giây giày, chải tóc, và tắm bằng tay trái. Nó trở nên có tài khi làm những công việc nhà và còn có thể may vá được nữa. Chính vì thế mà bây giờ nàng đã lấy được chồng và làm mọi việc nhà rất là tốt đẹp.

Một mẫu chuyện khác: Bé Quang bị bệnh sốt cấp tính khi vừa lên 5. Kết quả là sau cơn bệnh, chân mặt của nó bị teo lại. Mẹ nó giúp và khuyến khích nó bơi lội, vì thế bé Quang thấy thích thú môn nầy. Lên 16 tuổi nó hoàn toàn khuất phục được khuyết tật của nó và nó trở thành ngôi sao bơi lội trong đội bơi của trường nó.

Bé Mai 4 tuổi là đứa trẻ trung nhất trong gia đình 4 đứa con. Bé được sinh ra với thị gic bị khuyết tật một cách trầm trọng. Tuy nhiên, nó không phải hoàn toàn mù. Nó mang mặc cảm nặng nề không muốn tự làm gì cả. Cô bé được người khác giúp mặc đồ, cho ăn, và chỉ đi bộ chút ít nếu được dìu tay. Mọi người trong nhà phục vụ nó và cố gắng làm nó vui. Đối diện với khuyết tật của nó, nó đã đầu hàng và để người khác làm mọi sự cho nó.

Đến đây chúng ta đủ thấy rõ rằng mồi đứa trẻ đã làm một quyết định quan trọng đối với khuyết tật của nó. Sự quyết định của bé Loan cố gắng để theo kịp bé Lan đã làm mẹ nó thán phục và cũng làm cho mẹ nó dễ dàng khuyến khích nó. Với bé Quang, sự ước muốn khuất phục cái khuyết tật cũa nó đã làm mẹ nó hứng thú cung cấp môn bơi lội cho nó. Nhưng với bé Mai, sự đầu hàng của nó đã chiếm được lòng thương xót và phục vụ của những người chung quanh. Quả thật quyết định ban đầu của mỗi đứa khác nhau nên câu chuyện cuộc đ?i của mỗi đứa bé cũng kết thúc hoàn toàn khác nhau. Chính vì thế, sự khôn ngoan của cha mẹ trong việc hướng dẫn con cái cho mỗi hoàn cảnh cá biệt xem ra rất quan trọng. Tương lai cả cuộc đời chúng nằm ở sự khôn khéo hướng dẫn của bố mẹ cũng như sự quyết định khởi đầu của đứa bé. 

Môi Truờng Gia Đình

Trong lúc giao tiếp với môi trường bên ngoài, đứa trẻ cùng lúc cũng học đối diện với môi trường bên trong. Nụ cười đầu tiên của đứa trẻ là động tác đầu tiên của nó giao tiếp với thế giới bên ngoài. Nó đáp trả sự khuyến khích đối với những người chung quanh nó và cảm thấy khoái chí nếu có người đáp trả lại cái cười của nó. Đó cũng là sự liên hệ đầu tiên năng động giữa người với người được thiết lập. Sự giao tiếp với thế giới bên ngoài lớn lên cùng với sự phát triển trong việc làm chủ được thế giới bên trong của nó. Ở đây cũng vậy, nếu nó gặp những trở ngại, hoặc là nó đầu hàng hoặc là nó cố gắng để khuất phục.

