Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 51, Chúa nhật 23.7.2006


Các số báo đã phát hành           MỤC LỤC

Mở đầu Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân                                                                         Vatican 2

HIỆN ĐẠI HÓA NHỮNG QUAN HỆ GIỮA GIÁO HỘI VÀ NHÀ NƯỚC     Nhà Văn Hương Vĩnh

ÐỜI CÒN CÓ NHAU                                                                                Lm. Đỗ Vân Lực, OP.

Chỉ sống trong giờ phút hiện tại…                                                      Gs. Nguyễn Văn Thành

Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn                                   Phó tế: GB Huyền Đồng

LỐI ĐI VEN THEO BỜ VỰC THẲM                                                             Trầm Tĩnh Nguyện

XIN BỚT GIẬN                                                                  Nhà Văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

Tại sao cần Rửa Tội  cho trẻ con ?                                                      Lm. FX. Ngô Tôn Huấn

Zidane ơi…                                                                                                              Joseph Vũ

Hành trang đời sống                                                                          Lm. Nguyễn Ngọc Long

GIỜ KINH TỐI TRONG GIA ĐÌNH                                                                            Tuỵ Hiền

Đời chiêm niệm được cụ thể hóa trong hành động                  + HY. FX. Nguyễn Văn Thuận

ĐÀO  HOA                                                                                  Chuyện phiếm của Bà chằng


Mở đầu Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân

 

Thánh Công Đồng muốn phát động mạnh mẽ hơn việc tông đồ của Dân Thiên Chúa, nên quan tâm đên các Ki-tô hữu giáo dân, những người có phần riêng biệt và cần thiêt trong sứ mệnh của Giáo Hội, như đã được nhắc đến trong những văn kiện khác. Bởi vì, vốn phát sinh từ ơn gọi làm Ki-tô hữu; việc tông đồ giáo dân không bao giờ có thể thiếu trong Giáo Hội. Chính Kinh Thánh minh chứng rõ ràng, vào những buổi đầu của Giáo Hội, việc tông đồ này thật hăng say và phong phú biêt bao! (x. Cv 11, 19-21; 18,26; Rm 16, 1-16; Pl 4,3).

Thời đại chúng ta đòi hỏi giáo dân phải nhiệt thành không kém, nhất là hoàn cảnh hiện tại càng đòi hỏi việc tông đồ của họ phải tích cực và sâu rộng hơn. Quả vậy, càng ngày dân số càng gia tăng, khoa học và kỹ thuật càng tiến triển, những mối tương quan mật thiết hơn giữa con người không những mở rộng môi trường hoạt động tông đồ giáo dân đến vô tận, môi trường mà phần lớn chỉ dành riêng cho họ, mà còn tạo nên nhiều vấn đề mới đòi họ phải đặc biệt lưu tâm học hỏi. Việc tông đồ này lại càng trở nên khẩn trương hơn, vì sự tự lập trên nhiều phương diện của cuộc sống con người như thường thấy, càng gia tăng, đôi khi gây nên một sự tách biệt với trật tự luân lý và tôn giáo, cũng như tạo ra một sự nguy hiểm trầm trọng cho đời sống Ki-tô giáo. Hơn nữa, trong những miền thiếu linh mục hay khi các ngài không được tự do thi hành chức vụ, thì Giáo Hội khó có thể hiện diện và hoạt động hữu hiệu nếu không nhờ giáo dân cộng tác.

Dấu hiệu cho thấy sự khẩn thiết muôn mặt ấy chính là hoạt động tỏ tường của Chúa Thánh Thần, đang làm cho giáo dân hôm nay mỗi ngày một ý thức hơn phần trách nhiệm riêng của mình, và thúc bách họ phục vụ Đức Ki-tô và Giáo Hội ở mọi nơi.

Trong Sắc lệnh này, Công Đồng nhằm làm sáng tỏ bản chât, đặc tính và những cách thế của việc tông đồ gìáo dân, nêu lên những nguyên tắc căn bản và ban bố những giáo huấn mục vụ để thi hành việc tông đồ ấy cho hiệu quả hơn. Mọi điều trong Sắo lệnh này phải được coi như những tiêu chuẩn cho việc xét lại những khoản Giáo luật có líên quan đến việc tông đồ giáo dân.

(Trích Sắc lệnh Tông đồ giáo dân của Công Đồng Vaticanô II do Đức Thánh Cha Phao-lô VI ban hành ngày 18-11-1q65, số l).

 

VỀ MỤC LỤC
HIỆN ĐẠI HÓA NHỮNG QUAN HỆ GIỮA GIÁO HỘI VÀ NHÀ NƯỚC

 

CÔNG ĐỒNG VATICAN II QUA BỐN THẬP NIÊN

- X -

TỰ DO TÔN GIÁO 

HIỆN ĐẠI HÓA NHỮNG QUAN HỆ GIỮA GIÁO HỘI VÀ NHÀ NƯỚC

Linh mục Đa-Minh Yves Congar và hai linh mục Dòng Tên John Courtney MurrayHenri de Lubac là những thần học gia vào thập niên 1950 đã bị Vatican bắt phải im hơi lặng tiếng nhưng đã nổi bật lên và trở thành những tiếng nói quan trọng trong Công Đồng Vatican II. Cha Congar và Lubac về sau được chọn làm hồng y.

Một trong những văn kiện cuối cùng được Công Đồng Vatican II chấp thuận và có lẽ là văn kiện được tranh luận nhiều nhất, đó là “Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo” mà cao điểm là Công giáo trong thế giới hiện đại, xét về  những tương quan giữa Giáo Hội và nhà nước.

Văn kiện đó đặt nền móng cho Giáo Hội đối phó với những nền dân chủ thế tục, tôn giáo đa nguyên thuộc Tây phương và Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ II đã báo động tình trạng bắt bớ Giáo Hội ở những nước Cộng Sản cai trị.

Tuyên ngôn “Dignitatis Humanae” mang lại niềm tín nhiệm của Công Đồng mời gọi đối thoại đại kếtđối thoại với những tín hữu không phải Kitô giáo.

Trong quá trình soạn thảo, văn kiện nầy được phục hoạt do soạn thảo viên chính của tuyên ngôn là cha John Courtney Murray - một linh mục Dòng Tên vào thập niên 1950 đã bị Vatican cấm không được viết về những tương quan giữa Giáo Hội và nhà nước, nhất là những nỗ lực hòa giải Giáo Hội Công giáo với sự tách biệt giữa Giáo Hội và nhà nước theo kiểu Hoa Kỳ. Cuối cùng vị linh mục đó đã được mời tham gia “Văn Phòng Cổ Võ Hiệp Nhất Kitô giáo” của Vatican là cơ quan của Tòa Thánh soạn thảo tài liệu.

Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo tuyên bố rằng, vì nhân phẩm, mỗi cá nhân có quyền dân sự đối với tự do tôn giáo và thực thi niềm tin tôn giáo ở trong cộng đồng với kẻ khác. Đó là một điểm xuất phát rất rõ nét vì từ nhiều thế kỷ trước, Giáo Hội dạy rằng tự do tôn giáo trọn vẹn chỉ thuộc về Giáo Hội Công giáo như là một định chế bởi vì Giáo Hội chứa đựng sự sung mãn của chân lý thiêng liêng.

Trong bài bình luận sau Công Đồng vào năm 1966 - được phát hành sau khi cha qua đời, cha Murray ghi chú như sau: “Giáo Hội không còn ứng phó với trật tự trần thế theo tiêu chuẩn nước đôi: tự do đối với Giáo Hội khi tín hữu Công giáo là thiểu số, đặc quyền đối với Giáo Hội và bất khoan dung đối với kẻ khác khi tín hữu Công giáo chiếm đa số.”

Cha Murray còn viết: “Tuyên Ngôn đã mở đường cho một sự tín nhiệm mới trong những tương quan đại kết và sự thẳng thắn trong những tương quan giữa Giáo Hội và thế giới.”

Tuyên Ngôn công bố: “Quyền tự do tôn giáo được căn cứ trên chính nhân phẩm mỗi cá nhân như được biết đến qua lời mạc khải của Chúa và chính bằng lý trí.” Sự tự do đó phải được nhìn nhận và bảo đảm bởi các quốc gia như là một quyền dân sự bởi vì sự thi hành quyền tự do tôn giáo đòi buộc phải được “chước miễn mọi sự ép buộc từ bên ngoài. Quyền được chước miễn đó tiếp tục hiện hữu ngay cả đối với những ai không sống theo sự bắt buộc phải truy tầm chân lý và bám trụ vào đó.”

Tuyên Ngôn đã được chấp thuận bởi cuộc bỏ phiếu với tì số 2,308 - 70 vào ngày 7-12-1965. Đó là ngày bỏ phiếu sau cùng và cũng là ngày trước khi Công Đồng bế mạc.

