Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 52, Chúa nhật 6.8.2006


Các số báo đã phát hành           MỤC LỤC

Ơn gọi làm tông đồ Giáo dân                                                                                  Vatican 2

HỒI TƯỞNG NHỮNG NĂM LỊCH SỬ CÔNG ĐỒNG VATICAN II            Nhà Văn Hương Vĩnh

NGUỒN BẤT TẬN                                                                                    Lm. Đỗ Vân Lực, OP.

LÊN NÚI VỚI MẸ                                                                        Lm. Phêrô Nguyễn Hữu Duy

Hy sinh                                                                                                     Lm. Vũ Xuân Huyên

Trong tương quan                                                                              Lm. Nguyễn Ngọc Long

CHÓNG QUA VÀ VĨNH CỬU                                                               Phó tế JB. Nguyễn Định

Hướng đến một tầm nhìn “vươn lên và rộng mở” …                         Gs. Nguyễn Văn Thành

NĂM CÁI BÁNH                                                                Nhà Văn Bút Xuân Trần Đình Ngọc

AI LÀ CHỦ TẾ THỰC SỰ CỦA THÁNH LỄ ?                                          Lm. Fx. Ngô Tôn Huấn

GIỜ KINH TỐI TRONG GIA ĐÌNH (tiếp theo)                                                          Tuỵ Hiền

Sống siêu nhiên, Sống thánh ý Chúa trăm phần trăm            + HY. Fx. Nguyễn Văn Thuận

NHẬU                                                                                            Chuyện phiếm của Gã Siêu


Ơn gọi làm tông đồ Giáo dân

 

Giáo hội được khai sinh là để cho nước Đức Kitô rộng mở trên khắp hoàn cầu, hầu làm vinh dạnh Thiên Chúa Cha: tức là làm cho mọi người tham dự vào việc chuộc tội và cứu rỗi, để rồi nhờ họ, toàn thể vũ trụ thực sự được quy hướng về Đức Ki-tô. Mọi hoạt động của Nhiệm Thể hướng về mục đích này gọi là việc tông đồ, công việc mà Giáo Hội thực hiện nhờ tất cả các chi thể, tuỳ theo những cách thức khác nhau. Bởi vì ơn gọi làm Ki-tô hữu tự bản chất cũng là ơn gọi làm tông đồ. Cũng như toàn bộ một cơ thể sống động, không chi thể nào hoàn toàn thụ động, nhưng cùng tham dự vào đời sống và công việc của toàn thân. Cũng thế, trong Nhiệm Thể Đức Ki-tô tức Giáo Hội, toàn thân "được kêt cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân mạch nuôl dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình" (Ep 4,16). Hơn nữa, các chi thể trong thân thể này gắn bó và liên kết chặt chẽ với nhau (x. Ep 4,16), đến nỗi chi thể nào không hoạt động đúng tầm mức của mình trong việc tăng triển toàn thân đều bị coi là không hữu ích đối với Giáo Hội cũng như với chính mình.

Trong Giáo Hội, có nhìều nhiệm vụ khác nhau, nhưng đều cùng chung một sứ mệnh. Đức Ki-tô đã trao phó cho các Tông Đồ và những người kế vị các ngài, nhiệm vụ nhân danh và lấy quyền Người mà giảng dạy, thánh hoá và cai quản. Còn phần giáo dân, vì họ tham dự thực sự vào quyền tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Ki-tô, nên họ chu toàn phần việc của mình trong sứ mệnh của toàn dân Thiên Chúa trong Giáo Hội và giữa trần gian. Giáò dân thực sự thi hành việc tông đồ bằng công việc cũa mình để rao giảng Tin Mừng và thánh hoá nhân loại, đem tinh thần Tin Mừng thấm nhuần và hoàn hảo hoá những việc thuộc phạm vi trần thế, sao cho công việc của họ thuộc lãnh vực này làm chứng tỏ tường cho Đức Ki-tô và góp phần vào việc cưu độ nhân loại. Vì bản chất riêng biệt của giáo dân là sống giữạ đời và làm việc đời, nên chính họ được Thiên Chúa mời gọi để một khi tràn đầy tinh thần Ki-tô gịáo, họ làm việc tông đồ giữa đời như men trong bột.

(Trích Sắc lệnh Tông đồ giáo dân của Công Đồng Va-ti-ca-nô II, số 2)

Vatican2

VỀ MỤC LỤC

HỒI TƯỞNG NHỮNG NĂM LỊCH SỬ CÔNG ĐỒNG VATICAN II

HỒI TƯỞNG NHỮNG NĂM LỊCH SỬ CÔNG ĐỒNG VATICAN II

CỦA MỘT SỐ CHUYÊN VIÊN HOA-KỲ CÒN SỐNG

Đức Hồng Y William H. Keeler ở Baltimore cho biết Công Đồng Vatican II đã biến đổi cách hiểu biết của ngài về điều gọi là “dùng Lời Chúa trong cách giảng dạy”.

Đối với Đức Giám Mục hưu trí Raymond W. Lessard ở Savannah, Ga., thì chiều kích đại kết của Công Đồng, ngay cả trong giai đoạn chuẩn bị, là điều gây ấn tượng sâu sắc nhất.

Còn Đức Giám Mục hưu trí John S. Cummins ở Okland, California thì việc Công Đồng nhấn mạnh về Thánh Kinh đã đòi hỏi ngài rất nhiều trong vấn đề giảng dạy tốt hơn và “thay đổi cách thức chúng ta cầu nguyện”.

Đức ông Robert Trisco, một sử gia nổi tiếng về Giáo hội học cho biết thời gian Công Đồng nhóm họp 1962-1965 “là một kinh nghiệm khá lâu dài và bao hàm một cách toàn diện khó toát lược. Đó là một phần đời sống mà tôi khó quên nhất”.

Cả bốn giáo sĩ đó có một điểm chung: họ là những vị trong số những giáo sĩ ít oi người Hoa-Kỳ còn sống mà đã tham dự Công Đồng Vatican II với tư cách học giả chuyên viên. Họ đã tham dự những khóa họp có độ trên 2000 giám mục trên khắp thế giới nhóm tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô.

Những chuyên viên gồm có hơn 450 linh mục khắp nơi trên thế giới, trong đó có 50 vị đến từ Hoa-Kỳ, nhằm giúp đỡ các giám mục họp nhau tại Roma để quyết định điều gì cần thiết nhằm đổi mới Giáo Hội ở bên trong, giúp Giáo Hội dấn thân vào thế giới theo những cách thức mới mẽ ngỏ hầu đi vào một kỷ nguyên đối thoại thân tình với những giáo hội Kitô khác cũng như những tôn giáo khác.