Có nhiều yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát triển của của trẻ. Một trong những yếu tố đó là môi trường gia đình. Trong tương quan với cha mẹ, đứa trẻ kinh nghiệm được cái xã hội bên ngơài. Qua họ, đứa trẻ kinh nghiệm được những ảnh huởng về kinh tế, chủng tộc, và xã hội trong môi trường của nó. Nó thấm nhập những giá trị tinh thần, tập quán, qui ước của gia đình và cố gắng thích ứng với những mẫu mực, những tiêu chuẩn được qui định bỡi cha mẹ. Quan niệm của nó về những lợi lộc vật chất phản ảnh đường hướng kinh tế của gia đình. Cái nhìn của nó đối với các chủng tộc khác tuỳ thuộc vào thái độ của nó đối với những người không cùng chủng tộc thuộc trong đại gia đình của nó. Nếu sự chịu đựng là một mẫu mực gia đình, đứa trẻ sẽ coi sự chịu đựng, sự nhịn nhục là một mẫu mực giá trị nó muốn ủng hộ. Nếu cha mẹ coi thường những người khác chủng, bấy giờ đứa trẻ có thể chú trọng đến vấn đề dị chủng và sẽ đi tìm sự ưu thế trong tương quan xã hội và chủng tộc. Quả thật, trẻ con quan sát cách nhanh chóng cách thức mà cha mẹ đối xử với nhau cũng như đối với người khác.

Tương quan giữa cha mẹ lập nên mẫu mực cho những tương quan con cái trong gia đình. Nếu cha mẹ đối xử với nhau cách thân tình, đầm ấm, và cộng tác, tương quan như thế có thể phát triển giữa những đứa trẻ và cha mẹ, và giữa chúng với nhau. Nếu cha mẹ hay kình địch và thích cạnh tranh để nắm quyền, một mẫu mực như vậy cũng sẽ phát triển giữa những con cái. Nếu người cha là một người thống trị và có cương lĩnh trong khi người mẹ là một người hiền lành phúc hậu, phái nam có thể trở thành một mẫu mực lý tưởng đặc biệt cho các bé trai. Nếu người mẹ là một người thống trị trong gia đình, con trẻ sẽ cố gắng bắt chước cách thức mà người mẹ đã làm để chiếm được sự ưu thế giống như chúng ta đã gặp trong mẫu chuyện cu Tuấn kể trên. Tương quan giữa cha mẹ luôn để lại cho con trẻ một đường nét hướng dẫn, từ đó chúng có thể chọn để phát triển vai trò cá biệt của chúng. Sự cạnh tranh giữa cha mẹ có thể biến sự tranh đua trở thành một mẫu mực cho con cái trong gia đình. Vì thế, chúng ta có thể biết được tương quan của một gia đình giữa cha mẹ với nhau cũng như giữa cha mẹ và con cái qua những đường nét chung mà con cái họ đều có.

Đến đây, chúng ta có thể biết được rằng sự phát triển của đứa trẻ chịu ảnh hưởng rất nhiều bỡi những yếu tố bên ngoài, và đó là lý do tại sao con trẻ ngày hôm nay xem ra khó dạy hơn chúng ta ngày xưa. Ở trong thời đại nào chúng ta phải sống theo thời đại đó. Trong thời đại dân chủ, chúng ta phải sống cuộc sống dân chủ, và cũng phải dùng phương pháp dân chủ để giáo dục con cháu chúng ta nếu muốn công việc giáo dục của chúng ta có được kết quả. Nhưng để đạt được điều đó, chúng ta phải biết những nét tâm lý căn bản của việc giáo dục con trẻ để có thể đáp ứng đúng nhu cầu của chúng. Một khi nhu cầu đã được thõa đáp, con trẻ sẽ ngoan ngoãn nghe lời chúng ta, và như thế chúng ta sẽ dễ dàng hướng dẫn con cháu chúng ta đi đúng con đường mà chúng ta mong muốn.

lm. lêvănquảng

VỀ MỤC LỤC
TRÁI TIM NGƯỜI CHA
 

Phúc Âm Nhật Ký Ngày 18.06.2006

TRÁI TIM NGƯỜI CHA

Mc 14:12-16.22-26

Hôm nay là ngày từ phụ.  Hôm nay những người con có cơ hội nhìn lại khuôn mặt của cha mình trong gia đình.  Chắc hẳn không ai nhìn thấy trái tim của người cha.  Nhưng qua những khổ đau và chịu đựng của người, ta nghe được từng nhịp đập con tim của người cha .  Hình ảnh cha vẫn đẹp mãi như cột trụ gia đình giữa bao giông tố cuộc đời.

