Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 50, Chúa nhật 9.7.2006


Các số báo đã phát hành           MỤC LỤC

NHỮNG CÁCH THỨC GÍAO DÂN CỘNG TÁC ....                                                      Vatican 2 

QUAN NIỆM HÔN NHÂN THAY ĐỔI...                                                   Nhà Văn Hương Vĩnh

VIRUS CHẾT NGƯỜI                                                                             Lm. Đỗ Vân Lực, OP.

Thể thao Bóng đá lan tỏa niềm vui phấn khởi                                 Lm. Nguyễn Ngọc Long

LÒNG NHÂN ÁI - NÉT ĐẸP CỦA CUỘC SỐNG                                         Lm. Vũ Xuân Hạnh

Chúa không hỏi                                                                      Lm. Giuse Ngô Văn Thích, OP.

TRI ÂN MỖI NGÀY                                                           Nhà văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

NHỮNG VẤN ĐỂ CỦA GIA ĐÌNH                                              Phó tế JB. Nguyễn Văn Định

Bổng lễ là gì và có giá trị ra sao ...                                                    Lm. PX. Ngô Tôn Huấn

GIỜ KINH TỐI TRONG GIA ĐÌNH                                                                           Tuỵ Hiền

Tác Phẩm Đường Hy Vọng, Tiếng Gọi...                                  + HY. PX. Nguyễn Văn Thuận

BỆNH ĐỜN ÔNG : NỔ                                                                  Chuyện phiếm của Gã Siêu


NHỮNG CÁCH THỨC GÍAO DÂN CỘNG TÁC

VÀO CÔNG CUỘC RAO GlẢNG TIN MỪNG CỦA GÍAO HỘI

 

Giáo dân cộng tác vào công cuộc rao giảng Tin Mừng của Gíao Hội và với tư cách chứng nhân và khí cụ sống động họ tham gia vào sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội, nhất là khi họ được Thiên Chúa kêu gọi và được Giám mục thu nhận để làm việc đó

Trong những miền đã theo Ki-tô giáo,giáo dân tham vào việc rao giảng Tin Mừng bằng cách tự khuyến khích và khích lệ người khác hiểu biết và yêu mến công cuộc rao giảng Tin Mừng, bằng cách cổ võ ơn gọi trong gia đình mình, trong các hội đoàn Công giáo và trong các trường học, bằng dâng cúng mọi thứ của cải, như thế họ có thể trao tặng cho người khác ơn đức tin mà họ đã lãnh nhận nhưng không.

Còn trong các xứ truyền giáo giáo dân hoặc là người nước ngoài hoặc là người bản địa, có thể dạy học trong các trường  phụ trách các việc trần thế, hợp tác vào hoạt động của giáo xứ hay giáo phận thành lập và cổ võ các hình thức làm việc tông đồ giáo dân để tín hữu của các Giaó Hội non trẻ có thể góp phần riêng  mình vào đời sống Giáo Hội càng sớm càng tốt.

Giáo dân phải sẵn sàng cộng tác trong lãnh vực kinh tế xã hội với các dân tộc đang trên đường phát triển. Sự cộng tác này càng đáng khen ngợi nếu nhắm đến việc thành lập các tổ chức liên quan đến những cơ cấu căn bản của đời sống xã hội hay  nhằm mục đích đào tạo những người có trách nhiệm lo cho công ích.

Cũng đáng đặc biệt tán thưởng những giáo dân, trong các Đại Học hay các Viện Khoa Học, biết dùng những khảo cứu lịch sử hay khoa học tôn iáo mà phát triển sự hiểu biết Về các dân tộc và các tôn gíao như thế là họ giúp các nhà rao giảng Tin Mừng và chuẩn bị cuộc đối thoại với những người ngoài Kitô gíao

Ho cũng phải hợp tác trong tình huynh đệ với các Ki-tô hữu khác, vởi những người ngoài Kitô giáo và nhất là với cáo hội viên của những tổ chức quốc tế, nhưng phải luôn nhớ rằng: “việc xây dựng xã hội trần thế phải đặt nền tảng trong Chúa và quy huớng về Người”

Để chu toàn tất cả những nhiệm vụ đó, gíao dân cần phải được chuẩn bị về kỹ thuật và đời sống thiêng liêng tại những Học Viện chuyên khoa, để đời sống họ trở thành chứng tá cho Đức Kitô giữa những người ngoài Kitô giáo, như lời Thánh Tông Đồ Pholô: "Anh em đừng làm gương xấu cho bất cứ ai dù là cho người Do-thá hay người ngoại, hoặc cho Hội Thánh của Thiên Chúa; cũng như tôi đây, trong mọi hoàn cảnh, tôi cố gắng làm đẹp lòng mọi người, không tìm ích lợi cho riêng tôi, nhưng cho nhiều người để họ được cứu độ” (1Cr 10,32-33).

(Trích Sắc lệnh vê hoạt động truyền giáo của Giáo Hội đến với muôn dân của Công Đồng Vatican lI, số 41)

VỀ MỤC LỤC
QUAN NIỆM HÔN NHÂN THAY ĐỔI...

 

CÔNG ĐỒNG VATICAN II QUA BỐN THẬP NIÊN

- IX -

QUAN NIỆM HÔN NHÂN THAY ĐỔI

 KỂ CẢ ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CÔNG GIÁO

Trước khi Louise Cook kết hôn với người chồng Công giáo vào năm 1945, bà là một tín hữu thuộc Giáo Hội Giám Lý, sinh trưởng tại Kansas, đã quyết định theo Công giáo. Bà không muốn bị khước từ làm đám cưới trong một Thánh lễ Công giáo hay bị nghi ngờ bà sẽ không nuôi nấng con cái như tín hữu Công giáo.

Sau khi trở thành góa phụ năm 1970, bà tái giá và lần nầy với một người thuộc Giáo Hội Trưởng Lão. Người nầy gắn bó mãnh liệt với đức tin của mình. Lễ cưới xảy ra vào năm 1974 trong một nhà thờ thuộc Giáo Hội Trưởng Lão với vị mục sư của ông và vị linh mục Công giáo của bà là hai vị chủ tế đồng hạng.

Những thay đổi về hôn nhân Công giáo, do Công Đồng Vatican II mang lại, đã đi khá xa đối với hôn nhân hỗn hợp. Và theo nhiều người, những thay đổi đó là những dấu chỉ rõ rệt nhất đối với sự cởi mở và đổi mới của Giáo Hội do Công Đồng mang lại.

Nhiều sự thích nghi đã bắt đầu một thời gian lâu trước Công Đồng, như cha Joseph M. Champlin đã viết trong sách “Cùng Nhau Cho Sự Sống” vẫn còn được dùng cho bốn trong năm cặp nam nữ dự định kết hôn trong Giáo Hội Công giáo ở Hoa Kỳ. Cha Champlin nhận thấy ngay chính trong gia đình ngài những đám cưới hỗn hợp đã thay đổi từ một nghi thức ở trong nhà mặc áo lễ (như trường hợp mẹ ngài và người bố dượng không Công giáo vào thập niên 1940) cho đến ở trong nhà thờ, nhưng không có rước lễ (đó là trường hợp người anh ruột và chị dâu không Công giáo của ngài vào thập niên 1940) hoặc ở nơi cung thánh nhà thờ trong khuôn khổ một Thánh Lễ vào thập niên 1950.

“Điều đó đã làm vơi đi nhiều điều có thể gây nên thương tổn” và đôi khi người phối ngẫu không Công giáo cảm thấy như bị loại bỏ, cha xứ của nhà thờ “Đức Bà Chỉ Bảo Đàng Lành” ở Warner, N.Y. cho biết như thế.

Sau Vatican II, Giáo Hội đã nới lỏng một điều ràng buộc khác đối với những đôi hôn nhân hỗn hợp, đó là người phối ngẫu không Công giáo không phải ký giấy cam kết sẽ nuôi nấng và dạy dỗ con cái như người Công giáo. Bắt đầu thập niên 1960, những người không Công giáo chỉ cam kết bằng miệng mà thôi. Theo cha Champlin: “Đó là nguồn gốc chọc giận những người không giữ lời hứa”.

Điều thay đổi chính trong hôn lễ Công giáo sau Công Đồng Vatican II là sự tham gia của đôi tân hôn vào việc lên chương trình đối với lễ cưới của họ. Theo cha Champlin, trước Vatican II, những yếu tố thuộc nghi lễ hôn phối “đúng hơn là có tính cách cứng nhắc và giống nhau cho hết mọi người”, nhưng về sau “Giáo Hội khuyến khích các đôi tân hôn nên tham gia vào việc phụng vụ.” Giờ đây các đôi nam nữ có thể chọn lựa những đoạn Thánh Kinh được đọc cũng như những bài hát, nói cách khác là cá nhân hóa nghi lễ hôn phối. “Điều đó có âm hưởng tức thời đối với giới trẻ”, cha Champlin đã viết như thế trong quyển sách “Cùng Nhau Cho Sự Sống” với nhiều sự duyệt lại trong nhiều năm và đã bán 9 triệu quyển.

