Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 53, Chúa nhật 20.8.2006


Các số báo đã phát hành        MỤC LỤC

ĐỨC Ál LÀ LlNH HỒN CỦA MỌl VlỆC TÔNG ĐỒ                                                       Vatican 2

MỘT LINH MỤC DÒNG TÊN CHUYÊN VIÊN VẪN TIẾP TỤC...                Nhà văn Hương Vĩnh

“SỐNG TRONG ĐỜI SỐNG, CẦN CÓ MỘT TẤM LÒNG...”                                    Lm. Lê Quang Uy, DCCT

THIÊN TÍNH                                                                                           Lm. Đỗ Vân Lực, OP.

Những vui buồn khi theo chân Chúa                                                          Phùng văn Phụng

BÍ QUYẾT GIỮ HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH LÀ GÌ?                                     Lm. VŨ XUÂN HẠNH

Mùa khai trường                                                                               Lm. Nguyễn Ngọc Long

Ðường đời sống                                                                                      Lm. Vũ Xuân Huyên

Lương thực tình yêu                                                                      Lm. Giuse Ngô Văn Thích

CANH TÂN TINH THẦN CẦU NGUYỆN                                                                     Tuỵ Hiền

Tác phẩm Đường Hy Vọng (tiếp theo)                                    + HY. Fx. Nguyễn Văn Thuận

NGHỈ,                                                                                           Chuyện phiếm của Gã siêu


ĐỨC Ál LÀ LlNH HỒN CỦA MỌl VlỆC TÔNG ĐỒ

 

Giáo dân có bổn phận và quyền làm tông đồ do chính việc kết hợp với Đức Ki-tô là Đầu. Họ được chính Chúa chỉ định làm việc tông đồ, vì bí tích Thánh Tẩy sát nhập họ vào Nhiệm Thể Đức Ki-tô, bí tích Thêm Sức làm cho họ nên mạnh mẽ nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Họ được thánh hiến để trở nên hàng tư tế vương giả và dân thánh (x. 1 Pr 2,2-1O), hầu trong mọi việc họ dâng những lễ vật thiêng liêng và làm chứng cho Đức Ki-tô trên toàn thế giới. Đằng khác, đức ái như là linh hồn của mọi việc tông đồ, được chuyển thông và nuôi dưỡng nhờ các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể.

Việc tông đồ được thực thi nhờ đức tin, đức cậy, đức mến là những nhân đức mà Chúa Thánh Thần đổ đầy tâm hồn mọi thành viên của Giáo Hội. Hơn nữa, nhờ điều răn bác ái, điều răn cao trọng nhất của Chúa, mọi tín hữu được thúc đẩy để tìm vinh danh Thiên Chúa bằng cách làm cho Nước Người trị đến và mưu tìm sự sống đời đời cho mọi người, để họ nhận biết Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và Đấng Người đã sai đến là Đức Giê-su Ki-tô (x. Ga 17,3).

(Trích Sắc lệnh Tông đồ giáo dân của Công Đồng Va-ti-ca-nô II, số 3)

VỀ MỤC LỤC
40 năm, sau Công Đồng Vaticano 2

 

MỘT LINH MỤC DÒNG TÊN CHUYÊN VIÊN

VẪN TIẾP TỤC KHẢO SÁT SỰ THỰC THI CÔNG ĐỒNG VATICAN II

Đứng trên một viễn tượng rất đặc biệt, một linh mục Dòng Tên đã phục vụ với tư cách chuyên viên thần học thuộc Công Đồng Vatican II còn tiếp tục khảo sát những cuộc bàn cãi, thành quả và sự thực thi Công Đồng.

Bốn mươi năm sau khi phục vụ trong tư cách “peritus” (chuyên viên tại Công Đồng), cha Paolo Molinari là người đảm trách hồ sơ phong thánh cho Đức Giáo Hoàng Phao-lồ VI – vị giáo hoàng đã chủ tọa ba trong số bốn khóa họp của Công Đồng và đã giám sát việc thực thi Công Đồng cho đến khi băng hà vào năm 1978.

Cha Molinari cho “Cơ Quan Báo Chí Công Giáo” biết là Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã xây dựng Công Đồng và “nghĩ rằng Công Đồng trở thành một cuộc tập họp của một đại gia đình hạnh phúc, nhưng Công Đồng không chỉ có như vậy thôi. Công Đồng đã phát động những cuộc thảo luận đòi hỏi Giáo Hội phải đối phó với vô số vấn đề thần học mà bắt đầu được tranh luận bởi một số giám mục và thần học gia và không phải luôn luôn theo cách thức phù hợp với những giáo huấn của Giáo Hội. Công Đồng kéo dài 4 năm và trong thời gian giữa hai khóa, có nhiều cuộc thảo luận nhằm cố gắng làm cho các vấn đề được sáng tỏ.”

Còn rắc rối hơn nữa, những phương tiện truyền thông về diễn tiến Công Đồng đạt tới một mức độ chưa từng có đối với những công đồng trước kia. Nhiều cuộc tranh luận cũng như cố gắng ảnh hưởng các giám mục được trình bày trên báo chí thay vì trong hội trường, qua những cuộc hội thảo nho nhỏ hay bằng những thư tín riêng.

Theo cha Molinary, cuộc thảo luận công khai càng làm trầm trọng thêm lên những dị biệt giữa những người gọi là bảo thủ và cấp tiến, xem như một số người trong Giáo Hội nghĩ rằng mọi việc trong thực tế đều được đem ra thảo luận hết.