Có làm cha mới thấy tình yêu kỳ diệu chừng nào. Trong vai trò làm cha, người cha mới khám phá mọi chiều kích và bản chất của tình yêu.  Chính trong tình yêu mới biết mình là ai và tha nhân là ai.  Lý do vì sự thật là tình yêu.  Không ai làm cha cho chính mình.  Có con mới làm cha.  Có làm cha mới biết sống cho và vì con.   Không làm cha không thấy mình phải hy sinh tới mức nào cho con.  Không làm cha không thể thấy được mức độ tự do trong tình yêu :  Tự do hiến thân cho con.  Không phải sau khi lập gia đình, người ta hết mù quáng vì quá nhiều đau khổ.  Nhưng chính trong đau khổ Thiên Chúa xuất hiện như sự thật giải thoát. 

Không ai nhìn thấy Thiên Chúa.  Nhưng qua Chúa Giêsu trên thánh giá, tôi biết Thiên Chúa yêu thương tôi nồng nàn và sâu đậm tới mức nào.  Nhờ cuộc hiến tế thánh giá, tôi mới thấy rõ tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa dành cho tôi.  Cuộc hy sinh đó còn tiếp tục trong Thánh Thể.   Trong Mình và Máu Thánh Chúa, tôi nghe thấy tiếng Chúa mời gọi tôi thông hiệp với Ba Ngôi Thiên Chúa.  Không sống hiệp thông với Ba Ngôi, không thể thông hiệp với anh em.  Do đó, đứng ngoài cuộc hiệp thông là đang xa dần hay đã đánh mất bản chất của mình. 

Mỗi lần dâng lễ, tôi như đi vào cuộc hiệp thông sâu đậm với Chúa.  Không  hiệp thông với Chúa, tôi sẽ không thể làm được gì và chẳng còn là gì.  Trái lại, từ cuộc hiệp thông với Chúa Giêsu trong thánh lễ, tôi mới có thể hiệp nhất nhân loại trong tình yêu Thiên Chúa.  Chúa Giêsu Thánh Thể là nguồn sống  và là trung tâm hiệp thông vĩ đại nhất trong vũ trụ.  Trong cuộc hiệp thông đó, tôi không đánh mất chính mình.  Trái lại, càng ngày tôi có thể xác định được chính mình là ai.

Thánh Thể chính là cuộc hiệp thông đích thực.  Nơi đây, tôi có thể tìm được chỗ đứng cho chính mình.  Tôi có thể cảm nghiệm được tình yêu mãnh liệt và nóng bỏng của Thiên Chúa.  Từ đó, tôi nhận ra người anh em tôi.  Không có Thánh Thể, cuộc sống thật vô nghĩa, vì tôi không còn tìm được niềm vui và sự sống đích thực cho mình nữa. 

Hôm nay, Chúa Giêsu Thánh Thể đang muốn quy tụ nhân loại, nhất là với những anh em Kitô hữu vào cuộc hiệp thông sâu xa với Chúa Cha.  Nhưng làm sao có thể thực hiện được ?  Công cuộc khó gấp ngàn lần khi Chúa còn hiện diện bằng xương bằng thịt ở nhân thế.  Ngày nay, Chúa cũng ẩn mình như Chúa Cha.  Nếu không nhờ sức mạnh Thánh Linh, chắc chắn không thể thực hiện công cuộc hiệp thông lớn lao này. 

Ngoài ra, con cũng tìm thấy những chứng từ sống động về cuộc hiệp thông với Chúa Cha nơi những hình ảnh của Cha trong gia đình.  Chúa Cha là đầu mối hiệp thông trong gia đình Ba Ngôi.   Người cha nào cũng là cột trụ gia đình và bởi đấy cũng là đầu mối hiệp thông cho mọi người.  Từ trong giáo hội bỏ túi này, con sẽ thấy những dấu chỉ hiệp thông sống động và cần thiết cho giáo hội và xã hội hôm nay. 

