|
Mở đầu Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân |
|
Thánh Công Đồng
muốn phát động mạnh mẽ hơn việc tông đồ của Dân Thiên Chúa, nên
quan tâm đên các Ki-tô hữu giáo dân, những người có phần riêng
biệt và cần thiêt trong sứ mệnh của Giáo Hội, như đã được nhắc
đến trong những văn kiện khác. Bởi vì, vốn phát sinh từ ơn gọi
làm Ki-tô hữu; việc tông đồ giáo dân không bao giờ có thể thiếu
trong Giáo Hội. Chính Kinh Thánh minh chứng rõ ràng, vào những
buổi đầu của Giáo Hội, việc tông đồ này thật hăng say và phong
phú biêt bao! (x. Cv 11, 19-21; 18,26; Rm 16, 1-16; Pl 4,3).
Thời đại chúng
ta đòi hỏi giáo dân phải nhiệt thành không kém, nhất là hoàn
cảnh hiện tại càng đòi hỏi việc tông đồ của họ phải tích cực và
sâu rộng hơn. Quả vậy, càng ngày dân số càng gia tăng, khoa học
và kỹ thuật càng tiến triển, những mối tương quan mật thiết hơn
giữa con người không những mở rộng môi trường hoạt động tông đồ
giáo dân đến vô tận, môi trường mà phần lớn chỉ dành riêng cho
họ, mà còn tạo nên nhiều vấn đề mới đòi họ phải đặc biệt lưu tâm
học hỏi. Việc tông đồ này lại càng trở nên khẩn trương hơn, vì
sự tự lập trên nhiều phương diện của cuộc sống con người như
thường thấy, càng gia tăng, đôi khi gây nên một sự tách biệt với
trật tự luân lý và tôn giáo, cũng như tạo ra một sự nguy hiểm
trầm trọng cho đời sống Ki-tô giáo. Hơn nữa, trong những miền
thiếu linh mục hay khi các ngài không được tự do thi hành chức
vụ, thì Giáo Hội khó có thể hiện diện và hoạt động hữu hiệu nếu
không nhờ giáo dân cộng tác.
Dấu hiệu cho
thấy sự khẩn thiết muôn mặt ấy chính là hoạt động tỏ tường của
Chúa Thánh Thần, đang làm cho giáo dân hôm nay mỗi ngày một ý
thức hơn phần trách nhiệm riêng của mình, và thúc bách họ phục
vụ Đức Ki-tô và Giáo Hội ở mọi nơi.
Trong Sắc lệnh
này, Công Đồng nhằm làm sáng tỏ bản chât, đặc tính và những cách
thế của việc tông đồ gìáo dân, nêu lên những nguyên tắc căn bản
và ban bố những giáo huấn mục vụ để thi hành việc tông đồ ấy cho
hiệu quả hơn. Mọi điều trong Sắo lệnh này phải được coi như
những tiêu chuẩn cho việc xét lại những khoản Giáo luật có líên
quan đến việc tông đồ giáo dân.
(Trích Sắc lệnh
Tông đồ giáo dân của Công Đồng Vaticanô II do Đức Thánh Cha
Phao-lô VI ban hành ngày 18-11-1q65, số l).
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
HIỆN ĐẠI HÓA NHỮNG QUAN HỆ
GIỮA GIÁO HỘI VÀ NHÀ NƯỚC |
|
CÔNG ĐỒNG VATICAN
II QUA BỐN THẬP NIÊN
- X -
TỰ DO TÔN GIÁO
HIỆN ĐẠI HÓA NHỮNG QUAN
HỆ GIỮA GIÁO HỘI VÀ NHÀ NƯỚC
Linh mục Đa-Minh Yves Congar và hai
linh mục Dòng Tên John Courtney Murray và Henri de
Lubac là những thần học gia vào thập niên 1950 đã bị Vatican
bắt phải im hơi lặng tiếng nhưng đã nổi bật lên và trở thành
những tiếng nói quan trọng trong Công Đồng Vatican II. Cha
Congar và Lubac về sau được chọn làm hồng y.
Một trong những văn kiện cuối cùng được
Công Đồng Vatican II chấp thuận và có lẽ là văn kiện được tranh
luận nhiều nhất, đó là “Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo” mà
cao điểm là Công giáo trong thế giới hiện đại, xét về những
tương quan giữa Giáo Hội và nhà nước.
Văn kiện đó đặt nền móng cho Giáo Hội đối
phó với những nền dân chủ thế tục, tôn giáo đa nguyên
thuộc Tây phương và Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ II đã báo động
tình trạng bắt bớ Giáo Hội ở những nước Cộng Sản cai trị.
Tuyên ngôn “Dignitatis Humanae” mang
lại niềm tín nhiệm của Công Đồng mời gọi đối thoại đại kết
và đối thoại với những tín hữu không phải Kitô giáo.
Trong quá trình soạn thảo, văn kiện nầy
được phục hoạt do soạn thảo viên chính của tuyên ngôn là cha
John Courtney Murray - một linh mục Dòng Tên vào thập niên
1950 đã bị Vatican cấm không được viết về những tương quan giữa
Giáo Hội và nhà nước, nhất là những nỗ lực hòa giải Giáo Hội
Công giáo với sự tách biệt giữa Giáo Hội và nhà nước theo kiểu
Hoa Kỳ. Cuối cùng vị linh mục đó đã được mời tham gia “Văn
Phòng Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô giáo” của Vatican là cơ quan của
Tòa Thánh soạn thảo tài liệu.
Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo
tuyên bố rằng, vì nhân phẩm, mỗi cá nhân có quyền dân sự đối
với tự do tôn giáo và thực thi niềm tin tôn giáo ở trong
cộng đồng với kẻ khác. Đó là một điểm xuất phát rất rõ nét vì từ
nhiều thế kỷ trước, Giáo Hội dạy rằng tự do tôn giáo trọn vẹn
chỉ thuộc về Giáo Hội Công giáo như là một định chế bởi vì Giáo
Hội chứa đựng sự sung mãn của chân lý thiêng liêng.
Trong bài bình luận sau Công Đồng vào năm
1966 - được phát hành sau khi cha qua đời, cha Murray ghi chú
như sau: “Giáo Hội không còn ứng phó với trật tự trần thế theo
tiêu chuẩn nước đôi: tự do đối với Giáo Hội khi tín hữu Công
giáo là thiểu số, đặc quyền đối với Giáo Hội và bất khoan dung
đối với kẻ khác khi tín hữu Công giáo chiếm đa số.”
Cha Murray còn viết: “Tuyên Ngôn đã
mở đường cho một sự tín nhiệm mới trong những tương quan đại
kết và sự thẳng thắn trong những tương quan giữa Giáo Hội và
thế giới.”
Tuyên Ngôn công bố: “Quyền tự
do tôn giáo được căn cứ trên chính nhân phẩm mỗi cá nhân
như được biết đến qua lời mạc khải của Chúa và chính bằng lý
trí.” Sự tự do đó phải được nhìn nhận và bảo đảm bởi các quốc
gia như là một quyền dân sự bởi vì sự thi hành quyền tự
do tôn giáo đòi buộc phải được “chước miễn mọi sự ép buộc từ
bên ngoài. Quyền được chước miễn đó tiếp tục hiện hữu ngay
cả đối với những ai không sống theo sự bắt buộc phải truy tầm
chân lý và bám trụ vào đó.”
Tuyên Ngôn đã được chấp thuận bởi cuộc bỏ
phiếu với tì số 2,308 - 70 vào ngày 7-12-1965. Đó là ngày bỏ
phiếu sau cùng và cũng là ngày trước khi Công Đồng bế mạc.
Công Đồng chỉ chấp thuận sau khi đã “thảo
luận một cách sôi nổi” với sự chống đối dữ dội từ nhiều viên
chức Vatican và các vị giám mục đến từ những quốc gia mà Giáo
Hội Công giáo rất mạnh như Tây-Ban-Nha và Ý-Đại-Lợi, theo như
Gregory Baum cho biết. Gregory Baum là một chuyên viên thuộc
“Văn Phòng Cồ Võ sự Hợp Nhất Kitô giáo của Công Đồng”.
Văn Phòng đã soạn thảo tài liệu tự do tôn giáo vì tầm mức quan
trọng đối với vấn đề đại kết. Vào thời điểm đó, Baum còn là linh
mục dòng thánh Augustinô.
Sau đó Baum hoàn tục và trở thành giáo sư
về tôn giáo học ở Đại Học McGill Montreal và nay đã hồi hưu, cho
biết: “Giáo Hội Công giáo đã kết án tự do tôn giáo vào thế kỷ 19
và những người phản đối Tuyên Ngôn không muốn công nhận rằng
Giáo Hội đã sai lầm.”
