|
NHỮNG CÁCH THỨC GÍAO DÂN CỘNG TÁC
VÀO CÔNG CUỘC RAO GlẢNG TIN MỪNG CỦA GÍAO
HỘI |
|
Giáo dân cộng tác vào công
cuộc rao giảng Tin Mừng của
Gíao Hội và với tư cách chứng nhân và khí
cụ sống động họ tham gia vào sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội, nhất
là khi họ được Thiên Chúa kêu gọi và được Giám mục thu nhận để
làm việc đó
Trong những miền đã theo
Ki-tô giáo,giáo dân tham vào
việc rao giảng Tin Mừng bằng cách tự khuyến
khích và khích
lệ người
khác hiểu biết và yêu mến công cuộc rao giảng Tin Mừng, bằng
cách cổ võ ơn gọi trong gia đình mình, trong các
hội đoàn Công giáo và trong
các trường học, bằng dâng cúng
mọi thứ của cải,
như thế họ có thể trao tặng cho người khác ơn đức tin mà họ đã
lãnh nhận nhưng không.
Còn trong các xứ truyền
giáo giáo dân hoặc là người nước ngoài hoặc là người bản địa, có
thể dạy học trong các trường phụ
trách các việc trần thế, hợp tác vào hoạt động của giáo xứ
hay giáo phận
thành lập và cổ võ các hình thức làm việc tông
đồ giáo dân để
tín hữu của các Giaó Hội non trẻ có thể góp
phần riêng mình vào đời
sống Giáo Hội càng sớm càng
tốt.
Giáo dân phải sẵn sàng cộng
tác trong lãnh vực kinh tế xã hội với các dân tộc đang trên
đường phát triển. Sự cộng tác
này càng đáng khen ngợi nếu nhắm đến việc
thành lập các tổ
chức liên quan đến những cơ
cấu căn bản của đời sống xã hội hay nhằm mục đích đào tạo những
người có trách nhiệm lo cho công ích.
Cũng đáng đặc biệt tán
thưởng những giáo dân, trong các
Đại Học hay các
Viện Khoa Học, biết dùng những khảo cứu lịch
sử hay khoa học tôn iáo mà
phát triển sự hiểu biết Về các
dân tộc và các tôn gíao như thế là họ giúp các nhà rao giảng Tin
Mừng và chuẩn
bị cuộc đối thoại với những người ngoài Kitô
gíao
Ho cũng phải hợp
tác trong tình huynh đệ với các Ki-tô hữu
khác, vởi những người ngoài
Kitô giáo và nhất là với cáo
hội viên của những tổ chức quốc tế, nhưng phải luôn nhớ rằng:
“việc xây dựng xã hội trần thế phải đặt nền tảng trong Chúa và
quy huớng về Người”
Để chu toàn tất
cả những nhiệm vụ đó, gíao dân cần phải được chuẩn bị về kỹ
thuật và đời sống thiêng liêng tại những Học Viện chuyên khoa,
để đời sống họ trở thành chứng tá cho Đức Kitô giữa những người
ngoài Kitô giáo, như lời Thánh Tông Đồ Pholô: "Anh em đừng làm
gương xấu cho bất cứ ai
dù là cho người Do-thá hay
người ngoại, hoặc cho Hội Thánh
của Thiên Chúa;
cũng như tôi đây, trong mọi hoàn cảnh, tôi cố gắng làm đẹp lòng
mọi người, không tìm ích lợi cho riêng tôi, nhưng cho nhiều
người để họ được cứu độ” (1Cr 10,32-33).
(Trích Sắc lệnh vê hoạt
động truyền giáo của Giáo Hội đến
với muôn dân của Công Đồng Vatican lI, số 41) |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
QUAN NIỆM HÔN NHÂN
THAY ĐỔI... |
|
CÔNG ĐỒNG VATICAN
II QUA BỐN THẬP NIÊN
- IX
-
QUAN NIỆM HÔN NHÂN
THAY ĐỔI
KỂ CẢ ĐỐI VỚI
NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CÔNG GIÁO
Trước khi Louise
Cook kết hôn với người chồng Công giáo vào năm 1945, bà là một tín
hữu thuộc Giáo Hội Giám Lý, sinh trưởng tại Kansas, đã quyết định
theo Công giáo. Bà không muốn bị khước từ làm đám cưới trong một
Thánh lễ Công giáo hay bị nghi ngờ bà sẽ không nuôi nấng con cái như
tín hữu Công giáo.
Sau khi trở
thành góa phụ năm 1970, bà tái giá và lần nầy với một người thuộc
Giáo Hội Trưởng Lão. Người nầy gắn bó mãnh liệt với đức tin của mình.
Lễ cưới xảy ra vào năm 1974 trong một nhà thờ thuộc Giáo Hội Trưởng
Lão với vị mục sư của ông và vị linh mục Công giáo của bà là hai vị
chủ tế đồng hạng.
Những thay đổi
về hôn nhân Công giáo, do Công Đồng Vatican II mang lại, đã đi khá
xa đối với hôn nhân hỗn hợp. Và theo nhiều người, những thay
đổi đó là những dấu chỉ rõ rệt nhất đối với sự cởi mở và đổi mới của
Giáo Hội do Công Đồng mang lại.
Nhiều sự thích
nghi đã bắt đầu một thời gian lâu trước Công Đồng, như cha Joseph
M. Champlin đã viết trong sách “Cùng Nhau Cho Sự Sống”
vẫn còn được dùng cho bốn trong năm cặp nam nữ dự định kết hôn trong
Giáo Hội Công giáo ở Hoa Kỳ. Cha Champlin nhận thấy ngay chính trong
gia đình ngài những đám cưới hỗn hợp đã thay đổi từ một nghi thức ở
trong nhà mặc áo lễ (như trường hợp mẹ ngài và người bố dượng không
Công giáo vào thập niên 1940) cho đến ở trong nhà thờ, nhưng không
có rước lễ (đó là trường hợp người anh ruột và chị dâu không Công
giáo của ngài vào thập niên 1940) hoặc ở nơi cung thánh nhà thờ
trong khuôn khổ một Thánh Lễ vào thập niên 1950.
“Điều đó đã làm
vơi đi nhiều điều có thể gây nên thương tổn” và đôi khi người phối
ngẫu không Công giáo cảm thấy như bị loại bỏ, cha xứ của nhà thờ
“Đức Bà Chỉ Bảo Đàng Lành” ở Warner, N.Y. cho biết như thế.
Sau Vatican II,
Giáo Hội đã nới lỏng một điều ràng buộc khác đối với những đôi hôn
nhân hỗn hợp, đó là người phối ngẫu không Công giáo không phải ký
giấy cam kết sẽ nuôi nấng và dạy dỗ con cái như người Công giáo.
Bắt đầu thập niên 1960, những người không Công giáo chỉ cam kết bằng
miệng mà thôi. Theo cha Champlin: “Đó là nguồn gốc chọc giận những
người không giữ lời hứa”.
Điều thay đổi
chính trong hôn lễ Công giáo sau Công Đồng Vatican II là sự tham gia
của đôi tân hôn vào việc lên chương trình đối với lễ cưới của họ.
Theo cha Champlin, trước Vatican II, những yếu tố thuộc nghi lễ hôn
phối “đúng hơn là có tính cách cứng nhắc và giống nhau cho hết mọi
người”, nhưng về sau “Giáo Hội khuyến khích các đôi tân hôn nên tham
gia vào việc phụng vụ.” Giờ đây các đôi nam nữ có thể chọn lựa
những đoạn Thánh Kinh được đọc cũng như những bài hát, nói cách
khác là cá nhân hóa nghi lễ hôn phối. “Điều đó có âm hưởng tức thời
đối với giới trẻ”, cha Champlin đã viết như thế trong quyển sách
“Cùng Nhau Cho Sự Sống” với nhiều sự duyệt lại trong nhiều năm và đã
bán 9 triệu quyển.
Ngoài nghi thức
phụng vụ ra, Vatican II còn thay đổi quan niệm thực sự về hôn nhân
trong Giáo Hội Công giáo, theo như H. Richard McCord, giám
đốc điều hành “Văn Phòng Tổng Thư Ký về Gia Đình, Giáo Dân, Phụ Nữ
và Giới Trẻ của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ”. Theo McCord, trong
Hiến Chế Mục Vụ “Vui Mừng và Hy Vọng” của Giáo Hội,
Công Đồng tuyên bố hôn nhân không chỉ để truyền sinh mà
thôi. Công Đồng “đã trở lại sự hiểu biết Thánh Kinh về giao
ước” để định nghĩa lời cam kết bí tích giữa vợ chồng.