Một số chuyên viên giúp dự thảo những tài liệu, trong khi những vị khác giúp viết ra hay chuyển dịch những bài diễn văn cho các giám mục. Chẳng hạn Đức Hồng Y Keeler và Đức Ông Trisco - nằm trong danh sách báo chí Hoa Kỳ - đã gặp gỡ các ký giả hằng ngày. Họ cũng là những thành phần thuộc tổ xuất bản “Tập San Thời Sự” của Công Đồng. Đó là một tài liệu tóm tắt các biên bản bằng Anh ngữ hằng ngày để phân phối cho các giám mục nói tiếng Anh.

Hiện nay Đức Ông Trisco là một giáo sư danh dự về “lịch sử Giáo Hội ở Đại Học Công Giáo Hoa-Kỳ” và là chủ bút “Tạp Chí Lịch Sử Công Giáo”, cho biết một trong những lúc căng thẳng nhất trong Công Đồng vào ngày 8-11-1963 là khi Đức Hồng Y người Đức – Joseph Frings – ở Cologne đã gọi những thủ tục của Thánh bộ Tín Lý và Đức Tin là lỗi thời, tai hại và nhục nhã. Đức Hồng Y Alfredo Ottaviani là bộ trưởng Thánh bộ Tín Lý và Đức Tin, nhưng trong thời gian đó chính Đức Thánh Cha đứng đầu. Đức Ông Trisco cho biết Đức Hồng Y Ottaviani “giận dữ và khó chịu ra mặt” và về sau trong cũng một khóa họp đó đã xúc động phản đối lại những lời chỉ trích trên đây của Đức Hồng Y Frings.

Đối với Đức Ông Trisco, “đó là một buổi sáng rất bi thảm” bởi vì trước kia “không ai dám chỉ trích Thánh Bộ Đức Tin như thế một cách công khai ở nơi công cọng và nhất là do một vị hồng y ở trong Công Đồng”.

Đức Giám Mục Lessard từ khi bị đau lưng kinh niên đã rời khỏi giáo phận Savannah năm 1995 và từ đó dạy môn thần học ở Chủng Viện St. Vincent de Paul ở Buynton Beach, Fla., cũng đã có mặt ở Roma trong thời gian chuẩn bị Công Đồng và về sau lưu lại đó với tư cách một viên chức của Bộ Giám Mục.

Ngài nhớ lại ủy ban soạn thảo của Công Đồng chuẩn bị việc thảo luận mời những quan sát viên các giáo hội khác. Ngài cho biết: “Tôi nghi vấn đề nầy do chính Đức Thánh Cha Gioan XXIII.” Quyết định mời các quan sát viên từ các giáo hội Kitô khác “là một khởi đầu rất quan trọng” và báo trước “những tiến bộ quan trọng” trong những tương quan đại kết kể từ đó.

Làm việc với cơ quan của Vatican trông nom các giám mục cũng như những hội nghị các giám mục, Đức Cha Lessard có lợi điểm là từ đó thấy được một cách toàn diện sự thực thi những giáo huấn của Công Đồng trên toàn thế giới về các lãnh vực đó. Ngài cho biết nhiền điều đã được thực hiện để bành trướng quyền hành của các giám mục, cổ võ giám mục đoàn và giải quyết những vấn nạn thực tế phát sinh do các hội đồng giám mục.

Ngài gọi việc thiết lập Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới là một “bước tiên phong” chuyển tải tiếng nói của các giám mục trên thế giới đối với những vấn đề mà Giáo Hội đang đối phó. Ngài gọi vấn đề giám mục đoàn là một “vấn đề thời sự” đang tác động hỗ tương giữa Giáo Hội hoàn vũ và các giáo hội địa phương.

Trong tư cách là giáo sư môn Giáo Hội học - môn thần học về Giáo Hội - ngài cho biết: “Tôi say mê Lumen Gentium (văn kiện Tín Lý của Công Đồng về Hiến Chế Giáo Hội) và tinh hoa của văn kiện đó. Tôi không thể biết được tài liệu phong phú đến mức nào.”

Theo ngài, một trong những điểm quan trọng nhất là sự khôi phục ý nghĩa của Giáo Hội như là “koinonia” tức sự hiệp thông hay tình bạn giữa các tông đồ và không chỉ bằng một ý nghĩa mang tính cách trí thức, nhưng “được cảm nhận và sống như thế nào.”

Đúc Cha Lessard cho biết một trong những khía cạnh hấp dẫn nhất của công tác đào tạo linh mục là “chống lại hội chứng trỗi vượt hiện nay: chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa đó đã ảnh hưởng trên rất nhiều lãnh vực thuộc tư duy và đời sống chúng ta. Người ta sẽ thu hút những người trẻ đó như thế nào - những linh mục tương lai đó - theo cách thức nhìn sự việc có tính cách giáo sĩ hơn…một thực tế thần học hiệp thông với giám mục và tất cả các linh mục, chưa nói tới việc tương giao với giáo dân nữa? Đó là một thách đố lớn lao, làm sao người ta chuyển biến hết những ý niệm tân kỳ đó vào trong linh đạo của họ.”

Theo Đức Hồng Y Keeler, khi nhìn lại Công Đồng, “một trong những điều đánh động tôi mạnh mẽ nhất” là khi Đức Hồng Y Augustin Bea, người đứng đầu Hội Đồng Giáo Hoàng Cổ Võ sự Hợp Nhất Kitô Giáo “đọc diễn văn…liên quan đến người Do-Thái”. Đức Hồng Y Keeler cho biết bài diễn văn đưa ra điều mà cuối cùng trở thành tuyên ngôn của Công Đồng kết án chủ nghĩa bài Do-Thái và nhìn nhận giao ước liên tục của Chúa với người Do-Thái là một trong những điểm ngoặt của Công Đồng.

Theo Ngài, một biến cố khác mà ngài còn ghi nhớ một cách sống động là thời biểu đối với Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo trong tuần lễ cuối cùng của khóa họp thứ ba của Công Đồng. Ngài nói: “Dân chúng trong quốc gia chúng tôi và phần đông ở Âu châu rất lo lắng bởi sự kiện điều đó không được chấp thuận, nhưng thực sự văn kiện đó đã trở lại trong những năm sau đó và đã trở thành một tài liệu hay hơn nhiều.”