Lạy Chúa là Cha chí thánh, con đã tìm được sự hiệp thông với Cha và anh em trong bí tích Thánh Thể.  Con cũng tìm thấy hình ảnh và dấu chỉ hiệp nhất của Cha nơi những người cha gia đình.  Hôm nay là ngày của người cha, chúng con không thể nào không nhớ đến Cha là nguồn mọi tình phụ tử.  Xin Cha nâng đỡ và ủi an những người cha để họ luôn trở nên hình ảnh sống động của Cha trên trần gian.  Amen.

đỗ lực

VỀ MỤC LỤC

HƯỚNG VỀ CHA TRAO BAN TÌNH CHA

 

MỪNG KÍNH THÁNH TÂM - CẦU CHO CÁC MỤC TỬ CỦA CHÚA

 

“Trái Tim Đức Chúa Giêsu là lò lửa mến hằng cháy” (kinh cầu Trái Tim Đức Chúa Giêsu – của Đức Cha Giuse Phạm Văn Thiên). Lò lửa mến này là lò lửa mến của một tình yêu mục tử tuyệt đỉnh lãnh nhận từ nơi Cha và trao ban cho trần thế. Bởi lãnh nhận từ nơi Cha, lò lửa mến này không bao giờ ngừng mến. Bởi chỉ trao ban cho trần thế, lò lửa mến này rừng rực tỏa sáng tình yêu đối với loài người. Nơi lò lửa mến của Trái Tim Chúa Giêsu, tình yêu dành cho Cha và tình yêu dành cho loài người hòa quyện, đan kết trong nhau. Nhờ đó, nơi Trái Tim, loài người lãnh nhận chính tình yêu của Cha và tình Cha bắt gặp đối tượng của mình là chính loài người. Vì thế, bất cứ ai, bất cứ lúc nào, loài người đều có thể nương nhờ lòng yêu mến của Trái Tim, nương nhờ tình yêu Mục Tử tuyệt đỉnh, để nơi đó, họ sung sướng đi về với Cha, sống trong tình Cha.

 

Cách riêng, đối với các mục tử trong Hội Thánh, một khi được gọi làm mục tử như Chúa Giêsu Mục Tử, hơn ai hết, họ cần thể hiện tình yêu mục tử của Chúa Giêsu trong suốt cuộc đời làm mục tử của họ. Nghĩa là bầu tim của họ cũng phải trở nên “lò lửa mến hằng cháy”. Để như Chúa Giêsu, họ hướng về Cha, và trao ban tình Cha cho trần thế.

 

Để hướng về Cha, và trao ban tình Cha cho trần thế, bắt chước Chúa Giêsu, người mục tử hôm nay có nhiều cách thế để thực hiện. Chẳng hạn:

 

I. Các mục tử hướng về Cha và trao ban tình Cha bằng đời sống cầu nguyện.

 

Người ta hay bị cám dỗ phải làm hơn là phải cầu nguyện. Vì thế, ngày càng khó tìm người chấp nhận thinh lặng để lắng chìm trong suy niệm và cầu nguyện hơn tìm một ai đó thích náo động, thích đi đây đi đó, thích làm nhiều công trình nổi nang.

 

Cũng vậy, các mục tử, nếu không lưu ý mình, cũng sẽ dễ tự lôi kéo mình vào cái vòng kiềm hãm của hoạt động, xây sửa nhà cửa, trang hoàng đường đi, đổ cống đắp đường… Đành rằng, tất cả những hoạt động ấy là tốt. Nhưng hoạt động đầu tiên của các mục tử là hướng dẫn đường thiêng liêng cho anh chị em của mình. Để hướng dẫn đường thiêng liêng, các mục tử chỉ có thể là người đã chìm trong thinh lặng của sự cầu nguyện. Chỉ nhờ cầu nguyện, các mục tử của Chúa mới có thể lắng nghe tiếng Chúa nói với chính nội tâm của mình. Một khi đã cầu nguyện và lắng nghe tiếng Chúa rồi, mọi hoạt động mới có hồn, mới có sức sống, mới mang lại nhiều ơn thiêng cần thiết cho anh chị em của mình.