Công Đồng chỉ chấp thuận sau khi đã “thảo luận một cách sôi nổi” với sự chống đối dữ dội từ nhiều viên chức Vatican và các vị giám mục đến từ những quốc gia mà Giáo Hội Công giáo rất mạnh như Tây-Ban-Nha và Ý-Đại-Lợi, theo như Gregory Baum cho biết. Gregory Baum là một chuyên viên thuộc “Văn Phòng Cồ Võ sự Hợp Nhất Kitô giáo của Công Đồng”. Văn Phòng đã soạn thảo tài liệu tự do tôn giáo vì tầm mức quan trọng đối với vấn đề đại kết. Vào thời điểm đó, Baum còn là linh mục dòng thánh Augustinô.

Sau đó Baum hoàn tục và trở thành giáo sư về tôn giáo học ở Đại Học McGill Montreal và nay đã hồi hưu, cho biết: “Giáo Hội Công giáo đã kết án tự do tôn giáo vào thế kỷ 19 và những người phản đối Tuyên Ngôn không muốn công nhận rằng Giáo Hội đã sai lầm.”

Theo Baum, lập trường trước đây là “chân lý có hết mọi quyền, còn lầm lạc không có quyền nào.” Khi thực hành như vậy có nghĩa là vì họ theo một tôn giáo lầm lạc nên không có quyền tự do tôn giáo, “nhưng điều đó vô nghĩa. Chân lý là một khái niệm trừu tượng. Dân chúng có quyền lợi của họ.”

Baum nhận thấy Tuyên Ngôn đã khiến Vatican duyệt lại những thỏa ước với nhiều quốc gia mà đại đa số theo Công giáo để Công giáo không còn là quốc giáo nữa.

Những người phản đối Tuyên Ngôn lý luận rằng khi chấp thuận nguyên tắc tự do tôn giáo, Giáo Hội tự mâu thuẫn với chính mình. Quan điểm đó ngược lại với quan điểm của các thần học gia khác, như linh mục Murray, theo đó giáo huấn của Giáo Hội cần tiến hóa, căn cứ trên những hoàn cảnh đổi thay, một tiến trình được gọi là sự “triển khai giáo lý”.

Bài bình luận của cha Murray vào năm 1966 cho thấy việc chống đối sự triển khai giáo lý ở đằng sau hầu hết những sự chống đối. Cha Murray viết: “Ý niệm triển khai, chứ không phải ý niệm tự do tôn giáo, là móc điểm thực tế đối với nhiều người chống lại Tuyên Ngôn cho đến cuối cùng.”

Sau cùng, khi Tuyên Ngôn được chấp thuận, cũng có kèm theo một sự nhìn nhận là trong quá khứ Giáo Hội đã vi phạm tự do tôn giáo. Tuyên Ngôn viết: “Dẫu cho ở trong đời sống dân Chúa…có những thời điểm xuất hiện một hình thức đối xử khó mà đúng với tinh thần Phúc Âm và ngay cả ngược lại với Tin Mừng nữa. Giáo huấn của Giáo Hội luôn luôn vẫn là không ép buộc ai phải tin theo.”

Lời thú nhận đó đã được gợi ý bởi Đức Hồng Y Joseph Beran ở Prague, Czechoslovakia, lúc bấy giờ bị đặt dưới quyền thống trị của Cộng Sản. Ghi nhận những vụ thiêu đốt những người ly giáo và những vụ bắt buộc theo Công giáo trong lịch sử quê hương mình, Đức Hồng Y Beran xin Công Đồng chấp thuận Tuyên Ngôn “trong tinh thần đền bù những lỗi lầm trong quá khứ.”

Đức Hồng Y Beran và các nghị phụ đến từ những quốc gia do Cộng Sản chiếm đóng đã liên kết với các giám mục Hoa-Kỳ để trở thành những người ủng hộ Tuyên Ngôn một cách mạnh mẽ. Các giám mục sau bức Màn Sắt nhận thấy cần thiết phải duy trì một số điều giống nhau trong đời sống Giáo Hội ở trên quê hương họ, bởi vì Tuyên Ngôn cổ võ việc thực thi nguyên tắc tự do tôn giáo. Tuyên Ngôn cũng mạnh mẽ kêu gọi Giáo Hội độc lập đối với nhà nước và bảo vệ khỏi bị nhà nước xâm phạm những tôn giáo có tổ chức. Tuyên Ngôn công bố: “Nếu chính quyền dân sự cho mình có quyền kiểm soát hay hạn chế sinh hoạt tôn giáo, phải nói rằng chính quyền đã vượt khỏi giới hạn quyền bính của mình.”

Trong số những người ủng hộ Tuyên Ngôn thuộc khối Sô-viết là Đức Tổng Giám Mục Karol Wojtyla của Krakow, Ba-Lan, về sau được bầu làm Giáo Hoàng Gioan Phao-lồ II năm 1978. Ở trong phòng họp Công Đồng năm 1965, vị tổng giám mục 45 tuổi tranh luận rằng không nhà nước nào có quyền khống chế tôn giáo.

Theo giáo sư Baum, Đức Tổng Giám Mục Wojtyla tỏ ra “xuất sắc đối với văn kiện. Ngài trở thành vô địch về nhân quyền khắp nơi trên thế giới, không chỉ quyền lợi tôn giáo mà thôi, mà còn căn cứ trên nhân phẩm nữa.”

(Phỏng theo Agostino Bono – Washington – CNS)

Nhà văn Hương Vĩnh

VỀ MỤC LỤC
ÐỜI CÒN CÓ NHAU

Phúc Âm Nhật Ký Ngày 16.07.2006

ÐỜI CÒN CÓ NHAU

Mc 6:7-13

Tin Mừng hôm nay vẽ ra một cảnh tượng vô cùng hoành tráng.  Nhưng phải đọc ngược từ dưới lên trên, chúng ta mới thấy tất cả sự thật.  Dưới cái nhìn của Chúa Giêsu, trần gian đúng là nơi quỷ dữ tung hoành.  Thần ô uế cũng ăn chia với bọn quỷ dữ đó.  Khắp nơi đủ thứ dấu hiệu quỷ dữ quấy phá như bệnh tật tinh thần và thân xác, những đố kỵ ghen ghét, không chấp nhận và lắng nghe nhau.  Những cảnh hất hủi các môn đệ và chối bỏ Tin Mừng.  Những cảnh chém giết, bắt bớ, tù đầy, khủng bố v.v.

Gia đình tôi  bây giờ cũng nhuốm mầu trần gian một trăm phần trăm rồi.  Không biết nó đã biến thành  hỏa ngục từ bao giờ.  Dĩ nhiên hỏa ngục nào cũng đầy quỷ sứ.  Quỷ kiêu ngạo, ích kỷ, hưởng thụ, ghen ghét, đố kỵ . . .  Quỷ nào cũng dữ cả!   Cuộc sống chung thật nặng nề.  Không chịu đựng nổi nhau.  Không thể tha thứ cho nhau ! 

Ðứng trước thực tế đó, Chúa Giêsu có bi quan không ?  Người đưa ra những kế hoạch và giải pháp nào ?   Là môn đệ Chúa Giêsu, tôi có nghe thấy tiếng gọi và nhận rõ sứ mệnh của mình không ?  Nếu cứ tiếp tục theo nếp sống hưởng thụ và xây dựng cuộc đời hiện tại và tương lai trên những của cải vật chất và tiền bạc, tôi có thể giải quyết những vấn đề lớn lao trong gia đình tôi hôm nay không?

Trước cảnh trần gian đầy dẫy những vấn đề tiêu cực lớn lao như thế, “Ðức Giêsu gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai từng hai người một đi ... rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối.” (Mc 6:7.12)  Thật là can đảm !  Với một số lượng nhân sự quá ít ỏi, Người có thể làm được gì cho trần gian ?  Ðã thế, nhóm người nhỏ bé đó lại bị tước đoạt tất cả những phương tiện vật chất (x. Mc 6:8-9.  Làm sao họ có thể chinh phục được trần gian ?  Thật mạo hiểm !  Không phải ai cũng đón tiếp những hạng người “khố rách áo ôm” như các ngài (x. Mc 6:11)!  Mời các ngài vào trọ trong nhà vừa tốn kém, vừa phải nghe những “sự thật mất lòng” nữa.  Dại gì đón tiếp và lắng nghe những con người gây xáo trộn cuộc sống đang yên ổn này !