Theo Baum, lập trường trước đây là “chân
lý có hết mọi quyền, còn lầm lạc không có quyền nào.” Khi
thực hành như vậy có nghĩa là vì họ theo một tôn giáo lầm lạc
nên không có quyền tự do tôn giáo, “nhưng điều đó vô nghĩa. Chân
lý là một khái niệm trừu tượng. Dân chúng có quyền lợi của họ.”
Baum nhận thấy Tuyên Ngôn đã khiến Vatican
duyệt lại những thỏa ước với nhiều quốc gia mà đại đa số theo
Công giáo để Công giáo không còn là quốc giáo nữa.
Những người phản đối Tuyên Ngôn lý luận
rằng khi chấp thuận nguyên tắc tự do tôn giáo, Giáo Hội tự mâu
thuẫn với chính mình. Quan điểm đó ngược lại với quan điểm của
các thần học gia khác, như linh mục Murray, theo đó giáo
huấn của Giáo Hội cần tiến hóa, căn cứ trên những hoàn cảnh đổi
thay, một tiến trình được gọi là sự “triển khai giáo lý”.
Bài bình luận của cha Murray vào năm 1966
cho thấy việc chống đối sự triển khai giáo lý ở đằng sau hầu hết
những sự chống đối. Cha Murray viết: “Ý niệm triển khai, chứ
không phải ý niệm tự do tôn giáo, là móc điểm thực tế đối với
nhiều người chống lại Tuyên Ngôn cho đến cuối cùng.”
Sau cùng, khi Tuyên Ngôn được chấp thuận,
cũng có kèm theo một sự nhìn nhận là trong quá khứ Giáo Hội
đã vi phạm tự do tôn giáo. Tuyên Ngôn viết: “Dẫu cho ở trong
đời sống dân Chúa…có những thời điểm xuất hiện một hình thức đối
xử khó mà đúng với tinh thần Phúc Âm và ngay cả ngược lại với
Tin Mừng nữa. Giáo huấn của Giáo Hội luôn luôn vẫn là không ép
buộc ai phải tin theo.”
Lời thú nhận đó đã được gợi ý bởi Đức Hồng
Y Joseph Beran ở Prague, Czechoslovakia, lúc bấy giờ bị
đặt dưới quyền thống trị của Cộng Sản. Ghi nhận những vụ thiêu
đốt những người ly giáo và những vụ bắt buộc theo Công giáo
trong lịch sử quê hương mình, Đức Hồng Y Beran xin Công Đồng
chấp thuận Tuyên Ngôn “trong tinh thần đền bù những lỗi lầm
trong quá khứ.”
Đức Hồng Y Beran và các nghị phụ đến từ
những quốc gia do Cộng Sản chiếm đóng đã liên kết với các giám
mục Hoa-Kỳ để trở thành những người ủng hộ Tuyên Ngôn một cách
mạnh mẽ. Các giám mục sau bức Màn Sắt nhận thấy cần thiết phải
duy trì một số điều giống nhau trong đời sống Giáo Hội ở trên
quê hương họ, bởi vì Tuyên Ngôn cổ võ việc thực thi nguyên
tắc tự do tôn giáo. Tuyên Ngôn cũng mạnh mẽ kêu gọi Giáo
Hội độc lập đối với nhà nước và bảo vệ khỏi bị nhà nước xâm
phạm những tôn giáo có tổ chức. Tuyên Ngôn công bố: “Nếu chính
quyền dân sự cho mình có quyền kiểm soát hay hạn chế sinh hoạt
tôn giáo, phải nói rằng chính quyền đã vượt khỏi giới hạn quyền
bính của mình.”
Trong số những người ủng hộ Tuyên Ngôn
thuộc khối Sô-viết là Đức Tổng Giám Mục Karol Wojtyla
của Krakow, Ba-Lan, về sau được bầu làm Giáo Hoàng Gioan Phao-lồ
II năm 1978. Ở trong phòng họp Công Đồng năm 1965, vị tổng giám
mục 45 tuổi tranh luận rằng không nhà nước nào có quyền khống
chế tôn giáo.
Theo giáo sư Baum, Đức Tổng Giám Mục
Wojtyla tỏ ra “xuất sắc đối với văn kiện. Ngài trở thành vô
địch về nhân quyền khắp nơi trên thế giới, không chỉ quyền
lợi tôn giáo mà thôi, mà còn căn cứ trên nhân phẩm nữa.”
(Phỏng theo Agostino
Bono – Washington – CNS)
Nhà văn Hương Vĩnh |
VỀ MỤC LỤC
|
|
|
ÐỜI
CÒN CÓ NHAU |
|
Phúc Âm Nhật Ký Ngày 16.07.2006
ÐỜI
CÒN CÓ NHAU
Mc 6:7-13
Tin Mừng hôm nay
vẽ ra một cảnh tượng vô cùng hoành tráng. Nhưng phải đọc ngược
từ dưới lên trên, chúng ta mới thấy tất cả sự thật. Dưới cái
nhìn của Chúa Giêsu, trần gian đúng là nơi quỷ dữ tung hoành.
Thần ô uế cũng ăn chia với bọn quỷ dữ đó. Khắp nơi đủ thứ dấu
hiệu quỷ dữ quấy phá như bệnh tật tinh thần và thân xác, những
đố kỵ ghen ghét, không chấp nhận và lắng nghe nhau. Những cảnh
hất hủi các môn đệ và chối bỏ Tin Mừng. Những cảnh chém giết,
bắt bớ, tù đầy, khủng bố v.v.
Gia đình tôi
bây giờ cũng nhuốm mầu trần gian một trăm phần trăm rồi. Không
biết nó đã biến thành hỏa ngục từ bao giờ. Dĩ nhiên hỏa ngục
nào cũng đầy quỷ sứ. Quỷ kiêu ngạo, ích kỷ, hưởng thụ, ghen
ghét, đố kỵ . . . Quỷ nào cũng dữ cả! Cuộc sống chung thật
nặng nề. Không chịu đựng nổi nhau. Không thể tha thứ cho nhau
!
Ðứng trước thực
tế đó, Chúa Giêsu có bi quan không ? Người đưa ra những kế
hoạch và giải pháp nào ? Là môn đệ Chúa Giêsu, tôi có nghe
thấy tiếng gọi và nhận rõ sứ mệnh của mình không ? Nếu cứ tiếp
tục theo nếp sống hưởng thụ và xây dựng cuộc đời hiện tại và
tương lai trên những của cải vật chất và tiền bạc, tôi có thể
giải quyết những vấn đề lớn lao trong gia đình tôi hôm nay
không?
Trước cảnh trần
gian đầy dẫy những vấn đề tiêu cực lớn lao như thế, “Ðức Giêsu
gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai từng hai người một đi ...
rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối.” (Mc 6:7.12) Thật
là can đảm ! Với một số lượng nhân sự quá ít ỏi, Người có thể
làm được gì cho trần gian ? Ðã thế, nhóm người nhỏ bé đó lại bị
tước đoạt tất cả những phương tiện vật chất (x. Mc 6:8-9. Làm
sao họ có thể chinh phục được trần gian ? Thật mạo hiểm !
Không phải ai cũng đón tiếp những hạng người “khố rách áo ôm”
như các ngài (x. Mc 6:11)! Mời các ngài vào trọ trong nhà vừa
tốn kém, vừa phải nghe những “sự thật mất lòng” nữa. Dại gì đón
tiếp và lắng nghe những con người gây xáo trộn cuộc sống đang
yên ổn này !
Tiếp theo bước
chân của “Nhóm Mười Hai,” Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã tông du
Tây Ban Nha từ 1/7 đến 9/7/2006. Tông du vào một miền đang có
rất nhiều vấn đề liên quan tới gia đình như hôn nhân đồng tính,
ly dị, phá thai, nghiên cứu tế bào gốc v.v. không phải dễ. Vậy
mà tối thứ bảy có hơn một triệu người tham dự đêm canh thức.
Sáng chủ nhật khỏang 2, 2 triệu người (Zenit.org 12. 7.2006) đã
quây quần xung quanh Đức Thánh Cha cử hành long trọng Thánh lễ
bế mạc ngoài trời. Như thế, người đã thành công trong việc
hướng dẫn Ðại Hội Thế Giới Về Gia Ðình Lần Thứ Năm ở Valencia
với chủ đề: “Tiếp Tục Lưu Truyền Đức Tin Trong Gia Ðình.”
Chủ điểm của
cuộc tông du đó vẫn là rao giảng Tin Mừng và kêu gọi người ta ăn
năn sám hối (x. Mc 6:12), nghĩa là từ bỏ lối sống trần tục, phù
du, phóng đãng, hời hợt mà trở về nếp sống biết tôn trọng nhân
vị và phục vụ những quyền lợi và bổn phận bất khả nhượng của mỗi
người (x. National Catholic Reporter 09/07/2006). ÐTC “đã ở lại
đó cho đến lúc ra đi” (Mc 6: 10) với nhiều ấn tượng sâu xa về
“sự tiếp đón tuyệt vời, tính hiếu khách đáng mến và sự quan tâm
chu đáo” (Zenit.org 12. 7.2006) của dân chúng Tây Ban Nha.