 

II. Các mục tử hướng về Cha và trao ban tình Cha bằng thực thi trách nhiệm làm chứng cho lòng yêu thương.

 

Có lẽ không ai, không thành phần nào nói về lòng yêu thương, công bố lòng yêu thương nhiều cho bằng các mục tử của Chúa. Bởi cứ mở cuốn sách Lời Chúa ra, họ đã như có thể chạm được lòng yêu thương của Thiên Chúa.

 

Các mục tử là người rao giảng Lời Chúa, đồng nghĩa với việc họ không ngừng rao giảng về lòng yêu thương. Nhưng lời rao giảng và đời sống không đương nhiên song hành cùng nhau, mà có khi lại xa nhau một trời, một vực. Cũng chính vì thế, có khi lời rao giảng của các mục tử đưa người ta hướng về Cha, còn chính họ, lại ở xa Cha.

 

Vì thế, cùng với lời rao giảng về lòng yêu thương, trước hết, các mục tử phải là chứng nhân của lòng yêu thương ấy, phải cố gắng sống lòng yêu thương ấy. Chỉ khi nào, các mục tử ra sức thực thi trách nhiệm làm chứng cho lòng yêu thương, họ mới thực sự hướng về Cha, đưa dẫn mọi người hướng về Cha, trao ban tình Cha cho mọi người cách hiệu quả nhất.

 

III. Các mục tử hướng về Cha và trao ban tình Cha bằng cách ra sức gìn giữ sự cao quý của ơn gọi của mình.

 

Trong một cuộc tra xét một thanh niên Công giáo trước khi kết án tử cho anh, vị quan tòa dụ dỗ: “Bỏ đạo đi, ta cho một nén vàng”“Bẩm quan, ít quá!”“Thế mấy nén vàng mới đủ?”“Bẩm quan, hãy cho tôi đủ nén vàng để mua lại cuộc đời tốt đẹp. Mà cuộc đời tốt đẹp của tôi là theo Chúa. Nhưng quan hãy nhớ cho rằng, cuộc đời tốt đẹp ấy vô giá đấy. Quan liệu có đủ số vàng để tôi mua lấy một cuộc đời vô giá không?”.

 

Các mục tử hãy luôn ghi nhớ rằng, đời sống của chúng ta là đời sống được Chúa yêu thương cách đặc biệt. Chúa cho chúng ta nhận biết Chúa, yêu Chúa, phụng sự Chúa, nắm giữ kho tàng ơn thánh của Chúa để phân phát cho anh chị em của mình qua các bí tích và trong từng hiến tế. Đó là quà tặng vô giá Chúa trao cho các mục tử để thực thi tình yêu của Chúa cho trần gian.

 

Ngay chính ơn gọi được làm mục tử, tham dự vào chức vụ mục tử của Chúa, để có thể làm mục tử như chính Chúa, đã là hồng ân lớn lao nhất, tốt đẹp nhất, không phải bất cứ ai muốn đều có thể có được, để chúng ta, từ ngày nhận lãnh thánh chức, trở thành “bạn hữu” của Chúa Kitô (Ga 15, 15-16).

 

Hiểu được sự cao cả của thiên chức mà mình lãnh nhận; hiểu được cái quý giá mà lòng tin tưởng của Hội Thánh, của từng anh chị em giáo dân, kể cả lương dân nữa, trao gởi cho mình; và hiểu được chính bản thân chỉ là những con người bất toàn, lại được Chúa trao trách vụ quá quan trọng, chúng ta hãy sống tốt ơn gọi, hãy ra sức vun bồi cho đời thánh hiến của mình ngày một tươi đẹp, đáng trân, đáng quý.