Đối với vị linh mục Dòng tên 81 tuổi nầy, trọng điểm của Công Đồng đối với Thánh Kinh là bí quyết để lãnh hội những thay đổi có tính cách tích cực trong Giáo Hội suốt 40 năm qua. Theo cha Molinary, bằng cách hỗ trợ một cách tích cực sự nghiên cứu Thánh Kinh, cổ võ việc đọc và học hỏi Thánh Kinh đối với các tín hữu và khích lệ sự tham gia tích cực Thánh Lễ, Công Đồng đã giúp hết mọi tín hữu Công giáo làm quen với những chủ đề cốt yếu về mạc khải của Thiên Chúa. Ngài nói: “Hiểu biết Thiên Chúa đã yêu thương và quan tâm đến nhân loại như thế nào, Ngài đã đến với chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô và sự kiện Chúa Kitô trao ban Mình Ngài cho đến chết vì chúng ta, đã làm cho mối tương quan giữa chúng ta với Chúa Giêsu trở nên dễ dàng, mới mẻ và bền chặt hơn.”

Cha Molinary cho biết trọng tâm đặt để vào sự tương quan với Chúa Giêsu đang sống động trong cộng đồng Giáo Hội đã củng cố sự hiểu biết của tín hữu Công Giáo về sự trao ban qua Bí Tích Thánh Thể và đời sống Kitô hữu có ý nghĩa như thế nào. Theo cha, “đó là môt sụ hiệp nhất xuất phát từ tình yêu sống trong một ơn gọi tự hiến thân mình” cho dù trong đời sống linh mục, đời sống tu trì, hôn nhân hay độc thân.

Cha Molinary nói rằng viễn tượng Thánh Kinh về việc Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ, đồng hành với dân Ngài qua cuộc sống trần thế, kêu gọi họ hành động một cách chính trực và quan tâm đến kẻ yếu kém cũng có quan hệ mật thiết rất lớn đối với cách thức mà Giáo Hội và các thành viên của Giáo Hội tưong quan đến thế giới. Với cha Molinary, theo gương Chúa Giêsu, Công Đồng xác định rằng “khi tiền tài, quyền lực, kiến thức hay ngay cả tôn giáo được dùng để khai thác dân chúng thì điều đó đáng bị chỉ trích.”

Cha cho biết Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội - Lumen Gentium – khi nói về Giáo Hội như “dân Chúa” hay như “Giáo Hội lữ hành” thì thành ngữ “thân thể Đức Kitô” quan trọng nhất: đó là sự sống tuôn chảy từ Chúa Giêsu là đầu, liên kết chúng ta lại với nhau và sai đi giữa trần thế.”

Về cuộc tranh luận Công Đồng nhằm mục đính gì đối với Giáo Hội, cha Molinary cho rằng có một sự thiếu thận trọng đã xảy ra ngay cả trước Công Đồng cũng như trong thời gian Công Đồng được tỏ bày bởi những người không muốn thay đổi gì hết và những người muốn thay đổi tất cả. Ngài cho biết, thay vì cố gắng quay ngược kim đồng hồ trở lại, nhiều vị lãnh đạo Giáo Hội và tín hữu ngày nay đang ra sức phục hồi “một số giá trị và những tập tục đã bị loại trừ hay ngay cả bị chế giễu, chủ yếu vì cách thức mà họ diễn đạt không còn được quảng diễn cho dân chúng. Những người đó không nói: ‘chúng ta đã đi quá xa’, nhưng họ nói: ‘có thể chúng ta đã thiếu sót điều gì đó.’”

Nhu cầu có những  giây phút thinh lặng và thẩm định bản chất hy sinh của Thánh Thể, theo cha, đó là một thí dụ. Vì vậy đã có quyết định phát hành một tài liệu giáo lý của Giáo Hội phổ cập và dễ hiểu đối với những người nam cũng như nữ hiện nay. Ngài kết luận: “Thánh Thần của Chúa hoạt động trong Giáo Hội, hướng dẫn hoạt động khôn ngoan đối với những ai không có trí óc khép kín cũng như không chống đối.”

(Phỏng theo Cindy Wooden – Vatican City – CNS)

Nhà Văn Hương Vĩnh

VỀ MỤC LỤC
“SỐNG TRONG ĐỜI SỐNG, CẦN CÓ MỘT TẤM LÒNG...”

 

Quý độc giả Ephata và Chứng Nhân Đức Kitô thân mến,

 

Trong những tháng hè vừa qua, khắp nơi chấn động xôn xao về chuyện thầy giáo Đỗ Việt Khoa, trường Phổ Thông Trung Học Vân Tảo, đã liều mình bất chấp mọi trù giập, lên tiếng tố giác những lem nhem bê bối trong việc thi cử tại tỉnh Hà Tây. Như một giọt nước tràn ly, nói đúng hơn, như tức nước vỡ bờ, bao nhiêu chuyện nhếch nhác xấu xa trong ngành giáo dục lâu nay, bây giờ được thể, nổ tung trên báo chí, trên các diễn đàn của người dân đã quá bức xúc đau khổ. Thậm chí có hẳn một website www.dovietkhoa.com làm hậu thuẫn bênh vực cho thầy giáo Khoa và tạo thành những đợt sóng chống tiêu cực và đòi đổi mới toàn ngành giáo dục.

 

Mà không chỉ ngành giáo dục, các ngành khác trong xã hội mấy năm nay đã lần lượt vỡ toang những cái đã cố gắng bưng bít, bên ngoài thấy thành tích lừng lẫy nhưng thực chất bên trong đầy những gian dối tiêu cực. Nhưng công bằng mà nói, ai cũng phải thán phục thầy Khoa ở chỗ ông đã không chấp nhận im hơi lặng tiếng, không cúi đầu khoanh tay trước cái xấu, ông đã để cho lương tâm bật kêu lên thảng thốt, không chỉ để vạch trần tội lỗi mà còn để cảnh giác mọi người trước cám dỗ của tội lỗi.