Tiếp theo bước chân của “Nhóm Mười Hai,” Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã tông du Tây Ban Nha từ 1/7 đến 9/7/2006.  Tông du vào một miền đang có rất nhiều vấn đề liên quan tới gia đình như hôn nhân đồng tính, ly dị, phá thai, nghiên cứu tế bào gốc v.v. không phải dễ.   Vậy mà tối thứ bảy có hơn một triệu người tham dự đêm canh thức.  Sáng chủ nhật khỏang 2, 2 triệu người (Zenit.org 12. 7.2006) đã quây quần xung quanh Đức Thánh Cha cử hành long trọng Thánh lễ bế mạc ngoài trời.  Như thế, người đã thành công trong việc hướng dẫn Ðại Hội Thế Giới Về Gia Ðình Lần Thứ Năm ở Valencia với chủ đề: “Tiếp Tục Lưu Truyền Đức Tin Trong Gia Ðình.”   

Chủ điểm của cuộc tông du đó vẫn là rao giảng Tin Mừng và kêu gọi người ta ăn năn sám hối (x. Mc 6:12), nghĩa là từ bỏ lối sống trần tục, phù du, phóng đãng, hời hợt mà trở về nếp sống biết tôn trọng nhân vị và phục vụ những quyền lợi và bổn phận bất khả nhượng của mỗi người (x. National Catholic Reporter 09/07/2006).  ÐTC “đã ở lại đó cho đến lúc ra đi” (Mc 6: 10) với nhiều ấn tượng sâu xa về “sự tiếp đón tuyệt vời, tính hiếu khách đáng mến và sự quan tâm chu đáo” (Zenit.org 12. 7.2006) của dân chúng Tây Ban Nha.

Tôi không phải là Giáo Hoàng.  Tôi không có dịp “tông du” các nước để rao giảng Tin Mừng và kêu gọi quần chúng ăn năn sám hối như ÐTC.  Tôi chỉ là “bố đời,” với một vợ và năm con.  Nhưng tôi cũng là môn đệ của Chúa Giêsu.   Như “Nhóm Mười Hai” được sai đi từng hai người một, hai đứa chúng tôi cũng được tiền định sống chung một nhà và “ở lại đó cho đến lúc ra đi” (Mc 6:10) khỏi trần gian này.  Gia đình tôi thật nhỏ bé.  Nhưng vấn đề lại quá lớn đến nỗi tôi không thể giải quyết nổi.  Làm sao tôi có thể tha thứ người vợ tôi bây giờ ?  Làm sao tôi có thể chấp nhận nổi những lối sống quá mới của những đứa con tôi ?

Suy đi nghĩ lại, tôi thấy mình chưa thuộc bài học Chúa dạy các môn đệ hôm nay.  Tôi mới chỉ là môn đệ trên sổ sách và trong những nghi thức.  Thực tế, tinh thần hưởng thụ của tôi còn rất cao độ.  Hai vợ chồng tôi “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm giờ nghỉ.”  Vậy mà cũng không đủ tiền trả bill, bảo hiểm, sắm sửa, tậu nhà cửa và xe hơi mới v.v.   Tôi hoàn toàn tin tưởng của cải vật chất sẽ đem lại hạnh phúc cho gia đình tôi. Nhưng sao cuộc sống chúng tôi vẫn không hạnh phúc ?  Tương lai vẫn không sáng sủa ?

Nhìn vào “Nhóm Mười Hai,” tôi thấy mình không giống ai.  Cuộc sống họ khác hẳn.  Không có tương lai.  Hiện tại cũng không.  Không phải Chúa không tiên liệu hay lo lắng cho cuộc sống của họ.  Nhưng Người muốn họ siêu thoát.  Có thế, họ mới thấy được tất cả sức mạnh và hạnh phúc của họ ở chỗ nào.  Không những phải tước lột những thứ bên ngoài, nhưng cả mạng sống nữa.  Bởi vậy, họ luôn sống phó thác vào Thiên Chúa quan phòng. Vào nhà nào, họ không mong được hưởng thụ, nhưng luôn phục vụ.  Họ tìm mọi cách rao giảng Tin Mừng cứu độ.  Nhìn vào lối sống và nghe lời kêu gọi sám hối, chắc chắn mọi người biết phải làm gì để được hạnh phúc và bình an.

Càng suy nghĩ tôi càng xấu hổ.  Ðược sai đến gia đình này, tôi đã nói năng và hành động như thế nào ?  Tôi có tiếp nhận vợ con tôi không ?  Tôi có lắng nghe những nỗi khổ tâm của họ không ?  Tôi có sẵn sàng cởi mở để đối thoại không ?  Tôi có đại lượng đủ để tha thứ không ?  Tôi có khiêm tốn đủ để nói một lời xin lỗi bao giờ không ?  Câu trả lời cho mấy chục năm chung sống là : KHÔNG!

Rõ ràng tinh thần hưởng thụ đã ăn quá sâu vào nếp sống của tôi.  Không phải chỉ có một xe hơi, nhưng tôi còn có đủ kiểu xe cho những nhu cầu làm ăn và đua đòi nữa.  Có đếm cả ngày, vợ con tôi cũng không thể liệt kê những quần áo, giầy dép, đầu máy, tivi, đĩa nhạc v.v. của tôi.  Chiều về tới nhà, tôi đã lao nhanh vào bộ ghế salon, tay cầm chiếc remote control, bật hết đài này sang đài khác, mặc kệ người vợ một mình loay hoay trong bếp.  Ðợi nàng nấu xong, tôi lao ngay ra bàn ăn, xúc vội chén cơm chạy ra salon tiếp tục coi nốt trận banh túc cầu thế giới hay bộ phim chưởng.  Một mình chẳng nói chẳng rằng.   Ngày nay tiếp ngày kia, tôi sống như bóng ma trong gia đình.  Nhà tôi toàn ma với quỷ !

Cuộc đời cứ trôi đi.  Tôi không còn thời giờ nghĩ đến người khác nữa.  Thực sự, chúng tôi chăng bao giờ gặp gỡ nhau.  Chính vì không gặp gỡ nhau, nên chúng tôi cũng chẳng gặp được Thiên Chúa.  Còn gì thiệt hại hơn nữa không ?!  Tiếc quá !   Phải làm gì bây giờ ? 

Phải có Chúa, tình yêu chúng tôi mới được thanh tẩy và trưởng thành.  Từ đó, tình yêu mới hoàn toàn là của con người và trở thành nguyên ủy sinh ra niềm vui đích thực và lâu dài.   Nếu biết mình được kêu gọi để “loan báo sức mạnh tình yêu chân thực,” chúng tôi đã biến gia đình thành trung tâm truyền giáo rồi.  Mấy chục năm sống trong nhà này, nếu vợ chồng tôi luôn nói lời bình an và sống Tin Mừng, chắc chắn gia đình tôi đã trở thành nơi mọi người gặp gỡ Thiên Chúa.  Chắc chắn chúng tôi đã gần hoàn thành sứ mệnh thông truyền đức tin cho con cái rồi. 

Phải làm lại cuộc đời thôi !  Phải biến gia đình thành một lớp để mọi người học cách “cho đi và đón nhận tình yêu.” Thái độ của ÐTC tại Tây Ban Nha làm cho tôi suy nghĩ vô cùng.  Người luôn giữ thái độ tích cực và lạc quan về tương lai các gia đình và nhân loại.  Người lên tiếng với các gia đình : “Hãy sống hạnh phúc.”  “Gia đình nào yêu nhau sẽ sống hạnh phúc !”  Thật là đơn giản những lời khuyên nhủ chí tình của ÐTC cho các gia đình khi viếng thăm Valencia, Tây Ban Nha. 

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn nhớ đến lời Chúa gọi và sứ mệnh Chúa đã trao cho gia đình con !   Xin Chúa hãy hiện diện trong gia đình con, để nước lã có thể biến thành rượu ngon.  Nếu không nước lã vẫn là nước lã.  Tệ hơn nữa, rượu ngon có thể biến thành nước lã.  Lạy Chúa, ngày nào tình yêu chúng con còn thơm ngon như rượu nồng ngày cưới.  Thế mà rượu đã biến thành nước lã từ bao giờ.  Chán quá, Chúa ơi !  Con biết không những Chúa đã gọi và sai chúng con vào căn nhà này, nhưng còn ban cho chúng con quyền trên các thần ô uế và trừ quỷ nữa (x. Mc 6:7:13).  Chúa biết rõ trong nhà con đang có những quỷ dữ nào hoành hành.  Bao giờ con mới có thể trừ được chúng đây ?  Lạy Chúa,  xin đừng xa con !  Amen.

dzuize@gmail.com

VỀ MỤC LỤC
Chỉ sống trong giờ phút hiện tại…

 

Thể theo những tin tức khoa học mới nhất của tác giả người Anh Douglas N. ARONE, bao lâu còn ở trong cung lòng của Mẹ, thai sinh chỉ biết sống “ Giờ phút hiện tại”. Hẳn thực, trong chu kỳ thứ nhất, khi bà mẹ nằm xuống và từ từ chìm mình vào giấc ngủ, im lìm và bất động, thai sinh lúc bấy giờ trải nghiệm những giây phút hãi hùng và lo sợ  về tính mệnh của Mẹ. Tuy nhiên, thay vì bị tê liệt và tràn ngập do những xúc động ấy, thai sinh thực hiện mọi động tác trong tầm tay và khả năng của mình, nhằm đánh thức mẹ, thu lượm một vài tin tức về Mẹ, chẳng hạn như đưa tay đánh mạnh vào thành tử cung, dùng chân đạp tới đạp lui.