Ngoài nghi thức phụng vụ ra, Vatican II còn thay đổi quan niệm thực sự về hôn nhân trong Giáo Hội Công giáo, theo như H. Richard McCord, giám đốc điều hành “Văn Phòng Tổng Thư Ký về Gia Đình, Giáo Dân, Phụ Nữ và Giới Trẻ của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ”. Theo McCord, trong Hiến Chế Mục Vụ “Vui Mừng và Hy Vọng” của Giáo Hội, Công Đồng tuyên bố hôn nhân không chỉ để truyền sinh mà thôi. Công Đồng “đã trở lại sự hiểu biết Thánh Kinh về giao ước” để định nghĩa lời cam kết bí tích giữa vợ chồng.

Hiến Chế đã minh định: “Hôn nhân, một cách chắc chắn, không được lập ra duy nhất nhằm để truyền sinh; đúng hơn bản chất đích thực của hôn nhân là một khế ước không thể phá vỡ giữa đôi vợ chồng và sự phúc lợi của con cái. Cả hai điều đó đòi buộc “tình yêu hỗ tương” giữa hai người phối ngẫu…tăng trưởng và trở nên chính chắn hơn. Vì vậy hôn nhân bền bỉ một cách trọn vẹn và đôi vợ chồng chia sẻ cuộc sống cùng duy trì chân giá trị và sự bất khả phân ly, cho dù đôi vợ chồng hết sức mong muốn nhưng không thể sinh con đẻ cái được.”

Theo McCord, ý niệm hôn nhân như là một giao ước cũng nhấn mạnh “sự bình đẳng cơ bản đối với con người” vào một thời điểm mà một số người còn xem phụ nữ như là vật sở hữu của người chồng. Mỗi người phối ngẫu đều đóng góp trọn vẹn năng khiếu và quà tặng của mình cho nhau và đối lại cũng được nhận lãnh như vậy.

Theo McCord, “Ánh Sáng Muôn Dân” - tức Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội – cũng đóng góp “một khái niệm căn bản vẫn còn tiếp tục trong công cuộc mục vụ của Giáo Hội; đó là ý niệm gia đình Kitô hữu như là một Giáo Hội tại gia.

McCord còn ghi nhận thêm: “Cách thức hiểu biết mới về vai trò của gia đình Công giáo đó” là một ý niệm cổ xưa trước tiên được Thánh Gioan Chrysostom (347-407) nhấn mạnh và “được các nghị phụ tái khám phá”.

Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI đã tuyên bố như sau trong cuộc nói chuyện với một nhóm giám mục Mễ-Tây-Cơ: trong vai trò những người đứng đầu Giáo Hội tại gia, cha mẹ là “những người đầu tiên truyền bá Phúc Âm cho con cái mình” và là “những học đường đầu tiên về sự sống và đức tin”.

McCord nói: những điều công bố của Công Đồng về hôn nhân còn giữ một vai trò lớn lao trong việc giúp đỡ những nhà lãnh đạo Giáo Hội Công giáo ngày nay phát biểu rõ ràng tại sao họ chống lại những cố gắng hợp pháp hóa hôn nhân cho những đôi đồng tính. Theo McCord: “Yếu tố xác định đặc điểm hôn nhân là tình yêu vợ chồng chỉ có thể có giữa một người nam và một người nữ. Đó không phải chỉ là phong tục hay truyền thống mà thôi.”

(Phỏng theo Nancy Frazier O’Brien – Washington – CNS)

Hương Vĩnh

VỀ MỤC LỤC
VIRUS CHẾT NGƯỜI

Phúc Âm Nhật Ký Ngày 26.06.2006

VIRUS CHẾT NGƯỜI

Mt 7:1-5

Trong những câu truyện trao đổi tại bàn ăn bên Hoa kỳ, thường người ta hay bàn về vấn đề sức khỏe.  Ở đâu, thuốc thang, kiêng khem, thể dục cũng thường là những đề tài đầu môi chót lưỡi.  Thấy tôi hay kiêng khem và tập thể dục, bạn bè hay châm chọc : “Tu rồi còn sợ chết !”  Tôi phản pháo liền : “Không phải sợ mình chết mà  sợ người ta chết vì mình.  Không thấy mấy người ngồi xe lăn đó à ?!   Mình đã chết đâu, bao nhiêu người chết vì mình đấy chứ !”   Nhiều người gật  gù đắc ý ...

Sau nhiều năm là nạn nhân của búa rìu dư luận, tôi mới thoát khỏi những lời ong tiếng ve.  Tôi mừng hết lớn.  Nhưng nhiều người cũng là nạn nhân của tôi.  Biết bao lần tôi cũng xét đoán anh em một cách không thương tiếc.  Khi xét đoán (lên án) như thế, tôi có nhớ lời Chúa tí nào đâu ! 

Thế mà, ngay từ nhỏ, tôi đã từng được nhắc nhở : “Ðừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán.” (Mt 7:1)  Một câu đơn giản như thế mà cho tới nay, tôi vẫn chưa thuộc !  Tôi là một thằng trò “dốt đặc cán mai táu.”  Thế có chết không ?  Có bửa óc tôi làm đôi cũng không thể nhét nổi câu nói đơn sơ đó.  Tôi tự hỏi : phải chăng trong dòng máu của mình đã nhiễm virus “xét đoán” hay “lên án” từ đời cha ông rồi ?  Tôi tự hỏi : tại sao mình bị nhiễm virus này ?  Có phương thuốc chữa trị mình khỏi “virus” đó không ? 

Virus này còn nguy hiểm hơn H5N1, AIDS hay ung thư nữa đó. Quả thực, nó đã phá hoại đời sống tinh thần và thể lực của cá nhân, gia đình cũng như cộng đồng.  Nó gây căng thẳng và làm con người không thể đối thoại.  Từ những căng thẳng đó, mới có các cuộc xung đột trong xã hội, gia đình.  Biết bao bệnh tật chết người đã nảy sinh.  Bởi thế, phải tìm mọi cách tiêu diệt con virus này !  Nhưng trước tiên, muốn chữa trị, phải dùng những dụng cụ đặc biệt mới mổ xẻ, quan sát và nghiên cứu được.

Gọi là virus, nhưng thực ra hình thù nó lớn lắm.  Nó to bằng cái xà (x. Mt 7:3.4).  Vị trí của nó nằm ngay nơi “con mắt của mình.” (Mt 7:3)  Chính vì kích thước quái đản và ở ngay vị trí quan yếu ấy, nên nó đã che khuất mắt tôi trước những sự thật về anh em.  Ngoài trời có sáng mấy, tôi cũng chỉ thấy toàn tối tăm mà thôi.  Tôi thấy tâm hồn mình giống như một âm bản.  Không có hình ảnh tươi đẹp nào nổi lên cả.  Bởi vậy, nhìn sang anh em, tôi chỉ thấy toàn những điều tiêu cực mà thôi.  Khuyết điểm hay lầm lỗi của họ dễ đập vào mắt và in sâu vào trí lòng tôi.  Ở địa vị cao như thế này, tôi có toàn quyền xét đoán hay lên án.  Nếu không, cộng đoàn sẽ xáo trộn và lâm nguy ! 

Dù anh em có làm gì tốt đẹp, tôi cũng lờ tịt hay chẳng thấy được nữa.  Họ có làm tốt cho tôi, tôi cũng chẳng cám ơn.   Có sai lầm, tôi cũng chẳng bao giờ xin lỗi.  “Cám ơn” hay “xin lỗi” là những thứ xa xỉ phẩm tôi không quen dùng.  Ðúng hơn, ở vị trí cao cả, quyền bính và học thức như tôi, chẳng lẽ lại phải cúi đầu, uốn lưỡi nói những lời chỉ dành cho hạ cấp như vậy à ?   Nếu mở miệng nói lời “xin lỗi,” tôi sẽ “mất thế giá khó cai quản” ! 