 

Cái thắc mắc trăn trở của chúng tôi là: thế còn bao nhiêu thầy cô giáo, bao nhiêu giáo sư là người Công Giáo, bao nhiêu Linh Mục, nam nữ Tu Sĩ chúng ta thì ở đâu ? Tiếng nói của họ nhỏ quá giữa cuộc sống quá ồn ào hôm nay ? Hay là họ biết có kêu cũng vô ích, thôi thì chọn thái độ im lặng, rồi âm thầm sống chứng tá Tin Mừng, nghĩa là chấp nhận làm một ngọn nến giữa bóng tối tội lỗi đang tràn lan ?

 

Thế rồi, chiều nay, chúng tôi bất ngờ nhận được một E-Mail của một bạn trẻ là nữ sinh viên Y Khoa năm cuối cùng. Bạn đã bộc bạch tất cả nỗi lòng vừa tức giận lại vừa như tuyệt vọng buông xuôi. Bạn đã không thể giả điếc, giả câm được nữa trước quá nhiều những tệ nạn vô nhân trong ngành Y. Bạn tự thấy nhục nhã dằn vặt vì đã vô tình đồng loã với tội lỗi gây ra cái chết cho những bệnh nhân nhỏ bé và nghèo khó đáng thương... E-Mail của bạn dài lắm, chúng tôi chỉ xin trích đăng ở đây những phần quan trọng nhất, mạnh mẽ nhất mà cũng xót xa nhất:

 

“Cha ơi, con nhìn cảnh bệnh nhân bị bóc lột dã man mà con lại không thể bênh vực, thấy họ bị thiệt thòi mà con lại im hơi lặng tiếng. Con thấy mình không xứng đáng là người Ki-tô hữu nữa, cha ạ !

 

Ví dụ như việc lấy máu bệnh nhân làm xét nghiệm, người ta đã phải trả mấy trăm ngàn để có được kết quả, vậy mà khi lấy máu họ, các nhân viên y tế đã lấy thiếu máu, lại nỡ lòng nào lấy máu người khác thế vô cho đủ số lượng để làm xét nghiệm ! Trong những trường hợp xét nghiệm khác, các y sĩ in sẵn kết quả bình thường đã lưu trong máy đưa luôn cho bệnh nhân. Trời ơi, nếu lỡ bệnh nhân ấy có nguy hiểm thật sự thì sao ? Và nếu phát hiện trễ, điều trị không kịp thì có thể dẫn đến tử vong. Vậy mà những con người có trách nhiệm đến sinh mạng người ta như thế lại dửng dưng thờ ơ đến thế, họ vẫn thản nhiên làm những việc sai trái như vậy, hằng ngày !

 

Rồi con lại chứng kiến trong bệnh viện những đứa trẻ vô tội chết vì sự vô trách nhiệm của các khoa. Có một em bé thận bị ứ mủ, phải chuyển ngay đến khoa Ngoại Niệu, nếu được phẫu thuật ngay thì vẫn có cơ may sống khá cao, nhưng khoa ấy đã không nhận, họ tìm đủ mọi cách để chứng minh rằng bệnh này không phải thuộc lãnh vực của họ. Loại bệnh này cũng khá nguy hiểm, lại không có thian để tìm hiểu nghiên cứu thêm, nếu như lỡ để bệnh nhân chết tại khoa của họ, họ sẽ phải chịu trách nhiệm.

 

Thế là họ đã không cố gắng hết mình để tìm cho ra bệnh. Cuối cùng em bé đã chết, xét nghiệm và pháp y cho thấy bệnh của em đúng là thuộc bổn phận cứu chữa ở khoa của họ. Ở đây con không nói chuyện giỏi hay không giỏi để chẩn đoán được bệnh, nhưng đây là vấn đề Y Đức. Nếu như họ nhiệt tình sốt sắng hơn, chắc chắn em bé đã không chết !

 

Lại có một chị bác sĩ khá trẻ đã đánh mất mạng sống của một em bé khi chị vô tình chỉ khám qua loa cho em. Em bé đã chết vì cơn suy hô hấp. Còn chị bác sĩ thì mất ăn mất ngủ suốt một tuần lễ liền. Thế rồi chị đã nhận được một lời khuyên của một vị bác sĩ dày dạn kinh nghiệm khác, rằng: “Bệnh ấy trước sau gì cũng chết, chỉ có điều là em đã đưa nó đi sớm hơn thôi, có gì đâu phải buồn ? Rồi em sẽ phải quen với những việc tương tự như thế này nếu em còn làm ở đây. Buồn chi cho khổ sở vậy em ?”

 

Ở một phiên trực tại khoa Hô Hấp, một bác sĩ trẻ khác, tương đối còn ít kinh nghiệm, đã nhận được một ca phù phổi cấp chuyển đến. Anh này tuy có đạo đức hơn các bác sĩ khác một chút, tuy nhiên có đức mà không có kiến thức thì cũng giống những người vô trách nhiệm vậy thôi. Anh đã lúng túng không biết nên sử dụng thuốc gì nên quyết định mời một bác sĩ chuyên khoa Tim Mạch lên hội chẩn bệnh cho em bé. Nào ngờ hôm ấy tại khoa Tim Mạch lại là buổi trực của một anh bạn cùng khoa với anh ta, nghĩa là cả hai đều con non tay nghề. Thế là cả hai đều nhất trí cho bé dùng một thứ thuốc không đúng, họ đã cướp đi mạng sống của em bé trong tích tắc.