Đức Hồng Y Keeler cho biết ngài nhớ lại tầm quan trọng mà các giám mục nhắm tới là việc cầu nguyện trước Mình Thánh Chúa ở Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô mỗi sáng trước khi buổi họp bắt đầu.

“Rồi việc kế tiếp là rước quyển Thánh Kinh. Quyển Thánh Kinh được rước lên giữa lối đi chính trong Vương Cung Thánh Đường và mở ra đặt trên bàn thờ, với ý nghĩa là quyển Thánh Kinh chủ tọa” trên Công Đồng, Đức Hồng Y nói như thế. Ngài còn cho biết thêm, tầm mức quan trọng chính của Lời Chúa được giải thích rõ ràng trong Hiến Chế Tín Lý của Công Đồng về Mạc Khải của Chúa.

Liên quan đến chính mục vụ của mình, ngài nói: “Điều mà tôi tìm thấy được, đó là tôi có thể đem ra thực hành điều hiểu biết do chúng tôi đem Lời Chúa ra khi chúng tôi giảng dạy…Đó là một cuộc cách mạng trong lối suy tư thời bấy giờ và tôi biết điều đó có một ảnh hưởng đối với tôi mãi mãi từ đó.”

Một điểm nổi bật khác đối với Đức Hồng Y Keeler là sự hiện diện và ảnh hưởng của các giám mục thuộc các giáo hội Công giáo Đông phương khiến các giám mục La-tinh nhận thấy rõ ràng hơn sự đa dạng của các truyền thống và các nền văn hóa Công giáo. Ngài cho biết sự nhận thức sâu đậm hơn của Chúa Thánh Linh đã gây ấn tượng trên ngài bởi các giáo hội Đông phương, ngài luôn cố gắng kết thúc những thư tín quan trọng bằng cách nhắc đến Chúa Thánh Linh “để dân chúng sẽ hiểu rằng Chúa Thánh Linh không phải xa lạ đối với chúng ta, nhưng Ngài phải ẩn náu trong sâu thẳm chúng ta.”

Tất cả các chuyên viên đó đều trích dẫn những cải cách về phụng vụ nhằm cổ võ dân chúng tham dự đông đảo hơn, nhất là việc đưa tiếng mẹ đẻ vào trong nghi lễ La-tinh, như quyết định của Công Đồng, có lẽ đã có ảnh hưởng lớn lao tức thời và lâu dài trên cuộc sống hằng ngày của tín hữu Công giáo. Đức Hồng Y Keeler ghi chú là không những các giám mục Âu Mỹ thúc bách việc sử dụng các ngôn ngữ địa phương nhưng các giám mục Nam Bán Cầu cũng cho thấy rằng dân chúng của họ “nhận thấy La ngữ như là một nền văn hóa thống trị; đó là chủ nghĩa thực dân ngụy trang dưới một dạng thức khác.”

Khi được hỏi về những thành quả lớn lao của Công Đồng, Đức Giám Mục Cummins đưa ra ngay một danh sách như sau: “phụng vụ, Giáo Hội, tự do tôn giáo, đại kết.

Ngài gọi việc dân chúng dấn thân một cách linh động vào vấn đề phụng vụ là một chuyển hướng trọng đại từ trước Công Đồng.

Ngài cho biết giáo huấn của Công Đồng về Giáo Hội như một cộng đồng và như là dân Chúa để nhấn mạnh tầm mức quan trọng của bí tích thánh tẩy, nhu cầu tham khảo và sự quan trọng của công luận ở trong Giáo Hội.

Ngài còn nói thêm: “Điều đó có nghĩa là người ta phải công nhận sáng kiến của giáo dân, xét về mặt quyền uy, người ta phải tạo cơ hội để sáng kiến phát sinh.”

Đức Giám Mục Cummins cho biết Công Đồng nhắm tới trọng tâm của Thánh Kinh trong nền thần học, phụng vụ và cầu nguyện “đối với tôi là một thay đổi căn bản.” Ngài cho biết khi ngài được đào tạo trong chủng viện, không có tầm mức quan trọng đối với vấn đề học hỏi Thánh Kinh và đó là một cuộc chiến đấu đối với ngài: học hỏi Thánh Kinh để rao giảng hằng ngày.

Ngài cho biết: ngài chỉ tham dự khóa họp vào năm 1963 mà thôi nhưng nhận thấy thật là  một cơ hội “phi thường”, được gặp gỡ nhiều thần học gia chủ đạo của Giáo Hội và nghe họ bàn thảo những vấn đề mà Giáo Hội phải đối phó. Ngài nói: “Chúng tôi tham dự những cuộc mạn đàm về thần học gần như mỗi ngày.”

Theo các chuyên viên, cùng với sự tiến bộ lớn lao trong việc thực thi Công Đồng trong nhiều lãnh vực thuộc đời sống Giáo Hội, họ cũng nhận thấy còn nhiều việc phải làm.

Đức Giám Mục Lessard nói: “Một trong những thách đố lớn lao là sự thực hiện đường lối của Công Đồng về vấn đề mục vụ” bằng cách triển khai một cách hữu hiệu những hội đồng mục vụ giáo phận và giáo xứ.

Đức Hồng Y Keeler cho biết phần chương trình nghị sự chưa hoàn tất “thực ra đang cuốn hút sứ điệp chính” của Hiến Chế Công Đồng về Giáo Hội. Ngài nói: “Điều đó chưa được dân chúng hấp thụ hoàn toàn…Đó là một công tác không ngừng cố gắng kêu mời dân chúng đóng một vai trò linh động hơn trong Giáo Hội.”

(Phỏng theo Jerry Filteau – Washington – CNS)

Nhà Văn Hương Vĩnh

VỀ MỤC LỤC
NGUỒN BẤT TẬN

Phúc Âm Nhật Ký Ngày 30.07.2006

NGUỒN BẤT TẬN

Ga 6:1-15

Tối qua, vừa lái xe vô nhà dòng, tôi gặp mấy người cao niên cắp sách đi học Anh văn.  Khẩu phục.  Tâm phục.  Không hiểu động lực nào thúc những bước chân mỏi mệt đó bước ra khỏi cửa nhà ?  Hỏi mãi mới biết vì các cụ đang chuẩn bị thi vô quốc tịch Hoa kỳ, mong hưởng những phúc lợi xã hội như Medicare, Medicaid v.v.

Nhưng ...

Những năm tháng về già,

Cuộc đời còn  bao xa ?

vẫn cố tìm mạch sống,

Có biết chăng nguồn sống,

Ở ngay chính lòng ta.

 

Mấy giây phút miên man

Suy nghĩ về trần gian,

Dân tộc.