Con virus “xét đoán” này lây từ người sang người nhanh lắm.  Thực tế, nó đã lan rộng khắp hoàn cầu.  Sức tác hại của nó rất lớn và rất khó diệt trừ, vì hầu như không ai quan tâm và nỗ lực khử trừ nó.  Trong khi đó, Chúa rất quan tâm và cảnh tỉnh mọi người trước bệnh dịch do virus đó gây nên.  Bằng chứng Chúa đã vạch trần bộ mặt và kích thước kệch cỡm của nó cho bàng dân thiên hạ coi.  Chúa còn dạy cho tôi biết cách khử trừ con virus tệ hại đó.  Muốn thấy rõ khuôn mặt nó, phải có ánh sáng.  Muốn có ánh sáng phải theo Chúa (x. Ga 8:12).  Nói khác, Chúa là phương dược diệt trừ virus hữu hiệu nhất. 

Vì không theo Chúa, nên con mắt không được khai quang.  Một khi đã thấy được ánh sáng, tôi sẽ nhìn thấy những điều tích cực nơi anh em.  Tôi sẽ phải khích lệ khi thấy anh em làm những điều tốt đẹp, vì đó là những hồng ân.  Bởi vậy, thay vì ghen tương và phê phán, tôi phải cùng anh em cảm tạ Chúa.  Dĩ nhiên, không phải nơi anh em không có rác.  Nhưng trước khi nhặt rác, tôi cần ánh sáng là Ðức Kitô để mở mắt tôi trước đã. 

Vừa mới có ánh sáng Kitô, tôi vô cùng kinh ngạc !  Có cái gì chấn ngang mắt tôi.  Cộm quá ! Trời ơi, cái xà nằm “chềnh ềnh” trong mắt tôi kìa !   Tôi mù quáng quá, phải không ?!   Làm sao lấy cái xà ra khỏi mắt bây giờ ?  Ai giúp tôi đây ?  Phải có sức mạnh như Chúa mới lôi nổi cái xà vĩ đại đó ra. 

À, đây rồi !  Cái xà có một hình thù quái đản quá !  Xù xì.  Xấu xí.  Ẩm mốc

Tanh hôi.  Kinh tởm quá !  Cái xà này chính là cái tôi cồng kềnh, kệch cỡm đã có từ lâu đời.   Cái xà giống như mãng xà quái đản độc hại.  Phân tích kỹ hơn, tôi mới biết cái xà đó làm bằng những chất liệu : đam mê, ích kỷ, virus oán thù, xét đoán v.v.  Ðó là thành phần chính góp phần xây dựng pháo đài, cô lập tôi khỏi cộng đoàn.  Ánh sáng Ðức Kitô không sao soi chiếu nổi vào con mắt tôi. 

Thế ra mới biết, từ xưa tới nay, tôi có theo Chúa Kitô đâu !  Tôi cứ mò mẫm trong đêm tối.  Cái xà nguy hiểm thì tôi lại coi thường.  Cọng rác chẳng đáng kể nơi mắt anh em thì lại bị tôi quan trọng hóa.  Tôi đã đánh giá sai lầm những thực tại về chính mình và anh em tôi.  Thảo nào tôi bưng tai bịt mắt trươc cái hay cái đẹp nơi anh em.  Uổng phí quá !  Nếu thấy được, tôi đã cùng anh em sinh bao nhiêu hoa quả cho Chúa !  Cuộc đời đã tươi đẹp hơn nhiều.

Lạy Chúa, xin chiếu ánh sáng Chúa vào mắt con.  Có ánh sáng Chúa, con mới thấy nổi cái xà.  Nhưng chỉ có Chúa mới bứng nổi cái xà ra khỏi mắt con.  Vậy lạy Chúa, xin mau lấy cái xà này để con có thể thẩm định đúng đắn về anh em con.  Từ đó, con mới có thể xây dựng chứ không phá đổ những hồng ân Chúa ban cho anh em con nữa. Amen.

dzuize@gmail.com

VỀ MỤC LỤC
Thể thao Bóng đá lan tỏa niềm vui phấn khởi

 

Những trận tranh tài thể thao Bóng đá trên sân cỏ giữa các đội tuyển thế giới – World cup – hay giữa các đội cùng châu lục – Europa, American, Asia, Afrika – thu hút hấp dẫn hàng triệu người theo dõi hoặc ở sân vận động, hoặc qua màn ảnh truyền hình khắp thế giới.

Năm nay World cup 2006 đang diễn ra với những trận tranh tài trên sân cỏ hồi hộp gây cấn. Qua hình ảnh phóng sự, người ta thấy không phải chỉ phát sinh niềm vui phấn khởi nơi người đi xem đá banh hay theo dõi qua màn ảnh tuyền hình, nhưng cũng nảy sinh lòng yêu mến quê hương đất nước, được biểu lộ qua những lá cờ quốc gia trưng bày bay phất hoặc do cầm khoác mặc trên thân thể trong ngoài, hoặc cắm vào xe hơi chạy ngoài đường phố, hoặc treo chăng trước cửa nhà, có những người còn vẽ cờ nước mình trên đôi má, trên trán, có người còn nhuộm cả tóc theo mầu hình cờ nước họ ...

Hồi còn là Tổng giám mục München, Hồng Y Joseph Ratzinger, bây giờ là đương kim Giáo hoàng Benedicto 16., ngày 03.06.1978 đã có suy tư về thể thao bóng đá trên đài phát thanh: 

"Bóng đá đã trở nên một biến cố trên khắp địa cầu, có sức mạnh lôi cuốn, liên kết con người  vuợt qua mọi ranh giới trong niềm hy vọng, lo âu hồi hộp, tha thiết nồng nàn và niềm vui tươi phấn khởi. Hiếm có biến cố nào trên thế giới có hấp lực trải rộng như thế.  

Biến cố đó, có thể nói được, là khát vọng xa xưa khởi thủy của con người, và cũng đặt ra câu hỏi, trên nền tảng nào môn chơi này có hấp lực sức mạnh như vậy. 

Người bi quan sẽ cho rằng,  điều đó giống như ở thời Roma cổ xưa, họ đã viết trên biểu ngữ: Panem et circenses – Cơm bánh, ăn  và trò chơi Xiếci. Ăn và chơi chỉ là nội dung đời sống của một xã hội đang trên đà xuống dốc, đang lúc họ không còn nhận ra những đích điểm cao hơn nữa.

Nhưng nếu, cho đi rằng, người ta chấp nhận điều này, điều đó cũng không thể nào đủ có sức thuyết phục được.  Vì thế phải hỏi lại: Trên nền tảng nào, môn chơi này có sức hấp dẫn, đến nỗi trở nên quan trọng bên cạnh cơm bánh như vậy? 

Ðưa mắt nhìn ngược trở về thời Roma xa xưa, chúng ta có thể tìm ra câu trả lời, tiếng la hét đòi cơm bánh và môn chơi biểu hiện của khát vọng về một đời sống thiên đàng hạnh phúc, về một đời sống no đủ không có cực nhọc vất vả, và tự do được thỏa mãn tràn đầy. Ðiều này ẩn chứa trong môn chơi: trong hành động hoàn toàn tự do, không có đích điểm, không có sự bó buộc, nhưng có cố gắng về sức lực và được thi hành trọn vẹn.

Trong ý nghĩa này môn chơi cũng là một thể loại thử tìm về trở về nhà, nơi là thiên đàng hạnh phúc: bước thoát ra khỏi đời sống hằng ngày bị trói buộc do những ràng buộc căng thẳng vất vả, và lo liệu cho đời sống căng thẳng có tự do những gì không bắt buộc và dẫn dưa đưa đến sự tốt đẹp.

Như thế, môn chơi đã vượt qua cuộc sống hằng ngày. Môn chơi trước hết, nhất là đem đến cho trẻ em, bạn trẻ một bộ mặt đức tính khác: Sự tập luyện bước vào đời sống. Nó vẽ nên dấu chỉ hình ảnh đời sống tự mình phát triển cung cách sống cởi mở tự do.  

Với tôi, hấp lực của môn chơi Bóng đá nằm ở chỗ, nó liên kết cả hai khía cạnh này trong một hình thái có sức hấp dẫn thuyết phục.

Nó bó buộc con người, trước hết tự mình thuần thục hóa chính mình qua việc tập luyện để thắng chính mình, qua sự vượt trội có sẵn hay đạt được đưa đến tự do. Thể thao bóng đá cũng dậy cho biết sống chơi kỷ luật với nhau. Trong một đội banh bắt buộc phải khép mình từng cá nhân vào tập thể chung.

Môn thể thao bóng đá nối kết qua cùng chung đích điểm. Thành công hay không thành công của mỗi cá nhân nằm trong liên quan thành công hay không thành công của toàn đội banh.

Nó dậy cung cách chơi đấu thể thao cao thượng khi chống chọi nhau, qua việc tuân giữ luật lệ chơi chung. Có thế cả hai bên đội banh mới có tự do. 