 

Các bác sĩ khác biết chuyện đều ra vẻ luyến tiếc và tự an ủi rằng: “Đúng là chết có số ! Nếu như là những bác sĩ khác nhiều kinh nghiệm hơn trực khoa hôm ấy, chắc cô bé bệnh nhân ấy đã không chết !”

 

Cha biết không ? Nhiều nơi các bác sĩ xem bệnh nhân như một món hàng, moi móc bóc lột cho bằng được tiền bạc của bệnh nhân rồi ăn chia với nhau. Bệnh nhân tới khám tại phòng mạch tư, nếu để họ được điều trị ngoại trú thì bác sĩ sẽ ăn được rất ít tiền. Vì thế ông ta cấu kết với người trong khoa để bệnh nhân ấy vào điều trị nội trú trong bệnh viện, như vậy, sẽ kiếm được nhiều tiền hơn, rồi ông ta sẽ chi cho mỗi người có liên quan vài trăm ngàn, mặc cho người nhà bệnh nhân phải vất vả xoay sở vay mượn để có được vài triệu. Thật ra, bệnh ấy nếu được điều trị ngoại trú thì chỉ tốn có vài trăm !

 

Còn rất nhiều điều nữa cha ơi, con không đủ sức để kể hết ra đây. Cha cứ hình dung mà coi, con chỉ là một sinh viên thôi, những chuyện con thấy tận mắt, con nghe kể, con gặp gỡ hằng ngày khi đi học hoặc thực tập bệnh viện, rồi đi làm thêm ở các phòng mạch mà đã đầy dãy như thế thì huống hồ trong thực tế và ở nhiều nơi khác nữa mà con không thể biết được, thì còn có thêm bao nhiêu chuyện kinh khủng đến đâu...”

 

Nhận Mail rồi, chúng tôi vội gọi điện cho bạn sinh viên, bạn bảo: “Cha ơi, nếu cha có đưa bài của con lên báo, cha cứ để nguyên tên con. Trước đây thì con còn sợ bị liên luỵ này kia, bây giờ thì con bất chấp, không thể chịu mãi như thế được nữa !” Dù vậy, chúng tôi thấy khôn ngoan nhất vẫn phải giữ kín nhân thân của cô bé, ít là cho đến khi cô tốt nghiệp bác sĩ vào năm tới. Biết đâu đấy, bao nhiêu những con người đã dám lên tiếng công khai đều bị trù giập ém nhẹm đi. Người đời vẫn mỉa mai: “Đấu tranh” thì bị... “trâu đánh”, biết “tránh đâu” bây giờ ? Nếu thế thì chúng ta sẽ uổng mất một con người bồng bột nhưng lại thẳng thắn, đầy nhiệt thành với Đạo với đời.

 

Sáng hôm nay ở Nhà Thờ Kỳ Đồng, sau khi đã xin lỗi chung tất cả những người trong ngành Y, chúng tôi đã trích đọc lá thư của bạn sinh viên này trong bài giảng Thánh Lễ. Nhiều người đã lau vội nước mắt, nhiều người ngẩn ngơ không tin là sự thật lại có thể tàn nhẫn đến thế.

 

Tan Lễ, có bốn năm bạn trẻ gặp chúng tôi rủ đi ăn sáng. Các bạn vừa mới tốt nghiệp ra trường hoặc còn là sinh viên bên ngành Nha, vẫn thường tham gia với chúng tôi trong các đoàn đi khám bệnh phát thuốc vùng sâu vùng xa. Một nha sĩ trong nhóm bảo chúng tôi: “Cha ơi, bạn bên ngành Y viết như thế là chính xác đấy, mà thực tế còn ghê hơn nhiều. Bây giờ người ta còn đang nghi ngờ điều tra: có thể có những bác sĩ tán tận lương tâm, giải phẫu cắt bỏ quả thận của bệnh nhân, nhưng thật ra có bệnh tật gì đâu, quả thận trị giá mấy chục triệu đã được bí mật chuyển đi như một món hàng quý hiếm !”

 

Bữa ăn sáng rất vui nhưng cứ nói chuyện này kia được một lúc thì lại quay về với những vấn nạn xót xa liên quan đến lương tâm con người ngày nay.

 

Người Việt Nam chúng ta vẫn có cách gọi bình dân nôm na nhưng thật ra gửi gấm khá nhiều sự kính nể trân trọng đối với một số ngành nghề trong xã hội: người chuyên dạy học được gọi là “Thầy Giáo”, người làm nghề luật sư được gọi là “Thầy Cãi”, người xuất gia tu hành thì được tôn làm “Thầy Tu”... Toàn là những nghề gần gũi đụng chạm đến con người, nghĩa là cần phải có lương tâm trong sáng, ngay thẳng và nhạy cảm để không bao giờ có thể xúc phạm, làm tổn thương con người. Riêng các bác sĩ, y sĩ và cả y tá thì được gọi chung là các “Thầy Thuốc”. Mà “Thầy Thuốc” thì thường chỉ làm việc ở “Nhà Thương” mà thôi. Gọi là nhà thương vì nơi đây thật sự là một “Ngôi Nhà của lòng Thương Xót” ( Maison de la Miséricorde ).

 

Thế thì lòng Thương Xót ấy bây giờ đâu rồi nhỉ ? Lương tâm những người được gọi là “thầy” ngày nay đâu rồi nhỉ ? Sống trong đời sống vẫn cần có một tấm lòng cơ mà ?