Sau khi đã thấm mệt, không còn sức để thực hiện những cử động, thai sinh dùng tai để nghe ngóng nhịp tim của Mẹ…

Dùng làn da để tiếp cận những âm thanh xuất phát từ các cơ quan nội tạng của mẹ cũng như từ môi trường bên ngòai. Nhờ vào những học tập nho nhỏ ấy, thai sinh đã chuẩn bị ngày đi ra,  sau chín tháng mười ngày phát triển và tăng trưởng trong tử cung của mẹ .

Thế rồi, vừa khi mẹ đứng dậy, di chuyển từ nơi nầy qua nơi khác, thai sinh lập tức, bước qua một chu trình hân hoan, sung sướng và an bình. Bao nhiêu kinh hòang và lo sợ đã có mặt trước đó một vài phút, đều tan biến, cơ hồ những đám mây đen không còn tồn tại, khi Anh Bình Minh xuất hiện trên bầu trời và báo hiệu một ngày mới đang chổi dậy và vươn lên.

Theo lối nhìn của tác giả Spencer JOHNSON, bao lâu chúng ta biết sống trong “ giờ phút hiện tại”, hiện tại ấy đang trở thành “một quà tặng diệu kỳ và cao cả” trong tầm tay thực hiện của chúng ta

Nói khác đi, khi chúng ta tập trung vào những gì mình đang làm, tâm trí của chúng ta không thể nào lang thang, phiêu bạt ở một nơi khác- đã qua hay là chưa tới – Chúng ta chỉ chú ý vào những gì đang thực sự diễn ra trong hiện tại mà thôi. 

Hẳn thực, Thiền học dạy chúng ta :

“ Quá khứ đã qua rồi,

“ Tương lai thì chưa tới,

“ Hiện tại ở trong tay tôi,

“ Chính tôi làm nên hiện tại,

“ Cho bản thân và cuộc đời.

“ Tôi áp dụng phương thức:

“ Cháo nóng húp quanh,

“ Kiến tha lâu đầy tổ.

Trong tinh thần và lăng kính ấy, quá khứ chỉ là một bài học dạy tôi biết nói ‘KHÔNG” với những gì tạo ra khổ đau và sai lầm, để “không“ lập  lại vòng luân hồi tối tăm và luẩn quẩn, “ một cách quyết tâm, sáng suốt và can trường“

Tương lai, trái lại, là một dự án, chúng ta đang thực hiện ngày hôm nay, với những bước đi lên thiết thực  và cụ thể. Chính vì lý do nầy Niết Bàn hay là Thên Đàng sẽ chẳng bao giờ là “ Quả sung” tình cờ rơi vào miệng. Đó là một con đường chúng ta đang đi ngày hôm nay, trong chính giờ phút hiện tại nầy.

Nói khác đi, Thiên Đàng chỉ là một ảo tưởng, nếu mỗi người không ngày ngày “ lên kế họach” để bước từng bước đi tới, với tất cả trí thông minh và tấm lòng cương quyết. 

Nói tóm lại, để giờ phút hiện tại có thể trở thành cho bản thân và cuộc đời của chúng ta, một quà tặng quí hoá và cao cả, chúng ta có ba cách làm:

Thứ nhất, trong hiện tại, tập trung vào điều quan trọng và có ý nghĩa.

Thứ hai, dùng quá khứ như một bài học, để can trường từ chối những lối mòn tạo khổ đau và tình trạng nô lệ cho chính mình và anh chị em đồng bào.

Thứ ba, họach định cho tương lai, và lên kế họach, để biến tương lai thành hiện thực hay là những bước đi cụ thể hằng ngày.

Sàigon, Hè 2006

Gs. Nguyễn Văn Thành

VỀ MỤC LỤC
“Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn” 

NHỮNG VẤN ĐỂ CỦA GIA ĐÌNH

“Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn” 

Đại hội các Gia đình Công giáo Thế Giới đang tiến hành tại thành phố Valencia, Tây Ban Nha từ ngày 01-07 đến 09-07-2006, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đang đến tham dự Đại hội này.

Ban tổ  chức dự đoán sẽ có trên một triệu rưỡi Tín hữu đến tham dự Thánh lễ bế mạc vào sáng Chúa nhật mùng 09-07-06. ĐTC Biển Đức XVI thi hành mạnh mẽ việc bảo vệ Gia đình từ thời ĐTC Phaolô VI đề ra. ĐTC đương kim đã ưu tiên chọn sự bênh vực Gia đình, vì nếu Gia đình sụp đổ thì Giáo hội và Thế giới cũng sụp đổ theo.

Ngài nói: Các Mục tử hãy hăng say rao giảng Tin Mừng về Gia đình, như một con đường để giúp họ sống đạo và cầu nguyện chung, gần guĩ nhau. Các nhân viên Mục vụ Gia đình tại các Giáo phận, các LM, Phó tế, các Tín hữu đều tích cực tham gia để các Gia đình có đủ sức đối phó với mọi hòan cảnh khó khăn đang đe dọa hiện tại.

Nhiều cha mẹ vắng bóng; các ông bà nội ngoại ngày càng dấn thân săn sóc các các cháu, dù đã già yêú, để trong đó không ai bị cảm thấy mình bị loại trừ. Dạy cách cầu nguyện trong Gia đình thật quan trọng. Vì nơi nào người ta cầu nguyện chung với nhau, thì có sức mạnh của Thần Khí Chúa nâng đỡ và phá vỡ âm mưu ma quỷ. Các Gia đình hãy cùng cầu nguyện và hành động với Giáo hội, rồi sẽ tìm được nhiều phương thức khác nhau.

Đại hội Giới trẻ VN trong ba ngày qua từ 01- đến 03-07-2006 tại Cali Hoa kỳ,,tại Giáo phận Phan Thiết Việt nam, với hàng ngàn thanh niên nam nữ tham dự, Đại hội về Gia đình tại Saigon vừa qua đã nói lên sự lưu tâm của các Mục tử, các Tín hữu, các Gia đình đều cộng tác tích cực bảo vệ Gia đình và Giới trẻ đến mức nào.!

Tuy nhiên, các nạn nhân của “sa mạc tình thương” ngày nay chính là các thanh thiếu niên, họ rất đau khổ về sự thiếu tình thương trong thế giới ngày nay. Đúng vậy, sự cô đơn của họ không được cha mẹ cảm thông,. Người trẻ thường tới các tiệm nhảy disco, tìm cách đứng sát nhau, nhưng trong thực tế họ lại đang bị cô đơn nặng nề, và cảm thấy đau khổ vì không được cảm thông.

Ngày nay, người cha thường vắng bóng trong sự huấn huyện tại gia đình, người mẹ thì cũng phải làm việc ngoài xã hội. Sự hiệp nhất của họ rất mong manh. Mỗi người sống theo thế giới của mình vế ăn tiêu, giải trí. Họ là những hòn đảo về tư tưởng và tâm tình, ít hiệp nhất với nhau, nếu không mời Chúa làm chủ Gia đình và liên kết lại thì : “ai giữ mạng sống mình thì sẽ mất…”, vì họ cô lập với người khác. Nhưng nếu họ nhờ ơn Chúa vượt thắng để cảm thông thì mọi sự sẽ tốt đẹp, bình an và hạnh phúc sẽ đến với Gia đình họ.

Ngày 02-03-06 ĐTC Biển đức 16 đã gặp gỡ 800 LMục và Phó tế đang phục vụ trong 330 Giáo xứ ở Rôma. Ngài đã lần lượt trả lời 15 câu hỏi trong 2 giờ đồng hồ liên quan đến đời sống Mụ vụ Gia đình như: Thăng tiến Hôn nhân Gia đình, sự sống con người, huấn luyện giới trẻ, vai trò phụ nữ trong Giáo hội, mục vụ nhà thương.

Thuận vợ thuận chồng, tát bể đông cũng cạn.

Câu chuyện cụ thể về vợ chồng nhà tỷ phú Melinda và Bill Gates sau đây sẽ nói lên sự hợp nhất vợ chồng có kết qủa to lớn như thế nào?

* Tôi và Bill có chuyến nghỉ mát tại châu Phi vào năm 1993, nhìn thấy những trẻ con chết hàng loạt vì căn bệnh tiêu chảy. Chúng tôi tự thấy mình phải có trách nhiệm tìm hiểu sự thật. Nỗi sợ hãi khi quay về quá khủng khiếp, đến độ không dám hy vọng. Nhưng điều đó đã thức tỉnh tôi và Bill cùng nhau quyết định, ra tay hành động.