Trong khi theo dõi quan sát tranh tài trận bóng đá trên sân cỏ, khán gỉa tự đồng hóa mình với trận chơi và với các cầu thủ đang thi đấu; họ gần như tham dự hăng say tích cực với đội banh gà nhà và cả với đội đối thủ, với sự căng thẳng bó buộc và cả với tự do nữa. Các cầu thủ chơi chạy trên sân cỏ trở thành hình ảnh biểu tượng của đời sống riêng họ, và tạo ảnh hưởng lại trên họ. Các cầu thủ biết rằng, những người đó tự vẽ nên hình ảnh mìnhqua các cầu thủ và tìm thấy được công nhận nơi họ.

Lẽ tất nhiên những điều này có thể trở nên bị tiêu hủy, bị làm cho ra xấu xa, khi yếu tố thương mại, tiền bạc chiếm ngự; khi môn chơi thể thao trở thành kỹ nghệ sản xuất, nó tạo ra một thế giới hào nhoáng hình ảnh không tốt đẹp.

Cho dù không tạo ra một thế giới hào nhoáng đầy hình ảnh, không có được lý do tích cực đi nữa trong môn chơi thể thao này: nó vẫn là phần tiền luyện tập thuộc về đời sống và sự bước qua của đời sống đi tìm phương hướng của một thiên đàng hạnh phúc đã bị mất. Cả hai đều đi tìm kỷ luật của sự tự do, trong mối dây ràng buộc vào luật lệ với nhau, chống chọi lại nhau và của mỗi cá nhân.

Nên rất có thể, chúng ta trong suy nghĩ như thế, rút ra từ môn chơi thể thao bóng đá bài học mới cho đời sống. Nơi môn chơi thể thao này ta nhận ra một nền tảng căn bản: Con người sống không nguyên chỉ bằng cơm bánh thôi. Vâng, thế giới cơm bánh thật ra chỉ là bước tiên khởi cho đời sống con người, cho một thế giớ tự do. Sự tự do sống còn phát triển qua luật lệ, qua thuần thục giáo dục. Nó dậy cách sống chơi chung và sống thế nào là một đối thủ đúng ngay chính trong cuộc chơi.                

Cuộc chơi,  đời sống, nếu chúng ta đi sâu vào, có thể hiện tượng của một thế giới hào hứng phấn khởi về bóng đá giúp ta nhận ra nhiều điều vượt xa hơn chỉ là một cuộc vui chơi giải trí.“

Mùa World Cup 2006

Lm. Nguyễn ngọc Long

VỀ MỤC LỤC
LÒNG NHÂN ÁI - NÉT ĐẸP CỦA CUỘC SỐNG

 

Con người ta càng chìm trong nỗi sợ của bạo lực, của bất công, của những tính toán phi đạo đức bao nhiêu, thì lòng nhân ái càng cần thiết cho cuộc sống của mỗi người, và của cộng đồng bấy nhiêu. Bài viết này được viết dưới dạng của một lá thư, để qua đó chuyển tải những ưu tư, những khắc khoải không chỉ của một cá nhân, nhưng có thể coi là của cả một lớp người muốn sống lương thiện. Không quá bi quan nhưng cũng không lạc quan quá, những chuyển tải của bài viết nhìn vào cuộc sống và cho thấy sự giằng co giữa thiện – ác. Cái ác hình như chiếm phần trội, như che lấp mất những gì mang lại giá trị của cuộc sống. Còn cái thiện lại như một dòng nước ấm trôi giữa đại dương mùa đông. Nhưng chỉ cần như thế thôi, cũng đủ để bạn và tôi có quyền hy vọng. 

   Ngày … tháng … năm….

   Em gái ạ,

  Từ ngày anh em mình từ giã gia đình, sống xa nhau, xa mái ấm mà mấy chục năm qua đã chứng kiến không biết bao nhiêu kỷ niệm của một thuở bé thơ cả hai anh em cùng được ấp ủ trong vòng tay yêu thương của bố của mẹ, thì năm nào cũng vậy, cứ đến những ngày mùa đông, anh lại nhận được từ em một lá thư và một cánh thiệp với những lời nguyện chúc rất tốt đẹp, rất thánh thiện. Mỗi năm như thế, anh đều xem những nét chữ mà trong đó chứa đầy lòng yêu thương của một đứa em gái quí yêu, là lời nhắc nhỡ chính mình chuẩn bị tâm hồn sao cho xứng đáng để đón mừng mầu nhiệm Thiên Chúa làm người, đón mừng năm mới thật ý nghĩa. Mỗi mùa đông, nhận được thư của em, anh mừng đến nao nao tâm hồn. Mùa đông dẫu buốt giá nhưng lòng anh ấm áp lạ thường, bởi một ngọn lửa của tình ruột thịt, vượt không gian xa lắc, vẫn rực cháy lớn trong lòng của cả hai anh em.

Mùa đông năm nay cũng vậy, em là người gửi thư, gửi thiệp cho anh sớm nhất, em gái ạ.

Có lẽ do tình cảm của hai anh em gắn bó như thế, ngoài ra còn được lớn lên trong một gia đình nề nếp, được hấp thụ một nền giáo dục bởi người cha, người mẹ thánh thiện, luôn luôn ý thức lòng nhân ái và dạy con phải coi lòng nhân ái lớn hơn tất cả, mà hai anh em mình có rất nhiều quan điểm giống nhau, nhất là giống nhau từ quan niệm về lẽ sống đến cách thức thực hành lòng nhân ái.

Nhưng em gái ạ, lần này em có bi quan quá không? Trong thư em viết rất nhiều về nỗi muộn phiền, bất bình về cuộc sống. Đã có lúc em căm giận, phẫn nộ: “Con người đối xử với nhau càng ngày dường như càng tệ bạc hơn, nham hiễm hơn…”. Còn ở đoạn kết, em viết: “Có gì vui để mà vui hỡ anh. Xung quanh chúng ta, mỗi ngày, trong cuộc sống, biết bao nhiêu chuyện lừa lọc, chèn ép, cướp giật xảy ra. Bao nhiêu kẻ tham ô, thoái hóa, bao nhiêu kẻ bạo quyền, giàu tiền đã khéo làm “phép lạ” đổi trắng thay đen, không thành có, có thành không; người vô tội bị kết án, còn người có tội chỉ cần có tiền, trở nên vô tội. Các giá trị tinh thần, những truyền thống, những lề thói tốt đẹp tích tụ biết mấy ngàn đời, có sức mạnh lớn lao để đào tạo nhân cách con người, bị hạ bệ xuống hàng thứ yếu, để đồng tiền lên ngôi, vật chất trở thành ông chủ. Biết bao nhiêu người trở thành chủ nhân ông của thời đại mới, nhờ bóc lột sức lao động của anh chị em công nhân. Họ làm giàu trên nhân phẩm, trên sức lao động cật lực của người công nhân, chẳng những không biết ơn mà còn trả lại cho anh chị em công nhân bằng sự đánh đập tàn nhẫn. Biết bao nhiêu kẻ chỉ lo hưởng thụ, ăn chơi, xài phí. Biết bao nhiêu kẻ giàu có, nắm quyền hành trong tay, nhưng đê hèn và tội lỗi cho đến mức, đêm ngày chỉ suy nghĩ để tìm cách, hay người ta còn gọi là “sáng tạo những kỹ thuật mới”, nhằm hưởng lạc thú trên thân xác kẻ khác, trong khi bao nhiêu kẻ lầm than, đói khổ…”.

Anh hiểu em: quả là cuộc sống vẫn còn đó, khắp nơi, đầy dẫy những nỗi nhức nhối, oan khuất, bất công, thê lương…Anh biết nói với em điều gì khi đó là sự thật. Nhưng, em gái ạ, còn một sự thật khác cũng diễn ra hằng ngày quanh ta, giống như mùa đông năm nào ở một vùng biển, nhìn mặt sóng dâng cao cuồng nộ, em đã nói rằng trong lòng biển luôn luôn có một dòng nước ấm lành trong… Cũng vậy, dòng nước ấm lành trong đó, trong cuộc sống hỗn tạp này, vẫn chảy mãi, không cạn: Đó là điều thiện, lòng nhân ái, lòng tốt…

Hãy nghĩ lại đi em. Hãy đặt niềm tin vào cuộc sống, vì dẫu cho đâu đó còn băng giá, thì cuộc sống vẫn còn nắng ấm của mùa xuân. Chắc em biết rõ, hầu như năm nào đồng bằng sông Cửu Long cũng bị lũ lụt, dẫu có những cá nhân, những tập thể bỏ tiền ủng hộ anh chị em sống ở đồng bằng sông Cửu Long, mà họ rêu rao là “cứu đói”, “cứu nghèo”, chỉ là một cách khoe khoan sự giàu có hoặc để quảng cáo những sản phẩm của một xí nghiệp, một công ty nào đó, nhằm lợi dụng sự bất hạnh của người khác, mà quay ngược lại làm giàu cho chính mình, thì trong dòng người đang làm việc “bố thí” ấy, có biết bao nhiêu tấm lòng thực sự nhân ái hướng về đồng bằng sông Cửu Long trong tình nghĩa đồng bào tha thiết, trong đó có rất nhiều tấm gương của những người con gái đáng quí, đáng yêu, đáng trân trọng như em.