 

Lm. LÊ QUANG UY, Chúa Nhật 13.6.2006

VỀ MỤC LỤC
THIÊN TÍNH

 

Phúc Âm Nhật Ký Ngày 13.08.2006

THIÊN TÍNH

Ga 6:41-51

Thế giới đang trải qua một cuộc khủng hoảng lớn về đức tin.  Trận chiến ác liệt đang diễn ra ở Trung Ðông là một dẫn chứng hùng hồn.  Đức tin đang phân rẽ nhân loại về nhiều mặt.  Giữa những đụng chạm dữ dội như thế, làm sao có thể đứng vững trong đức tin của mình ?  Ðó là điều Chúa Giêsu muốn mạc khải cho chúng ta hôm nay.

Đức tin có một chiều sâu vô cùng huyền nhiệm, huyền nhiệm như chính Thiên Chúa.  Bởi đó, nếu không được Chúa Cha lôi cuốn mãnh liệt và ngấm ngầm tự bên trong, không ai có thể đến với Chúa Giêsu.[1] Đức tin không lệ thuộc vào con người. Nguồn gốc siêu nhiên đó xác định rõ vị thế và sức mạnh của đức tin.  Không thể kiếm tìm đức tin nơi những thực tại và động lực trần thế.  Đức tin thực sự dựa trên nền tảng và bắt nguồn từ thiên tính của Chúa Giêsu.  Vì chỉ mình Người mới có thể nuôi sống, dạy dỗ và ban sự sống vĩnh hằng cho nhân loại.[2]  Không ai có thể đòi hỏi cho mình một vị thế cao cường đó.  Chính Thiên tính nơi Chúa Giêsu là suối nguồn phát sinh mọi thiện hảo trong vũ trụ, nhất là thiên chức “con Thiên Chúa” nơi Kitô hữu.  Nhưng ngày nay, người ta đang bị cám dỗ chối bỏ hay xa rời nguồn gốc đó.

Tuy “thực sự chúng ta là con Thiên Chúa,”[3] nhưng vẫn không thể chiếm được vị thế như Chúa Giêsu, Con chí ái và độc nhất của Chúa Cha. Cùng lắm, “chúng ta sẽ nên giống như Người”[4] mà thôi. Nói khác, chúng ta được tham dự vào tước vị và bán tính Con Thiên Chúa.  Ðiều này càng xác quyết chúng ta là con Thiên Chúa theo nghĩa loại suy. Trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng Chúa Giêsu “được sinh ra mà không phải được tạo thành.” Còn chúng ta được tạo thành, chứ không phải được sinh ra bởi Thiên Chúa. Ðó là điểm khác biệt căn bản và quyết liệt nhất giữa Chúa Giêsu và chúng ta.  Nhưng không phải vì được tạo thành mà chúng ta không được hưởng tình yêu trọn vẹn và đích thực của Thiên Chúa. Theo thánh Têrêsa, tình yêu cũng như nước Thiên Chúa rót vào các bình khác nhau. Tùy hình dạng và kích thước mỗi bình, nước có nhiều kiểu hiện hữu .

Bởi vậy, nếu nói trong kitô hữu có Thiên tính cũng không sai.  Nhưng nên phân biệt.  Nếu không, có thể không còn thấy biên giới giữa Chúa Giêsu là Thiên Chúa và chúng ta là tạo vật nữa.  Thiên tính trong Chúa Giêsu khác hẳn với Thiên tính trong Kitô hữu.  Thiên tính trong Chúa Giêsu chính là bản tính của Người.  Nhưng trong Kitô hữu, Thiên tính không thay thế nhân tính, khiến nhân tính trở thành Thiên tính.  Nếu nhân tính trở nên thiên tính, chúng ta có thể tự cứu độ, không cần Chúa Giêsu nữa.

Chắc chắn khi chịu phép rửa, chúng ta được gìm vào cái chết của Chúa Kitô và được phục sinh với Người để trở thành con Thiên Chúa .  Từ đó, chúng ta được gia nhập gia đình Thiên Chúa .  Chúng ta trở nên "đồng hình đồng dạng", chứ không phải y hệt Chúa Giêsu.  Thiên Chúa thực sự là Cha chúng ta, vì Người đã tạo dựng nên chúng ta.   Nhưng nếu Chúa Giêsu không chết, không bao giờ chúng ta được vinh dự đó.  Chúng ta bất lực vì không thể tự mình giải thoát mình khỏi tội lỗi và sự chết.  Chúa Giêsu không giống chúng ta ở điểm đó.  Người vô tội và có thể quyền năng của chính mình mà tự sống lại  và còn phục sinh chúng ta nữa.

Vả lại, Kinh Thánh quả quyết Thiên Chúa ngự trong chúng ta,[5] như trong đền thờ của Người.[6]  Thiên Chúa ngự trong đền thờ không thể làm cho đền thờ trở thành Thiên Chúa.  Thiên tính trong Kitô hữu không làm cho họ có bản tính Thiên Chúa như Chúa Giêsu.  Trong Thiên Chúa, tất cả đều là một.  Nhiều danh hiệu khác nhau như Thiên tính, Danh Thiên Chúa, các phẩm tính của Thiên Chúa  cũng chỉ là một.  Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, nhưng mỗi nơi một cách.   Trong vạn vật cũng có Thiên Chúa, nhưng khác hẳn trong chúng ta.  Vượt trên vạn vật, chúng ta là hình ảnh và trở nên (chứ không có quyền đòi làm) con Thiên Chúa. 

Ðể minh họa việc Chúa hiện diện trong Kitô hữu, Chúa Giêsu tự xưng là cây nho và gọi chúng ta là cành.[7]  Cành không phải là và cũng không thể là cây nho.  Cây nho gồm rễ, thân, cành, hoa, lá, trái.  Cành không thể bao trùm toàn thể những thành phần của cây.  Cành chỉ là một bộ phận, chứ không phải là toàn thể cây.  Tuy thế, không dễ gì nhìn thấy mối liên hệ sâu xa giữa Chúa Giêsu và Kitô hữu.  Bởi đó, không dễ đánh giá đức tin của Kitô hữu. 