Tôi không phải
là Giáo Hoàng. Tôi không có dịp “tông du” các nước để rao giảng
Tin Mừng và kêu gọi quần chúng ăn năn sám hối như ÐTC. Tôi chỉ
là “bố đời,” với một vợ và năm con. Nhưng tôi cũng là môn đệ
của Chúa Giêsu. Như “Nhóm Mười Hai” được sai đi từng hai người
một, hai đứa chúng tôi cũng được tiền định sống chung một nhà và
“ở lại đó cho đến lúc ra đi” (Mc 6:10) khỏi trần gian này. Gia
đình tôi thật nhỏ bé. Nhưng vấn đề lại quá lớn đến nỗi tôi
không thể giải quyết nổi. Làm sao tôi có thể tha thứ người vợ
tôi bây giờ ? Làm sao tôi có thể chấp nhận nổi những lối sống
quá mới của những đứa con tôi ?
Suy đi nghĩ lại,
tôi thấy mình chưa thuộc bài học Chúa dạy các môn đệ hôm nay.
Tôi mới chỉ là môn đệ trên sổ sách và trong những nghi thức.
Thực tế, tinh thần hưởng thụ của tôi còn rất cao độ. Hai vợ
chồng tôi “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm giờ
nghỉ.” Vậy mà cũng không đủ tiền trả bill, bảo hiểm, sắm sửa,
tậu nhà cửa và xe hơi mới v.v. Tôi hoàn toàn tin tưởng của cải
vật chất sẽ đem lại hạnh phúc cho gia đình tôi. Nhưng sao cuộc
sống chúng tôi vẫn không hạnh phúc ? Tương lai vẫn không sáng
sủa ?
Nhìn vào “Nhóm
Mười Hai,” tôi thấy mình không giống ai. Cuộc sống họ khác
hẳn. Không có tương lai. Hiện tại cũng không. Không phải Chúa
không tiên liệu hay lo lắng cho cuộc sống của họ. Nhưng Người
muốn họ siêu thoát. Có thế, họ mới thấy được tất cả sức mạnh và
hạnh phúc của họ ở chỗ nào. Không những phải tước lột những thứ
bên ngoài, nhưng cả mạng sống nữa. Bởi vậy, họ luôn sống phó
thác vào Thiên Chúa quan phòng. Vào nhà nào, họ không mong được
hưởng thụ, nhưng luôn phục vụ. Họ tìm mọi cách rao giảng Tin
Mừng cứu độ. Nhìn vào lối sống và nghe lời kêu gọi sám hối,
chắc chắn mọi người biết phải làm gì để được hạnh phúc và bình
an.
Càng suy nghĩ
tôi càng xấu hổ. Ðược sai đến gia đình này, tôi đã nói năng và
hành động như thế nào ? Tôi có tiếp nhận vợ con tôi không ?
Tôi có lắng nghe những nỗi khổ tâm của họ không ? Tôi có sẵn
sàng cởi mở để đối thoại không ? Tôi có đại lượng đủ để tha thứ
không ? Tôi có khiêm tốn đủ để nói một lời xin lỗi bao giờ
không ? Câu trả lời cho mấy chục năm chung sống là : KHÔNG!
Rõ ràng tinh
thần hưởng thụ đã ăn quá sâu vào nếp sống của tôi. Không phải
chỉ có một xe hơi, nhưng tôi còn có đủ kiểu xe cho những nhu cầu
làm ăn và đua đòi nữa. Có đếm cả ngày, vợ con tôi cũng không
thể liệt kê những quần áo, giầy dép, đầu máy, tivi, đĩa nhạc
v.v. của tôi. Chiều về tới nhà, tôi đã lao nhanh vào bộ ghế
salon, tay cầm chiếc remote control, bật hết đài này sang đài
khác, mặc kệ người vợ một mình loay hoay trong bếp. Ðợi nàng
nấu xong, tôi lao ngay ra bàn ăn, xúc vội chén cơm chạy ra salon
tiếp tục coi nốt trận banh túc cầu thế giới hay bộ phim chưởng.
Một mình chẳng nói chẳng rằng. Ngày nay tiếp ngày kia, tôi
sống như bóng ma trong gia đình. Nhà tôi toàn ma với quỷ !
Cuộc đời cứ trôi
đi. Tôi không còn thời giờ nghĩ đến người khác nữa. Thực sự,
chúng tôi chăng bao giờ gặp gỡ nhau. Chính vì không gặp gỡ
nhau, nên chúng tôi cũng chẳng gặp được Thiên Chúa. Còn gì
thiệt hại hơn nữa không ?! Tiếc quá ! Phải làm gì bây giờ ?
Phải có Chúa,
tình yêu chúng tôi mới được thanh tẩy và trưởng thành. Từ đó,
tình yêu mới hoàn toàn là của con người và trở thành nguyên ủy
sinh ra niềm vui đích thực và lâu dài. Nếu biết mình được kêu
gọi để “loan báo sức mạnh tình yêu chân thực,” chúng tôi đã biến
gia đình thành trung tâm truyền giáo rồi. Mấy chục năm sống
trong nhà này, nếu vợ chồng tôi luôn nói lời bình an và sống Tin
Mừng, chắc chắn gia đình tôi đã trở thành nơi mọi người gặp gỡ
Thiên Chúa. Chắc chắn chúng tôi đã gần hoàn thành sứ mệnh thông
truyền đức tin cho con cái rồi.
Phải làm lại
cuộc đời thôi ! Phải biến gia đình thành một lớp để mọi người
học cách “cho đi và đón nhận tình yêu.” Thái độ của ÐTC tại Tây
Ban Nha làm cho tôi suy nghĩ vô cùng. Người luôn giữ thái độ
tích cực và lạc quan về tương lai các gia đình và nhân loại.
Người lên tiếng với các gia đình : “Hãy sống hạnh phúc.” “Gia
đình nào yêu nhau sẽ sống hạnh phúc !” Thật là đơn giản những
lời khuyên nhủ chí tình của ÐTC cho các gia đình khi viếng thăm
Valencia, Tây Ban Nha.
Lạy Chúa, xin
cho chúng con luôn nhớ đến lời Chúa gọi và sứ mệnh Chúa đã trao
cho gia đình con ! Xin Chúa hãy hiện diện trong gia đình con,
để nước lã có thể biến thành rượu ngon. Nếu không nước lã vẫn
là nước lã. Tệ hơn nữa, rượu ngon có thể biến thành nước lã.
Lạy Chúa, ngày nào tình yêu chúng con còn thơm ngon như rượu
nồng ngày cưới. Thế mà rượu đã biến thành nước lã từ bao giờ.
Chán quá, Chúa ơi ! Con biết không những Chúa đã gọi và sai
chúng con vào căn nhà này, nhưng còn ban cho chúng con quyền
trên các thần ô uế và trừ quỷ nữa (x. Mc 6:7:13). Chúa biết rõ
trong nhà con đang có những quỷ dữ nào hoành hành. Bao giờ con
mới có thể trừ được chúng đây ? Lạy Chúa, xin đừng xa con !
Amen.
dzuize@gmail.com |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Chỉ sống trong giờ phút hiện tại… |
|
Thể theo những tin tức khoa học mới nhất của tác giả người Anh
Douglas N. ARONE, bao lâu còn ở trong cung lòng của Mẹ, thai sinh
chỉ biết sống “ Giờ phút hiện tại”. Hẳn thực, trong chu kỳ thứ nhất,
khi bà mẹ nằm xuống và từ từ chìm mình vào giấc ngủ, im lìm và bất
động, thai sinh lúc bấy giờ trải nghiệm những giây phút hãi hùng và
lo sợ về tính mệnh của Mẹ. Tuy nhiên, thay vì bị tê liệt và tràn
ngập do những xúc động ấy, thai sinh thực hiện mọi động tác trong
tầm tay và khả năng của mình, nhằm đánh thức mẹ, thu lượm một vài
tin tức về Mẹ, chẳng hạn như đưa tay đánh mạnh vào thành tử cung,
dùng chân đạp tới đạp lui.
Sau khi đã thấm mệt, không còn sức để thực hiện những cử động, thai
sinh dùng tai để nghe ngóng nhịp tim của Mẹ…
Dùng làn da để tiếp cận những âm thanh xuất phát từ các cơ quan nội
tạng của mẹ cũng như từ môi trường bên ngòai. Nhờ vào những học tập
nho nhỏ ấy, thai sinh đã chuẩn bị ngày đi ra, sau chín tháng mười
ngày phát triển và tăng trưởng trong tử cung của mẹ .