Nhân loại.

Hạnh phúc,

Ðau khổ,

Ðịa ngục,

Thiên đàng.

 

Còn sống bao nhiêu năm,

chứng kiến cảnh oái oăm,

Quê hương ta giàu đẹp,

với bao nhiêu đường nét

hơn các nước láng giềng,

 

Nhưng sao dân tộc mình,

giữa tiền rừng bạc bể !

vẫn sống kiếp điêu linh ?

với bao nhiêu tội lệ.

Tại sao lại như thế ?

 

Ô kìa sau lưng tôi,

Bạn bè đang lải nhải :

“Khổ lắm, tao biết rồi,

sao mày cứ nói mãi ?!”

Nhưng tôi không sợ hãi,

Cứ tiếp tục suy tư ...

 

Nguồn sống thật vô biên,

không nằm ngoài thiên nhiên,

nhưng trong nơi tim óc,

chứ không ở trong góc

những hầm mỏ tối thui.

Thật Trời Cho quá trời,

sao biến thành Trò Chơi

trong tay lũ phản bội ,

phung phí qua năm tháng,

bao tài nguyên bất tận,

Ðồng bào chúng ta ơi !

 

Dù cho bao tim óc,

cũng chẳng có giá trị,

nếu đem xài phung phí,

vào ba chuyện thị phi.

 

Hỏi những bậc đại ngôn,

bậc công chính khi còn

sống ở nơi dương thế,

ước mơ gì, xin kể

cho muôn vàn thế hệ.

“Chúng tôi mơ một điều

không bao giờ được thấy,

muốn nghe rõ một điều

chẳng bao giờ được nghe.”

Ôi, phải chăng các ngài

đã sinh lầm thế kỷ ?!

 

Thời hoàng kim tuyệt mỹ,

đã tới bên đây rồi,

sao các vị ngôn sứ,

người công chính mọi thời,

và ở khắp mọi nơi,

không mau về đoàn tụ,

nhập đoàn với muôn dân

và chứng kiến tận mắt,

Con Chúa đã giáng trần,

đang làm muôn dấu lạ,

nuôi sống đám dân đen,

chữa lành bao bệnh tật

phục sinh nhiều người chết

chạnh thương kẻ nghèo hèn.

 

Một sự thật sáng lên,

được mạc khải tinh nguyên

không phải chỉ linh hồn,

mới được Thiên Chúa cứu,

nhưng cả xác lẫn hồn,

được hoàn toàn giải thoát.

 

Cho dù những dấu lạ,

 phi thường hay cao cả,

cũng chẳng thấm vào đâu,

với công cuộc nhiệm mầu,

Chúa quyền lực tối cao,

khi tạo thành vũ trụ.

 

Từ đầu, muôn tinh tú

được Thiên Chúa dựng nên,

nhờ Ngôi Lời hằng hữu.

Bây giờ Người đến cứu,

toàn thể cõi nhân gian,

nên đã mặc xác phàm,

và ở giữa chúng ta,

 

Người vẫn ở trong nhà,

nhưng có ai thèm nghe,

những điều rất chân thật.

Nhiều người còn lánh mặt,

và tìm cách răn đe.

 

Ôi suối nguồn bất tận

 hạnh phúc cho muôn dân

hạnh phúc đến vô ngần,

ngập tràn trong Lời Chúa.

 

Niềm tin không héo úa,

vẫn luôn xác tín rằng,

Lời Chúa thật toàn năng,

toàn năng như Thần Khí,

Lời Chúa là Chân lý,

đến giải thoát muôn dân,

ban sức sống dồi dào

cho bốn bể năm châu.

 

Hôm nay trong dấu lạ,

vừa dâng lời cảm tạ,

từ năm chiếc bánh con,

và hai con cá nhỏ,

Chúa kéo xuống muôn ơn,

 hơn năm ngàn lê dân,

ăn no lòng thỏa dạ,

Chúa truyền gom lại cả

những bánh vụn tung bay,

được mười hai thúng đầy.

 

Dấu lạ quá hiển nhiên,

chứng tỏ muôn uy quyền

của một vị ngôn sứ,

đã đến trong thế gian.

Một cơ hội bằng vàng,

tôn Người làm hoàng đế.

xôn xao bao xiết kể,

trong đại hội toàn dân,

từ nay muôn thế hệ,

sẽ thoát ách nô lệ

của đế quốc Rôma.

 

Ôi địa vị cao xa,

Lộng lẫy và xa hoa,

bao uy quyền khôn sánh,

Sao Chúa lại xa lánh, 

leo lên núi một mình

sống như người Con Một,

với Chúa Cha uy linh ?

 

Nhưng không có giờ phút,

Chúa ẩn mình cô liêu,

làm sao hết mọi điều

Chúa làm trên mặt đất,

được gọi là dấu lạ,

mạc khải Thiên Chúa Cha ?!

làm sao những dấu lạ,

mang nổi được ý nghĩa,

về Thiên Chúa tình yêu,

đã thương con rất nhiều ...

 

Xin cho con lên núi,

một mình với Chúa thôi,

con sẽ được nghỉ ngơi,

và chìm sâu trong Chúa

được Chúa thương thổ lộ,

chân lý giải thoát con,

và tình yêu vuông tròn,

trong con tim của Chúa.  Amen.

Lạy Chúa, xin cảm tạ Chúa đã dạy con một bài học  tuyệt vời !  Xin cho con đọc được ý nghĩa dấu lạ Chúa đã làm giữa trần gian.  Xin đừng để con sa vào chước cám dỗ  quyền lực và sống với những hào nhoáng bên ngoài.  Xin cho con “đi lên núi một mình” (Ga 6:15) với Chúa để con thực sự được chìm đắm trong tình yêu và chân lý  để con ngày càng được tự do và sống dồi dào trong hồng ân Chúa.  Amen.  

dzuize@gmail.com

VỀ MỤC LỤC
LÊN NÚI VỚI MẸ

 

09giờ 30 ngày 13.08.2006, Đức Cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan, Giám Mục Phan Thiết cử hành thánh lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng đường lên núi Tàpao giúp khách hành hương dễ dàng tiến bước lên núi kính viếng Mẹ Tàpao.