Hiến Chế đã minh
định: “Hôn nhân, một cách chắc chắn, không được lập ra duy nhất nhằm
để truyền sinh; đúng hơn bản chất đích thực của hôn nhân là một
khế ước không thể phá vỡ giữa đôi vợ chồng và sự phúc lợi của con
cái. Cả hai điều đó đòi buộc “tình yêu hỗ tương” giữa hai
người phối ngẫu…tăng trưởng và trở nên chính chắn hơn. Vì vậy hôn
nhân bền bỉ một cách trọn vẹn và đôi vợ chồng chia sẻ cuộc sống cùng
duy trì chân giá trị và sự bất khả phân ly, cho dù đôi vợ chồng hết
sức mong muốn nhưng không thể sinh con đẻ cái được.”
Theo McCord, ý
niệm hôn nhân như là một giao ước cũng nhấn mạnh “sự bình
đẳng cơ bản đối với con người” vào một thời điểm mà một
số người còn xem phụ nữ như là vật sở hữu của người chồng. Mỗi người
phối ngẫu đều đóng góp trọn vẹn năng khiếu và quà tặng của mình cho
nhau và đối lại cũng được nhận lãnh như vậy.
Theo McCord, “Ánh
Sáng Muôn Dân” - tức Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội –
cũng đóng góp “một khái niệm căn bản vẫn còn tiếp tục trong công
cuộc mục vụ của Giáo Hội; đó là ý niệm gia đình Kitô hữu như là
một Giáo Hội tại gia.
McCord còn ghi
nhận thêm: “Cách thức hiểu biết mới về vai trò của gia đình Công
giáo đó” là một ý niệm cổ xưa trước tiên được Thánh Gioan
Chrysostom (347-407) nhấn mạnh và “được các nghị phụ tái khám
phá”.
Đức Thánh Cha
Bênêđitô XVI đã tuyên bố như sau trong cuộc nói chuyện với một
nhóm giám mục Mễ-Tây-Cơ: trong vai trò những người đứng đầu Giáo Hội
tại gia, cha mẹ là “những người đầu tiên truyền bá Phúc Âm cho con
cái mình” và là “những học đường đầu tiên về sự sống và đức tin”.
McCord nói: những điều công bố của Công Đồng về hôn nhân còn giữ một vai trò
lớn lao trong việc giúp đỡ những nhà lãnh đạo Giáo Hội Công giáo
ngày nay phát biểu rõ ràng tại sao họ chống lại những cố gắng hợp
pháp hóa hôn nhân cho những đôi đồng tính. Theo McCord: “Yếu
tố xác định đặc điểm hôn nhân là tình yêu vợ chồng chỉ có thể có
giữa một người nam và một người nữ. Đó không phải chỉ là phong
tục hay truyền thống mà thôi.”
(Phỏng theo Nancy Frazier O’Brien – Washington – CNS)
Hương Vĩnh
|
VỀ MỤC LỤC
|
|
|
VIRUS CHẾT NGƯỜI |
|
Phúc Âm Nhật Ký Ngày 26.06.2006
VIRUS CHẾT NGƯỜI
Mt 7:1-5
Trong những câu truyện trao đổi tại bàn ăn bên
Hoa kỳ, thường người ta hay bàn về vấn đề sức khỏe. Ở đâu, thuốc
thang, kiêng khem, thể dục cũng thường là những đề tài đầu môi chót
lưỡi. Thấy tôi hay kiêng khem và tập thể dục, bạn bè hay châm chọc
: “Tu rồi còn sợ chết !” Tôi phản pháo liền : “Không phải sợ mình
chết mà sợ người ta chết vì mình. Không thấy mấy người ngồi xe lăn
đó à ?! Mình đã chết đâu, bao nhiêu người chết vì mình đấy chứ !”
Nhiều người gật gù đắc ý ...
Sau nhiều năm là nạn nhân của búa rìu dư luận,
tôi mới thoát khỏi những lời ong tiếng ve. Tôi mừng hết lớn. Nhưng
nhiều người cũng là nạn nhân của tôi. Biết bao lần tôi cũng xét
đoán anh em một cách không thương tiếc. Khi xét đoán (lên án) như
thế, tôi có nhớ lời Chúa tí nào đâu !
Thế mà, ngay từ nhỏ, tôi đã từng được nhắc nhở
: “Ðừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán.” (Mt 7:1) Một câu
đơn giản như thế mà cho tới nay, tôi vẫn chưa thuộc ! Tôi là một
thằng trò “dốt đặc cán mai táu.” Thế có chết không ? Có bửa óc tôi
làm đôi cũng không thể nhét nổi câu nói đơn sơ đó. Tôi tự hỏi :
phải chăng trong dòng máu của mình đã nhiễm virus “xét đoán” hay
“lên án” từ đời cha ông rồi ? Tôi tự hỏi : tại sao mình bị nhiễm
virus này ? Có phương thuốc chữa trị mình khỏi “virus” đó không ?
Virus này còn nguy hiểm hơn H5N1, AIDS hay ung
thư nữa đó. Quả thực, nó đã phá hoại đời sống tinh thần và thể lực
của cá nhân, gia đình cũng như cộng đồng. Nó gây căng thẳng và làm
con người không thể đối thoại. Từ những căng thẳng đó, mới có các
cuộc xung đột trong xã hội, gia đình. Biết bao bệnh tật chết người
đã nảy sinh. Bởi thế, phải tìm mọi cách tiêu diệt con virus này !
Nhưng trước tiên, muốn chữa trị, phải dùng những dụng cụ đặc biệt
mới mổ xẻ, quan sát và nghiên cứu được.
Gọi là virus, nhưng thực ra hình thù nó lớn
lắm. Nó to bằng cái xà (x. Mt 7:3.4). Vị trí của nó nằm ngay nơi
“con mắt của mình.” (Mt 7:3) Chính vì kích thước quái đản và ở ngay
vị trí quan yếu ấy, nên nó đã che khuất mắt tôi trước những sự thật
về anh em. Ngoài trời có sáng mấy, tôi cũng chỉ thấy toàn tối tăm
mà thôi. Tôi thấy tâm hồn mình giống như một âm bản. Không có hình
ảnh tươi đẹp nào nổi lên cả. Bởi vậy, nhìn sang anh em, tôi chỉ
thấy toàn những điều tiêu cực mà thôi. Khuyết điểm hay lầm lỗi của
họ dễ đập vào mắt và in sâu vào trí lòng tôi. Ở địa vị cao như thế
này, tôi có toàn quyền xét đoán hay lên án. Nếu không, cộng đoàn sẽ
xáo trộn và lâm nguy !
Dù anh em có làm gì tốt đẹp, tôi cũng lờ tịt
hay chẳng thấy được nữa. Họ có làm tốt cho tôi, tôi cũng chẳng cám
ơn. Có sai lầm, tôi cũng chẳng bao giờ xin lỗi. “Cám ơn” hay “xin
lỗi” là những thứ xa xỉ phẩm tôi không quen dùng. Ðúng hơn, ở vị
trí cao cả, quyền bính và học thức như tôi, chẳng lẽ lại phải cúi
đầu, uốn lưỡi nói những lời chỉ dành cho hạ cấp như vậy à ? Nếu mở
miệng nói lời “xin lỗi,” tôi sẽ “mất thế giá khó cai quản” !
Con virus “xét đoán” này lây từ người sang
người nhanh lắm. Thực tế, nó đã lan rộng khắp hoàn cầu. Sức tác
hại của nó rất lớn và rất khó diệt trừ, vì hầu như không ai quan tâm
và nỗ lực khử trừ nó. Trong khi đó, Chúa rất quan tâm và cảnh tỉnh
mọi người trước bệnh dịch do virus đó gây nên. Bằng chứng Chúa đã
vạch trần bộ mặt và kích thước kệch cỡm của nó cho bàng dân thiên hạ
coi. Chúa còn dạy cho tôi biết cách khử trừ con virus tệ hại đó.
Muốn thấy rõ khuôn mặt nó, phải có ánh sáng. Muốn có ánh sáng phải
theo Chúa (x. Ga 8:12). Nói khác, Chúa là phương dược diệt trừ
virus hữu hiệu nhất.
Vì không theo Chúa, nên con mắt không được khai
quang. Một khi đã thấy được ánh sáng, tôi sẽ nhìn thấy những điều
tích cực nơi anh em. Tôi sẽ phải khích lệ khi thấy anh em làm những
điều tốt đẹp, vì đó là những hồng ân. Bởi vậy, thay vì ghen tương
và phê phán, tôi phải cùng anh em cảm tạ Chúa. Dĩ nhiên, không phải
nơi anh em không có rác. Nhưng trước khi nhặt rác, tôi cần ánh sáng
là Ðức Kitô để mở mắt tôi trước đã.