 

Người mục tử của Chúa đừng bao giờ lạm dụng thánh chức, nói nặng hơn: Đừng bao giờ phàm tục hóa thánh chức của mình chỉ vì những nhu cầu giả tạo, chỉ vì cái lợi trước mắt, chỉ vì ham mê và để lòng vướng bận trần thế. Cũng giống như người thanh niên trong cuộc tra xét: “Bẩm quan, hãy cho tôi đủ nén vàng để mua lại cuộc đời tốt đẹp. Mà cuộc đời tốt đẹp của tôi là theo Chúa. Nhưng quan hãy nhớ cho rằng, cuộc đời tốt đẹp ấy vô giá đấy. Quan liệu có đủ số vàng để tôi mua lấy một cuộc đời vô giá không?”, chúng ta đừng đánh đổi thánh chức của mình để mua lấy cái tầm thường của thế gian.

 

Các mục tử hãy là những người phân phát đích thực của ơn thánh, để chính mình cũng nên thánh trong chính bổn phận phân phát ơn thánh ấy. Họ hãy hướng về Cha bằng chính việc ra sức gìn giữ sự cao cả của ơn gọi mà họ đã nhận lãnh.

 

IV. Các mục tử hướng về Cha và trao ban tình Cha bằng ý thức đời mình ngắn ngũi, bản thân mình yếu đuối.

 

Tại Việt Nam, những năm gần đây, nhiều vụ tiêu cực như buôn bán ma túy, tham nhũng, hối lộ, lợi dụng chức quyền, thâm lạm của công… bị phanh phui tố giác. Chẳng hạn, vụ án Năm Cam, vụ án của các quan chức ngành thể thao Việt Nam, vụ án các quan chức ngành hải quan, hay mới đây nhất là vụ án MPU18…, đã đưa nhiều nhân vật “lớn” cũng có, “nhỏ” cũng có, vào chốn lao tù…

 

Là mục tử, được Chúa ủy quyền thay mặt Chúa trên trần gian, chúng ta là những người hướng dẫn người khác, vì thế, không chỉ là người biết suy nghĩ, mà còn là người suy nghĩ chính chắn. Chắc chúng ta không có những hành động sai trái công khai như bên trên. Nhưng sai trái mà không bị phát hiện do ta khéo che đậy, chắc không phải là điều không có. Hoặc đã có thể có những tai tiếng, nhưng vì lòng mộ mến thánh chức của chúng ta, mà anh chị em xung quanh đành chấp nhận chúng ta trong thinh lặng.

 

Các mục tử hãy nhớ rằng, mỗi người chỉ một lần duy nhất có mặt trong đời, chỉ một lần mà thôi, được Chúa cho làm người, cho sống và cho làm mục tử tham dự vào chức vị mục tử của Chúa Kitô. Dù cho có sống đến trăm năm, vẫn chỉ là một cuộc sống hết sức ngắn ngũi. Bởi vậy, các mục tử của Chúa hãy ý thức cái ngắn ngũi hết sức của đời mình để sống cho Chúa và sống có ích cho đời nhiều hơn.

 

Hãy nhớ rằng, nếu chết, không ai có thể sống lại, để lại sống một cuộc đời thứ hai trên mặt đất này. Bởi vậy, ngày nào các mục tử của Chúa không nỗ lực sống tốt hơn, ích lợi hơn, thanh cao hơn, thánh thiện hơn, ngày đó, họ sống mà cũng như chết. Thà chết thực sự. Nếu sống mà như chết, họ chỉ là kẻ làm thiệt hại cho thanh danh của mình, của Hội Thánh và của Thiên Chúa. Vì thế, các mục tử không được phép bán đứng những hồng ân Chúa ban, không được phép xem nhẹ lương tâm, càng không bao giờ được phép vấy bẩn ơn gọi làm mục tử của mình. Chúng ta hãy nỗ lực làm cho cuộc đời mình có đầy đủ ý nghĩa, đầy đủ khả năng vươn tới và trao ban.

 

Các mục tử, dù được Chúa trao ban khả năng lãnh đạo, hướng dẫn anh chị em, vẫn phải không ngừng ý thức mình cũng giống như anh chị em, vẫn yếu đuối vô cùng. Ý thức như thế, họ sẽ có cách làm cho mình mạnh mẽ hơn. Cách đó là gì?