Vài năm trước, khi nghe tin Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế của thành phố Hồ Chí Minh cháy, đốt thành than quá nhiều người đang làm việc ở đó, đã làm cho hàng ngàn tấm lòng xốn xang, hàng ngàn con mắt phải ứa lệ ngậm ngùi đấy em à!

Lòng nhân ái lạ lùng đến mức chính anh cũng không thể nào hiểu hết: Ở một trường Cao đẳng nọ, khi được tin nhà của một anh sinh viên bị cháy, thì trong vài giờ đồng hồ sau, các bạn sinh viên cùng trường đã trích những đồng tiền sinh viên còm cõi của mình để tặng anh. Số tiền lớn đến nỗi không ai ngờ, và anh sinh viên đã bật khóc như một trẻ thơ. Nhìn cảnh tượng đó mà lòng anh cứ rung lên, rung lên…

Và trong cuộc sống vẫn còn vô số những hình ảnh cảm động làm ta phải rung lên như thế: Nó có thể là sự hy sinh cao vời vợi cho một người thân, cho một tình bạn… Chắc em còn nhớ cô bé Như Ngọc, ở trong xóm nhà mình đó, là một nữ sinh lớp 12, vẫn hằng ngày hy sinh chở cô bạn Diệu Thu bị bại liệt cả hai chân đến trường. Và sau mỗi buổi tan học lại chở bạn về. Tính cho đến nay, Như Ngọc đã kiên trì không mệt mỏi làm điều đó giúp đỡ bạn gần 10 năm kể từ ngày Như Ngọc biết lái xe đạp. Lòng nhân ái của Ngọc sáng lấp lánh như tên của em: NHƯ NGỌC.

Một hình ảnh khác, rõ ràng nhất diễn ra hằng ngày xung quanh ta, đó là cảnh ăn xin. Có thể họ là những em bé mồ côi, nghèo rách thật; những cụ già neo đơn thật, những người bệnh tật, què quặt thật, những người cơ nhỡ thật… nhưng cũng có những người lừa lọc, lười biếng, gian dối, lợi dụng lòng tốt của mọi người, xem việc đi xin ăn như một nghề nghiệp để khỏi vất vả, khỏi phải làm lụng… Theo thống kê của báo Công An thành phố Hồ Chí Minh, cách đây gần 14 năm, vào năm 1991, chỉ tính riêng thành phố, đã có khoảng 6.000 người ăn xin. Nếu ngồi nhẫm tính trên cả nước, ta sẽ phải rùng mình vì con số quá lớn.  Thế nhưng tất cả họ, dù thật hay giả, đều có thể sống được là nhờ đâu, nếu không phải là lòng nhân ái của mọi người.

Vậy đó, lòng nhân ái không chết đâu em. Nó là sức mạnh diệu kỳ để tạo thêm hương, góp thêm sắc cho đời. Nó cũng là sức mạnh diệu kỳ để nhân loại cậy dựa vào nhau mà sống, mà tồn tại. Anh tin rằng một con người dù bậm trợn đến đâu đi nữa, thì thẳm sâu trong đáy lòng của họ, lòng nhân và bản tính con người vẫn còn tiềm ẩn, nếu gặp môi trường thuận lợi, nó sẽ bùng lên…

Lòng nhân ái, dòng nước ấm âm thầm chảy trong sóng biển lạnh của cuộc đời .

Anh muốn nhắc lại với em một lần nữa và muốn nhắc rất nhiều lần rằng: Lòng nhân ái, điều có thật, là dòng nước ấm lành trong đã, đang và sẽ chảy mãi, chảy mãi đó em…

Lm. VŨ XUÂN HẠNH

VỀ MỤC LỤC
Chúa không hỏi

 

1.  Chúa không hỏi hiệu xe nào bạn đang lái. Ngài sẽ hỏi bạn đã giúp chở bao nhiêu người không có xe.

2.  Chúa không hỏi nhà bạn cao sang như thế nào. Ngài sẽ hỏi bạn đã mời bao nhiêu người vào thăm nhà bạn.

3.  Chúa không hỏi quần áo đẹp bạn chất chứa trong tủ. Ngài sẽ hỏi bạn đã giúp bao nhiêu người nghèo không có quần áo mặc.

4.  Chúa không hỏi mức lương cao nhất của bạn. Ngài sẽ hỏi bạn có làm tổn thương tánh hạnh của bạn để đạt được mức lương ấy.

5.  Chúa không hỏi nghề nào bạn làm. Ngài sẽ hỏi bạn đã dùng khả năng bạn như thế nào.

6.  Chúa không hỏi khu vực nào bạn ở. Ngài sẽ hỏi bạn đã đối xử thế nào với người hàng xóm.

7.  Chúa không hỏi mầu da của bạn. Ngài sẽ hỏi bạn đã sống tốt như thế nào.

8.  Chúa không hỏi chồng bạn có oai, con bạn có giỏi. Ngài sẽ hỏi bạn đã là người vợ, người mẹ tốt như thế nào.

9.  Chúa không hỏi vợ bạn có đẹp, con bạn có khôn. Ngài sẽ hỏi bạn đã là người chồng, người cha tốt như thế nào.

10. Chúa không hỏi tại sao bạn tìm về với Chúa chậm trễ quá. Ngài sẽ yêu thương    đưa bạn vào nhà của Ngài.

Lm. Giuse Ngô Văn Thích, OP.

VỀ MỤC LỤC

TRI ÂN MỖI NGÀY

 

TRI ÂN MỖI NGÀY

Thân tặng quí bạn đọc

 

Mỗi buổi sáng khi bình minh gọi nắng

Đầu một ngày - Tôi chậm rãi nhủ thầm

Như những lời từ một quyển PhúcÂm

Đang vang dội trong hồn tôi mạnh mẽ!

 

Cám ơn Chúa đã ban tôi sức khoẻ

Và đức tin, đức cậy, mến sâu xa,

Không cô đơn như những kẻ xa nhà

Không bất xứng, không có gì bối rối!

 

Dù ban ngày hay là đêm, bóng tối

Có Ngài bên tôi can đảm lạ thường!

Không lo âu, không nản chí, muộn phiền

Không khiếp sợ, bởi Ngài ban sức mạnh!

 

Chúa cho tôi những nhu cầu lành mạnh,

Nào thức ăn, nước uống với niềm tin

Tôi vui mừng tạ ơn Chúa luôn luôn

Tôi vui vẻ dù Ngài trao gánh nặng!

 

Tàn một ngày - Tôi quì trong thinh lặng

Để dâng lên những lời nguyện thiết tha

Những hi sinh, nếu có, những bó hoa

Tôi dâng Chúa lòng tri ân tuyệt đối!

 

Tạ ơn Chúa những gì con lãnh hội!

Những gì con làm nén bạc thêm lời

Để bàn tay, trí óc góp cho đời

Làm tươi đẹp vũ trụ này của Chúa!

Rồi mỗi ngày, con nhắc lại lời hứa!

June 2, 2006

Nhà văn Xuân Vũ  TRẦN ĐÌNH NGỌC

*Lấy ý từ bài “Mỗi ngày” LM Ngô văn Thích

VỀ MỤC LỤC
 NHỮNG VẤN ĐỂ CỦA GIA ĐÌNH

 

“ Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn”

Đại hội các Gia đình Công giáo Thế Giới đang tiến hành tại thành phố Valencia, Tây Ban Nha từ ngày 01-07 đến 09-07-2006, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đang đến tham dự Đại hội này.

Ban tổ  chức dự đoán sẽ có trên một triệu rưỡi Tín hữu đến tham dự Thánh lễ bế mạc vào sáng Chúa nhật mùng 09-07-06. ĐTC Biển Đức XVI thi hành mạnh mẽ việc bảo vệ Gia đình từ thời ĐTC Phaolô VI đề ra. ĐTC đương kim đã ưu tiên chọn sự bênh vực Gia đình, vì nếu Gia đình sụp đổ thì Giáo hội và Thế giới cũng sụp đổ theo.