Vừa mới có ánh sáng Kitô, tôi vô cùng kinh ngạc
! Có cái gì chấn ngang mắt tôi. Cộm quá ! Trời ơi, cái xà nằm
“chềnh ềnh” trong mắt tôi kìa ! Tôi mù quáng quá, phải không ?!
Làm sao lấy cái xà ra khỏi mắt bây giờ ? Ai giúp tôi đây ? Phải
có sức mạnh như Chúa mới lôi nổi cái xà vĩ đại đó ra.
À, đây rồi ! Cái xà có một hình thù quái đản
quá ! Xù xì. Xấu xí. Ẩm mốc
Tanh hôi. Kinh tởm quá ! Cái xà này chính là
cái tôi cồng kềnh, kệch cỡm đã có từ lâu đời. Cái xà giống như
mãng xà quái đản độc hại. Phân tích kỹ hơn, tôi mới biết cái xà đó
làm bằng những chất liệu : đam mê, ích kỷ, virus oán thù, xét đoán
v.v. Ðó là thành phần chính góp phần xây dựng pháo đài, cô lập tôi
khỏi cộng đoàn. Ánh sáng Ðức Kitô không sao soi chiếu nổi vào con
mắt tôi.
Thế ra mới biết, từ xưa tới nay, tôi có theo
Chúa Kitô đâu ! Tôi cứ mò mẫm trong đêm tối. Cái xà nguy hiểm thì
tôi lại coi thường. Cọng rác chẳng đáng kể nơi mắt anh em thì lại
bị tôi quan trọng hóa. Tôi đã đánh giá sai lầm những thực tại về
chính mình và anh em tôi. Thảo nào tôi bưng tai bịt mắt trươc cái
hay cái đẹp nơi anh em. Uổng phí quá ! Nếu thấy được, tôi đã cùng
anh em sinh bao nhiêu hoa quả cho Chúa ! Cuộc đời đã tươi đẹp hơn
nhiều.
Lạy Chúa, xin chiếu ánh sáng Chúa vào mắt
con. Có ánh sáng Chúa, con mới thấy nổi cái xà. Nhưng chỉ có Chúa
mới bứng nổi cái xà ra khỏi mắt con. Vậy lạy Chúa, xin mau lấy cái
xà này để con có thể thẩm định đúng đắn về anh em con. Từ đó, con
mới có thể xây dựng chứ không phá đổ những hồng ân Chúa ban cho anh
em con nữa. Amen.
dzuize@gmail.com
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Thể
thao Bóng đá lan tỏa niềm vui phấn khởi |
|
Những trận tranh tài thể thao
Bóng đá trên sân cỏ giữa các đội tuyển thế giới – World cup – hay
giữa các đội cùng châu lục – Europa, American, Asia, Afrika – thu
hút hấp dẫn hàng triệu người theo dõi hoặc ở sân vận động, hoặc qua
màn ảnh truyền hình khắp thế giới.
Năm nay World cup 2006 đang
diễn ra với những trận tranh tài trên sân cỏ hồi hộp gây cấn. Qua
hình ảnh phóng sự, người ta thấy không phải chỉ phát sinh niềm vui
phấn khởi nơi người đi xem đá banh hay theo dõi qua màn ảnh tuyền
hình, nhưng cũng nảy sinh lòng yêu mến quê hương đất nước, được biểu
lộ qua những lá cờ quốc gia trưng bày bay phất hoặc do cầm khoác mặc
trên thân thể trong ngoài, hoặc cắm vào xe hơi chạy ngoài đường phố,
hoặc treo chăng trước cửa nhà, có những người còn vẽ cờ nước mình
trên đôi má, trên trán, có người còn nhuộm cả tóc theo mầu hình cờ
nước họ ...
Hồi còn là Tổng giám mục
München, Hồng Y Joseph Ratzinger, bây giờ là đương kim Giáo hoàng
Benedicto 16., ngày 03.06.1978 đã có suy tư về thể thao bóng đá trên
đài phát thanh:
"Bóng
đá đã trở nên một biến cố trên khắp địa cầu, có sức mạnh lôi cuốn,
liên kết con người vuợt qua mọi ranh giới trong niềm hy vọng, lo âu
hồi hộp, tha thiết nồng nàn và niềm vui tươi phấn khởi. Hiếm có biến
cố nào trên thế giới có hấp lực trải rộng như thế.
Biến cố đó, có thể nói
được, là khát vọng xa xưa khởi thủy của con người, và cũng đặt ra
câu hỏi, trên nền tảng nào môn chơi này có hấp lực sức mạnh như
vậy.
Người bi quan sẽ cho
rằng, điều đó giống như ở thời Roma cổ xưa, họ đã viết trên biểu
ngữ: Panem et circenses – Cơm bánh, ăn và trò chơi Xiếci. Ăn và
chơi chỉ là nội dung đời sống của một xã hội đang trên đà xuống dốc,
đang lúc họ không còn nhận ra những đích điểm cao hơn nữa.
Nhưng nếu, cho đi rằng,
người ta chấp nhận điều này, điều đó cũng không thể nào đủ có sức
thuyết phục được. Vì thế phải hỏi lại: Trên nền tảng nào, môn chơi
này có sức hấp dẫn, đến nỗi trở nên quan trọng bên cạnh cơm bánh như
vậy?
Ðưa mắt nhìn ngược trở về
thời Roma xa xưa, chúng ta có thể tìm ra câu trả lời, tiếng la hét
đòi cơm bánh và môn chơi biểu hiện của khát vọng về một đời sống
thiên đàng hạnh phúc, về một đời sống no đủ không có cực nhọc vất
vả, và tự do được thỏa mãn tràn đầy. Ðiều này ẩn chứa trong môn
chơi: trong hành động hoàn toàn tự do, không có đích điểm, không có
sự bó buộc, nhưng có cố gắng về sức lực và được thi hành trọn vẹn.
Trong ý nghĩa này môn
chơi cũng là một thể loại thử tìm về trở về nhà, nơi là thiên đàng
hạnh phúc: bước thoát ra khỏi đời sống hằng ngày bị trói buộc do
những ràng buộc căng thẳng vất vả, và lo liệu cho đời sống căng
thẳng có tự do những gì không bắt buộc và dẫn dưa đưa đến sự tốt
đẹp.
Như thế, môn chơi đã vượt
qua cuộc sống hằng ngày. Môn chơi trước hết, nhất là đem đến cho trẻ
em, bạn trẻ một bộ mặt đức tính khác: Sự tập luyện bước vào đời
sống. Nó vẽ nên dấu chỉ hình ảnh đời sống tự mình phát triển cung
cách sống cởi mở tự do.
Với tôi, hấp lực của môn
chơi Bóng đá nằm ở chỗ, nó liên kết cả hai khía cạnh này trong một
hình thái có sức hấp dẫn thuyết phục.
Nó bó buộc con người,
trước hết tự mình thuần thục hóa chính mình qua việc tập luyện để
thắng chính mình, qua sự vượt trội có sẵn hay đạt được đưa đến tự
do. Thể thao bóng đá cũng dậy cho biết sống chơi kỷ luật với nhau.
Trong một đội banh bắt buộc phải khép mình từng cá nhân vào tập thể
chung.
Môn thể thao bóng đá nối
kết qua cùng chung đích điểm. Thành công hay không thành công của
mỗi cá nhân nằm trong liên quan thành công hay không thành công của
toàn đội banh.
Nó dậy cung cách chơi đấu
thể thao cao thượng khi chống chọi nhau, qua việc tuân giữ luật lệ
chơi chung. Có thế cả hai bên đội banh mới có tự do.
Trong khi theo dõi quan
sát tranh tài trận bóng đá trên sân cỏ, khán gỉa tự đồng hóa mình
với trận chơi và với các cầu thủ đang thi đấu; họ gần như tham dự
hăng say tích cực với đội banh gà nhà và cả với đội đối thủ, với sự
căng thẳng bó buộc và cả với tự do nữa. Các cầu thủ chơi chạy trên
sân cỏ trở thành hình ảnh biểu tượng của đời sống riêng họ, và tạo
ảnh hưởng lại trên họ. Các cầu thủ biết rằng, những người đó tự vẽ
nên hình ảnh mìnhqua các cầu thủ và tìm thấy được công nhận nơi họ.
Lẽ tất nhiên những điều
này có thể trở nên bị tiêu hủy, bị làm cho ra xấu xa, khi yếu tố
thương mại, tiền bạc chiếm ngự; khi môn chơi thể thao trở thành kỹ
nghệ sản xuất, nó tạo ra một thế giới hào nhoáng hình ảnh không tốt
đẹp.