Thế rồi, vừa khi mẹ đứng dậy, di chuyển từ nơi nầy qua nơi khác,
thai sinh lập tức, bước qua một chu trình hân hoan, sung sướng và an
bình. Bao nhiêu kinh hòang và lo sợ đã có mặt trước đó một vài phút,
đều tan biến, cơ hồ những đám mây đen không còn tồn tại, khi Anh
Bình Minh xuất hiện trên bầu trời và báo hiệu một ngày mới đang chổi
dậy và vươn lên.
Theo lối nhìn của tác giả Spencer JOHNSON, bao lâu chúng ta biết
sống trong “ giờ phút hiện tại”, hiện tại ấy đang trở thành “một
quà tặng diệu kỳ và cao cả” trong tầm tay thực hiện của chúng ta
Nói khác đi, khi chúng ta tập trung vào những gì mình đang làm, tâm
trí của chúng ta không thể nào lang thang, phiêu bạt ở một nơi khác-
đã qua hay là chưa tới – Chúng ta chỉ chú ý vào những gì đang thực
sự diễn ra trong hiện tại mà thôi.
Hẳn thực, Thiền học dạy chúng ta :
“ Quá khứ đã qua rồi,
“ Tương lai thì chưa tới,
“ Hiện tại ở trong tay tôi,
“ Chính tôi làm nên hiện tại,
“ Cho bản thân và cuộc đời.
“ Tôi áp dụng phương thức:
“ Cháo nóng húp quanh,
“ Kiến tha lâu đầy tổ.
Trong tinh thần và lăng kính ấy, quá khứ chỉ là một bài học dạy tôi
biết nói ‘KHÔNG” với những gì tạo ra khổ đau và sai lầm, để “không“
lập lại vòng luân hồi tối tăm và luẩn quẩn, “ một cách quyết tâm,
sáng suốt và can trường“
Tương lai, trái lại, là một dự án, chúng ta đang thực hiện ngày hôm
nay, với những bước đi lên thiết thực và cụ thể. Chính vì lý do nầy
Niết Bàn hay là Thên Đàng sẽ chẳng bao giờ là “ Quả sung” tình cờ
rơi vào miệng. Đó là một con đường chúng ta đang đi ngày hôm nay,
trong chính giờ phút hiện tại nầy.
Nói khác đi, Thiên Đàng chỉ là một ảo tưởng, nếu mỗi người không
ngày ngày “ lên kế họach” để bước từng bước đi tới, với tất cả trí
thông minh và tấm lòng cương quyết.
Nói tóm lại, để giờ phút hiện tại có thể trở thành cho bản thân và
cuộc đời của chúng ta, một quà tặng quí hoá và cao cả, chúng ta có
ba cách làm:
Thứ nhất, trong hiện tại, tập trung vào điều quan trọng và có ý
nghĩa.
Thứ hai, dùng quá khứ như một bài học, để can trường từ chối những
lối mòn tạo khổ đau và tình trạng nô lệ cho chính mình và anh chị em
đồng bào.
Thứ ba, họach định cho tương lai, và lên kế họach, để biến tương lai
thành hiện thực hay là những bước đi cụ thể hằng ngày.
Sàigon, Hè 2006
Gs. Nguyễn Văn Thành
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
“Thuận vợ thuận chồng tát bể đông
cũng cạn” |
|
NHỮNG VẤN ĐỂ CỦA GIA ĐÌNH
“Thuận vợ thuận chồng tát bể đông
cũng cạn”
Đại hội các Gia đình Công giáo Thế Giới đang tiến hành tại thành phố
Valencia, Tây Ban Nha từ ngày 01-07 đến 09-07-2006, Đức Thánh Cha
Biển Đức XVI đang đến tham dự Đại hội này.
Ban tổ chức dự đoán sẽ có trên một triệu rưỡi Tín hữu đến tham dự
Thánh lễ bế mạc vào sáng Chúa nhật mùng 09-07-06. ĐTC Biển Đức XVI
thi hành mạnh mẽ việc bảo vệ Gia đình từ thời ĐTC Phaolô VI đề ra.
ĐTC đương kim đã ưu tiên chọn sự bênh vực Gia đình, vì nếu Gia đình
sụp đổ thì Giáo hội và Thế giới cũng sụp đổ theo.
Ngài nói: Các Mục tử hãy hăng say rao giảng Tin Mừng về Gia đình,
như một con đường để giúp họ sống đạo và cầu nguyện chung, gần guĩ
nhau. Các nhân viên Mục vụ Gia đình tại các Giáo phận, các LM, Phó
tế, các Tín hữu đều tích cực tham gia để các Gia đình có đủ sức đối
phó với mọi hòan cảnh khó khăn đang đe dọa hiện tại.
Nhiều cha mẹ vắng bóng; các ông bà nội ngoại ngày càng dấn thân săn
sóc các các cháu, dù đã già yêú, để trong đó không ai bị cảm thấy
mình bị loại trừ. Dạy cách cầu nguyện trong Gia đình thật quan
trọng. Vì nơi nào người ta cầu nguyện chung với nhau, thì có sức
mạnh của Thần Khí Chúa nâng đỡ và phá vỡ âm mưu ma quỷ. Các Gia đình
hãy cùng cầu nguyện và hành động với Giáo hội, rồi sẽ tìm được nhiều
phương thức khác nhau.
Đại hội Giới trẻ VN trong ba ngày qua từ 01- đến 03-07-2006 tại Cali
Hoa kỳ,,tại Giáo phận Phan Thiết Việt nam, với hàng ngàn thanh niên
nam nữ tham dự, Đại hội về Gia đình tại Saigon vừa qua đã nói lên sự
lưu tâm của các Mục tử, các Tín hữu, các Gia đình đều cộng tác tích
cực bảo vệ Gia đình và Giới trẻ đến mức nào.!
Tuy nhiên, các nạn nhân của “sa mạc tình thương” ngày nay chính là
các thanh thiếu niên, họ rất đau khổ về sự thiếu tình thương trong
thế giới ngày nay. Đúng vậy, sự cô đơn của họ không được cha mẹ cảm
thông,. Người trẻ thường tới các tiệm nhảy disco, tìm cách đứng sát
nhau, nhưng trong thực tế họ lại đang bị cô đơn nặng nề, và cảm thấy
đau khổ vì không được cảm thông.
Ngày nay, người cha thường vắng bóng trong sự huấn huyện tại gia
đình, người mẹ thì cũng phải làm việc ngoài xã hội. Sự hiệp nhất của
họ rất mong manh. Mỗi người sống theo thế giới của mình vế ăn tiêu,
giải trí. Họ là những hòn đảo về tư tưởng và tâm tình, ít hiệp nhất
với nhau, nếu không mời Chúa làm chủ Gia đình và liên kết lại thì :
“ai giữ mạng sống mình thì sẽ mất…”, vì họ cô lập với người khác.
Nhưng nếu họ nhờ ơn Chúa vượt thắng để cảm thông thì mọi sự sẽ tốt
đẹp, bình an và hạnh phúc sẽ đến với Gia đình họ.
Ngày 02-03-06 ĐTC Biển đức 16 đã gặp gỡ 800 LMục và Phó tế đang phục
vụ trong 330 Giáo xứ ở Rôma. Ngài đã lần lượt trả lời 15 câu hỏi
trong 2 giờ đồng hồ liên quan đến đời sống Mụ vụ Gia đình như: Thăng
tiến Hôn nhân Gia đình, sự sống con người, huấn luyện giới trẻ, vai
trò phụ nữ trong Giáo hội, mục vụ nhà thương.
Thuận vợ thuận chồng, tát bể đông cũng
cạn.
Câu chuyện cụ thể về vợ chồng nhà tỷ phú Melinda và Bill Gates sau
đây sẽ nói lên sự hợp nhất vợ chồng có kết qủa to lớn như thế nào?
* Tôi và Bill có chuyến nghỉ mát tại châu Phi vào năm 1993, nhìn
thấy những trẻ con chết hàng loạt vì căn bệnh tiêu chảy. Chúng tôi
tự thấy mình phải có trách nhiệm tìm hiểu sự thật. Nỗi sợ hãi khi
quay về quá khủng khiếp, đến độ không dám hy vọng. Nhưng điều đó đã
thức tỉnh tôi và Bill cùng nhau quyết định, ra tay hành động.
Cả hai vợ chồng tôi đã cùng nhau đến nhiều nước trên thế giới để xem
tình hình bệnh lao và tiêu chảy. Khi viếng thăm các bệnh viện và
những ngôi làng nghèo khổ, họ hy vọng các phát triển trong khoa học
điều trị sẽ sớm đến với những người nghèo và sẽ cứu được hàng triệu
con người bệnh tật trên thế giới đang cần đến.