Cũng thế, chúng ta cũng không thể đánh giá đức tin của người khác và của chính mình.  Thực tế, vì nhiều lý do, nhiều người không thể và không tin nơi Chúa Giêsu.   Như ngôn sứ Êlia, họ dễ bỏ cuộc giữa đường khi gặp gian nan thử thách.  Nhưng nếu vững chí theo đuổi những soi dẫn bên trong và kiên nhẫn thực hiện những đòi hỏi cần thiết của đức tin, họ sẽ thành công trên đường tìm kiếm Chúa.  Không những sẽ gặp, nhưng họ còn có thể đi đến cuộc hiệp nhất sâu xa nhất với Con Chí Ái của Chúa Cha.  Thực tế, chỉ có Chúa Giêsu mới là đích điểm cuối cùng và trọn vẹn nhất, thỏa mãn mọi ước vọng của con người, vì chính Người “đã thấy Chúa Cha,”[8] “là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất.”[9]  Chính nhờ Chúa Giêsu, con người tìm lại được căn tính và phẩm giá của mình nơi Chúa Cha.[10]  Nói khác, họ được phục sinh và nhận làm con trong gia đình Thiên Chúa.  Giữa họ và Chúa Kitô, sự sống quyện chặt vào nhau, đến nỗi “sống là Chúa Kitô”[11] hay như thánh Phaolô : “tôi sống, nhưng không phải là tôi sống, mà là Chúa Kitô sống trong tôi.”[12]  Trong nguồn ân sủng lớn lao đó, họ xác tín: không ai có thể tách họ ra khỏi tình yêu Chúa Kitô.[13]  Từ đó, họ thấy thấm thía tình yêu mạnh hơn sự chết.

Muốn đạt được sức mạnh đó, con người phải biết lắng “nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha,”[14] tức là Tin Mừng Chúa Giêsu mang đến trần gian.  Nhưng làm sao có thể lắng nghe và đón nhận dễ dàng Lời Chúa, nếu con người không biết thinh lặng và chú tâm học hỏi ?   Nếu hết lòng tin tưởng và sốt sắng đón nhận “bánh từ trời,”[15] tức là Lời Chúa và Thánh Thể, chắc chắn họ sẽ đạt tới sự sống vĩnh hằng.  Thật vậy, theo thánh Augustinô, “ai không ở lại trong Chúa Kitô và Chúa Kitô không ở trong họ, thì họ không ăn thịt và uống máu Người một cách thiêng liêng, dù họ có ngấu nghiến nhai nuốt Huyết Nhục huyền nhiệm của Chúa Kitô.”  Bởi thế, vâng giữ Lời Chúa vẫn là điều kiện tiên quyết và tuyệt đối để Chúa hiện diện trong ta.  Nếu không, đức tin thật mong manh, hời hợt và chẳng có giá trị thực sự.

Có Chúa hiện diện diện như thế, ta mới đi vào cuộc hiệp thông sâu xa với Chúa.  Từ đó, ta mới có thể nên giống Chúa và nhìn thấy nguồn gốc vĩnh hằng của Chúa cũng như cứu cánh tuyệt đối của mình.  Một cái nhìn xuyên suốt như thế sẽ giúp ta vượt qua những giới hạn trong kiếp người.  Nhờ vậy, chúng ta tìm ra manh mối và giải quyết những vấn đề phức tạp hôm nay.   

Lạy Chúa, xin cho con kiên cường trong đức tin để  ngày càng  nhận biết Chúa là tất cả trong tất cả mọi sự.  Amen !

dzuize@gmail.com


[1] x. Ga 6:44.  [2] x. Ga 6:41.44.45.  [3] 1 Ga 3:1.  [4] 1 Ga 3:2.  [5] x. Ga 17: 23.

[6] x. 1 Cr  3:16.17.19  [7] x. Ga 15:1.5.  [8] Ga 6:46.  [9] Ep 3:15.

[10] x. Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ : Lời Chúa Cho Mọi Người, tr. 838.

[11] Pl 1:21-24.  [12] Gl 2:20.  [13] x. Rm 8:37-39.  [14] Ga 6:45.  [15] Ga 6:50.


VỀ MỤC LỤC

Những vui buồn khi theo chân Chúa

( Kỹ niệm 15 năm ngày Thanh tẩy)

 

Giáo Xứ Ðức Ki Tô Ngôi Lời Nhập Thể gởi 200 đô la vé số để mình mua hay bán giúp để lấy tiền xây dựng trường học dạy Việt ngữ và giáo lý cho con em người Việt Nam vùng Southwest, thành phố Houston Texas. Tôi có nhờ  con gái Uyên Phương bán giùm 20 tờ (100 đô la). Cháu bán được 30 đô la còn lại 70 đô la tiền vé số chưa bán được. 

Ðang khi nói về chuyện bán vé số cho nhà thờ với bà xã thì đứa con trai lớn xen vào nói:

“ Nhà thờ giàu quá rồi còn bán vé số gây quỹ làm gì nữa.? Ở nhà này tự nhiên ba lại vô đạo Chúa. Gia đình mình từ trước có ai là đạo Chúa đâu? Ba xét lại đi chỉ có ba là đạo Chúa mà thôi. Làm gì cứ phải đóng tiền cho nhà thờ hoài. Ông Cha thì cũng như người bình thường thôi chứ có gì mà phải khúm núm, ông Cha chỉ có khác hơn người thường là không có vợ chứ có gì hay hơn người ta đâu? Vậy mà sao nhiều người ( bổn đạo) lại tôn trọng quá đáng như vậy.? ”

                                                *    *    * 

Một số câu hỏi này ba đã suy nghĩ rất nhiều và nhân tiện đây ba cũng cần trình bày cho các con, các cháu rõ tại sao ba lại vô đạo Chúa ở khoảng 49, 50 tuổi. Những lý do ba vô đạo Chúa, ba đã có viết trong bài tựa đề là : “Tôi trở thành Kitô hữu” có đăng trong báo “Trái Tim Ðức Mẹ” số 279 năm 2001, ngày hôm nay, nhân có các câu hỏi của con, ba cũng muốn trình bày thêm những vui buồn trong mười lăm năm qua ba đã theo chân Chúa.