Cho dù không tạo ra một
thế giới hào nhoáng đầy hình ảnh, không có được lý do tích cực đi
nữa trong môn chơi thể thao này: nó vẫn là phần tiền luyện tập thuộc
về đời sống và sự bước qua của đời sống đi tìm phương hướng của một
thiên đàng hạnh phúc đã bị mất. Cả hai đều đi tìm kỷ luật của sự tự
do, trong mối dây ràng buộc vào luật lệ với nhau, chống chọi lại
nhau và của mỗi cá nhân.
Nên rất có thể, chúng ta
trong suy nghĩ như thế, rút ra từ môn chơi thể thao bóng đá bài học
mới cho đời sống. Nơi môn chơi thể thao này ta nhận ra một nền tảng
căn bản: Con người sống không nguyên chỉ bằng cơm bánh thôi. Vâng,
thế giới cơm bánh thật ra chỉ là bước tiên khởi cho đời sống con
người, cho một thế giớ tự do. Sự tự do sống còn phát triển qua luật
lệ, qua thuần thục giáo dục. Nó dậy cách sống chơi chung và sống thế
nào là một đối thủ đúng ngay chính trong cuộc chơi.
Cuộc chơi, đời sống, nếu
chúng ta đi sâu vào, có thể hiện tượng của một thế giới hào hứng
phấn khởi về bóng đá giúp ta nhận ra nhiều điều vượt xa hơn chỉ là
một cuộc vui chơi giải trí.“
Mùa World
Cup 2006
Lm.
Nguyễn ngọc Long
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
LÒNG NHÂN ÁI
- NÉT ĐẸP CỦA CUỘC SỐNG |
|
Con người ta càng chìm trong nỗi
sợ của bạo lực, của bất công, của những tính toán phi đạo đức
bao nhiêu, thì lòng nhân ái càng cần thiết cho cuộc sống của mỗi
người, và của cộng đồng bấy nhiêu. Bài viết này được viết dưới
dạng của một lá thư, để qua đó chuyển tải những ưu tư, những
khắc khoải không chỉ của một cá nhân, nhưng có thể coi là của cả
một lớp người muốn sống lương thiện. Không quá bi quan nhưng
cũng không lạc quan quá, những chuyển tải của bài viết nhìn vào
cuộc sống và cho thấy sự giằng co giữa thiện – ác. Cái ác hình
như chiếm phần trội, như che lấp mất những gì mang lại giá trị
của cuộc sống. Còn cái thiện lại như một dòng nước ấm trôi giữa
đại dương mùa đông. Nhưng chỉ cần như thế thôi, cũng đủ để bạn
và tôi có quyền hy vọng.
Ngày … tháng … năm….
Em gái ạ,
Từ ngày anh em mình từ giã gia
đình, sống xa nhau, xa mái ấm mà mấy chục năm qua đã chứng kiến
không biết bao nhiêu kỷ niệm của một thuở bé thơ cả hai anh em
cùng được ấp ủ trong vòng tay yêu thương của bố của mẹ, thì năm
nào cũng vậy, cứ đến những ngày mùa đông, anh lại nhận được từ
em một lá thư và một cánh thiệp với những lời nguyện chúc rất
tốt đẹp, rất thánh thiện. Mỗi năm như thế, anh đều xem những nét
chữ mà trong đó chứa đầy lòng yêu thương của một đứa em gái quí
yêu, là lời nhắc nhỡ chính mình chuẩn bị tâm hồn sao cho xứng
đáng để đón mừng mầu nhiệm Thiên Chúa làm người, đón mừng năm
mới thật ý nghĩa. Mỗi mùa đông, nhận được thư của em, anh mừng
đến nao nao tâm hồn. Mùa đông dẫu buốt giá nhưng lòng anh ấm áp
lạ thường, bởi một ngọn lửa của tình ruột thịt, vượt không gian
xa lắc, vẫn rực cháy lớn trong lòng của cả hai anh em.
Mùa đông năm nay cũng vậy, em là
người gửi thư, gửi thiệp cho anh sớm nhất, em gái ạ.
Có lẽ do tình cảm của hai anh em
gắn bó như thế, ngoài ra còn được lớn lên trong một gia đình nề
nếp, được hấp thụ một nền giáo dục bởi người cha, người mẹ thánh
thiện, luôn luôn ý thức lòng nhân ái và dạy con phải coi lòng
nhân ái lớn hơn tất cả, mà hai anh em mình có rất nhiều quan
điểm giống nhau, nhất là giống nhau từ quan niệm về lẽ sống đến
cách thức thực hành lòng nhân ái.
Nhưng em gái ạ, lần này em có bi
quan quá không? Trong thư em viết rất nhiều về nỗi muộn phiền,
bất bình về cuộc sống. Đã có lúc em căm giận, phẫn nộ: “Con
người đối xử với nhau càng ngày dường như càng tệ bạc hơn, nham
hiễm hơn…”. Còn ở đoạn kết, em viết: “Có gì vui để mà vui hỡ
anh. Xung quanh chúng ta, mỗi ngày, trong cuộc sống, biết bao
nhiêu chuyện lừa lọc, chèn ép, cướp giật xảy ra. Bao nhiêu kẻ
tham ô, thoái hóa, bao nhiêu kẻ bạo quyền, giàu tiền đã khéo làm
“phép lạ” đổi trắng thay đen, không thành có, có thành không;
người vô tội bị kết án, còn người có tội chỉ cần có tiền, trở
nên vô tội. Các giá trị tinh thần, những truyền thống, những lề
thói tốt đẹp tích tụ biết mấy ngàn đời, có sức mạnh lớn lao để
đào tạo nhân cách con người, bị hạ bệ xuống hàng thứ yếu, để
đồng tiền lên ngôi, vật chất trở thành ông chủ. Biết bao nhiêu
người trở thành chủ nhân ông của thời đại mới, nhờ bóc lột sức
lao động của anh chị em công nhân. Họ làm giàu trên nhân phẩm,
trên sức lao động cật lực của người công nhân, chẳng những không
biết ơn mà còn trả lại cho anh chị em công nhân bằng sự đánh đập
tàn nhẫn. Biết bao nhiêu kẻ chỉ lo hưởng thụ, ăn chơi, xài phí.
Biết bao nhiêu kẻ giàu có, nắm quyền hành trong tay, nhưng đê
hèn và tội lỗi cho đến mức, đêm ngày chỉ suy nghĩ để tìm cách,
hay người ta còn gọi là “sáng tạo những kỹ thuật mới”, nhằm
hưởng lạc thú trên thân xác kẻ khác, trong khi bao nhiêu kẻ lầm
than, đói khổ…”.
Anh hiểu em: quả là cuộc sống vẫn
còn đó, khắp nơi, đầy dẫy những nỗi nhức nhối, oan khuất, bất
công, thê lương…Anh biết nói với em điều gì khi đó là sự thật.
Nhưng, em gái ạ, còn một sự thật khác cũng diễn ra hằng ngày
quanh ta, giống như mùa đông năm nào ở một vùng biển, nhìn mặt
sóng dâng cao cuồng nộ, em đã nói rằng trong lòng biển luôn luôn
có một dòng nước ấm lành trong… Cũng vậy, dòng nước ấm lành
trong đó, trong cuộc sống hỗn tạp này, vẫn chảy mãi, không cạn:
Đó là điều thiện, lòng nhân ái, lòng tốt…
Hãy nghĩ lại đi em. Hãy đặt niềm
tin vào cuộc sống, vì dẫu cho đâu đó còn băng giá, thì cuộc sống
vẫn còn nắng ấm của mùa xuân. Chắc em biết rõ, hầu như năm nào
đồng bằng sông Cửu Long cũng bị lũ lụt, dẫu có những cá nhân,
những tập thể bỏ tiền ủng hộ anh chị em sống ở đồng bằng sông
Cửu Long, mà họ rêu rao là “cứu đói”, “cứu nghèo”, chỉ là một
cách khoe khoan sự giàu có hoặc để quảng cáo những sản phẩm của
một xí nghiệp, một công ty nào đó, nhằm lợi dụng sự bất hạnh của
người khác, mà quay ngược lại làm giàu cho chính mình, thì trong
dòng người đang làm việc “bố thí” ấy, có biết bao nhiêu tấm lòng
thực sự nhân ái hướng về đồng bằng sông Cửu Long trong tình
nghĩa đồng bào tha thiết, trong đó có rất nhiều tấm gương của
những người con gái đáng quí, đáng yêu, đáng trân trọng như em.
Vài năm trước, khi nghe tin Trung
Tâm Thương Mại Quốc Tế của thành phố Hồ Chí Minh cháy, đốt thành
than quá nhiều người đang làm việc ở đó, đã làm cho hàng ngàn
tấm lòng xốn xang, hàng ngàn con mắt phải ứa lệ ngậm ngùi đấy em
à!