Ngài nói: Các Mục tử hãy hăng say rao giảng Tin Mừng về Gia đình, như một con đường để giúp họ sống đạo và cầu nguyện chung, gần guĩ nhau. Các nhân viên Mục vụ Gia đình tại các Giáo phận, các LM, Phó tế, các Tín hữu đều tích cực tham gia để các Gia đình có đủ sức đối phó với mọi hòan cảnh khó khăn đang đe dọa hiện tại.

Nhiều cha mẹ vắng bóng; các ông bà nội ngoại ngày càng dấn thân săn sóc các các cháu, dù đã già yêú, để trong đó không ai bị cảm thấy mình bị loại trừ. Dạy cách cầu nguyện trong Gia đình thật quan trọng. Vì nơi nào người ta cầu nguyện chung với nhau, thì có sức mạnh của Thần Khí Chúa nâng đỡ và phá vỡ âm mưu ma quỷ. Các Gia đình hãy cùng cầu nguyện và hành động với Giáo hội, rồi sẽ tìm được nhiều phương thức khác nhau.

Đại hội Giới trẻ VN trong ba ngày qua từ 01- đến 03-07-2006 tại Cali Hoa kỳ,,tại Giáo phận Phan Thiết Việt nam, với hàng ngàn thanh niên nam nữ tham dự, Đại hội về Gia đình tại Saigon vừa qua đã nói lên sự lưu tâm của các Mục tử, các Tín hữu, các Gia đình đều cộng tác tích cực bảo vệ Gia đình và Giới trẻ đến mức nào.!

Tuy nhiên, các nạn nhân của “sa mạc tình thương” ngày nay chính là các thanh thiếu niên, họ rất đau khổ về sự thiếu tình thương trong thế giới ngày nay. Đúng vậy, sự cô đơn của họ không được cha mẹ cảm thông,. Người trẻ thường tới các tiệm nhảy disco, tìm cách đứng sát nhau, nhưng trong thực tế họ lại đang bị cô đơn nặng nề, và cảm thấy đau khổ vì không được cảm thông.

Ngày nay, người cha thường vắng bóng trong sự huấn huyện tại gia đình, người mẹ thì cũng phải làm việc ngoài xã hội. Sự hiệp nhất của họ rất mong manh. Mỗi người sống theo thế giới của mình vế ăn tiêu, giải trí. Họ là những hòn đảo về tư tưởng và tâm tình, ít hiệp nhất với nhau, nếu không mời Chúa làm chủ Gia đình và liên kết lại thì : “ai giữ mạng sống mình thì sẽ mất…”, vì họ cô lập với người khác. Nhưng nếu họ nhờ ơn Chúa vượt thắng để cảm thông thì mọi sự sẽ tốt đẹp, bình an và hạnh phúc sẽ đến với Gia đình họ.

Ngày 02-03-06 ĐTC Biển đức 16 đã gặp gỡ 800 LMục và Phó tế đang phục vụ trong 330 Giáo xứ ở Rôma. Ngài đã lần lượt trả lời 15 câu hỏi trong 2 giờ đồng hồ liên quan đến đời sống Mụ vụ Gia đình như: Thăng tiến Hôn nhân Gia đình, sự sống con người, huấn luyện giới trẻ, vai trò phụ nữ trong Giáo hội, mục vụ nhà thương.

Thuận vợ thuận chồng, tát bể đông cũng cạn.

Câu chuyện cụ thể về vợ chồng nhà tỷ phú Melinda và Bill Gates sau đây sẽ nói lên sự hợp nhất vợ chồng có kết qủa to lớn như thế nào?

* Tôi và Bill có chuyến nghỉ mát tại châu Phi vào năm 1993, nhìn thấy những trẻ con chết hàng loạt vì căn bệnh tiêu chảy. Chúng tôi tự thấy mình phải có trách nhiệm tìm hiểu sự thật. Nỗi sợ hãi khi quay về quá khủng khiếp, đến độ không dám hy vọng. Nhưng điều đó đã thức tỉnh tôi và Bill cùng nhau quyết định, ra tay hành động.

Cả hai vợ chồng tôi đã cùng nhau đến nhiều nước trên thế giới để xem tình hình bệnh lao và tiêu chảy. Khi viếng thăm các bệnh viện và những ngôi làng nghèo khổ, họ hy vọng các phát triển trong khoa học điều trị sẽ sớm đến với những người nghèo và sẽ cứu được hàng triệu con người bệnh tật trên thế giới đang cần đến.

Quỹ từ thiện của vợ chồng Bill và Melinda Gates đã ra đời hoạt động quy mô vào năm 1997 và chính thức khai trương vào năm 2000. Tất cả tập trung vào lãnh vực giáo dục, y tế toàn cầu, đến nay đã lên tới 28,8 tỷ đô la. Với ba đứa con nhỏ, Melinda cảm thấy hạnh phúc khi được cùng chồng đi khắp nơi, gặp gỡ nhiêù trẻ em và giúp đỡ cha mẹ chúng những nhu cầu cơ bản để nuôi con. Với bà, “mỗi nhân mạng đều giá trị, bất kể khoảng cách nào trong xã hội.”

Ứớc mong các Gia đình Việt Nam dù giầu hay nghèo, đều hiệp nhất với nhau và có tấm lòng nhân ái như Gia đình này.

Phó tế: GB Huyền Đồng- Nguyễn Văn Định  *  johndvn@yahoo.com

VỀ MỤC LỤC
Bổng lễ là gì và có giá trị ra sao ...

 

Hỏi: Bổng lễ là gì và có giá trị ra sao

trong việc xin Lễ cầu cho người sống và người chết ?

Trả lời: Bổng lễ (mass stipends) là lệ phí tượng trưng mà Giáo luật cho phép linh mục được nhận của giáo dân mỗi khi cử hành thánh lễ theo ý người xin. Mục đích của sự cho phép này là để giúp “ người  phục vụ Bàn thờ thì được chia phần Bàn thờ ”  như Thánh Phaolô đã daỵ “ (x,1Cor 9: 13) Nói khác đi, linh mục dâng Lễ cầu cho ai thì được phép nhận một bổng lễ theo mức qui định của Toà Giám Mục điạ phương. Thí dụ  ở Houston và hầu hết các Giáo Phận khác ở Mỹ, thì bỗng lễ cho phép là 5 đô la cho mỗi ý Lễ (mass intention). Tiền này chỉ có mục đích giúp ích cho linh mục dâng lễ mà thôi chứ không hề có giá trị thiêng liêng nào cho người thụ hưởng ý lễ. Nghĩa là ơn Chúa ban qua Thánh Lễ cho ngươì còn sống hay đã qua đời hoàn toàn không lệ thuộc vào bổng lễ mà linh mục được huởng. Như vậy, xin một Lễ không bổng lễ (vì nghèo không có tiền xin) hay chỉ có 5 đô la hoặc  5000 đô thì chỉ có giá trị vật chất khác nhau  cho linh mục cử hành Thánh Lễ chứ không ảnh hưởng gì đến việc Chúa ban ơn theo ý  người xin Lễ vì Lễ Misa là vô giá, ơn Chúa ban là nhưng không (gratuitous) nghiã là không thể mua được bằng tiền bạc.

Vậy đừng ai hiểu lầm rằng bỏ nhiều tiền ra xin lễ  thì  được nhiều ơn ích thiêng liêng hơn là ít hay không có tiền xin lễ.

Cũng cần nói thêm là linh mục không được phép đòi tiền cao hơn mức qui định để dâng một Thánh Lễ. Tuy nhiên , nếu vì hảo tâm mà người xin tự ý dâng cúng số tiền cao hơn mức qui định thì linh mục được phép nhận mà không có lỗi gì.Ngoài ra, nếu vì nghèo túng, người xin Lễ không có tiền để trả theo mức qui định, thì linh mục vẫn được khuyên dâng lễ dù không có bổng lễ, nghĩa là không bắt buộc phải có bổng lễ thì mới làm. (x. giáo luật số 848, 945,triệt 2)

LM. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

VỀ MỤC LỤC
 GIỜ KINH TỐI TRONG GIA ĐÌNH.

  

      BẦU KHÍ ĐẠO ĐỨC     

Tôi xin bắt đầu bằng một mẩu chuyện như sau :

Có một anh chàng đến hỏi ý kiến cha sở về người yêu của mình. Cha sở bảo anh ta kê khai lý lịch :

- Cô ấy là người như thế nào ?

Anh ta thưa lại :

- Nàng là con một ông trùm trong giáo xứ.

Cha sở lấy miếng giấy ghi một con số không vào đó.

Anh ta nói tiếp :

- Nàng ăn nói rất là có duyên cứ ngọt như mía lùi.

Lại một con số không trên mảnh giấy trắng. Anh ta vẫn không thất vọng và nói :

- Nàng đẹp ghê lắm… đẹp quỉ khóc thần sầu luôn.