Quỹ từ thiện của vợ chồng Bill và Melinda Gates đã ra đời hoạt động
quy mô vào năm 1997 và chính thức khai trương vào năm 2000. Tất cả
tập trung vào lãnh vực giáo dục, y tế toàn cầu, đến nay đã lên tới
28,8 tỷ đô la. Với ba đứa con nhỏ, Melinda cảm thấy hạnh phúc khi
được cùng chồng đi khắp nơi, gặp gỡ nhiêù trẻ em và giúp đỡ cha mẹ
chúng những nhu cầu cơ bản để nuôi con. Với bà, “mỗi nhân mạng
đều giá trị, bất kể khoảng cách nào trong xã hội.”
Ứớc mong các Gia đình Việt Nam dù giầu hay nghèo, đều hiệp nhất với
nhau và có tấm lòng nhân ái như Gia đình này.
Phó tế: GB Huyền Đồng- Nguyễn Văn Định
* johndvn@yahoo.com
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
LỐI ĐI VEN THEO BỜ VỰC
THẲM |
|
Để đến với Thiên Chúa, con người chỉ có một
lối đi duy nhất : đó là lối đi ven theo bờ vực thẳm của thân
phận thụ tạo. Chúa Giê-su đã nói : “Hãy qua cửa hẹp mà vào Nước
Trời”. Quả thế, con đường dẫn đến quê trời là một con đường hẹp
và dốc dác chênh vênh, tương tự như con đường lên đỉnh đồi
Gôn-gô-tha với cây thập giá nặng nề trên vai. Hay nói một cách
tượng hình như Nikos Kazantzakis trong cuốn tiểu thuyết về cuộc
đời thánh Phan-xi-cô thành Át-xi-di : ta đang đứng trên một rẻo
đất chỉ đủ để đặt bàn chân, ở giữa hai vực thẳm : một của Thiên
Chúa và một của ma quỷ. Trong cái thế chênh vênh hiểm nghèo đó
tôi được mời gọi để tiến lên. Tiến lên bằng cách nào?
Kazantzakis trả lời : “Nhảy!”
Thánh Phan-xi-cô đã thúc roi vào con lừa
của ngài, và sau vô vàn lần té qụy, ngài đã thực hiện thành công
cú nhảy ngoạn mục : ngài đã nhảy vào Nước Trời !
Còn tôi, tôi là một con người cực kỳ yếu
đuối. Tôi không đủ sức cũng chẳng đủ can đảm để làm một cú nhảy
vọt kinh khủng như thế. Đức tin của tôi còn quá non nớt để có
thể hoàn toàn phó thác vào Chúa như thánh Phan-xi-cô. Thực tình
là tôi không dám nhảy ! Nhưng tôi vẫn phải tiến lên. Trên cái
rẻo đất hẹp chỉ vừa đủ đặt bàn chân này, tôi vẫn phải tiến lên !
Thật là một cơn chóng mặt khủng khiếp. Tôi không dám nhìn xuống
đáy sâu vực thẳm của Sa-tan, cũng không dám nhìn lên chốn vô
cùng của Thiên Chúa. Tôi không đủ sức để làm như thế ! Tôi chỉ
biết nhìn xuống chân mình, cẩn trọng nhích từng tí một trên cái
rẻo đất chênh vênh ấy. Tim tôi thắt lại, mồ hôi vã ra, chân tôi
run rẩy. Đi đứng làm sao trong tình trạng khốn khổ như thế ? Tôi
hoảng sợ muốn rời bỏ cuộc phiêu lưu sinh tử này. Nhưng không thể
được. Hai bên đều là vực thẳm. Rẻo đất thì quá hẹp để tôi có thể
quay trở lại, và đào thoát còn đồng nghĩa với tự hủy diệt. Chỉ
còn một cách duy nhất là tiến lên ! Ơn gọi làm Ki-tô hữu là như
thế đó. Căng thẳng, tràn đầy nguy hiểm trong mọi giây phút.
Nhưng có chấp nhận như thế thì mới đến được Đất Hứa. Giữa hai
vực thẳm không còn một lối đi nào khác !
Chúa Giê-su đã nói: “Thầy là Con Đường, là
Sự Thật và là Sự Sống”. Một Con Đường, một Sự Thật, một Sự Sống
đòi tôi phải luôn bám chặt lấy. Rời khỏi Ngài là đi vào hủy
diệt: “Cành nào không liên kết với Thầy sẽ bị khô héo”. Chúa
Giê-su Ki-tô là Con Đường giữa hai vực thẳm. Ngài đã nhập thể,
đã hiến mình chịu chết, và đã sống lại để mở ra cho nhân loại
một con đường sống, một lối đi rất hẹp nhưng là lối đi duy nhất
dẫn đến cứu thoát. Không có Chúa Giê-su Ki-tô, con người không
cách gì vượt qua được hai vực thẳm này. “Không ai đến được với
Cha mà không qua Thầy”. Đức Ki-tô đã khẳng định dứt khoát như
thế.
Lối đi ven theo bờ vực thẳm. Lối đi lên
đỉnh Gôn-gô-tha. Lối đi duy nhất dẫn đến Nước Trời. Tôi đang đi
trên lối ấy. Chênh vênh, căng thẳng. Nhưng đó là con đường dẫn
đến Sự Sống. Không chấp nhận chênh vênh căng thẳng ấy thì chỉ
còn cách đào thoát khỏi ơn gọi Ki-tô hữu của mình, và đào thoát
có nghĩa là tự hủy diệt !
Lạy Chúa, xin cho con khiêm tốn, can đảm và
trung thành tiến lên trong chênh vênh căng thẳng này. Amen ./.
Trầm Tĩnh Nguyện
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
|
|
Xin bớt
giận, xin đừng quá nóng!
Hãy
khoan khoan giải quyết, vội chi
Chớ
dùng lời nặng như chì
Để làm
sáng tỏ những gì nhẹ bông!
Xin
đừng dùng thậm từ ghê gớm
Đừng
lăng nhục, đừng “đốn” đối phương
Cũng
đừng giở giói trăm đường
Hòng
dồn “kẻ địch” đến phương cùn quằn!
Xin hãy
êm dần cơn thịnh nộ
Xin
nghĩ rằng rất hố chửi la
Cầm li
nước lạnh tà tà
Uống
thật chậm rãi là ta thành hiền!
Lỗi của
người có thật đi nữa
Lỗi của
ta cũng có vậy thay
Khiêm
cung, nhu thuận, ông thày
Khoan
dung, tha thứ chẳng hay càm ràm!
Hãy
sống đúng thứ bậc ta đứng
Là cha
con, chồng vợ, anh em
Chính
danh sau trước làm nền
Mọi
người hòa thuận mới nên hoà bình!
Lí đâu
lí chẳng qua tình!*
Bút
Xuân TRẦN ĐÌNH NGỌC
Thành ngữ: ”Bên ngoài là lí, nhưng
trong là tình.”
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Tại sao cần Rửa Tội
cho trẻ con ? |
|
Hỏi: Tại
sao phải rửa tội cho trẻ con? Sao không để cho chúng lớn lên, có đủ
trí không để tự quyết định việc này ?
Trả lời:
Phép Rửa (baptism) vô cùng cần thiết cho việc cứu rỗi như Chúa
Giêsu đã dạy: “ ai tin và chiụ phép rửa thì được cứu rỗi. Ai không
tin sẽ bị luận phạt” (Mc 16,16).
Chính vì tầm quan trọng này của phép rửa mà mọi
người tin Chúa Kitô đều phải được rửa tôi để được tha thứ mọi tội
lỗi nhất là tội nguyên tổ do Adam và Eva để laị.Nhờ phép rửa, chúng
ta được tái sinh trong sự Sống mới, đựợc giao hòa laị với Thiên Chúa
trong tình yêu và đựợc gọi Chúa là CHA ( Abba).( x. Rm 8,15)
Nói chung, làm cha mẹ thì ai cũng vì tình
thương và trách nhiệm mà phải lo những sự cần thiết cho con cái như
nuôi nấng, daỵ dỗ ngay từ bé. Không cha mẹ nào cần hỏi ý kiến con
cái xem chúng có thích ăn uống không mà cứ tự nhiên cho con mình
ăn uống những thực phẩm xét là cần thiết cho sự sống và tăng trưởng
cơ thể của chúng. Khi con cái đau ốm, không cha mẹ nào cần hỏi xem
con có muốn được chữa trị hay không nhưng cứ nhiên lo thuốc men cho
con được lành khoẻ. Cũng không có cha mẹ nào cần hỏi ý kiến con mình
xem chúng có muốn nói tiếng “mẹ đẻ” không hay cứ tự động dạy con
nói tiếng của mình ? Tại sao không chờ cho nó lớn khôn rồi để
chúng tự chọn ngôn ngữ muốn nói mà mẹ lại dạy con ngay từ bé ngôn
ngữ của mình ? Như thế có vi phạm “quyền tự do” của con cái không?