Lòng nhân ái lạ lùng đến mức chính
anh cũng không thể nào hiểu hết: Ở một trường Cao đẳng nọ, khi
được tin nhà của một anh sinh viên bị cháy, thì trong vài giờ
đồng hồ sau, các bạn sinh viên cùng trường đã trích những đồng
tiền sinh viên còm cõi của mình để tặng anh. Số tiền lớn đến nỗi
không ai ngờ, và anh sinh viên đã bật khóc như một trẻ thơ. Nhìn
cảnh tượng đó mà lòng anh cứ rung lên, rung lên…
Và trong cuộc sống vẫn còn vô số
những hình ảnh cảm động làm ta phải rung lên như thế: Nó có thể
là sự hy sinh cao vời vợi cho một người thân, cho một tình bạn…
Chắc em còn nhớ cô bé Như Ngọc, ở trong xóm nhà mình đó, là một
nữ sinh lớp 12, vẫn hằng ngày hy sinh chở cô bạn Diệu Thu bị bại
liệt cả hai chân đến trường. Và sau mỗi buổi tan học lại chở bạn
về. Tính cho đến nay, Như Ngọc đã kiên trì không mệt mỏi làm
điều đó giúp đỡ bạn gần 10 năm kể từ ngày Như Ngọc biết lái xe
đạp. Lòng nhân ái của Ngọc sáng lấp lánh như tên của em: NHƯ
NGỌC.
Một hình ảnh khác, rõ ràng nhất
diễn ra hằng ngày xung quanh ta, đó là cảnh ăn xin. Có thể họ là
những em bé mồ côi, nghèo rách thật; những cụ già neo đơn thật,
những người bệnh tật, què quặt thật, những người cơ nhỡ thật…
nhưng cũng có những người lừa lọc, lười biếng, gian dối, lợi
dụng lòng tốt của mọi người, xem việc đi xin ăn như một nghề
nghiệp để khỏi vất vả, khỏi phải làm lụng… Theo thống kê của báo
Công An thành phố Hồ Chí Minh, cách đây gần 14 năm, vào năm
1991, chỉ tính riêng thành phố, đã có khoảng 6.000 người ăn xin.
Nếu ngồi nhẫm tính trên cả nước, ta sẽ phải rùng mình vì con số
quá lớn. Thế nhưng tất cả họ, dù thật hay giả, đều có thể sống
được là nhờ đâu, nếu không phải là lòng nhân ái của mọi người.
Vậy đó, lòng nhân ái không chết
đâu em. Nó là sức mạnh diệu kỳ để tạo thêm hương, góp thêm sắc
cho đời. Nó cũng là sức mạnh diệu kỳ để nhân loại cậy dựa vào
nhau mà sống, mà tồn tại. Anh tin rằng một con người dù bậm trợn
đến đâu đi nữa, thì thẳm sâu trong đáy lòng của họ, lòng nhân và
bản tính con người vẫn còn tiềm ẩn, nếu gặp môi trường thuận
lợi, nó sẽ bùng lên…
Lòng nhân ái, dòng nước ấm âm thầm
chảy trong sóng biển lạnh của cuộc đời .
Anh muốn nhắc lại với em một lần
nữa và muốn nhắc rất nhiều lần rằng: Lòng nhân ái, điều có thật,
là dòng nước ấm lành trong đã, đang và sẽ chảy mãi, chảy mãi đó
em…
Lm. VŨ
XUÂN HẠNH |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Chúa không hỏi |
|
1. Chúa
không hỏi hiệu xe nào bạn đang lái. Ngài sẽ hỏi bạn đã giúp chở
bao nhiêu người không có xe.
2. Chúa
không hỏi nhà bạn cao sang như thế nào. Ngài sẽ hỏi bạn đã mời
bao nhiêu người vào thăm nhà bạn.
3. Chúa
không hỏi quần áo đẹp bạn chất chứa trong tủ. Ngài sẽ hỏi bạn đã
giúp bao nhiêu người nghèo không có quần áo mặc.
4. Chúa
không hỏi mức lương cao nhất của bạn. Ngài sẽ hỏi bạn có làm tổn
thương tánh hạnh của bạn để đạt được mức lương ấy.
5. Chúa
không hỏi nghề nào bạn làm. Ngài sẽ hỏi bạn đã dùng khả năng bạn
như thế nào.
6. Chúa
không hỏi khu vực nào bạn ở. Ngài sẽ hỏi bạn đã đối xử thế nào
với người hàng xóm.
7. Chúa
không hỏi mầu da của bạn. Ngài sẽ hỏi bạn đã sống tốt như thế
nào.
8. Chúa
không hỏi chồng bạn có oai, con bạn có giỏi. Ngài sẽ hỏi bạn đã
là người vợ, người mẹ tốt như thế nào.
9. Chúa
không hỏi vợ bạn có đẹp, con bạn có khôn. Ngài sẽ hỏi bạn đã là
người chồng, người cha tốt như thế nào.
10. Chúa
không hỏi tại sao bạn tìm về với Chúa chậm trễ quá. Ngài sẽ yêu
thương
đưa bạn vào nhà của Ngài.
Lm.
Giuse Ngô Văn Thích, OP.
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
|
TRI
ÂN MỖI NGÀY
Thân
tặng quí bạn đọc
Mỗi
buổi sáng khi bình minh gọi nắng
Đầu một
ngày - Tôi chậm rãi nhủ thầm
Như
những lời từ một quyển PhúcÂm
Đang
vang dội trong hồn tôi mạnh mẽ!
Cám ơn
Chúa đã ban tôi sức khoẻ
Và đức
tin, đức cậy, mến sâu xa,
Không
cô đơn như những kẻ xa nhà
Không
bất xứng, không có gì bối rối!
Dù ban
ngày hay là đêm, bóng tối
Có Ngài
bên tôi can đảm lạ thường!
Không
lo âu, không nản chí, muộn phiền
Không
khiếp sợ, bởi Ngài ban sức mạnh!
Chúa
cho tôi những nhu cầu lành mạnh,
Nào
thức ăn, nước uống với niềm tin
Tôi vui
mừng tạ ơn Chúa luôn luôn
Tôi vui
vẻ dù Ngài trao gánh nặng!
Tàn một
ngày - Tôi quì trong thinh lặng
Để dâng
lên những lời nguyện thiết tha
Những
hi sinh, nếu có, những bó hoa
Tôi
dâng Chúa lòng tri ân tuyệt đối!
Tạ ơn
Chúa những gì con lãnh hội!
Những
gì con làm nén bạc thêm lời
Để bàn
tay, trí óc góp cho đời
Làm
tươi đẹp vũ trụ này của Chúa!
Rồi mỗi
ngày, con nhắc lại lời hứa!
June 2,
2006
Nhà văn
Xuân Vũ TRẦN ĐÌNH NGỌC
*Lấy
ý từ bài “Mỗi ngày” LM Ngô văn Thích
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
NHỮNG VẤN ĐỂ CỦA GIA ĐÌNH |
|
“ Thuận vợ thuận chồng tát bể đông
cũng cạn”
Đại hội các Gia đình Công giáo Thế Giới đang tiến hành tại thành
phố Valencia, Tây Ban Nha từ ngày 01-07 đến 09-07-2006, Đức
Thánh Cha Biển Đức XVI đang đến tham dự Đại hội này.
Ban tổ chức dự đoán sẽ có trên một triệu rưỡi Tín hữu đến tham
dự Thánh lễ bế mạc vào sáng Chúa nhật mùng 09-07-06. ĐTC Biển
Đức XVI thi hành mạnh mẽ việc bảo vệ Gia đình từ thời ĐTC Phaolô
VI đề ra. ĐTC đương kim đã ưu tiên chọn sự bênh vực Gia đình, vì
nếu Gia đình sụp đổ thì Giáo hội và Thế giới cũng sụp đổ theo.
Ngài nói: Các Mục tử hãy hăng say rao giảng Tin Mừng về Gia
đình, như một con đường để giúp họ sống đạo và cầu nguyện chung,
gần guĩ nhau. Các nhân viên Mục vụ Gia đình tại các Giáo phận,
các LM, Phó tế, các Tín hữu đều tích cực tham gia để các Gia
đình có đủ sức đối phó với mọi hòan cảnh khó khăn đang đe dọa
hiện tại.
Nhiều cha mẹ vắng bóng; các ông bà nội ngoại ngày càng dấn thân
săn sóc các các cháu, dù đã già yêú, để trong đó không ai bị cảm
thấy mình bị loại trừ. Dạy cách cầu nguyện trong Gia đình thật
quan trọng. Vì nơi nào người ta cầu nguyện chung với nhau, thì
có sức mạnh của Thần Khí Chúa nâng đỡ và phá vỡ âm mưu ma quỷ.