                                                *   *   *

Trước đây ba là người không tin bất cứ điều gì mà ba không thấy. Chuyện ma quỹ, chuyện đời sau, đối với ba hoàn toàn xa lạ. Ba không tin có Ðấng Tối Cao nào cả. Ðúng hơn ba là người vô thần chính cống chỉ tin vào khoa học mà thôi vì

“ vô tri bất mộ” mà.

Ba cũng thường nói với bạn bè rằng nếu sau này ba có chết thì ba sẽ xuống địa ngục đông đảo hơn, vui hơn, thích hơn chứ lên Thiên Ðàng thì chắc ít người chán lắm, buồn lắm.

Vậy mà lý do gì đến 49,50 tuổi mới tìm đến chúa Ki Tô, mới tìm đến Ðức Mẹ.

                                                 *  *  *

Những khó khăn dồn dập sau khi đi cải tạo về khoảng năm 1983, không có nghề nghiệp, không có tiền bạc, không biết làm gì để sống . Ði dạy học thì không ai cho vì đã bị tù gần 8 năm. Cử nhân Luật Khoa và hai năm học Cao Học ở trường Chính Trị Kinh doanh không dùng được trong chế độ mới.  

Ba làm đủ các nghề để sống, chạy xích lô đạp chưa quen nên đến bến xe Chợ lớn đón khách, đậu ngay chỗ cấm đậu, nên bị lấy ghế ngồi. Chỉ đạp xe chở khách có một buổi mà cả đêm không ngủ được vì quá mệt. Có mấy người phụ huynh học sinh cũ thương tình, giới thiệu đi dạy kèm toán cho vài học sinh ở đường Bông Sao, ở đường Liên Tỉnh 5. Dù gặp trời mưa gió cũng phải đi nhưng tiền trả không đủ sống. Ði mua bao nylon ở các tiệm ve chai về giặt rồi phơi khô, đem đi giao cho các lò làm bao nylon thì bị ép giá không có lời. Ði vô quận bảy mua sách cũ, đem ra chợ Sài gòn để bán thì bị quản lý chợ lập biên bản tịch thu. Ði bán vé số không dám bán ở quận tám, sợ gặp học trò cũ, phải vòng qua quận năm, vừa đem sấp vé số ra mời khách ở  bến xe xích lô cũng gặp học trò cũ của trường Lương văn Can. Thấy mắc cỡ, ngại ngùng không dám đi bán tiếp, lại đem mấy trăm tấm vé số đó nhờ con gái  út đem qua Chánh Hưng bán.

Những gian nan, cực nhọc này ba chịu nỗi nhưng khi được giấy cho xuất ngoại sang Mỹ theo diện HO thì ba vừa mừng, vừa lo. Mừng vì thoát khỏi chệ độ Cộng Sản mà gia đình mình là công dân hạng hai, bản thân ba lo sợ có thể bị bỏ tù lại bất cứ lúc nào. Lo đi ra nước ngoài rồi làm nghề gì để sống. Ðiều lo lắng lớn nhất là phải giao căn nhà cho nhà nước quản lý trong thực tế nhà này ba chỉ đứng tên cái nền nhà giùm cho ông nội mà thôi vì lúc đó ba đang học trường Sư phạm, ba đâu có tiền để mua. Ông nội con đã làm lụng cực nhọc suốt một đời,  hà tiện từng đồng, từng cắc để xây cất  căn nhà này mà ba nở lòng nào vì muốn được đi Mỹ mà ký giao nhà của ông nội cho nhà nước Cộng Sản được. Nhưng ba thuộc diện nhà nước quản lý nhà, phải giao nhà nếu xuất ngoại. Từ năm 1983 sau khi nộp đơn chui qua Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Thái Lan để xin tị nạn, ba đã hỏi khắp nơi về trường hợp đứng tên nhà, có thể sang tên lại cho ông bà nội hay cho chú năm, chú sáu được không? Ở đâu cũng trả lời là xuất cảnh phải mất nhà vì nhà nước muốn lấy nhà của những người đi Mỹ mà.

Lo lắng quá mà không biết làm sao giải quyết được vì không có tiền để chạy chọt, không có quyền quyết định, không quen biết ai để nhờ giúp đỡ.

Biết làm sao đây?    

Ba đã nhờ giáo sư  Nguyễn Gia Phách là bạn dạy chung trường Lương văn Can, dẫn lên Fatima ở Bình Triệu để cầu nguyện vì ba nghe Fatima linh lắm, cầu nguyện thường được Ðức Mẹ nhậm lời.  

Ðó là lý do chính để ba trở về với Chúa và Ðức Mẹ vì sau đó  những diễn biến về căn nhà thật là huyền diệu, lạ kỳ.

Ba muốn đi sớm nên chạy giấy tờ để đi HO 6 hay HO 8. Nếu ba được giấy xuất cảnh HO6, đi sớm hơn hai năm, đã mất nhà vì lúc đó ba chưa có quen ai để  sang tên cho chú năm hay chú sáu làm chủ quyền nhà.