Cả hai vợ chồng tôi đã cùng nhau đến nhiều nước trên thế giới để xem tình hình bệnh lao và tiêu chảy. Khi viếng thăm các bệnh viện và những ngôi làng nghèo khổ, họ hy vọng các phát triển trong khoa học điều trị sẽ sớm đến với những người nghèo và sẽ cứu được hàng triệu con người bệnh tật trên thế giới đang cần đến.

Quỹ từ thiện của vợ chồng Bill và Melinda Gates đã ra đời hoạt động quy mô vào năm 1997 và chính thức khai trương vào năm 2000. Tất cả tập trung vào lãnh vực giáo dục, y tế toàn cầu, đến nay đã lên tới 28,8 tỷ đô la. Với ba đứa con nhỏ, Melinda cảm thấy hạnh phúc khi được cùng chồng đi khắp nơi, gặp gỡ nhiêù trẻ em và giúp đỡ cha mẹ chúng những nhu cầu cơ bản để nuôi con. Với bà, “mỗi nhân mạng đều giá trị, bất kể khoảng cách nào trong xã hội.”

Ứớc mong các Gia đình Việt Nam dù giầu hay nghèo, đều hiệp nhất với nhau và có tấm lòng nhân ái như Gia đình này.

Phó tế: GB Huyền Đồng- Nguyễn Văn Định  *  johndvn@yahoo.com

VỀ MỤC LỤC
LỐI ĐI VEN THEO BỜ VỰC THẲM

 

Để đến với Thiên Chúa, con người chỉ có một lối đi duy nhất : đó là lối đi ven theo bờ vực thẳm của thân phận thụ tạo. Chúa Giê-su đã nói : “Hãy qua cửa hẹp mà vào Nước Trời”. Quả thế, con đường dẫn đến quê trời là một con đường hẹp và dốc dác chênh vênh, tương tự như con đường lên đỉnh đồi Gôn-gô-tha với cây thập giá nặng nề trên vai. Hay nói một cách tượng hình như Nikos Kazantzakis trong cuốn tiểu thuyết về cuộc đời thánh Phan-xi-cô thành Át-xi-di : ta đang đứng trên một rẻo đất chỉ đủ để đặt bàn chân, ở giữa hai vực thẳm : một của Thiên Chúa và một của ma quỷ. Trong cái thế chênh vênh hiểm nghèo đó tôi được mời gọi để tiến lên. Tiến lên bằng cách nào? Kazantzakis trả lời : “Nhảy!”

 Thánh Phan-xi-cô đã thúc roi vào con lừa của ngài, và sau vô vàn lần té qụy, ngài đã thực hiện thành công cú nhảy ngoạn mục : ngài đã nhảy vào Nước Trời !

 Còn tôi, tôi là một con người cực kỳ yếu đuối. Tôi không đủ sức cũng chẳng đủ can đảm để làm một cú nhảy vọt kinh khủng như thế. Đức tin của tôi còn quá non nớt để có thể hoàn toàn phó thác vào Chúa như thánh Phan-xi-cô. Thực tình là tôi không dám nhảy ! Nhưng tôi vẫn phải tiến lên. Trên cái rẻo đất hẹp chỉ vừa đủ đặt bàn chân này, tôi vẫn phải tiến lên ! Thật là một cơn chóng mặt khủng khiếp. Tôi không dám nhìn xuống đáy sâu vực thẳm của Sa-tan, cũng không dám nhìn lên chốn vô cùng của Thiên Chúa. Tôi không đủ sức để làm như thế ! Tôi chỉ biết nhìn xuống chân mình, cẩn trọng nhích từng tí một trên cái rẻo đất chênh vênh ấy. Tim tôi thắt lại, mồ hôi vã ra, chân tôi run rẩy. Đi đứng làm sao trong tình trạng khốn khổ như thế ? Tôi hoảng sợ muốn rời bỏ cuộc phiêu lưu sinh tử này. Nhưng không thể được. Hai bên đều là vực thẳm. Rẻo đất thì quá hẹp để tôi có thể quay trở lại, và đào thoát còn đồng nghĩa với tự hủy diệt. Chỉ còn một cách duy nhất là tiến lên ! Ơn gọi làm Ki-tô hữu là như thế đó. Căng thẳng, tràn đầy nguy hiểm trong mọi giây phút. Nhưng có chấp nhận như thế thì mới đến được Đất Hứa. Giữa hai vực thẳm không còn một lối đi nào khác !

 Chúa Giê-su đã nói: “Thầy là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”. Một Con Đường, một Sự Thật, một Sự Sống đòi tôi phải luôn bám chặt lấy. Rời khỏi Ngài là đi vào hủy diệt: “Cành nào không liên kết với Thầy sẽ bị khô héo”. Chúa Giê-su Ki-tô là Con Đường giữa hai vực thẳm. Ngài đã nhập thể, đã hiến mình chịu chết, và đã sống lại để mở ra cho nhân loại một con đường sống, một lối đi rất hẹp nhưng là lối đi duy nhất dẫn đến cứu thoát. Không có Chúa Giê-su Ki-tô, con người không cách gì vượt qua được hai vực thẳm này. “Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”. Đức Ki-tô đã khẳng định dứt khoát như thế.

Lối đi ven theo bờ vực thẳm. Lối đi lên đỉnh Gôn-gô-tha. Lối đi duy nhất dẫn đến Nước Trời. Tôi đang đi trên lối ấy. Chênh vênh, căng thẳng. Nhưng đó là con đường dẫn đến Sự Sống. Không chấp nhận chênh vênh căng thẳng ấy thì chỉ còn cách đào thoát khỏi ơn gọi Ki-tô hữu của mình, và đào thoát có nghĩa là tự hủy diệt !

Lạy Chúa, xin cho con khiêm tốn, can đảm và trung thành tiến lên trong chênh vênh căng thẳng này. Amen ./.

 Trầm Tĩnh Nguyện

VỀ MỤC LỤC

XIN BỚT GIẬN

 

Xin bớt giận, xin đừng quá nóng!

Hãy khoan khoan giải quyết, vội chi

Chớ dùng lời  nặng như chì

Để làm sáng tỏ những gì nhẹ bông!

 

Xin đừng dùng thậm từ ghê gớm

Đừng lăng nhục, đừng “đốn” đối phương

Cũng đừng giở giói trăm đường

Hòng dồn “kẻ địch” đến phương cùn quằn!

 

Xin hãy êm dần cơn thịnh nộ

Xin nghĩ rằng rất hố chửi la

Cầm li nước lạnh tà tà

Uống thật chậm rãi là ta thành hiền!

 

Lỗi của người có thật đi nữa

Lỗi của ta cũng có vậy thay

Khiêm cung, nhu thuận, ông thày

Khoan dung, tha thứ chẳng hay càm ràm!

 

Hãy sống đúng thứ bậc ta đứng

Là cha con, chồng vợ, anh em

Chính danh sau trước làm nền

Mọi người hòa thuận mới nên hoà bình!

 

Lí đâu lí chẳng qua tình!*

Bút Xuân  TRẦN ĐÌNH NGỌC

Thành ngữ: ”Bên ngoài là lí, nhưng trong là tình.”

VỀ MỤC LỤC
Tại sao cần Rửa Tội  cho trẻ con ?

 

Hỏi: Tại sao phải rửa tội cho  trẻ con? Sao không để cho chúng lớn lên, có đủ trí không để tự quyết định việc này ?

Trả lời: Phép Rửa (baptism)  vô cùng cần thiết cho việc cứu rỗi như Chúa Giêsu đã dạy: “ ai tin và chiụ phép rửa thì được cứu rỗi. Ai không tin sẽ bị luận phạt” (Mc 16,16).