Các Gia đình hãy cùng cầu nguyện và hành động với Giáo hội, rồi
sẽ tìm được nhiều phương thức khác nhau.
Đại hội Giới trẻ VN trong ba ngày qua từ 01- đến 03-07-2006 tại
Cali Hoa kỳ,,tại Giáo phận Phan Thiết Việt nam, với hàng ngàn
thanh niên nam nữ tham dự, Đại hội về Gia đình tại Saigon vừa
qua đã nói lên sự lưu tâm của các Mục tử, các Tín hữu, các Gia
đình đều cộng tác tích cực bảo vệ Gia đình và Giới trẻ đến mức
nào.!
Tuy nhiên, các nạn nhân của “sa mạc tình thương” ngày nay chính
là các thanh thiếu niên, họ rất đau khổ về sự thiếu tình thương
trong thế giới ngày nay. Đúng vậy, sự cô đơn của họ không được
cha mẹ cảm thông,. Người trẻ thường tới các tiệm nhảy disco, tìm
cách đứng sát nhau, nhưng trong thực tế họ lại đang bị cô đơn
nặng nề, và cảm thấy đau khổ vì không được cảm thông.
Ngày nay, người cha thường vắng bóng trong sự huấn huyện tại gia
đình, người mẹ thì cũng phải làm việc ngoài xã hội. Sự hiệp nhất
của họ rất mong manh. Mỗi người sống theo thế giới của mình vế
ăn tiêu, giải trí. Họ là những hòn đảo về tư tưởng và tâm tình,
ít hiệp nhất với nhau, nếu không mời Chúa làm chủ Gia đình và
liên kết lại thì : “ai giữ mạng sống mình thì sẽ mất…”, vì họ cô
lập với người khác. Nhưng nếu họ nhờ ơn Chúa vượt thắng để cảm
thông thì mọi sự sẽ tốt đẹp, bình an và hạnh phúc sẽ đến với Gia
đình họ.
Ngày 02-03-06 ĐTC Biển đức 16 đã gặp gỡ 800 LMục và Phó tế đang
phục vụ trong 330 Giáo xứ ở Rôma. Ngài đã lần lượt trả lời 15
câu hỏi trong 2 giờ đồng hồ liên quan đến đời sống Mụ vụ Gia
đình như: Thăng tiến Hôn nhân Gia đình, sự sống con người, huấn
luyện giới trẻ, vai trò phụ nữ trong Giáo hội, mục vụ nhà
thương.
Thuận vợ thuận chồng, tát bể đông
cũng cạn.
Câu chuyện cụ thể về vợ chồng nhà tỷ phú Melinda và Bill Gates
sau đây sẽ nói lên sự hợp nhất vợ chồng có kết qủa to lớn như
thế nào?
* Tôi và Bill có chuyến nghỉ mát tại châu Phi vào năm 1993, nhìn
thấy những trẻ con chết hàng loạt vì căn bệnh tiêu chảy. Chúng
tôi tự thấy mình phải có trách nhiệm tìm hiểu sự thật. Nỗi sợ
hãi khi quay về quá khủng khiếp, đến độ không dám hy vọng. Nhưng
điều đó đã thức tỉnh tôi và Bill cùng nhau quyết định, ra tay
hành động.
Cả hai vợ chồng tôi đã cùng nhau đến nhiều nước trên thế giới để
xem tình hình bệnh lao và tiêu chảy. Khi viếng thăm các bệnh
viện và những ngôi làng nghèo khổ, họ hy vọng các phát triển
trong khoa học điều trị sẽ sớm đến với những người nghèo và sẽ
cứu được hàng triệu con người bệnh tật trên thế giới đang cần
đến.
Quỹ từ thiện của vợ chồng Bill và Melinda Gates đã ra đời hoạt
động quy mô vào năm 1997 và chính thức khai trương vào năm 2000.
Tất cả tập trung vào lãnh vực giáo dục, y tế toàn cầu, đến nay
đã lên tới 28,8 tỷ đô la. Với ba đứa con nhỏ, Melinda cảm thấy
hạnh phúc khi được cùng chồng đi khắp nơi, gặp gỡ nhiêù trẻ em
và giúp đỡ cha mẹ chúng những nhu cầu cơ bản để nuôi con. Với
bà, “mỗi nhân mạng đều giá trị, bất kể khoảng cách nào trong
xã hội.”
Ứớc mong các Gia đình Việt Nam dù giầu hay nghèo, đều hiệp nhất
với nhau và có tấm lòng nhân ái như Gia đình này.
Phó tế: GB Huyền Đồng- Nguyễn Văn
Định * johndvn@yahoo.com
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Bổng
lễ là gì và có giá trị ra sao ... |
|
Hỏi: Bổng
lễ là gì và có giá trị ra sao
trong việc xin Lễ
cầu cho người sống và người chết ?
Trả lời: Bổng lễ (mass stipends) là lệ phí
tượng trưng mà Giáo luật cho phép linh mục được nhận của giáo dân
mỗi khi cử hành thánh lễ theo ý người xin. Mục đích của sự cho phép
này là để giúp “ người phục vụ Bàn thờ thì được chia phần Bàn
thờ ” như Thánh Phaolô đã daỵ “ (x,1Cor 9: 13) Nói khác đi, linh mục
dâng Lễ cầu cho ai thì được phép nhận một bổng lễ theo mức qui định
của Toà Giám Mục điạ phương. Thí dụ ở Houston và hầu hết các Giáo
Phận khác ở Mỹ, thì bỗng lễ cho phép là 5 đô la cho mỗi ý Lễ (mass
intention). Tiền này chỉ có mục đích giúp ích cho linh mục dâng lễ mà
thôi chứ không hề có giá trị thiêng liêng nào cho người thụ hưởng ý
lễ. Nghĩa là ơn Chúa ban qua Thánh Lễ cho ngươì còn sống hay đã qua
đời hoàn toàn không lệ thuộc vào bổng lễ mà linh mục được huởng. Như
vậy, xin một Lễ không bổng lễ (vì nghèo không có tiền xin) hay chỉ có
5 đô la hoặc 5000 đô thì chỉ có giá trị vật chất khác nhau cho
linh mục cử hành Thánh Lễ chứ không ảnh hưởng gì đến việc Chúa ban
ơn theo ý người xin Lễ vì Lễ Misa là vô giá, ơn Chúa ban là nhưng
không (gratuitous) nghiã là không thể mua được bằng tiền bạc.
Vậy đừng ai hiểu lầm rằng bỏ nhiều tiền ra xin
lễ thì được nhiều ơn ích thiêng liêng hơn là ít hay không có tiền
xin lễ.
Cũng cần nói thêm là linh mục không được phép
đòi tiền cao hơn mức qui định để dâng một Thánh Lễ. Tuy nhiên , nếu
vì hảo tâm mà người xin tự ý dâng cúng số tiền cao hơn mức qui định
thì linh mục được phép nhận mà không có lỗi gì.Ngoài ra, nếu vì
nghèo túng, người xin Lễ không có tiền để trả theo mức qui định, thì
linh mục vẫn được khuyên dâng lễ dù không có bổng lễ, nghĩa là không
bắt buộc phải có bổng lễ thì mới làm. (x. giáo luật số 848, 945,triệt
2)
LM. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn
Huấn
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
GIỜ
KINH TỐI TRONG GIA ĐÌNH. |
|
BẦU KHÍ ĐẠO ĐỨC
Tôi xin bắt đầu
bằng một mẩu chuyện như sau :
Có một anh chàng
đến hỏi ý kiến cha sở về người yêu của mình. Cha sở bảo anh ta
kê khai lý lịch :
- Cô ấy là người
như thế nào ?
Anh ta thưa lại :
- Nàng là con một
ông trùm trong giáo xứ.
Cha sở lấy miếng
giấy ghi một con số không vào đó.
Anh ta nói tiếp :
- Nàng ăn nói rất
là có duyên cứ ngọt như mía lùi.
Lại một con số
không trên mảnh giấy trắng. Anh ta vẫn không thất vọng và nói :
- Nàng đẹp ghê lắm…
đẹp quỉ khóc thần sầu luôn.
Lại một con số
không trên mảnh giấy trắng. Anh vẫn không thất vọng và nói :
- Nàng làm món nhậu
thì thật tuyện vời, khỏi chê …
Lại một con số
không nữa trên mảnh giấy trắng. Anh ta vội vã nói tiếp :
- Nàng hát rất hay,
hình như có một dạo ở trong ca đoàn xứ.