Laị nữa ,khi con còn bé, tại sao cha mẹ lại tự động cho con đi học
Vuờn trẻ, Mẫu giaó, Tiểu học … mà không chờ cho chúng lớn lên để
hỏi xem chúng có bằng lòng đi học không? Vậỵ nếu trong phạm vi tự
nhiên màvì tình thương và trách nhiệm, cha mẹ phải tự động lo cho
những nhu cầu thể lý, trí năng của con cái mình thì lại càng có
trách nhiệm lo cho chúng về mặt thiêng liêng cần thiết hơn thế
nữa.Nếu nhờ đức tin, cha mẹ hiểu được sự cần thiết và quan trọng
của phép rửa, thì có lẽ nào laị lơ là trong nhiệm vụ tối quan trong
này cho con cái mình dù chúng còn bé chưa thể tự quyết định được.
Chính vì lợi ích thiêng liêng này mà Giáo Hội
daỵ phải rửa tội cho trẻ con sau khi chúng được sinh ra vì “trẻ con
cũng cần ơn tái sinh của phép rửa để thoát khỏi quyền lực của bóng
tối và được mang vào vòng tự do của con cái Thiên Chúa” (x. Sách
Giáo lý Công Giáo ,số.1250)
Nói rõ hơn, theo giáo lý của Giáo Hội thì mọi
ngươì sinh ra đều đã sinh trong bản chất sa ngã của loài ngươì
(fallen human nature) nên đều mang vết tích của tội tổ tông (orginal
sin) ngay từ khi còn trong lòng mẹ. Vì thế, nếu cha mẹ là ngươì có
đức tin, đã nhận biết có Thiên Chúa thật, thì cần thiết phải lo cho
con cái được rửa tội để chúng cũng được tái sinh trong sự sống mới
về mặt thiêng liêng và lớn lên trong ơn sủng này. Đây là trách
nhiệm thiêng liêng Chúa trao cho những người làm cha mẹ bên canh
những trách nhiệm tự nhiên khác.
Mặt khác, ngoài bổn phận lo cho con cái được
sớm lãnh nhận bí tích rửa tội, cha mẹ còn có trách nhiệm vun trồng
hạt giống đức tin được gieo vào tâm hồn chúng khi được rửa tội
nữa. Nếu không có công vun trồng này bằng gương sống đức tin và daỵ
dổ cho con cái thêm nhận biết Chúa thì hạt giống đức tin kia sẽ
không thể lớn lên và sinh hoa trái gì cho người đã chịu phép rửa. Đó
cũng là lý do cần cho trẻ được rửa tội sớm để cha mẹ chăm lo cho đời
sống đức tin của con cái lớn lên trong môi trường gia đình.
Vậy không thể chiều theo đòi hòi của thời đại
về quyền tư do chọn lưạ của con cái mà trì hoãn việc bổn phận thiêng
liêng quá quan trọng này.
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn
Huấn
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Zidane ơi… |
|
“ Hê hê, đứa nào giấu dép của chị rồi?”.
Lam đứng dậy tìm dép khi trong tài trên ti-vi vừa thổi hồi còi
chấm dứt hiệp nhất của giải vô địch World Cup 2006 giữa hai đội
Pháp và Ý. Linh ngồi gần Lam, vừa cười vừa chọc thêm: “May mà
người ta chưa dấu bóp của em đấy”. Thực ra, vào phút thứ 20, khi
Ý vừa gỡ đều tỉ số 1-1 thì cô bé có tên là Li-lac đã ghé tai tôi
nói nhỏ: ”Để em giấu dép chị Lam. Ở đó mà hô Zidane với
Henry…”.
Hôm trước, tôi đã tưởng không được coi trận
giành giải ba giữa Đức và Bồ Đào Nha vì đám giỗ bà Dì mới chết
bên ViêtNam, nhưng vì trời nóng nên buổi đọc kinh được
bà ngoại ‘cho phép’ dời đến tối. Quá đã. Đội Đức mà tôi đoán sẽ
vào tứ kết được hạng ba thì cũng vui rồi.
Sáng qua cũng tưởng phải ‘hộ tống’ cha giáo
V. mới từ Việt Nam sang Mỹ du lịch đi làm lễ cho một nhóm trẻ
nên tôi đã phải ‘cắn răng’ nói lời ‘hy sinh’ với Chúa và dặn kỹ
đứa con gái rì-co lại trận chung kết cho bố. Thấy tôi can đảm
chưa? Nhưng ‘Chúa Thưong’, cũng tại nóng nên Thánh Lễ
cũng được anh Tài - trưởng nhóm - dời lại. Lần này, không phải
vì trời nóng mà vì người nóng.
Thế là cai ti-vi lớn với màn ảnh phẳng mà
đức cha Mai Thanh Lương mới mua cho trung tâm được…bật lên
để…thử.
Thế là Chúa đã thưởng công cho người biết
hy sinh. Tôi được xem trận đấu từ đầu đến cuối với một nhóm trẻ
rất trí thức và dễ thương. Bác sĩ trẻ, giáo sư trẻ, kỹ sư trẻ,
thương gia trẻ… có đủ cả. Các cô đông hơn các cậu và phát biều
cũng nhiều hơn - có người rất điệu nghệ, cũng có người rất ngây
ngô - nhưng đa số đều ủng hộ đội ‘Spaghetti’. Chỉ có Lam là
người chạy theo đôi ‘Jambon’ và cố kéo cha khách về phe. Tôi
trung lập, nhưng trong lòng thì hơi muốn Ý thắng vì nghĩ rằng
Pháp đã thẵng World Cup lần trước.
Không phải người xem bóng đá chuyên nghiệp,
tôi cũng thấy trong hai hiệp phụ, các cầu thủ của hai đội đều
mệt nhoài và đưa bóng kém chính xác -đường dài cũng như đường
ngắn. Cho đến khi Henry bị chuột rút phải ra ngoài và Zidane bị
phạt thẻ đỏ thì tôi thật sự lo cho đội Pháp: biết đâu lại bị 2
quả trong một phút như đội Anh thì buồn quá.
Gìơ đá phạt luân lưu sắp đến vì.. phải đến.
Đám bạn trẻ bàn tán “Thủ môn Ý hay.. nhất, chỉ sau thủ môn Đức”.
“Thủ môn Pháp kinh nghiệm nhiều hơn, bình tĩnh hơn.”. “Pháp mất
hai chân đá phạt...”. “Ý đá phạt không hay…”. Nhưng dù hay dù
dở, dù kinh nghiệm hay không kinh nghiệm thì cả hai thủ môn
Barthez và Bouffon đều bay về bên trái còn banh thì lọt vào góc
lưới phải và ngược lại. Pháp thua với tỉ số 3-5 vì Trezeguet của
Pháp đá trúng thành gôn và bóng dội ra ngoài làm có người tếu
táo kêu lên “Thành gôn cứu nguy”.
Rồi World Cup chấm dứt. Người ta không bàn
về cú đá phạt ở chấm 11 mét của Zidane ghi bàn thắng cho Pháp ở
phút thứ 8 hay cú đội đầu của Materazzi gỡ đều 1-1 cho Ý, nhưng
lại bàn nhiều đến cú húc đầu của Zidane vào ngay ngực của
Materazzi. Phải nói đây là cú húc rất đẹp và chính xác, y như
con cá thia thia nhắm thẳng đối thủ phóng vào vậy. Lam buồn,
quay mặt vào tường: “Có làm sao người ta mới húc chớ. Cho Ý thẻ
đỏ trước đi”.
Sáng nay vào sở tôi nhận đựoc cái email của
người bạn từ Saigon gởi cho hai người bạn ở Pháp và một người
còn ở Saigon có con gái vừa cưới một chàng sĩ quan hải quân pháp
mới toanh như sau:
Th, T, B,
Cuối cùng thì đội tuyển Pháp cũng được hạng
hai. Trận túc cầu hay quá, nhưng đoạn kết của Pháp lại hơi buồn,
anh chàng đội trưởng Zidane chỉ một giây không kiềm chế, đâm ra
ngu xuẩn, để lại vết nhơ cho sự nghiệp sáng chói của mình, và
nỗi buồn cho người Pháp, vốn nổi tiếng là lịch sự nhất thế giới.
Tục ngữ Việt Nam có câu: “No mất ngon, giận mất khôn”, truờng
hợp này quả không sai.
Em cổ vũ hết minh cho nước Pháp của hai
bác, cũng buồn lây, biết sao được, đó cũng là điều để cho cánh
già mình chiêm nghiệm.
Bách ơi, Mày phải coi chừng chàng rể quí
của mày, nó mà húc một phát là con mày tiêu tùng đó.
Ng.