Từ đây, ngọn núi cao dốc đứng, nơi có bức tượng Đức Maria mà Đức Cha Marcello Piquet Lợi, Giám Mục Nha Trang, làm phép vào ngày 08.12.1959, sau 40 năm xa cách, âm thầm trong rừng rậm, rồi hơn 6 năm qua, trở thành điểm qui tụ của hàng ngàn người, không phân biệt tôn giáo, không giới hạn lãnh thổ… tề tựu về Hạt Đức Tánh-Phan Thiết vào những ngày 13 trong tháng, sẽ có một lối đi với những tam cấp bằng đá, giúp chúng ta dễ dàng vượt qua hơn 300 m đoạn đường trơn trợt để lên núi với Mẹ.

Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh Bình Thuận cho phép Toà Giám Mục  Phan Thiết làm đường lên núi với Mẹ, là dấu hiệu tích cực về tôn giáo, và là cơ hội phát triển du lịch sinh thái nơi xã Đồng Kho-xã vừa thành lập giáo xứ mới của Huyện Tánh Linh, một hướng mở khả quan cho người dân vùng cao này.

Tạ ơn Chúa, cảm ơn Mẹ đã tạo cho chúng con có đường cùng lên núi với Mẹ để gần Chúa hơn !

Núi non là nơi linh thiêng, nơi gặp gỡ giữa con người và thế giới thần linh trong quan niệm dân gian và trong Kinh Thánh. Núi đồi cũng là nơi nương ẩn khi gặp thử thách, bách hại. Núi rừng còn là nơi thư giản, phục hồi sức khoẻ, giải toả những căng thẳng của cuộc sống.

Mỗi khi lên núi, chúng ta sống lại tâm trạng của tổ phụ Abram, lần đầu tiên gặp Chúa đã “sang miền núi, ở phía đông Bết-ên… tại đây ông dựng một bàn thờ kính Đức Chúa” (St 12, 8). Trên núi, chúng ta nhớ lại mẫu gương đức tin của Abraham-Cha của kẻ tin, một đức tin mạnh đến nỗi thực hiện ý Chúa đòi hỏi quá sức mình : "Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là I-xa-ác, hãy đi đến xứ Mô-ri-gia mà dâng nó làm lễ toàn thiêu ở đấy, trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho."(St 22, 2)

Khi lần theo những bậc tam cấp tiến lên núi, chúng ta hồi tưởng hình ảnh chiêm bao của Giacóp về “chiếc thang dựng dưới đất, đầu thang chạm tới trời”, và chúng ta cùng bước đi với các thiên thần của Chúa lên xuống (x St 27, 10-12), bước lên trong niềm tin tưởng “Này Ta sai thiên sứ đi trước ngươi, để giữ gìn ngươi khi đi đường, và đưa ngươi vào nơi Ta đã dọn sẵn.” (Xh23, 20) ; bước  đi trong an bình vì “thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá.” (Tv 91, 12). Tâm trạng được đồng hành với thiên thần hộ thủ, được Chúa bảo vệ chở che, không chỉ dừng lại trong khi hành hương mà thôi, nhưng sẽ kéo dài suốt cuộc hành trình tại thế của người tín hữu, cho đến ngày “được vào ngụ trong nhà Chúa, được ở trên núi thánh của Ngài” (Tv 15, 1).

Lên núi cầu nguyện, là lúc chúng ta bắt chước Môsê đáp lời Chúa gọi : “Hãy lên núi với Ta và ở lại đó” (Xh 24, 12) để lãnh nhận thánh ý Chúa. Cắm trại trên núi, là sống lại thời gian 40 đêm ngày mà Môsê lưu lại trên núi Sinai để nhận Giao Ước Thập Giới. (x. Xh 24, 12 –18) ; 40 ngày đêm chay tịnh trong hoang địa của Chúa Giêsu trước khi bắt đầu sứ vụ (x. Mt 4, 1-11) ; hay có thể tìm được một nơi “ở đây thì tốt biết mấy” để cắm lều bên Chúa, như thánh Phêrô xưa được Chúa đưa riêng lên núi Tabor, dịp Chúa hiển dung. (x. Mt 17, 1-8)

Sống một mình trên núi, chống chọi với những thử thách khắc nghiệt, những mối nguy hiểm từ thiên nhiên, chúng ta có thể liên tưởng đến cuộc chiến của một mình tiên tri Êlia với 450 tiên tri của thần Baan và Asêra, trên núi Cátmen, nơi Thiên Chúa biểu lộ quyền năng của Ngài vượt trên mọi thần lực, mà đáp lời khẩn cầu của Êlia. (x. 1V 18, 20-40)

Ngắm nhìn sự hùng vĩ của núi đồi, chúng ta hướng về viễn tượng của ngôn sứ Isaia “Trong tương lai, núi Nhà ĐỨC CHÚA, đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao, vươn mình trên hết mọi ngọn đồi. Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi.” (Is 2, 2) một viễn tượng lớn mạnh của Nước Trời như “hạt cải…thành cây” (x. Lc 13, 19) và sự bền vững của “Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.” (Mt 16, 18) ; và chúng ta rủ nhau cùng hành hương gia nhập và tiến vào Nước Chúa : “Rằng, đến đây, ta cùng lên núi ĐỨC CHÚA, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để Người dạy ta biết lối của Người, và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ. Vì từ Xi-on, thánh luật ban xuống, từ Giê-ru-sa-lem, lời ĐỨC CHÚA phán truyền.” (Is 2, 3)

Các tín hữu, những người tham dự vào chức vụ ngôn sứ của Chúa Kitô lên núi cao, để sứ vụ rao giảng bằng lời và bằng đời sống của mình được vang xa: “Hỡi kẻ loan tin mừng cho Xi-on, hãy trèo lên núi cao. Hỡi kẻ loan tin mừng cho Giê-ru-sa-lem, hãy cất tiếng lên cho thật mạnh. Cất tiếng lên, đừng sợ, hãy bảo các thành miền Giu-đa rằng: "Kìa Thiên Chúa các ngươi!" (Is 40, 9)

Cùng với đám đông qui tụ trên núi là lúc chúng ta quây quần bên Chúa Giêsu, nhớ lại và sống giây phút gần Chúa như các tông đồ: “Chúa Giêsu lên núi ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên…”, đồng thời nghe lại Hiến Chương Nước Trời, bài giảng trên Núi Bát Phúc (x. Mt 5, 1-12), và ra sức sống tinh thần nghèo khó, hiền lành, trong sạch, khao khát sự công chính… để được vào Nước Trời.