Chính vì tầm quan trọng này của phép rửa mà mọi người tin Chúa  Kitô đều phải được rửa tôi để được tha thứ  mọi tội lỗi nhất là tội nguyên tổ do Adam và Eva để laị.Nhờ phép rửa, chúng ta được tái sinh trong sự Sống mới, đựợc giao hòa laị với Thiên Chúa trong tình yêu và đựợc gọi Chúa là CHA ( Abba).( x. Rm 8,15)

Nói chung,  làm cha mẹ thì ai cũng  vì tình thương và trách nhiệm  mà phải lo những sự cần thiết cho con cái như nuôi nấng, daỵ dỗ  ngay từ bé. Không cha mẹ nào cần hỏi ý kiến con cái  xem chúng có thích ăn uống không mà cứ tự nhiên cho con mình  ăn uống những thực phẩm xét là cần thiết cho sự sống và tăng trưởng cơ thể của chúng. Khi con cái đau ốm, không cha mẹ nào cần hỏi xem con  có muốn được chữa trị hay không nhưng cứ nhiên lo thuốc men cho con được lành khoẻ. Cũng không có cha mẹ nào cần hỏi ý kiến con mình xem chúng có muốn nói tiếng “mẹ đẻ” không  hay cứ  tự động dạy con nói tiếng của mình ?  Tại sao không chờ cho nó lớn khôn rồi  để chúng tự chọn ngôn ngữ muốn nói mà mẹ lại dạy con ngay từ bé ngôn ngữ của mình ? Như thế có vi phạm “quyền tự do” của con cái không? Laị nữa ,khi con còn bé, tại sao cha mẹ lại  tự động cho con đi học Vuờn trẻ, Mẫu giaó, Tiểu  học … mà không chờ cho chúng lớn lên để  hỏi  xem chúng có bằng lòng đi học không? Vậỵ nếu trong phạm vi tự nhiên màvì tình thương và trách nhiệm,  cha mẹ phải tự động lo cho những nhu cầu thể lý, trí năng của con cái mình  thì  lại càng có trách nhiệm lo cho chúng về mặt thiêng liêng cần thiết hơn thế nữa.Nếu nhờ đức tin,  cha mẹ hiểu được sự cần thiết  và quan trọng của phép rửa, thì có lẽ nào  laị lơ là trong nhiệm vụ tối quan trong này cho con cái mình dù chúng còn bé chưa thể tự quyết định được.

Chính vì lợi ích thiêng liêng này mà Giáo Hội daỵ phải rửa tội cho trẻ con sau khi chúng được sinh ra vì “trẻ con cũng cần ơn tái sinh của phép rửa để thoát khỏi quyền lực của bóng tối  và được mang vào vòng tự do của con cái Thiên Chúa” (x. Sách Giáo lý Công Giáo ,số.1250)

Nói rõ hơn, theo giáo lý của Giáo Hội thì mọi  ngươì sinh ra đều đã sinh trong bản chất sa ngã của loài ngươì (fallen human nature) nên đều  mang vết tích của tội tổ tông (orginal sin) ngay từ khi còn trong lòng mẹ. Vì thế, nếu cha mẹ là ngươì  có đức tin, đã nhận biết có Thiên  Chúa thật, thì cần thiết phải lo cho con cái được rửa tội để  chúng cũng được tái sinh  trong sự sống mới về mặt thiêng liêng  và lớn lên trong ơn sủng này. Đây là trách nhiệm thiêng liêng Chúa trao cho những người làm  cha mẹ bên canh những trách nhiệm tự nhiên khác.

Mặt khác, ngoài  bổn phận lo cho con cái được sớm lãnh nhận bí tích rửa tội, cha mẹ còn có trách nhiệm vun trồng hạt giống đức tin được gieo vào tâm hồn  chúng  khi  được rửa tội  nữa. Nếu không có công vun trồng này bằng gương sống đức tin và daỵ dổ cho con cái thêm nhận biết Chúa thì hạt giống đức tin kia sẽ không thể lớn lên và sinh hoa trái gì cho người đã chịu phép rửa. Đó cũng là lý do cần cho trẻ được rửa tội sớm để cha mẹ chăm lo cho đời sống đức tin của con cái lớn lên trong môi trường gia đình.

Vậy không thể chiều theo đòi hòi của thời đại  về quyền tư do chọn lưạ của con cái mà trì hoãn việc bổn phận thiêng liêng quá quan trọng này.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

VỀ MỤC LỤC
Zidane ơi…

 

“ Hê hê, đứa nào giấu dép của chị rồi?”. Lam đứng dậy tìm dép khi trong tài trên ti-vi vừa thổi hồi còi chấm dứt hiệp nhất của giải vô địch World Cup 2006 giữa hai đội Pháp và Ý. Linh ngồi gần Lam, vừa cười vừa chọc thêm: “May mà người ta chưa dấu bóp của em đấy”. Thực ra, vào phút thứ 20, khi Ý vừa gỡ đều tỉ số 1-1 thì cô bé có tên là Li-lac đã ghé tai tôi nói nhỏ: ”Để em giấu dép chị Lam. Ở đó mà hô Zidane với Henry…”.

Hôm trước, tôi đã tưởng không được coi trận giành giải ba giữa Đức và Bồ Đào Nha vì đám giỗ bà Dì mới chết  bên ViêtNam, nhưng vì trời nóng nên buổi đọc kinh được bà ngoại ‘cho phép’ dời đến tối. Quá đã. Đội Đức mà tôi đoán sẽ vào tứ kết được hạng ba thì cũng vui rồi.

Sáng qua cũng tưởng phải ‘hộ tống’ cha giáo V. mới từ Việt Nam sang Mỹ du lịch đi làm lễ cho một nhóm trẻ nên tôi đã phải ‘cắn răng’ nói lời ‘hy sinh’ với Chúa và dặn kỹ đứa con gái rì-co lại trận chung kết cho bố. Thấy tôi can đảm chưa? Nhưng ‘Chúa Thưong’, cũng tại nóng nên Thánh Lễ cũng được anh Tài - trưởng nhóm - dời lại. Lần này, không phải vì trời nóng mà vì người nóng.

Thế là cai ti-vi lớn với màn ảnh phẳng mà đức cha Mai Thanh Lương mới mua cho trung tâm được…bật lên để…thử. 

Thế là Chúa đã thưởng công cho người biết hy sinh. Tôi được xem trận đấu từ đầu đến cuối với một nhóm trẻ rất trí thức và dễ thương. Bác sĩ trẻ, giáo sư trẻ, kỹ sư trẻ, thương gia trẻ… có đủ cả. Các cô đông hơn các cậu và phát biều cũng nhiều hơn - có người rất điệu nghệ, cũng có người rất ngây ngô - nhưng đa số đều ủng hộ đội ‘Spaghetti’. Chỉ có Lam là người chạy theo đôi ‘Jambon’ và cố kéo cha khách về phe. Tôi trung lập, nhưng trong lòng thì hơi muốn Ý thắng vì nghĩ rằng Pháp đã thẵng World Cup lần trước.

Không phải người xem bóng đá chuyên nghiệp, tôi cũng thấy trong hai hiệp phụ, các cầu thủ của hai đội đều mệt nhoài và đưa bóng kém chính xác -đường dài cũng như đường ngắn. Cho đến khi Henry bị chuột rút phải ra ngoài và Zidane bị phạt thẻ đỏ thì tôi thật sự lo cho đội Pháp: biết đâu lại bị 2 quả trong một phút như đội Anh thì buồn quá.

Gìơ đá phạt luân lưu sắp đến vì.. phải đến. Đám bạn trẻ bàn tán “Thủ môn Ý hay.. nhất, chỉ sau thủ môn Đức”. “Thủ môn Pháp kinh nghiệm nhiều hơn, bình tĩnh hơn.”. “Pháp mất hai chân đá phạt...”. “Ý đá phạt không hay…”. Nhưng dù hay dù dở, dù kinh nghiệm hay không kinh nghiệm thì cả hai thủ môn Barthez và Bouffon đều bay về bên trái còn banh thì lọt vào góc lưới phải và ngược lại. Pháp thua với tỉ số 3-5 vì Trezeguet của Pháp đá trúng thành gôn và bóng dội ra ngoài làm có người tếu táo kêu lên “Thành gôn cứu nguy”.

Rồi World Cup chấm dứt. Người ta không bàn về cú đá phạt ở chấm 11 mét của Zidane ghi bàn thắng cho Pháp ở phút thứ 8 hay cú đội đầu của Materazzi gỡ đều 1-1 cho Ý, nhưng lại bàn nhiều đến cú húc đầu của Zidane vào ngay ngực của Materazzi. Phải nói đây là cú húc rất đẹp và chính xác, y như con cá thia thia nhắm thẳng đối thủ phóng vào vậy. Lam buồn, quay mặt vào tường: “Có làm sao người ta mới húc chớ. Cho Ý thẻ đỏ trước đi”.

Sáng nay vào sở tôi nhận đựoc cái email của người bạn từ Saigon gởi cho hai người bạn ở Pháp và một người còn ở Saigon có con gái vừa cưới một chàng sĩ quan hải quân pháp mới toanh như sau: 

Th, T, B,

Cuối cùng thì đội tuyển Pháp cũng được hạng hai. Trận túc cầu hay quá, nhưng đoạn kết của Pháp lại hơi buồn, anh chàng đội trưởng Zidane chỉ một giây không kiềm chế, đâm ra ngu xuẩn, để lại vết nhơ cho sự nghiệp sáng chói của mình, và nỗi buồn cho người Pháp, vốn nổi tiếng là lịch sự nhất thế giới. Tục ngữ Việt Nam có câu: “No mất ngon, giận mất khôn”, truờng hợp này quả không sai. 