Máu mê bóng đá
vẫn còn đang chạy trong người nên tôi đọc thêm mẫu tin trên
tờ Thanh Niên online
Zidane - cầu thủ xuất sắc
nhất World Cup 2006
Với số điểm 2012, Zinedine Zidane
đã được các nhà báo bình chọn là Cầu thủ chơi hay nhất World Cup
2006. Người về nhì là thủ quân đội tuyển Ý - Fabio Cannavaro với
1977 điểm và Andrea Pirlo về thứ 3 với 715 điểm.
Các nhà báo đã tham
dự cuộc bỏ phiếu kín để bầu chọn cầu thủ xuất sắc nhất World Cup
2006 lần này. Mặc dù bị thẻ đỏ trong trận chung kết với tuyển Ý,
nhưng Zidane vẫn được các nhà báo tín nhiệm và bỏ phiếu bầu
chọn.
Trước đây Zidane
từng giành được danh hiệu cầu thủ hay nhất tại World Cup năm
1998, anh tuyên bố sẽ giã từ sân cỏ sau khi tham dự World Cup
lần này với tuyển Pháp.
Cũng tối qua trên đường đi Riverside, cha
giáo V. hỏi tôi:
- Trường
hợp cha P. thế nào rồi?
- Theo
con được biết thì Tòa Giám Mục đã cho Ngài đi luôn.
Không thấy cha giáo nói gì, tôi tiếp:
- Con
nghĩ nếu một Linh Mục không dứt khoát được cuộc sống độc thân
thì Giáo Hội nên để cho họ hồi tục để khỏi phiền cho chính đương
sự và cho giáo dân. Chắc Chúa cũng rộng lượng thôi cha nhỉ.
- Ừ
thì chắc Giáo Hội phải cho cha ấy hồi tục thôi.
Một lát sau, cha giáo chia sẻ:
- Bốn
mươi năm làm Linh Mục và trông coi giáo dân cha thấy nơi tu sĩ
cũng như người thường, cái biên giới giữa thánh thiện và tội lỗi
nó mong manh lắm, giữa danh dự, kiêu ngạo, sa ngã, và tủi nhục
cũng vậy… Khôn 30 năm, nhưng dại một ngày, có khi một giờ. Nhưng
điều quan trọng là phải thoải mái, cởi mở với những người có
trách nhiệm và bạn bè. Đừng giữ kín điều gì cho chính mình hoặc
chiu đựng một mình. Mà nếu có gì đi nữa thì chịu khó đứng lên,
làm lại, bắt đầu lại. Chẳng ai khinh rể gì. Cha A. là một tấm
gương…
- Con
người yếu đuối lắm cha nhỉ. Con nhớ Đức Cha BT có lần chia sẻ:
“Các Linh Muc tu trì ít nhất cũng 10 năm trước khi chịu chức.
Rồi trước khi chịu chức thì cầu nguyện, cấm phòng, bàn hỏi… rất
kỹ. Vậy mà vẫn có những người không sống được điều mình đã tự
nguyện… Trong khi cuộc sống gia đình thì không được như vậy.
Người con trai và con gái chỉ biết nhau một thời gian rồi lấy
nhau. Biết bao nhiêu điều không biết trứơc… Cho nên…”
Trời khuya xa lộ vắng nên câu truyện chưa
hết thì xe đã tới cửa nhà người thân của cha.
Bây giờ trở lại với Zidane.
Đài BBC nói Zidane không xuất hiện trong lễ
treo giải, anh cũng chưa hề nói tại sao có hành động vô cùng
đáng buồn như vậy. Một tờ báo Pháp viết: “Thiên Thần Xanh Bleu
không còn nữa…Thần tượng của các con tôi đã gẫy cánh…”
Nếu là Zidane lúc này
thì bạn sẽ làm gì?
Nếu là Zidane, tôi sẽ làm nhưng việc này:
- Đi
đến Loudres, tìm một chỗ yên ắng, ngồi thiền một giờ. Cầu nguyên
một tí cũng được. Rồi:
- Gọi
điện thoai cho đồng đội: “Xin lỗi tụi em, anh nóng quá.”
- Nói
với nước Pháp: “Tôi đã từng chọn nước Pháp làm quê hương và yêu
mến nước Pháp nên tôi không kềm nổi sự tức giận khi bị xúc phạm.
Excusez-moi”
- Nói
với những người hâm mộ: “That’s not right, but…. I am sorry.”
-
Nói với Marterazzi:“Hê, đầu ‘moi’ trọc,
‘toi’ có đau không? Nói cho mọi người biết ‘toi’ đã chửi ‘moi’
cái gì đi. Thực ra cái húc của ‘moi’ không đau bằng những lời
nhạo báng của ‘toi’ đâu?”
Nếu đã từng hâm mộ
Zidane thì bạn phản ững thế nào?
Không thần tượng ai, nhưng tôi vẫn còn giữ
video trân đấu giữa Pháp và Brasil trong World Cup lần trước.
Tôi sẽ viết cho Zidane thế này:
“Zidane đừng buồn nữa. Cậu húc thằng trung
vệ Ý trước cả mắt thế giới là không đúng, nhưng tôi rất thông
cảm với cậu. Vì nếu đang hăng say dành vinh dự cho quốc gia mà
nghe nó nói: “Thằng Rệp da đen, đi làm cu-li cho Tây” thì chắc
tôi cũng húc vào ngực nó như cậu. Có khi còn húc mạnh hơn nữa.
Vì nếu là một siêu sao thể thao thế giới mà nghe nó nói: “Thằng
Mít mũi tẹt. Con của me Mỹ” thì chắc tôi không chỉ húc nó mà còn
bồi thêm cho nó một cú đá giò lái vào chỗ độc nữa.”
Con người mà, mềm yếu lắm, mỏng dòn lắm: “Cái
biên giới giữa Thánh Thiện và Tội Lỗi nó mong manh lắm, giữa
danh dự, kiêu ngạo, sa ngã, và tủi nhục cũng vậy…”
Con người mà cậu. Ở Mỹ, cảnh túm cổ áo thụi
nhau trong sân Baseball, cảnh vất gậy để ục đối thủ trong sân
Hockey, hay cầm ghế rượt nhau trong Basketball cũng xẩy ra như
cơm bữa trên màn hình ti-vi…
Con người mà cậu. Michael Jordan cũng từng
uỵch nhau nhiều lần rồi. Maradonna cũng dùng thuốc kích thích.
Bill Clinton cũng sờ mó lung tung…
Con người mà cậu. Hồi nhỏ chính tôi cũng đã
phang cây vào bụng một tay trong lớp cứ hay lôi tên bố tôi ra để
chế diễu. Bây giờ thì cũng nhiều lần tôi muốn cầm phôn đập lên
đầu tay manager hay chèn ép tôi một cách vô lý, nhưng già hơn
cậu gần 20 tuổi nên tôi kiềm chế được đấy thôi.
Mà thực ra, đã có rất nhiều lần tôi từng
húc người khác rồi mà không biết hoặc húc người khác trong tư
tửơng rồi đấy. Nhưng vì tôi chỉ là hạt cát trong sa mạc nên
không ai chấp, không ai thấy đó thôi.
Yên trí. Cậu vẫn là ‘thần tượng’ của con
trai tôi. Tôi sẽ giải thích cho nó rằng con người yếu đuối và
mỏng dòn. Cậu cũng là người chứ không phải thần thánh: ni ange
ni bête. Hâm mộ cậu – một con người bình thường – thì cũng
phải ‘nhìn nhận’ khiếm khuyết của cậu thôi. We love you just the
way you are.
Yên trí. Cậu vẫn là ‘thần tuợng’ của con
trai tôi, nhưng là thần tượng ở trong ngoặc và không viết hoa
đấy nhá.
Chúc mừng cậu là cầu thủ xuất sắc nhất của
World Cup 2006.
Và cho hỏi nhỏ điều này: Cậu có chọc tức
Materazzi trước không? Ngày xưa lính tráng Algerie các cậu theo
Pháp kéo sang nước Việt Nam của tôi cũng quậy lắm chứ không vừa
đâu.
Nếu có gặp Chúa Giêsu, chắc thế nào Ngài
cũng bảo cậu: “… Thôi đừng húc nữa.”
San Dimas 07/10/2006
Joseph VŨ |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Hành trang đời sống |
|
Mỗi khi đi đâu xa, hay dọn đến chỗ nào lập cuộc
sống mới, thường ai cũng đều mang theo những hành trang vật dụng
cần thiết, mang theo được bao nhiêu có thể. Ðiều này gắn liền
trong đời sống và tốt cùng thiết thực, nhất là với những cha mẹ
nặng lòng lo cho con cái, vợ chồng có trách nhiệm lo cho nhau...