Khi một mình trên núi, chúng ta noi gương Chúa Giêsu “Người lên núi một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình.” (Mt 14, 23) để tìm những giây phút “nghỉ ngơi một chút” (Mt 6, 31) bên Chúa, giúp “tâm hồn được bồi dưỡng” (Mt 11, 29) ; hay có cơ hội “cầu nguyện cùng Cha, Đấng hiện diện nơi kín đáo… sẽ trả công cho anh em.” (Mt 6, 6)

Còn rất nhiều đoạn Thánh Kinh liên quan đến núi, nhưng ta chỉ gặp thấy một câu nói đến việc Đức Maria lên núi : “Hồi ấy, bà Ma-ri-a vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa…” (Mt1, 39). Mẹ vội vàng lên miền sơn cước để giúp đỡ bà Isave, người nữ son sẻ cao niên đang mang thai. Trong hành trình thăm viếng này, Mẹ đã đưa gia đình ông Giacaria gặp Chúa Cứu Thế.

Tuy Tin Mừng chỉ minh nhiên kể Mẹ lên núi một lần, nhưng thực tế, như bao thiếu nữ Sion đạo đức khác, Mẹ đã nhiều lần hành hương lên Núi Sion, nơi có thành thánh Giêrusalem. Khi được Chúa đưa lên trời, Mẹ đã chọn những nơi núi rừng để hiện ra, và đó là lý do con cái Mẹ dựng tượng tôn kính Mẹ trên núi đồi, làm nơi hành hương.

Đến với Mẹ Lavang, chúng ta phải đến vùng xưa kia là rừng vắng. Đến kính viếng Mẹ Trà Kiệu, khách hành hương phải leo lên một ngọn đồi. Viếng Mẹ Bãi Dâu, các tín hữu leo lên sườn núi gần bờ biển Vũng Tàu. Giáo Phận Phan Thiết đã có một con đường giúp khách hành hương lên núi với Mẹ tại Hiệp Nghĩa-Hàm Thuận Nam, nay có thêm con đường mới giúp chúng ta lên núi với Mẹ tại Tàpao.

Lên núi với Mẹ để hồi tưởng những biến cố lịch sử cứu độ của Dân Chúa, và làm như Mẹ “hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.” (Mt 2, 19)

Lên núi với Mẹ để được gần gũi, chiêm ngắm, noi gương và cầu nguyện cùng với Đức Maria-Mẹ của người tin.

Lên núi với Mẹ là cùng đồng hành với Mẹ trên lộ trình thực thi bác ái.

Lên núi với Mẹ để nhờ Mẹ giúp ta gặp Chúa và nhờ Mẹ nhắc ta “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo." (Ga 2, 5)

Lên núi với Mẹ để rèn luyện đôi chân, giảm cân nặng của xác thịt, từng bước nhẹ nhàng, thanh thoát tiến lên.

Lên núi với Mẹ để chúng ta được cùng Mẹ lên núi Chúa, được hợp đoàn với những người mà Thánh Vịnh 24 đã ca tụng : Ai được lên núi CHÚA? Ai được ở trong đền thánh của Người? Đó là kẻ tay sạch lòng thanh, chẳng mê theo ngẫu tượng, không thề gian thề dối. Người ấy sẽ được CHÚA ban phúc lành, được Thiên Chúa cứu độ thưởng công xứng đáng. (Tv 24, 2-5)

Mừng khởi công xây dựng Trung Tâm Mẹ Tàpao, Bình An, 03.08.2006

Lm. Phêrô Nguyễn Hữu Duy

VỀ MỤC LỤC
Hy sinh

 

-  Ăn năn trở lại là từ bỏ con đường đang đi để trở lại con đường phải đi. Từ bỏ mà không mất mát? Mất mát cuộc sống quen sống, mất mát chính mình khi công nhận mình đi lạc đường…Mất mát nào mà không đau khổ? Nhưng, có mất cũ mới đưọc mới. Có chết mới được sống. Khi không thể cùng lúc có cả hai, bắt buộc phải chọn một.

Hãy chọn cái hơn, đừng chọn cái kém.

Hãy chọn cái tốt, đừng chọn cái xấu.

Hãy chọn sự sống, đừng chọn sự chết.

Dù mất tất cả mà được sự sống là còn lãi to.

Ăn năn trở lại là mất cũ được mới, là mất xấu được tốt, là mất kém được hơn, là mất sự chết được sự sống. Mất mát để được thêm, đau khổ để hạnh phúc.

- Tin mừng của Chúa không giải phóng ta khỏi Thánh gía, nhưng giúp ta can đảm và an vui vác Thánh gía đến cùng.

- Ðể cho người đóng đinh mình vào thập gía là khổ nhục. Tự đóng đinh mình vào thập gía lại là vinh quang.

-  Chúa Giêsu dùng Thánh gía để cứu chuộc ta. Cho nên, ta cũng không thể được cứu chuộc ngoài cây Thánh gía.

- Thánh gía Chúa cứu độ ta. Thánh gía ta thánh hóa ta. Ðừng tìm thánh gía ở xa, nhưng hãy vui vẻ vác thánh gía ta đang vác. Như thế cũng đủ để thánh hóa ta và cưu độ ta.

-  Nhờ cây Thánh gía sự chết đã biến thành sự sống, đau khổ đã biến thành vinh quang, nô lệ đã được giải phóng. Sự biến đổi này chỉ Thiên Chúa mới làm được.

- Trong lúc bị treo trên cây Thánh gía, người ta thách thức: Nếu Ðúc Kitô xuống khỏi cây Thánh gía, người ta sẽ tin. Phải chi Ngài xuống khỏi cây Thánh gía thì có lợi hơn nhiều, chúng ta nghĩ vậy. Nhưng ngài vẫn không xuống vì cái lợi của ta không giống cái lợi của Ngài.

-  Thánh giá của mình thường nặng hơn thánh gía của anh chị em. Vác dùm thánh gía cho anh chị em nặng nhọc hơn vác dùm thánh gía cho Chúa, khi coi Chúa và anh chị em nhẹ hơn chính mình.

Lm. Vũ Xuân Huyên

VỀ MỤC LỤC
Trong tương quan

 

Cha mẹ nào cũng đều lo liệu cho con em mình có đầy đủ cơm ăn no bụng, quần áo sạch sẽ tươm tất, cơ hội học hành, theo khả năng có thể. Việc lo lắng cho con cái như thế không chỉ biểu lộ sự chu toàn trách nhiệm là cha mẹ, nó còn nói lên nhiều hơn nữa: tình thương yêu.