 

Một vị tướng thắng trận kể rằng: “Cánh quân bên hữu tôi đã bị đáng bật rồi. Cánh quân bên tả của tôi cũng phải rút lui. Tôi chỉ còn lại cánh quân ở giữa. Tôi dùng cánh quân này để tấn công. Tôi tấn công và tôi thắng trận”.

 

Cũng vậy, các mục tử đừng bao giờ thất vọng, đừng bao giờ rút lui, đừng bao giờ đầu hàng. Chúng ta hãy tấn công tội lỗi, tấn công trụy lạc, tấn công biếng nhác, tấn công sự dối trá, tấn công sự khoe khoan, tấn công sự sợ dư luận làm cho mình cữ mãi sống trong tranh tốI tranh sáng, tấn công các cơn cám dỗ, tấn công các nghiêng chiều dục tính, tấn công các thói xấu, các hoàn cảnh xấu… Cánh quân bên hữu, cánh quân bên tả là sức người của chúng ta có thể bị hỗn loạn. Nhưng chúng ta vẫn còn cánh quân chủ lực: đó là kinh nghiệm sống ơn gọi mục tử dù tuổi còn trẻ hay đã già; đó là đức tin; lòng đạo đức sốt sắng; lòng yêu mến đời sống cầu nguyện; nhất là lòng yêu mến Chúa Giêsu; yêu mến Thánh Thể; yêu mến cuộc tử nạn của Chúa, yêu mến Thánh Tâm Chúa; yêu mến Đức Mẹ Maria; đó là sự nâng đỡ của ân sủng và của Mẹ Hội Thánh. Hãy tin vào sức mạnh của cánh quân chủ lực này để chiến đấu, để sống, để làm đẹp đời mình, để vươn lên. Chắc chắn từng người mục tử của Chúa sẽ thắng trận, sẽ thành công tốt đẹp.

 

V. Kết luận.

 

Trên đây chỉ là vài gợi ý trong khi nhìn ngắm Thánh Tâm Chúa Giêsu, rồi suy tư về vai trò và đời sống của người mục tử của Chúa trong Hội Thánh. Tuy nhiên, trong kinh nghiệm cá nhân của mình, mỗi người mục tử có những cách thế riêng để sống kết hợp cùng Chúa, để có thể đến gần Thánh Tâm Chúa mà hướng về Cha và trao ban tình yêu từ nơi Cha cho trần thế.

 

Chắc chắn sẽ có những lần mệt mỏi khi phải bước đi giữa dòng đời, các mục tử hãy nhớ Lời Chúa căn dặn: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của Ta, và hãy học với Ta, vì Ta có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách của Ta thì êm ái, và gánh của Ta thì nhẹ nhàng” (Mt 11, 28-30).

 

Lời hứa của Chúa là một sự bảo đảm lớn lao cho những ai ngã mình vào mà nại đến tình yêu của Người, nại đến lòng khoang dung nhân hậu vô cùng của Thánh Tâm. Các mục tử càng phải hướng dẫn, càng phải noi gương, càng phải trao hiến, thì càng phải ngã vào sự bảo đảm này. Nếu các mục tử ngã vào Chúa thật tin tưởng, thật yêu mến, thật đơn sơ như đứa bé trong vòng tay mẹ nó, họ sẽ càng là người của sự hiến dâng cho Chúa, càng đủ mạnh mẽ và can đảm gánh lấy đời sống mục tử của mình.

 

Phải như thế, các mục tử mới thực sự có khả năng hướng về Cha và thực sự có khả năng trao ban tình Cha cho trần thế.

 

Lm. VŨ XUÂN HẠNH

VỀ MỤC LỤC

NGUYỆN VỌNG  của Người Mù Từ thuở mới sinh (Ga 9,1- 41)

 

 Tôi là một người mù từ thuở mới  sinh. Sáng n