Em cổ vũ hết minh cho nước Pháp của hai bác, cũng buồn lây, biết sao được, đó cũng là điều để cho cánh già mình chiêm nghiệm.

Bách ơi, Mày phải coi chừng chàng rể quí của mày, nó mà húc một phát là con mày tiêu tùng đó.

Ng.

Máu mê bóng đá vẫn còn đang chạy trong người nên tôi đọc thêm mẫu tin trên tờ Thanh Niên online

Zidane - cầu thủ xuất sắc nhất World Cup 2006

Với số điểm 2012, Zinedine Zidane đã được các nhà báo bình chọn là Cầu thủ chơi hay nhất World Cup 2006. Người về nhì là thủ quân đội tuyển Ý - Fabio Cannavaro với 1977 điểm và Andrea Pirlo về thứ 3 với 715 điểm.

Các nhà báo đã tham dự cuộc bỏ phiếu kín để bầu chọn cầu thủ xuất sắc nhất World Cup 2006 lần này. Mặc dù bị thẻ đỏ trong trận chung kết với tuyển Ý, nhưng Zidane vẫn được các nhà báo tín nhiệm và bỏ phiếu bầu chọn.

Trước đây Zidane từng giành được danh hiệu cầu thủ hay nhất tại World Cup năm 1998, anh tuyên bố sẽ giã từ sân cỏ sau khi tham dự World Cup lần này với tuyển Pháp.

Cũng tối qua trên đường đi Riverside, cha giáo V. hỏi tôi:

-   Trường hợp cha P. thế nào rồi?

-   Theo con được biết thì Tòa Giám Mục đã cho Ngài đi luôn.

Không thấy cha giáo nói gì, tôi tiếp:

-   Con nghĩ nếu một Linh Mục không dứt khoát được cuộc sống độc thân thì Giáo Hội nên để cho họ hồi tục để khỏi phiền cho chính đương sự và cho giáo dân. Chắc Chúa cũng rộng lượng thôi cha nhỉ.

-   Ừ thì chắc Giáo Hội phải cho cha ấy hồi tục thôi.

Một lát sau, cha giáo chia sẻ:

-   Bốn mươi năm làm Linh Mục và trông coi giáo dân cha thấy nơi tu sĩ cũng như người thường, cái biên giới giữa thánh thiện và tội lỗi nó mong manh lắm, giữa danh dự, kiêu ngạo,  sa ngã, và tủi nhục cũng vậy… Khôn 30 năm, nhưng dại một ngày, có khi một giờ. Nhưng điều quan trọng là phải thoải mái, cởi mở với những người có trách nhiệm và bạn bè. Đừng giữ kín điều gì cho chính mình hoặc chiu đựng một mình. Mà nếu có gì đi nữa thì chịu khó đứng lên, làm lại, bắt đầu lại. Chẳng ai khinh rể gì. Cha A. là một tấm gương…

-   Con người yếu đuối lắm cha nhỉ. Con nhớ Đức Cha BT có lần chia sẻ: “Các Linh Muc tu trì ít nhất cũng 10 năm trước khi chịu chức. Rồi trước khi chịu chức thì cầu nguyện, cấm phòng, bàn hỏi… rất kỹ. Vậy mà vẫn có những người không sống được điều mình đã tự nguyện… Trong khi cuộc sống gia đình thì không được như vậy. Người con trai và con gái chỉ biết nhau một thời gian rồi lấy nhau. Biết bao nhiêu điều không biết trứơc… Cho nên…”

Trời khuya xa lộ vắng nên câu truyện chưa hết thì xe đã tới cửa nhà người thân của cha.

Bây giờ trở lại với Zidane.

Đài BBC nói Zidane không xuất hiện trong lễ treo giải, anh cũng chưa hề nói tại sao có hành động vô cùng đáng buồn như vậy. Một tờ báo Pháp viết: “Thiên Thần Xanh Bleu không còn nữa…Thần tượng của các con tôi đã gẫy cánh…”

Nếu là Zidane lúc này thì bạn sẽ làm gì?

Nếu là Zidane, tôi sẽ làm nhưng việc này:

-   Đi đến Loudres, tìm một chỗ yên ắng, ngồi thiền một giờ. Cầu nguyên một tí cũng được. Rồi:

-   Gọi điện thoai cho đồng đội: “Xin lỗi tụi em, anh nóng quá.”

-   Nói với nước Pháp: “Tôi đã từng chọn nước Pháp làm quê hương và yêu mến nước Pháp nên tôi không kềm nổi sự tức giận khi bị xúc phạm. Excusez-moi”

-   Nói với những người hâm mộ: “That’s not right, but…. I am sorry.”

-  

Nói với Marterazzi:“Hê, đầu ‘moi’ trọc, ‘toi’ có đau không? Nói cho mọi người biết ‘toi’ đã chửi ‘moi’ cái gì đi. Thực ra cái húc của ‘moi’ không đau bằng những lời nhạo báng của ‘toi’ đâu?” 

Nếu đã từng hâm mộ Zidane thì bạn phản ững thế nào?

Không thần tượng ai, nhưng tôi vẫn còn giữ video trân đấu giữa Pháp và Brasil trong World Cup lần trước. Tôi sẽ viết cho Zidane thế này:

“Zidane đừng buồn nữa. Cậu húc thằng trung vệ Ý trước cả mắt thế giới là không đúng, nhưng tôi rất thông cảm với cậu. Vì nếu đang hăng say dành vinh dự cho quốc gia mà nghe nó nói: “Thằng Rệp da đen, đi làm cu-li cho Tây” thì chắc tôi cũng húc vào ngực nó như cậu. Có khi còn húc mạnh hơn nữa. Vì nếu là một siêu sao thể thao thế giới mà nghe nó nói: “Thằng Mít mũi tẹt. Con của me Mỹ” thì chắc tôi không chỉ húc nó mà còn bồi thêm cho nó một cú đá giò lái vào chỗ độc nữa.”  

Con người mà, mềm yếu lắm, mỏng dòn lắm: “Cái biên giới giữa Thánh Thiện và Tội Lỗi nó mong manh lắm, giữa danh dự, kiêu ngạo, sa ngã, và tủi nhục cũng vậy…”

Con người mà cậu. Ở Mỹ, cảnh túm cổ áo thụi nhau trong sân Baseball, cảnh vất gậy để ục đối thủ trong sân Hockey, hay cầm ghế rượt nhau trong Basketball cũng xẩy ra như cơm bữa trên màn hình ti-vi…  

Con người mà cậu. Michael Jordan cũng từng uỵch nhau nhiều lần rồi. Maradonna cũng dùng thuốc kích thích. Bill Clinton cũng sờ mó lung tung…

Con người mà cậu. Hồi nhỏ chính tôi cũng đã phang cây vào bụng một tay trong lớp cứ hay lôi tên bố tôi ra để chế diễu. Bây giờ thì cũng nhiều lần tôi muốn cầm phôn đập lên đầu tay manager hay chèn ép tôi một cách vô lý, nhưng già hơn cậu gần 20 tuổi nên tôi kiềm chế được đấy thôi.

Mà thực ra, đã có rất nhiều lần tôi từng húc người khác rồi mà không biết hoặc húc người khác trong tư tửơng rồi đấy. Nhưng vì tôi chỉ là hạt cát trong sa mạc nên không ai chấp, không ai thấy đó thôi.

Yên trí. Cậu vẫn là ‘thần tượng’ của con trai tôi. Tôi sẽ giải thích cho nó rằng con người yếu đuối và mỏng dòn. Cậu cũng là người chứ không phải thần thánh: ni ange ni bête. Hâm mộ cậu –  một con người bình thường  –  thì cũng phải ‘nhìn nhận’ khiếm khuyết của cậu thôi. We love you just the way you are.

Yên trí. Cậu vẫn là ‘thần tuợng’ của con trai tôi, nhưng là thần tượng ở trong ngoặc và không viết hoa đấy nhá.

Chúc mừng cậu là cầu thủ xuất sắc nhất của World Cup 2006.

Và cho hỏi nhỏ điều này: Cậu có chọc tức Materazzi trước không? Ngày xưa lính tráng Algerie các cậu theo Pháp kéo sang nước Việt Nam của tôi cũng quậy lắm chứ không vừa đâu.

Nếu có gặp Chúa Giêsu, chắc thế nào Ngài cũng bảo cậu: “… Thôi đừng húc nữa.”

San Dimas 07/10/2006

Joseph VŨ

VỀ MỤC LỤC

Hành trang đời sống

 

Mỗi khi đi đâu xa, hay dọn đến chỗ nào lập cuộc sống mới, thường ai cũng đều mang theo những hành trang vật dụng cần thiết, mang theo được bao nhiêu có thể. Ðiều này gắn liền trong đời sống và tốt cùng thiết thực, nhất là với những cha mẹ nặng lòng lo cho con cái, vợ chồng có trách nhiệm lo cho nhau...