Có những gia đình có hoàn cảnh yếu kém, nhiều cha mẹ không biết phải làm thế nào để lo cho con cái mình có phương tiện cho con cái học hành tiến lên với đời. Nỗi lo âu của những cha mẹ này không là nỗi thất vọng, nhưng nó biến thành đà sức giúp cho chính họ và cho cả con cái niềm hy vọng cố vươn lên. Chính tình yêu mến, tình liên đới đã giúp họ vươn lên bằng những việc, những phương tiện nhỏ bé và ít oi trong tầm tay.

Và trong đời sống hầu như ai cũng đã sống trải qua cảnh huống khó khăn. Vì chỉ có thể bắt đầu hoặc với con số không, hoặc có rất ít làm căn bản! Thế nhưng với trái tim cùng trí khôn thân xác, họ đã vượt qua đạt đến thành công.

Ðó là trong đời sống. Nhưng còn trong niềm tin đạo giáo, phép lạ Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều cho năm ngàn người ăn no đủ ( Ga.1-15), mang ý nghĩa sứ điệp gì?

Ðây là hình ảnh về Phép Bí tích Thánh Thể, mà Chúa Giêsu sau này trước khi chịu chết sẽ thiết lập làm lương thực cho niềm tin. Như vẫn được hiểu, được cắt nghĩa.

Nhưng qua Phép lạ này Chúa Giêsu còn muốn nhắn gửi điều khác hơn nữa:

- Thầy lo lắng cho anh em có đủ cơm bánh no đủ, nếu anh em liên kết trong tương quan với Thầy!

Cho tất cả những ai tin cùng những ai đến với Chúa Giêsu.

- Thầy liệu toán khác với Ông Philipphê!

Thánh Philipphê bối rối không biết làm sao có đủ tiền mua bánh và mua ở đâu cho số đông hàng ngàn người ăn. Chúa Giêsu thì không tính theo thước đo con người. Với Ngài số ít thường nhiều hơn như ta nghĩ tưởng. Ngạn ngữ cũng có câu “của ít lòng nhiều” .

- Với Thầy, em bé có chiếc bánh và hai con cá là quan trọng!

Năm ngàn người đàn ông được ăn no đủ dư thừa được kể đếm nhắc tới. Nhưng qua em bé vô danh đó những người bé nhỏ, không được ai chú ý tới như phụ nữ, trẻ em, những người không tên tuổi, bị bỏ rơi…là quan trọng. Họ là trung tâm cho sứ điệp tình yêu thương liên đới.

- Thầy muốn nhận những gì anh em có, đừng thêm bớt gì hết!

Em bé vô danh có hai chiếc bánh và hai con cá được đưa đến giới thiệu với Chúa Giêsu là hình ảnh nói lên điều này. Những gì em bé vô danh đó có, em đưa cho Chúa Giêsu hết. Ngài nhận và tạ ơn Thiên Chúa. Trước mặt Chúa, dù ta là gì đi nữa, Ngài ban cho ta chỗ xứng đáng đầy đủ nhiều hơn lòng mong ước.

- Và qua người bé nhỏ, Thầy thể hiện việc làm lớn lao cả thể!

Nếu em bé vô danh không tặng Chúa Giêsu tặng phẩm cá và bánh, chắc Chúa Giêsu đã không có gì để cho đi tiếp.

- Mỗi người đều có phần!

 Tin Mừng thuật lại ai nấy được ăn uống no đủ dư thừa. Không ai phải đói bụng. Phải, họ không chỉ nhận được cá bánh no đủ cho bao tử, cho gân cốt thân xác, nhưng họ còn nhận được tình thương mến và sự gần gũi từ nơi Thiên Chúa nữa.

- Thầy không phải là mẫu người mà anh em ao ước tìm kiếm đâu!

Chúa Giêsu thấu đáo tâm lý lòng dạ con người muốn tôn vinh Ngài làm vua. Vì Ngài cho họ cơm bánh no đủ. Nhưng ngài vẫn qủa quyết Ngài không thuộc về thế giới địa cầu này. Bản thân chức vị cùng quyền năng của Ngài là Con Thiên Chúa vượt qúa khỏi trí tưởng của con người: một Thiên Chúa đến với con người trần thế từ trời cao, và lại trở về trời cao qua cây thánh gía!

Ngài vẫn hằng là lương thực tình yêu cho tâm hồn con người trong tấm bánh Thánh Thể nhỏ bé nơi Nhà Chầu.

Lm. Nguyễn ngọc Long

VỀ MỤC LỤC
CHÓNG QUA VÀ VĨNH CỬU

 

Bẩy kỳ quan của thế giới thật là hùng vĩ ! Những kiến trúc của nhiều công phu của loài người gồm có: 1- Lăng mộ của Mausolos được xây dựng năm 350 trước Công nguyên. 2/ Đền thờ thần Artemis tại Ê-phê-xô. 3/ Vườn treo Ba-by-lon. 4/ Ngọn hải đăng của vua Ptolemy gần A-lếch-xăng-đri. 5/ Tượng thần Apollo cao hơn 30 mét. 6/ Thương thần Zeus tại thủ đô của Olympia cao hơn 12 mét và các Kim tự tháp tại Ai-cập.

Sáu trong số bảy công trình này đã bị tàn phá. Ngọn hải đăng của vua Ptolemy sụp đổ sau một cơn động đất, còn 5 kỳ quan kia bị phá hủy bởi những tên cướp. Chỉ  còn lại các kim tự tháp để chúng ta chiêm ngưỡng trong sự thán phục.

* Một phút suy tư:  Bạn có thể trầm trồ thán phục trước bảy kỳ quan này cũng như các công trình nguy nga khác của con người; nhưng đừng bao giờ quên rằng: mọi vật trên thế gian chỉ là tạm bợ! Rất nhiều những kiệt tác kiến trúc làm hả hê những kẻ kiêu ngạo, vênh vang lên mặt, khi họ tưởng rằng các công trình này sẽ đời đời bền vững. Thế nhưng chỉ một cơn động đất, chỉ một cuộc chiến tranh nhỏ như tại Trung đông hiện nay cũng làm đổ nát tan tành, như Lời Kinh Thánh :  “…Thầy bảo thật anh em: tại đây sẽ chẳng còn hòn đá nào chồng lên hòn đá nào; tất cả đều sẽ bị phá đổ.”  (Mt 24, 2)

Những gì bạn thấy đây sẽ tiêu tan trong lữa hủy diệt của ngày Chúa đến, còn như tình yêu, hy vọng…thì sẽ tồn tại vĩnh cưủ  và rực sáng. Bạn sẽ đặt niềm tin của mình vào điều nào? Những thứ tạm bợ hay sự vĩnh cửu? Trả lời thì dễ, nhưng cách sống, thì giờ, tâm trí, sức lực của bạn tập trung vào điều gì, đó mới là câu trả lời chính xác.