Mỗi buổi sáng đưa con đi học, cha mẹ thường làm
gói bánh mì, nước uống cho con em mình để chúng ăn lúc giờ
nghỉ.
Gia đình đi nghỉ hè, vợ chồng thường lo sắp xếp
quần áo, đồ dùng cá nhân cho mọi người chất lên xe sao cho đủ
dùng trong những ngày nghỉ, nhiều người còn lo mang theo cả
nước, bánh, gạo, bún, mì gói, nước mắm nữa....
Chúa Giêsu sai các thánh tông đồ đi đến với con
người, Ngài lo cho các Ông, lo cho con người. Nhưng Ngài dặn các
ông đừng mang theo gì hết. Các Ông làm theo lời Chúa dặn bảo, và
Tin mừng nứơc Chúa ngày nay làn tràn khắp nơi trên địa cầu.
Phải chăng chỉ như thế đủ là rồi?
Tôi còn nhớ nghe kể lại, mà có lẽ nhiều người đã
đọc sách thuật lại, ngày xưa hồi thế kỷ thứ 17. các nhà truyền
giáo từ Âu Châu sang Việtnam rao giảng tình yêu nước Thiên Chúa,
họ có mang theo những hành trang vật dụng cần thiết, nhưng giữa
đường bị mất cắp, bị chìm tầu thuyền mất thất lạc hết. Nên họ
cũng chẳng còn vật dụng hành trang gì.
Thế nhưng các Ngài đã trở thành những người
không những chỉ lo cho tinh thần con người biết đến Tin mừng đức
tin vào Chúa, nhiều vị còn xây dựng những công trình như nhà thờ
khang trang, trường học, nhà thương nữa, xây dựng thiết kế ra
chữ Quốc Ngữ.
Có những người kể lại, ngày xưa đi lập gia đình,
ngoài bộ quần áo họ chẳng có gì mang theo cả. Nhưng hai vợ chồng
đã dần dần với thời gian năm tháng xây dựng nên tổ ấm gia đình
lớn rộng cả về mặt vật chất nhà cửa của cải cùng con cháu. Ông
Bà, Cha mẹ chúng ta những nhân chứng, là ví dụ sống động cụ thể
giữa chúng ta về điều này.
Không ai chối cãi có „bột mới gột nên hồ“ được.
Nhưng không phải tất cả mọi thứ đều cần phải có vật liệu sẵn mới
có thể làm nên xây dựng được. Như Tình yêu vào Thiên Chúa, tình
yêu vợ chồng, tình yêu con người với nhau đâu bắt buộc có phải
có sẵn nước, bột, đường sữa, gỗ đá hay xi măng cốt sắt mới xây
nặn làm ra tình yêu được!
Tình yêu của đôi vợ chồng trao gửi cho nhau
không dựa trên vật dụng hành trang gì khác ngoài trái tim của
họ.
Trên nền tảng trái tim luân chuyển sự sống cùng
tình cảm đi khắp cùng thân thể, họ xây dựng mái nhà tổ ấm cho
mình.
Trên nền tảng trái tim là trung tâm đời sống con
người, họ cùng nhau xây dựng một trung tâm tình người cho con
cái của họ, cho cha mẹ, anh chị em, họ hàng cùng bạn bè người
quen biết.
Trên nền tảng trái tim là phần sâu thẳm cho đời
sống tâm linh tinh thần đạo đức, họ muốn cùng nhau sống đức tin
vào Thiên Chúa, Ðấng dựng nên và luôn cùng hằng đồng hành với
trong suốt dọc đời sống. Và còn muốn rao truyền tiếp đời sống
niềm tin đó cho con cháu trong gia đình sau này nữa.
Với trái tim, ngày xưa Chúa Giêsu sai các Tông
đồ đi truyền giáo đến với con người trên khắp trái đất. Với trái
tim các vị truyền giáo từ Âu châu sang rao truyền tin mừng nước
Chúa thành công cho mọi người trên đất nước chúng ta. Với trái
tim cha mẹ chúng ta đã sống xây dựng gia đình có nề nếp, sinh
sản dậy dỗ giáo dục con cái là chúng ta nên người.
Với hành trang là trái tim, Ông Bà , cha mẹ, đôi
vợ chồng trẻ nắm tay nhau xây dựng gia đình thành công tốt đẹp
hôm qua, hôm nay và ngày mai!
Lm. Nguyễn ngọc Long
|
|
VỀ MỤC LỤC |
|
|
GIỜ KINH TỐI TRONG GIA ĐÌNH |
|
VÀO ĐỀ
Lần trước, chúng ta đã nói
tới bầu khí đạo đức trong gia đình và những ưu điểm của giờ kinh tối nơi người
tín hữu Việt Nam. Lần này, chúng ta sẽ nói đến những khuyết điểm. Thế nhưng,
trước khi đề cập tới những khuyết điểm, tôi xin kể lại một câu chuyện để vào đề.
Có một ông bố vợ, trong ngày
cưới đã gặp chàng rể, trao cho anh ta một phong thư và nói :
-Đây là tiền hồi môn của con
gái tôi.
Chàng rể về nhà, hớn hở mở
phong thư, thế nhưng trong đó chỉ có một tờ giấy ghi những hàng chữ như sau :
Chịu khó làm việc trị giá
100.000 đồng
Sạch sẽ và làm bếp giỏi trị
giá 100.000 đồng
Không ăn quà vặt và không
chạy theo thời trang trị giá 100.000 đồng.
Tế nhị, dịu hiền và không bép
xép chuyện của người khác trị giá 100.000 đồng.
Đạo đức và sốt sắng trị giá
500.000 đồng.
Cùng với số tiền mặt 100.000
đồng
Tổng cộng hết thảy là một
triệu đồng.
Ông bố vợ đã có một cái nhìn
sâu sắc và đánh giá đúng mức khi cho rằng : tinh thần đạo đức là điều quan trọng
trong công việc xây dựng hạnh phúc gia đình.
Như chúng ta đã nói :
- Gia đình chính là chiếc
gạch nối giữa cá nhân và xã hội. Gia đình nào xã hội nấy. Muốn cải tạo xã hội
trước tiên phải cải tạo từ gia đình. Phải tề gia rồi mới trị quốc và bình thiên
hạ.
Đồng thời, gia đình còn có
một ảnh hưởng sâu đậm trên bản thân chúng ta, vì nó là mái trường đầu tiên dạy
cho chúng ta những bài học làm người.
Bởi đó, để mỗi cá nhân có
được một đời sống đạo đức, chính gia đình cũng phải có một đời sống đạo đức hay
nói một cách khác : đời sống đạo đức của mỗi cá nhân, được phát sinh và bồi
dưỡng nhờ bầu khí đạo đức của gia đình.
Và bầu khí đạo đức của gia
đình, một phần lớn được hình thành và được biểu lộ qua giờ kinh tối.
Vậy đâu là những khuyết điểm
của giờ kinh tối hiện nay, để rồi chúng ta ra sức sửa đổi.
KHUYẾT ĐIỂM
Khuyết điểm thứ nhất, đó là
quá chú trọng về lượng hơn về phẩm.
Chúng ta thích đọc dài, đọc
dẻo và đọc dai. Kéo tràn cung mây từ kinh này tới kinh khác, nhiều khi vừa đọc
vừa ngủ gật, vừa lo ra chuyện nọ và chuyện kia. Chúng ta cứ tưởng rằng càng đọc
nhiều bao nhiêu, càng có công bấy nhiêu.
Đang khi đó, tục ngữ bảo :
- Quí hồ tinh bất quí hồ đa.
Và chính Chúa Giêsu cũng đã
nhấn mạnh :
- Khi cầu nguyện, các con chớ
có ham dài lời như dân ngoại, vì họ tưởng phải nói thật nhiều mới được việc. Các
con đừng bắt chước họ, vì trước khi các con xin, Cha các con đã biết rõ các con
cần những gì rồi.
Những lời kinh vô hồn, không
có tâm tình, sẽ biến chúng ta trở thành những con vẹt, những chiếc máy cassette.
Nếu như Chúa muốn nghe những lời kinh vô hồn ấy, Ngài chỉ cần sắm một chiếc máy
cassette, rồi nhờ những giọng ca vàng như Khánh Ly, Thanh Lan…đọc hết lời kinh
này đến lời kinh khác trong cuốn sách “toàn niên”. Rồi lúc nào muốn, Ngài chỉ
cần nhấn nút là sẽ có ngay những lời kinh êm tai, hơn hẳn cái giọng khàn khàn,
đầy mùi thuốc lào của tôi.
Khuyết điểm thứ hai, đó là
chúng ta quá chú trọng đến lời nói hơn việc làm.
Thực vậy, nhiều người trong
chúng ta chỉ sống đạo trong nhà thờ chứ không sống giữa lòng cuộc đời. Tại nhà
thờ họ đọc hết kinh này tớ | |