Lại một con số không trên mảnh giấy trắng. Anh vẫn không thất vọng và nói :

- Nàng làm món nhậu thì thật tuyện vời, khỏi chê …

Lại một con số không nữa trên mảnh giấy trắng. Anh ta vội vã nói tiếp :

- Nàng hát rất hay, hình như có một dạo ở trong ca đoàn xứ.

Lại một con số không nữa trên mảnh giấy trắng. Anh ta suy nghĩ một lúc rôi ngâp ngừng thưa :

- Nàng đi buôn hết sẩy, chuyến nào trót lọt chuyến ấy.

Lại một con số không trên mảnh giấy trắng. Yêu lặng một lúc chàng khẽ nói :

- Suýt nữa thì con quên, nàng còn là một người đạo đức.

Cha sở bèn ghi thêm con số một vào trước những con số không và nói :

- Hãy cưới cô ấy mau lên, vì với tinh thần đạo đức, cô ấy sẽ là một tấm vé số độc đắc đấy.

Cha sở đã có một cái nhìn sâu sắc và đánh giá đúng mức khi cho rằng tinh thần đạo đức nơi mỗi cá nhân là một điều kiện quan trọng trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình.

Tuy nhiên, tinh thần đạo đức nơi mỗi cá nhân phải được khơi nguồn và bồi dưỡng trong bầu khí gia đình : làm sao chúng ta quên được những lời kinh bập bệ do người mẹ đã dạy chúng ta. Làm sao chúng ta quên được đôi tay vụng dại giơ lên để làm dấu  thánh giá dưới sự chỉ bảo của người cha. Làm sao chúng ta quên được những buổi sáng vào độ gần tết được thầy bu đánh thức để đi lễ…

Những bài học đầu tiên này và những bài học tiếp nối sẽ ghi sâu vào tâm trí chúng ta, để rồi không một ai có thể xóa bỏ và làm cho mờ phai, cũng như không một cái gì có thể làm chúng ta cho quên đi được.

Hoàng hậu Blanche de Castille thường nói với con mình như sau :

- Thà rằng mẹ thấy con chết trước mặt mẹ, còn hơn là thấy con phạm một tội trọng, phản nghịch cùng Thiên Chúa.

Người con luôn khắc ghi cũng như thực thi lời dạy bảo ấy và đã trở nên một vị thánh, đó là thánh Louis, vua nước Pháp.

Chính những bài học đầu tiên này sẽ là những viên gạch xây dựng cho cuộc đời chúng ta. Và bầu khí đạo đức trong gia đình phần lớn được hun đúc, được bảo trì qua giờ kinh tối.

      Xem đó chúng ta thấy : gia đình chính là mái trường đầu tiên dạy cho chúng ta những bài học làm người. Và như chúng ta đã trình bày trong những bài trước : gia đình Kitô hữu phải là một  chứng tích của tình yêu và   hợp nhất, để liên kết một xã hội đang bị nạn phân rẽ và kỳ thị làm cho băng hoại một cách trâm trọng.

Gia đình Kitô hữu phải sống đức tin bằng cách lắng nghe và thực thi lời Chúa, mà thế giới hôm nay đang cố tình quên lãng.

Gia đình Kitô hữu phải là một cung thánh nhỏ bé, để dâng lên những lời ca tụng và những của lễ được kết thành do những lao công vất vả của mọi phần tử cho Thiên Chúa là Đấng mà nhân loại hiện nay đang chối từ.

Sau cùng, gia đình Kitô hữu phải chia sẻ trách nhiệm loan truyền ơn cứu độ cho muôn dân bằng gương sáng, nghĩa là bằng một đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương.

Để tạo cơ hội cho mọi người trong gia đình thực hiện tình tình yêu thương hợp nhất, giúp nhau sống lời Chúa và chu toàn nhiệm vụ tư tế cũng như tông đồ, Giáo Hội đã đề xướng và cổ võ một phương thế rất hữu hiệu đó giờ kinh tối.

Thực vậy, giờ kinh tối sẽ giúp thánh hóa đời sống : chúng ta lắng nghe Chúa nói và chúng ta thân thưa với Ngài qua những tâm tình cầu nguyện, đồng thời chúng ta còn dâng lên Chúa lễ vật mọn hèn của chúng ta, đó là những lao công vất vả, những bực bội buồn phiền chúng ta gặp phải trong một ngày đã đi qua.

Ngoài ra chúng ta còn thể lợi dụng những giây phút này để cầu xin ơn Chúa cho bản thân chúng ta, cho những người thân yêu còn sống cũng như đã qua đời.

Tiếp đến, giờ kinh tối sẽ giúp chu toàn bổn phận giáo dục : chúng ta trao đổi những kinh nghiệm sống lời Chúa. Đồng thời cha mẹ trong giây phút này, có thể dùng những lời lẽ ôn tồn, thành thật và yêu thương để khuyên nhủ, nhắc bảo cho con cái.

Hơn thế nữa, chính thái độ trang nghiêm và sốt sắng của cha mẹ, cũng đã là một bài học, một mẫu gương cho con cái noi theo. Và mẫu gương này sẽ không  bao giờ bị mờ phai trong suốt cả cuộc đời chúng.

Sau cùng, giờ kinh tối giúp hòa giải với nhau. Thực vậy, trong một ngày, rất có thể sóng gió đã nổi lên, rất có thể những bực bội, những buồn phiền và những va chạm đã xảy ra. Chẳng lẽ chúng ta lại giữ mãi nỗi hiền khích, nỗi bất đồng mà ngồi chung với nhau để cùng đọc kinh lạy Cha, để cùng chúc tụng Thiên Chúa.

Chính vì thế, giờ kinh tối đã trở nên một động cơ thúc đẩy mọi người trong gia đình làm hòa với nhau và xích lại gần nhau hơn, như lời Chúa đã phán :

- Nếu ngươi lên đền thờ dâng của lễ mà sực nhớ người anh em có điều chi bất bình với ngươi, thì hãy để của lễ đó, trở về làm hòa với anh em mình trước đã, rồi mới đến  mà dâng của lễ sau.

Kinh nghiệm cho chúng ta thấy : thời khắc cùng ngồi bên nhau và cùng nhau ngồi bên Chúa, sẽ là thời khắc của chân lý, của sự thật, sẽ là một khám phá kỳ diệu, một liều thuốc thần tiên, làm thay đổi hẳn bầu khí của gia đình, vì nhiều vấn đề gay cấn và căm go sẽ được giải quyết trong tình thông cảm và yêu thương.

Trước kia, hai vợ chồng chung sống hòa bình với nhau một cách miễn cưỡng, nông cạn và hời hợt, giờ đây tất cả chỉ còn là    một : một ước vọng, một tình yêu, một niềm vui, một nỗi lo và một lời nguyện cầu van xin.

ƯU ĐIỂM GIỜ KINH TỐI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

Ý thức được vai trò và tầm mức quan trọng của giờ kinh tối là như thế, tuy nhiên trong thực tế, khi quan sát giờ kinh tối tại phần lớn các gia đình Việt Nam, chúng ta nhận thấy ngoài một số ưu điểm rất đáng khuyến khích, vẫn còn nhiều thiếu sót, nhiều khuyết điểm cần phải canh tân và đổi mới cho thích nghi với đà phát triển của xã hội, cho phù hợp với tâm lý của tuổi trẻ hôm nay.

Trước hết là những ưu điểm :

Người công giáo Việt Nam vốn được coi là rất đạo đức và sốt sắng, số gia đình tổ chức đọc kinh tối không phải ít. Chính vì vậy, dù trải qua bao gian nan thử thách, dù bị bắt bớ cấm cách hằng mấy trăm năm ròng rã, đạo Công Giáo không những chẳng mất đi, mà trái lại, vẫn luôn đứng vững và tiếp tục lớn mạnh không ngừng.

Hơn thế nữa, tại nhiều gia đình giờ kinh tối đã trở thành một   thói quen tốt lành trong sinh hoạt thường ngày. Dù bận rộn với công việc mùa màng, dù gặp phải biết bao trở ngại cách này hay cách khác, nhưng họ vẫn trung thành với bổn phận đọc kinh cầu nguyện.

Có những giáo xứ buổi tối đã kéo chuông, để mọi gia đình cùng đọc kinh, hay để những người còn đang chuyện trò chỗ này chỗ khác, thì mau chấm dứt, trở về gia đình và đọc kinh chung với nhau.

Rất nhiều người Công Giáo, nhờ những giờ kinh tối trong gia đình, đã hấp thụ được một đức tin vững chắc, một lòng mến thiết tha và một tinh thần tông đồ nhiện thành.