Bạn đang sống cho Nước Trời vĩnh cữu hay mải mê vun đắp cho cuộc sống tạm bợ nay còn mai mất? Do đó Thánh Phaolô khuyên:

“Vì thế, chúng ta mới không chú tâm đến những sự vật hữu hình, nhưng đến những thực tại vô hình. Qủa vậy, những sự vật hữu hình thì tạm thời, còn những thực tại vô hình mới tồn tại vĩnh viễn.”        (2 Corintô 4, 18)

Phó tế: GB Nguyễn văn Định/Huyền Đồng  *  johndvn@yahoo.com

VỀ MỤC LỤC

Hướng đến một tầm nhìn

“vươn lên và rộng mở” trong lòng cuộc đời …


1. Ba tầm nhìn khác nhau

Trên đường đi dạo quanh Hồ Gươm, tôi đã gặp những người lao động quét đường. Tôi đến gần và hỏi từng người: “Thưa Bác, Bác đang làm gì trên con đường này?”.

Người thứ nhất trả lời:

- Tôi đang quét đường phố.

Người thứ hai dùng lời lẽ một cách cụ thể và thẳng thắn:

- Tôi làm việc để kiếm cơm cho gia đình.

Người thứ ba nhìn tôi với đôi mắt cương quyết:

- Tôi đang xây dựng Đất Nước và phục vụ anh em đồng bào.

Ba người đang thực hiện một công việc hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, mỗi người xác định TẦM NHÌN của mình một cách hoàn toàn độc đáo, tùy vào những trải nghiệm khổ đau và hạnh phúc, trên suốt tiến trình của cuộc đời làm người.

Tầm nhìn phải chăng là cách thức của mỗi người đang trả lời câu hỏi được cưu mang và ấp ủ trong đáy sâu của cõi lòng: “Tôi là ai ở giữa Trời Đất, Vũ Trụ này? Tại sao tôi có mặt ở đây? Cuộc đời tôi có ý nghĩa và hướng đi như thế nào?

2. Ba loại câu hỏi

Trong suốt 30 năm làm việc với những trẻ em có những “rối loạn phát triển lan tỏa” từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, ngày ngày chia sẻ và đồng hành với các người làm cha mẹ, tôi cũng đã có dịp trải nghiệm ba thể thức đặt vấn đề khác nhau:

Cách thứ nhất: Tại sao Trời “đánh tôi”? Tôi đã làm gì nên tội, để Trời Đất Thần Phật giáng xuống trên đầu tôi một đứa con tự kỷ, không biết nhìn tôi, không trao cho tôi một nụ cười? Suốt bao nhiêu năm, tôi chờ đợi được gọi là Ba, là Má, … Nhưng giờ phút hạnh phúc ấy càng ngày thoát khỏi tầm tay và niềm hy vọng bé mọn của tôi!

Cách thứ hai: Tôi phải làm gì để cho cháu nhìn vào mắt của tôi? Phải chăng tôi cần phải dùng roi đòn, những lời đe dọa, những hình phạt càng ngày càng gia tăng để cháu mở miệng phát ra một đôi từ? Con sáo còn nói được “chào ông, chào bà …”, sau khi tôi cho ăn ớt cay hay là lấy dao cắt đi một chút lưỡi… Biện pháp nào có thể “chữa lành” hội chứng tự kỷ, cho dù phải đi qua con đường “bạo động, đàn áp” với đứa con mà vợ chồng tôi đã mộng mơ, chờ đợi và cưu mang trong tâm hồn?

Cách thứ ba: Mỗi đứa con, từ khi chào đời, bằng cách này hay cách khác, đều nhất loạt đặt ra cho cha mẹ ba loại câu hỏi khác nhau:

- Ba mẹ ơi,  phải chăng con là con người có giá trị, bất luận tai nạn gì đã, đang và sẽ xảy ra trong suốt cuộc đời của con?

- Ba mẹ ơi, phải chăng con luôn luôn được thương yêu cho dù con đang có những khuyết điểm trong bản thân và cuộc đời?

- Ba mẹ ơi, phải chăng con có khả năng làm người, với tất cả vốn liếng mà con mang theo trên mình, từ ngày cha mẹ âu yếm lại gần nhau?

Làm sao có thể trả lời ba câu hỏi này cho đứa con nếu chính cha mẹ không xác định được TẦM NHÌN về cuộc sống làm người của mình? Nói cách khác, vì lí do gì tôi có mặt trong lòng cuộc đời? Tôi đi về đâu, hướng đến một đích điểm cuối cùng nào? Như thế nào? Với cách thức nào, tôi thực hiện những ước mơ mà tôi cưu mang và ấp ủ? Ở vào công đoạn cuối cùng của đời làm người, tôi thấy tôi và tôi cảm nhận tôi làm người như thế nào? Nói khác đi, viễn ảnh về con người của tôi sẽ như thế nào, khi mọi sự đã hoàn tất một cách viên mãn và tròn đầy trong lòng Đất Nước và trên mặt địa cầu?

Ai sẽ giúp tôi ngày ngày học tập xây dựng một tầm nhìn năng động, bao la và trọng đại, với từng bước đi lên cụ thể trong giờ phút hiện đại “ở đây và bây giờ”? Những giá trị nào sẽ tạo phấn khích, hăng say, khả dĩ hướng dẫn và soi sáng con đường trực chỉ vào mục đích cuới cùng của cuộc đời, thậm chí trong những ngày hoạn nạn và khổ đau, cơ cực và thiếu thốn?

3. Trở lại với đứa con mang hội chứng tự kỷ …

Để xây dựng Tầm Nhìn:

Trong tầm nhìn của mình về bản thân và cuộc đời, nếu cha mẹ và thầy cô không ý thức mình là con người có gia trị, cuộc đời có ý nghĩa lung linh và diệu vợi … làm sao các vị ấy sẽ có khả năng tạo mọi điều kiện thuận lợi và tốt hảo, nhằm giúp con cái thành người, thậm chí khi đứa con ấy mang trên mình những dấu hiệu “nguy cơ tự kỷ”?

Trong tầm nhìn của mình về bản thân và cuộc đời, nếu cõi lòng của cha mẹ và các giáo viên đang phục vụ trẻ em tự kỷ, không tràn đầy và thấm nhuần tình yêu thương bao la, giống như tổ tiên của chúng ta là Lạc Long Quân và Âu Cơ, chúng ta sẽ còn có gì để cho, để trao truyền cho con cái?