Mỗi buổi sáng đưa con đi học, cha mẹ thường làm gói bánh mì, nước uống cho con em mình để chúng ăn lúc giờ nghỉ. 

Gia đình đi nghỉ hè, vợ chồng thường lo sắp xếp quần áo, đồ dùng cá nhân cho mọi người chất lên xe sao cho đủ dùng trong những ngày nghỉ, nhiều người còn lo mang theo cả nước, bánh, gạo, bún, mì gói, nước mắm nữa....

Chúa Giêsu sai các thánh tông đồ đi đến với con người, Ngài lo cho các Ông, lo cho con người. Nhưng Ngài dặn các ông đừng mang theo gì hết. Các Ông làm theo lời Chúa dặn bảo, và Tin mừng nứơc Chúa ngày nay làn tràn khắp nơi trên địa cầu. 

Phải chăng chỉ như thế đủ là rồi?

Tôi còn nhớ nghe kể lại, mà có lẽ nhiều người đã đọc sách thuật lại, ngày xưa hồi thế kỷ thứ 17. các nhà truyền giáo từ Âu Châu sang Việtnam rao giảng tình yêu nước Thiên Chúa, họ có mang theo những hành trang vật dụng cần thiết, nhưng giữa đường bị mất cắp, bị chìm tầu thuyền mất thất lạc hết. Nên họ cũng chẳng còn vật dụng hành trang gì.

Thế nhưng các Ngài đã trở thành những người không những chỉ lo cho tinh thần con người biết đến Tin mừng đức tin vào Chúa, nhiều vị còn xây dựng những công trình như nhà thờ khang trang, trường học, nhà thương nữa, xây dựng thiết kế ra chữ Quốc Ngữ.

Có những người kể lại, ngày xưa đi lập gia đình, ngoài bộ quần áo họ chẳng có gì mang theo cả. Nhưng hai vợ chồng đã dần dần với thời gian năm tháng xây dựng nên tổ ấm gia đình lớn rộng cả về mặt vật chất nhà cửa của cải cùng con cháu. Ông Bà, Cha mẹ chúng ta những nhân chứng, là ví dụ sống động cụ thể giữa chúng ta về điều này.

Không ai chối cãi có „bột mới gột nên hồ“ được. Nhưng không phải tất cả mọi thứ đều cần phải có vật liệu sẵn mới có thể làm nên xây dựng được. Như  Tình yêu vào Thiên Chúa, tình yêu vợ chồng, tình yêu con người với nhau đâu bắt buộc có phải có sẵn nước, bột, đường sữa, gỗ đá hay xi măng cốt sắt mới xây nặn làm ra tình yêu được!

Tình yêu của đôi vợ chồng trao gửi cho nhau không dựa trên vật dụng hành trang gì khác ngoài trái tim của họ. 

Trên nền tảng trái tim luân chuyển sự sống cùng tình cảm đi khắp cùng thân thể, họ xây dựng mái nhà tổ ấm cho mình.

Trên nền tảng trái tim là trung tâm đời sống con người, họ cùng nhau xây dựng một trung tâm tình người cho con cái của họ, cho cha mẹ, anh chị em, họ hàng cùng bạn bè người quen biết.

Trên nền tảng trái tim là phần sâu thẳm cho đời sống tâm linh tinh thần đạo đức, họ muốn cùng nhau sống đức tin vào Thiên Chúa, Ðấng dựng nên và luôn cùng hằng đồng hành với trong suốt dọc đời sống. Và còn muốn rao truyền tiếp đời sống niềm tin đó cho con cháu trong gia đình sau này nữa.

Với trái tim, ngày xưa Chúa Giêsu sai các Tông đồ đi truyền giáo đến với con người trên khắp trái đất. Với trái tim các vị truyền giáo từ Âu châu sang rao truyền tin mừng nước Chúa thành công cho mọi người trên đất nước chúng ta. Với trái tim cha mẹ chúng ta đã sống xây dựng gia đình có nề nếp, sinh sản dậy dỗ giáo dục con cái là chúng ta nên người.

Với hành trang là trái tim, Ông Bà , cha mẹ, đôi vợ chồng trẻ nắm tay nhau xây dựng gia đình thành công tốt đẹp hôm qua, hôm nay và ngày mai!   

Lm. Nguyễn ngọc Long    

VỀ MỤC LỤC

GIỜ KINH TỐI TRONG GIA ĐÌNH

          VÀO ĐỀ

      Lần trước, chúng ta đã nói tới bầu khí đạo đức trong gia đình và những ưu điểm của giờ kinh tối nơi người tín hữu Việt Nam. Lần này, chúng ta sẽ nói đến những khuyết điểm. Thế nhưng, trước khi đề cập tới những khuyết điểm, tôi xin kể lại một câu chuyện để vào đề.

      Có một ông bố vợ, trong ngày cưới đã gặp chàng rể, trao cho anh ta một phong thư và nói :

      -Đây là tiền hồi môn của con gái tôi.

      Chàng rể về nhà, hớn hở mở phong thư, thế nhưng  trong đó chỉ có một tờ giấy ghi những hàng chữ như sau :

      Chịu khó làm việc trị giá 100.000 đồng

      Sạch sẽ và làm bếp giỏi trị giá 100.000 đồng

      Không ăn quà vặt  và không chạy theo thời trang trị giá    100.000 đồng.

      Tế nhị, dịu hiền và không bép xép chuyện của người khác trị giá 100.000 đồng.

      Đạo đức và sốt sắng trị giá 500.000 đồng.

      Cùng với số tiền mặt 100.000 đồng

      Tổng cộng hết thảy là một triệu đồng.

      Ông bố vợ đã có một cái nhìn sâu sắc và đánh giá đúng mức khi cho rằng : tinh thần đạo đức là điều quan trọng trong công việc xây dựng hạnh phúc gia đình.

      Như chúng ta đã nói :

      - Gia đình chính là chiếc gạch nối giữa cá nhân và xã hội. Gia đình nào xã hội nấy. Muốn cải tạo xã hội trước tiên phải cải tạo từ gia đình. Phải tề gia rồi mới trị quốc và bình thiên hạ.

      Đồng thời, gia đình còn có một ảnh hưởng sâu đậm trên bản thân chúng ta, vì nó là mái trường đầu tiên dạy cho  chúng ta những bài học làm người.

      Bởi đó, để mỗi cá nhân có được một đời sống đạo đức, chính gia đình cũng phải có một đời sống đạo đức hay nói một cách  khác : đời sống đạo đức của mỗi cá nhân, được phát sinh và bồi dưỡng nhờ bầu khí đạo đức của gia đình.

      Và bầu khí đạo đức của gia đình, một phần lớn được hình thành và được biểu lộ qua giờ kinh tối.

      Vậy đâu là những khuyết điểm của giờ kinh tối hiện nay, để rồi chúng ta ra sức sửa đổi.

      KHUYẾT ĐIỂM 

      Khuyết điểm thứ nhất, đó là quá chú trọng về lượng hơn về phẩm.

      Chúng ta thích đọc dài, đọc dẻo và đọc dai. Kéo tràn cung mây từ kinh này tới kinh khác, nhiều khi vừa đọc vừa ngủ gật, vừa lo ra chuyện nọ và chuyện kia. Chúng ta cứ tưởng rằng càng đọc nhiều bao nhiêu, càng có công bấy nhiêu.

      Đang khi đó, tục ngữ bảo :

      - Quí hồ tinh bất quí hồ đa.

      Và chính Chúa Giêsu cũng đã nhấn mạnh :

      - Khi cầu nguyện, các con chớ có ham dài lời như dân ngoại, vì họ tưởng phải nói thật nhiều mới được việc. Các con đừng bắt chước họ, vì trước khi các con xin, Cha các con đã biết rõ các con cần những gì rồi.

      Những lời kinh vô hồn, không có tâm tình, sẽ biến chúng ta trở thành những con vẹt, những chiếc máy cassette. Nếu như Chúa muốn nghe những lời kinh vô hồn ấy, Ngài chỉ cần sắm một chiếc máy cassette, rồi nhờ những giọng ca vàng như Khánh Ly, Thanh Lan…đọc hết lời kinh này đến lời kinh khác trong cuốn sách “toàn niên”. Rồi lúc nào muốn, Ngài chỉ cần nhấn nút là sẽ có ngay những lời kinh êm tai,  hơn hẳn cái giọng khàn khàn, đầy mùi thuốc lào của tôi.

      Khuyết điểm thứ hai, đó là chúng ta quá chú trọng đến lời nói hơn việc làm.

      Thực vậy, nhiều người trong chúng ta chỉ sống đạo trong nhà thờ chứ không sống giữa lòng cuộc đời. Tại nhà thờ họ đọc hết kinh này tớ