Vậy gia đình chúng ta đã có thói quen đọc kinh tối hay    chưa ? Nếu có, chúng ta đã đọc như thế nào ? Đâu là những khuyết điểm chúng ta  cần phải sửa đổi ? Chúng ta sẽ lần lượt bàn tới.

Để kết luận, tôi xin ghi lại nơi đây ý tưởng của một nhà bác học. Thấy nhà bác học quì gối đọc kinh, có người đã không khỏi ngạc nhiên và nói :

- Giỏi như ông mà còn cầu nguyện hay sao ?

Nhà bác học trả lời :

- Đưc tin sâu xa và vững chắc nhất phải là đức tin của một bà già, vì bà ta luôn chuyên tâm cầu nguyện.

Giờ cầu nguyện chung trong gia đình sẽ hun đức tin cho chúng ta đã đành, mà còn tạo được một bầu khí hòa thuận, bắc được một nhịp cầu cảm thông giữa những người cùng sống chung dưới một mái ấm với nhau.

Tuỵ Hiền

VỀ MỤC LỤC
Tác Phẩm Đường Hy Vọng, Tiếng Gọi:

 

Động viên toàn lực theo tiếng Chúa.

61. "Hãy theo Thày"! Các tông đồ đã bỏ mọi sự theo Chúa, con có dứt khoát một phen theo Chúa không? Chúa phải gọi con mấy lần rồi?

62. Chọn lựa bao giờ cũng tiếc nuối, do dự, suy nghĩ, nhưng cuối cùng phải quyết định.

63. Chúa Giêsu rõ ràng quyết liệt:

"Ai muốn theo Ta, hãy..."

"Ai không... chẳng đáng làm môn đệ Ta." Đường lối sáng tỏ, tiếng gọi không úp mở.

64. "Hãy đi rao giảng Phúc Âm..."; để dám nhận một sứ mạng cao cả như thế, Chúa cần "cảm tử". Hai ngàn năm lịch sử Hội Thánh cho ta thấy giai đoạn nào cũng không thiếu cảm tử từ mọi tầng lớp giáo dân.

65. Có những người suốt đời chỉ nhờ thiên hạ quyết định giùm. Con có thuộc vào hạng đó không?

66. Con người muốn tháo lui vì có những sự trái ý, vì gặp những người không thể chịu nổi! Con theo Chúa hay theo mấy người ấy?

67. Con ngạc nhiên sao đủ hạng người tình nguyện làm "cảm tử" theo tiếng gọi của Chúa? Vì Chúa đã nói: "Thày ở cùng chúng con mọi ngày đến tận thế."

68. Người ngoài không hiểu được tại sao người ta theo tiếng gọi của Chúa, họ cho là ta điên. Chính Chúa Giêsu cũng bị Hêrôđê gọi là điên, và chúng ta hãnh diện được ở trong "nhà thương Biên Hòa" của Chúa.

69. Quyết định theo Chúa của con không phải chỉ là một chữ ký, không phải là một lời tuyên thệ thôi. Nhưng là một sự hiến dâng liên lỉ thực hiện trong cả cuộc sống.

70. "Theo Thày mấy lâu nay, các con có thiếu gì không?" - "Thưa Thày không." Con bỏ tất cả, nhưng theo Chúa Quan phòng, con còn lo gì?

71. Con đừng lấy làm lạ, lúc theo Chúa, con nghe tiếng gọi của khoái lạc, của danh vọng, của cả bản thân, cha mẹ, quyến rũ con bỏ đường Chúa. Cứ tiến lên, Chúa đã nói trước: "Ai cầm cày còn ngoảnh mặt lui, không đáng làm môn đệ Ta."

72. Tiếng gọi vẫn tiếp tục nhắc nhở con trong mọi việc nhỏ: "Hãy theo Thày!" và tiếng "Vâng" của con cũng tiếp tục cho đến hơi thở cuối cùng.

73. Thưa: "Vâng" là dễ, nhưng hãy xem Chúa Giêsu theo tiếng gọi cho đến chết trên thánh giá. Hãy bỏ mình, vác thánh giá mỗi ngày và đóng đinh mình trên thánh giá ấy.

74. Chúa bảo con: "Hãy đi rao giảng Phúc Âm." Chúa không ra thời khóa biểu, không vạch kế hoạch, Chúa để con sáng kiến và vượt đi, miễn là con mang Phúc Âm. 

75. Công đồng Vatican II dạy ta "trở về nguồn".Con hãy khám phá lại đời sống các tông đồ, những người đã sống, đã nghe, đã sờ tận tay Chúa Cứu Thế và làm chứng về Ngài.

76. Chương trình đang thực hiện tốt đẹp phải bỏ dở, hoạt động hăng say phải bó tay. Nhiệm vụ đang quan trọng phải hạ tầng công tác! Uất ức và chán nản! Chúa gọi con "hãy theo Thày" hay "hãy theo việc nọ, người kia"? Để đó, Chúa sẽ liệu.

77. Con không tin ai, không trao công việc cho ai, không chịu nhường chỗ cho ai. Con toàn năng hơn Chúa nữa sao? 

78. Tại sao con khư khư ôm lấy công việc nọ, công việc kia, không chịu buông ra khi thượng cấp thuyên chuyển? Việc đó của Chúa hơn là của con! Có Chúa lo.

79. Lúc con tự mãn về công việc tông đồ của con là lúc nguy hiểm nhất. Ma quỷ tập trung lực lượng để đánh úp con.

+ HY. PX. Nguyễn Văn Thuận

VỀ MỤC LỤC

BỆNH ĐỜN ÔNG : NỔ  Chuyện phiếm của Gã Siêu.

 

Từ ngàn xưa và cho tới ngày hôm nay, phe đờn ông con giai vốn được bàn dân thiên hạ gọi là phái khỏe. Mà họ khỏe thực. Vừa bước vào tuổi mới lớn, các cơ bắp liền nổi lên cuồn cuộn, đúng với vóc dáng vai u thịt bắp. Họ ăn không biết no, như các cụ ta đã bảo :

- Nam thực như hổ, nữ thực như miu, có nghĩa là đàn ông con giai ăn như hùm, còn đờn bà con gái thì ăn như mèo.

Cũng vì cái sức khỏe trời cho ấy, mà cánh đờn ông con giai thường phải cáng đáng những công việc nặng nhọc, đòi buộc phải mạnh mẽ và dũng cảm. Cũng vì cái sức khỏe trời cho ấy, mà cánh đờn ông con giai thường là chỗ dựa cho phe đờn bà con gái, vốn được bàn dân thiên hạ gọi là phái yếu. Bởi vì có yếu thì mới cần dựa, chứ khỏe thì cần quái gì mà phải dựa với dẫm.

Có một bà vào lứa tuổi sồn sồn đã tâm sự vụn “mí” gã như sau :

- Những ngày nghỉ cuối tuần, mình mong anh ấy ở nhà để mình tìm thấy một bờ vai tựa đầu, thế mà anh ấy cứ đi biền biệt, ăn nhậu và bài bạc với đám bè bạn chiến hữu, mãi tới sáng thứ hai mới thò mặt về, thử hỏi còn nhờ cậy được cái chi ?

Hơn thế nữa, phe đờn ông con giai còn là mục tiêu cho quí bà quí cô phô bày vẻ đẹp của mình. Chả lẽ ngồi trang điểm suốt cả mấy tiếng đồng hồ, để rồi cuối cùng thở dài ngao ngán :

- Chỉ mình tôi nhìn tôi trong gương thôi ư ?

Mấy hôm nay đọc báo, gã đã ghi lại một câu “ranh ngôn” như thế này :

- Thượng đế chẳng phải là một Đấng hoàn hảo, mười phân vẹn mười,  bởi vì người ta đã phải lập ra biết bao nhiêu mỹ viện nhằm tu sửa phần nào tác phẩm do Ngài tạo nên và quí bà quí cô cũng đã tốn biết bao nhiêu tiền bạc, thời giờ và công sức để hoàn thiện cái vẻ đẹp và Ngài đã phú ban cho.

Chính vì luôn nghĩ mình là phải khỏe, nắm ưu thế và giữ một vai trò quan trọng, mà có tới 99% cánh đời ông con giai đều mắc phải chứng bệnh “sĩ” và chứng bệnh “nổ”. Vậy thế nào là bệnh “sĩ” và thế nào là bệnh “nổ” ?

Trước khi đi sâu vào hai chứng bệnh này, gã xin kể lại câu chuyện về “con chó đá” :

Tại làng kia có một gia đình gồm hai bố con. Ông bố thì chí thú làm ăn và luôn hòa nhã vui vẻ với mọi người. Còn cậu con giai thì chuyên cần h