Lại một con số
không nữa trên mảnh giấy trắng. Anh ta suy nghĩ một lúc rôi ngâp
ngừng thưa :
- Nàng đi buôn hết
sẩy, chuyến nào trót lọt chuyến ấy.
Lại một con số
không trên mảnh giấy trắng. Yêu lặng một lúc chàng khẽ nói :
- Suýt nữa thì con
quên, nàng còn là một người đạo đức.
Cha sở bèn ghi thêm
con số một vào trước những con số không và nói :
- Hãy cưới cô ấy
mau lên, vì với tinh thần đạo đức, cô ấy sẽ là một tấm vé số độc
đắc đấy.
Cha sở đã có một
cái nhìn sâu sắc và đánh giá đúng mức khi cho rằng tinh thần đạo
đức nơi mỗi cá nhân là một điều kiện quan trọng trong việc xây
dựng hạnh phúc gia đình.
Tuy nhiên, tinh
thần đạo đức nơi mỗi cá nhân phải được khơi nguồn và bồi dưỡng
trong bầu khí gia đình : làm sao chúng ta quên được những lời
kinh bập bệ do người mẹ đã dạy chúng ta. Làm sao chúng ta quên
được đôi tay vụng dại giơ lên để làm dấu thánh giá dưới sự chỉ
bảo của người cha. Làm sao chúng ta quên được những buổi sáng
vào độ gần tết được thầy bu đánh thức để đi lễ…
Những bài học đầu
tiên này và những bài học tiếp nối sẽ ghi sâu vào tâm trí chúng
ta, để rồi không một ai có thể xóa bỏ và làm cho mờ phai, cũng
như không một cái gì có thể làm chúng ta cho quên đi được.
Hoàng hậu Blanche
de Castille thường nói với con mình như sau :
- Thà rằng mẹ thấy
con chết trước mặt mẹ, còn hơn là thấy con phạm một tội trọng,
phản nghịch cùng Thiên Chúa.
Người con luôn khắc
ghi cũng như thực thi lời dạy bảo ấy và đã trở nên một vị thánh,
đó là thánh Louis, vua nước Pháp.
Chính những bài học
đầu tiên này sẽ là những viên gạch xây dựng cho cuộc đời chúng
ta. Và bầu khí đạo đức trong gia đình phần lớn được hun đúc,
được bảo trì qua giờ kinh tối.
Xem đó chúng
ta thấy : gia đình chính là mái trường đầu tiên dạy cho chúng ta
những bài học làm người. Và như chúng ta đã trình bày trong
những bài trước : gia đình Kitô hữu phải là một chứng tích của
tình yêu và hợp nhất, để liên kết một xã hội đang bị nạn phân
rẽ và kỳ thị làm cho băng hoại một cách trâm trọng.
Gia đình Kitô hữu
phải sống đức tin bằng cách lắng nghe và thực thi lời Chúa, mà
thế giới hôm nay đang cố tình quên lãng.
Gia đình Kitô hữu
phải là một cung thánh nhỏ bé, để dâng lên những lời ca tụng và
những của lễ được kết thành do những lao công vất vả của mọi
phần tử cho Thiên Chúa là Đấng mà nhân loại hiện nay đang chối
từ.
Sau cùng, gia đình
Kitô hữu phải chia sẻ trách nhiệm loan truyền ơn cứu độ cho muôn
dân bằng gương sáng, nghĩa là bằng một đời sống đạo đức và thánh
thiện, bác ái và yêu thương.
Để tạo cơ hội cho
mọi người trong gia đình thực hiện tình tình yêu thương hợp
nhất, giúp nhau sống lời Chúa và chu toàn nhiệm vụ tư tế cũng
như tông đồ, Giáo Hội đã đề xướng và cổ võ một phương thế rất
hữu hiệu đó giờ kinh tối.
Thực vậy, giờ kinh
tối sẽ giúp thánh hóa đời sống : chúng ta lắng nghe Chúa nói và
chúng ta thân thưa với Ngài qua những tâm tình cầu nguyện, đồng
thời chúng ta còn dâng lên Chúa lễ vật mọn hèn của chúng ta, đó
là những lao công vất vả, những bực bội buồn phiền chúng ta gặp
phải trong một ngày đã đi qua.
Ngoài ra chúng ta
còn thể lợi dụng những giây phút này để cầu xin ơn Chúa cho bản
thân chúng ta, cho những người thân yêu còn sống cũng như đã qua
đời.
Tiếp đến, giờ kinh
tối sẽ giúp chu toàn bổn phận giáo dục : chúng ta trao đổi những
kinh nghiệm sống lời Chúa. Đồng thời cha mẹ trong giây phút này,
có thể dùng những lời lẽ ôn tồn, thành thật và yêu thương để
khuyên nhủ, nhắc bảo cho con cái.
Hơn thế nữa, chính
thái độ trang nghiêm và sốt sắng của cha mẹ, cũng đã là một bài
học, một mẫu gương cho con cái noi theo. Và mẫu gương này sẽ
không bao giờ bị mờ phai trong suốt cả cuộc đời chúng.
Sau cùng, giờ kinh
tối giúp hòa giải với nhau. Thực vậy, trong một ngày, rất có thể
sóng gió đã nổi lên, rất có thể những bực bội, những buồn phiền
và những va chạm đã xảy ra. Chẳng lẽ chúng ta lại giữ mãi nỗi
hiền khích, nỗi bất đồng mà ngồi chung với nhau để cùng đọc kinh
lạy Cha, để cùng chúc tụng Thiên Chúa.
Chính vì thế, giờ
kinh tối đã trở nên một động cơ thúc đẩy mọi người trong gia
đình làm hòa với nhau và xích lại gần nhau hơn, như lời Chúa đã
phán :
- Nếu ngươi lên đền
thờ dâng của lễ mà sực nhớ người anh em có điều chi bất bình với
ngươi, thì hãy để của lễ đó, trở về làm hòa với anh em mình
trước đã, rồi mới đến mà dâng của lễ sau.
Kinh nghiệm cho
chúng ta thấy : thời khắc cùng ngồi bên nhau và cùng nhau ngồi
bên Chúa, sẽ là thời khắc của chân lý, của sự thật, sẽ là một
khám phá kỳ diệu, một liều thuốc thần tiên, làm thay đổi hẳn bầu
khí của gia đình, vì nhiều vấn đề gay cấn và căm go sẽ được giải
quyết trong tình thông cảm và yêu thương.
Trước kia, hai vợ
chồng chung sống hòa bình với nhau một cách miễn cưỡng, nông cạn
và hời hợt, giờ đây tất cả chỉ còn là một : một ước vọng, một
tình yêu, một niềm vui, một nỗi lo và một lời nguyện cầu van
xin.
ƯU ĐIỂM GIỜ KINH TỐI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
Ý thức được vai trò
và tầm mức quan trọng của giờ kinh tối là như thế, tuy nhiên
trong thực tế, khi quan sát giờ kinh tối tại phần lớn các gia
đình Việt Nam, chúng ta nhận thấy ngoài một số ưu điểm rất đáng
khuyến khích, vẫn còn nhiều thiếu sót, nhiều khuyết điểm cần
phải canh tân và đổi mới cho thích nghi với đà phát triển của xã
hội, cho phù hợp với tâm lý của tuổi trẻ hôm nay.
Trước hết là những
ưu điểm :
Người công giáo
Việt Nam vốn được coi là rất đạo đức và sốt sắng, số gia đình tổ
chức đọc kinh tối không phải ít. Chính vì vậy, dù trải qua bao
gian nan thử thách, dù bị bắt bớ cấm cách hằng mấy trăm năm ròng
rã, đạo Công Giáo không những chẳng mất đi, mà trái lại, vẫn
luôn đứng vững và tiếp tục lớn mạnh không ngừng.
Hơn thế nữa, tại
nhiều gia đình giờ kinh tối đã trở thành một thói quen tốt
lành trong sinh hoạt thường ngày. Dù bận rộn với công việc mùa
màng, dù gặp phải biết bao trở ngại cách này hay cách khác,
nhưng họ vẫn trung thành với bổn phận đọc kinh cầu nguyện.
Có những giáo xứ
buổi tối đã kéo chuông, để mọi gia đình cùng đọc kinh, hay để
những người còn đang chuyện trò chỗ này chỗ khác, thì mau chấm
dứt, trở về gia đình và đọc kinh chung với nhau.
Rất nhiều người
Công Giáo, nhờ những giờ kinh tối trong gia đình, đã hấp thụ
được một đức tin vững chắc, một lòng mến thiết tha và một tinh
thần tông đồ nhiện thành.
Vậy gia đình chúng
ta đã có thói quen đọc kinh tối hay chưa ? Nếu có, chúng ta
đã đọc như thế nào ? Đâu là những khuyết điểm chúng ta cần phải
sửa đổi ? Chúng ta sẽ lần lượt bàn tới.
Để kết luận, tôi
xin ghi lại nơi đây ý tưởng của một nhà bác học. Thấy nhà bác
học quì gối đọc kinh, có người đã không khỏi ngạc nhiên và nói :
- Giỏi như ông mà
còn cầu nguyện hay sao ?
Nhà bác học trả lời
:
- Đưc tin sâu xa và
vững chắc nhất phải là đức tin của một bà già, vì bà ta luôn
chuyên tâm cầu nguyện.
Giờ cầu nguyện
chung trong gia đình sẽ hun đức tin cho chúng ta đã đành, mà còn
tạo được một bầu khí hòa thuận, bắc được một nhịp cầu cảm thông
giữa những người cùng sống chung dưới một mái ấm với nhau.
Tuỵ Hiền |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Tác Phẩm Đường Hy
Vọng, Tiếng Gọi: |
|
Động viên toàn lực theo tiếng Chúa.
61. "Hãy theo Thày"! Các tông
đồ đã bỏ mọi sự theo Chúa, con có dứt khoát một phen theo Chúa
không? Chúa phải gọi con mấy lần rồi?
62. Chọn lựa bao giờ cũng
tiếc nuối, do dự, suy nghĩ, nhưng cuối cùng phải quyết định.
63. Chúa Giêsu rõ ràng quyết
liệt:
"Ai muốn theo Ta,
hãy..."
"Ai không... chẳng
đáng làm môn đệ Ta." Đường lối sáng tỏ, tiếng gọi không úp mở.
64. "Hãy đi rao giảng Phúc
Âm..."; để dám nhận một sứ mạng cao cả như thế, Chúa cần "cảm
tử". Hai ngàn năm lịch sử Hội Thánh cho ta thấy giai đoạn nào
cũng không thiếu cảm tử từ mọi tầng lớp giáo dân.
65. Có những người suốt đời
chỉ nhờ thiên hạ quyết định giùm. Con có thuộc vào hạng đó
không?
66. Con người muốn tháo lui
vì có những sự trái ý, vì gặp những người không thể chịu nổi!
Con theo Chúa hay theo mấy người ấy?
67. Con ngạc nhiên sao đủ
hạng người tình nguyện làm "cảm tử" theo tiếng gọi của Chúa? Vì
Chúa đã nói: "Thày ở cùng chúng con mọi ngày đến tận thế."
68. Người ngoài không hiểu
được tại sao người ta theo tiếng gọi của Chúa, họ cho là ta
điên. Chính Chúa Giêsu cũng bị Hêrôđê gọi là điên, và chúng ta
hãnh diện được ở trong "nhà thương Biên Hòa" của Chúa.
69. Quyết định theo Chúa của
con không phải chỉ là một chữ ký, không phải là một lời tuyên
thệ thôi. Nhưng là một sự hiến dâng liên lỉ thực hiện trong cả
cuộc sống.
70. "Theo Thày mấy lâu nay,
các con có thiếu gì không?" - "Thưa Thày không." Con bỏ tất cả,
nhưng theo Chúa Quan phòng, con còn lo gì?
71. Con đừng lấy làm lạ, lúc
theo Chúa, con nghe tiếng gọi của khoái lạc, của danh vọng, của
cả bản thân, cha mẹ, quyến rũ con bỏ đường Chúa. Cứ tiến lên,
Chúa đã nói trước: "Ai cầm cày còn ngoảnh mặt lui, không đáng
làm môn đệ Ta."
72. Tiếng gọi vẫn tiếp tục
nhắc nhở con trong mọi việc nhỏ: "Hãy theo Thày!" và tiếng
"Vâng" của con cũng tiếp tục cho đến hơi thở cuối cùng.
73. Thưa: "Vâng" là dễ,
nhưng hãy xem Chúa Giêsu theo tiếng gọi cho đến chết trên thánh
giá. Hãy bỏ mình, vác thánh giá mỗi ngày và đóng đinh mình trên
thánh giá ấy.
74. Chúa bảo con: "Hãy đi
rao giảng Phúc Âm." Chúa không ra thời khóa biểu, không vạch kế
hoạch, Chúa để con sáng kiến và vượt đi, miễn là con mang Phúc
Âm.
75. Công đồng Vatican II dạy ta
"trở về nguồn".Con hãy khám phá lại đời sống các tông đồ, những
người đã sống, đã nghe, đã sờ tận tay Chúa Cứu Thế và làm chứng
về Ngài.
76. Chương trình đang thực
hiện tốt đẹp phải bỏ dở, hoạt động hăng say phải bó tay. Nhiệm
vụ đang quan trọng phải hạ tầng công tác! Uất ức và chán nản!
Chúa gọi con "hãy theo Thày" hay "hãy theo việc nọ, người kia"?
Để đó, Chúa sẽ liệu.
77. Con không tin ai, không
trao công việc cho ai, không chịu nhường chỗ cho ai. Con toàn
năng hơn Chúa nữa sao?
78. Tại sao con khư khư ôm
lấy công việc nọ, công việc kia, không chịu buông ra khi thượng
cấp thuyên chuyển? Việc đó của Chúa hơn là của con! Có Chúa lo.
79. Lúc con tự mãn về công
việc tông đồ của con là lúc nguy hiểm nhất. Ma quỷ tập trung lực
lượng để đánh úp con.
+ HY. PX. Nguyễn Văn Thuận |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
BỆNH ĐỜN
ÔNG : NỔ Chuyện phiếm của Gã Siêu. |
|
Từ ngàn xưa và cho tới ngày hôm nay, phe đờn ông con giai vốn
được bàn dân thiên hạ gọi là phái khỏe. Mà họ khỏe thực. Vừa
bước vào tuổi mới lớn, các cơ bắp liền nổi lên cuồn cuộn, đúng
với vóc dáng vai u thịt bắp. Họ ăn không biết no, như các cụ ta
đã bảo :
- Nam thực như hổ, nữ thực như miu, có nghĩa là đàn ông con giai
ăn như hùm, còn đờn bà con gái thì ăn như mèo.
Cũng vì cái sức khỏe trời cho ấy, mà cánh đờn ông con giai
thường phải cáng đáng những công việc nặng nhọc, đòi buộc phải
mạnh mẽ và dũng cảm. Cũng vì cái sức khỏe trời cho ấy, mà cánh
đờn ông con giai thường là chỗ dựa cho phe đờn bà con gái, vốn
được bàn dân thiên hạ gọi là phái yếu. Bởi vì có yếu thì mới cần
dựa, chứ khỏe thì cần quái gì mà phải dựa với dẫm.
Có một bà vào lứa tuổi sồn sồn đã tâm sự vụn “mí” gã như sau :
- Những ngày nghỉ cuối tuần, mình mong anh ấy ở nhà để mình tìm
thấy một bờ vai tựa đầu, thế mà anh ấy cứ đi biền biệt, ăn nhậu
và bài bạc với đám bè bạn chiến hữu, mãi tới sáng thứ hai mới
thò mặt về, thử hỏi còn nhờ cậy được cái chi ?
Hơn thế nữa, phe đờn ông con giai còn là mục tiêu cho quí bà quí
cô phô bày vẻ đẹp của mình. Chả lẽ ngồi trang điểm suốt cả mấy
tiếng đồng hồ, để rồi cuối cùng thở dài ngao ngán :
- Chỉ mình tôi nhìn tôi trong gương thôi ư ?
Mấy hôm nay đọc báo, gã đã ghi lại một câu “ranh ngôn” như thế
này :
- Thượng đế chẳng phải là một Đấng hoàn hảo, mười phân vẹn
mười, bởi vì người ta đã phải lập ra biết bao nhiêu mỹ viện
nhằm tu sửa phần nào tác phẩm do Ngài tạo nên và quí bà quí cô
cũng đã tốn biết bao nhiêu tiền bạc, thời giờ và công sức để
hoàn thiện cái vẻ đẹp và Ngài đã phú ban cho.
Chính vì luôn nghĩ mình là phải khỏe, nắm ưu thế và giữ một vai
trò quan trọng, mà có tới 99% cánh đời ông con giai đều mắc phải
chứng bệnh “sĩ” và chứng bệnh “nổ”. Vậy thế nào là bệnh “sĩ” và
thế nào là bệnh “nổ” ?
Trước khi đi sâu vào hai chứng bệnh này, gã xin kể lại câu
chuyện về “con chó đá” :
Tại làng kia có một gia đình gồm hai bố con. Ông bố thì chí thú
làm ăn và luôn hòa nhã vui vẻ với mọi người. Còn cậu con giai
thì chuyên cần h | |