Nhờ đó, năm sau,Thiên Chúa đã sắp xếp cho thím năm quen một người bịnh nhân là Thành Uỷ viên của Ủy ban Nhân dân thành phố. Thím năm là y tá bịnh viện Nguyễn Trãi, đã trình bày hoàn cảnh gia đình mình, ba chỉ đứng tên nền nhà mà thôi, không lý do gì khi xuất cảnh lại phải giao nhà cho nhà nước. May mắn gặp được người tử tế, họ giúp không ăn tiền chứ nếu ăn tiền thì tiền đâu mà đưa cho họ.

Nếu Thiên Chúa, Ðức Mẹ không xui khiến gặp họ (Thành Ủy Viên) thì đã mất nhà rồi. Ðã có sự giúp đỡ của người có quyền thế lúc đó như vậy mà trong tháng cuối cùng vẫn bị làm khó dễ, bị đình chỉ chuyến bay. Ngày Chúa nhật lên đường vậy mà ngày thứ năm nhận được giấy đình chỉ chuyến bay; trong khi mọi việc làm ăn đã bàn giao hết. Nếu không đi được, ăn không ngồi rồi sáu tháng hay một năm thì làm sao đây?. Con cái có gì thay đổi, đòi ở lại thì sao? không làm gì ra tiền mà phải tiêu pha cho sáu miệng ăn cũng là vấn đề suy nghĩ. Ngày thứ bảy chầu chực ở Sở nhà đất để nhận giấy tờ không tài sản để ra đi, nguyên một ngày không thể ăn uống gì được, lo âu, phập phòng, buồn rầu, chán nản cứ ngồi trước phòng làm việc của họ đợi chờ. Họ đi qua Ủy Ban nhân dân thành phố ba cũng đi theo. Họ đi đâu ba đi theo đó, kiên trì trong lo lắng. Cho tới tối thứ bảy, ba mới có giấy tờ giải tỏa đình chỉ chuyến bay. Sở nhà đất đồng ý cấp giấy chuyển quyền sở hữu nhà cho chú năm.

Một tháng trời không ăn uống được, bị bịnh cảm liên miên, đau bao tử thường xuyên, hai ba ngày phải ghé Bác sĩ một lần, uống thuốc gì cũng không hết. Mặt mày hốc hác, má hóp hằn sâu vì lo lắng.

                                                *   *   *

Ba được rửa tội ngày 15 tháng 8 năm 1991, (kỹ niệm ngày Ðức Mẹ Hồn Xác lên Trời), ở nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế đường Kỳ Ðồng bởi Cha Henri Bạch văn Lộc ( sau này ba mới biết Cha là Viện Trưởng Viện Ðại Học Minh Ðức ở Sài gòn trước năm 1975)

* Những trở ngại khi theo chân Chúa:

Sau khi rửa tội ở nhà thờ Dòng Chúa Cứu thế về, mỗi sáng Chúa Nhật ba đều đi nhà thờ. Mỗi lần mở cửa nhà để đi nhà thờ, má con đã vất thật mạnh chùm chìa khóa xuống đất để ba lượm lấy mà mở cửa. Hành động này biểu lộ sự tức giận “ Ði nhà thờ làm gì? bỏ đạo ông bà à? 

Ba cần cầu nguyện thật nhiều, nhiều hơn nữa vì ba bắt đầu bị chống đối từ trong nhà. Người đầu tiên phản đối mạnh mẽ nhất không phải là ông bà nội mà là từ má của con.

Tại sao lại theo đạo Chúa.? Đi rửa tội mà không cho bà xã hay? Ði học đạo không cho bà xã biết. Trong ý nghĩ của ba là ba thử học đạo, tìm đến đạo Chúa trước, rồi các thành viên khác trong gia đình nếu thấy thích hợp sẽ vô sau cũng đâu có muộn đó là ý nghĩ của ba lúc ban đầu. Ba chưa bao giờ bắt buộc ai trong nhà theo đạo cả nếu chưa tin vì điều chính yếu cần phải tin có “Thiên Chúa toàn năng sáng tạo nên vũ trụ, loài người ” 

Ngày hôm nay, sau 15 năm, câu hỏi này của con: “ Tại sao ba theo đạo Chúa ” Ba muốn trình bày rõ, ba theo đạo Chúa vì ba gặp khủng hoảng tinh thần, ba cần chỗ dựa trong đời sống tâm linh, cần có Ðấng Tối cao, Thiên Chúa giúp sức, ba cần nhà thờ, cần Chúa và Ðức Mẹ để ba cầu nguyện trong những năm cuối cùng khi còn ở Việt Nam.

Ðức tin là một hồng ân. Giáo sư Trần văn Ðiền viết: “Ðức tin là tin những điều mình chưa thấy, phần thưởng của đức tin là thấy những điều mà mình tin.” (1)

Khi bị giam giữ trong trại cải tạo ở Lào Cai, khoảng năm 1977, một người bạn là Dược sĩ có bằng cử nhân văn khoa, là người có học, trí thức mà lại nói : “  Phúc cho những ai không thấy mà tin ( Ga 20, 29) (2).” Lúc đó ba có ý nghĩ trong đầu “vô lý thật không thấy mà tin được à?”

+ Ði nhà thờ mất thì giờ

Ngày Chúa Nhật nào cũng phải mất thì giờ đi nhà thờ, đi nhà thờ buồn nản “ boring” lắm. ( Tuy nhiên cũng có người đi lễ mỗi ngày. Mỗi ngày đến nhà thờ để cầu nguyện, để nói chuyện với Chúa).

+ Ði nhà thờ phải đóng góp hàng tuần cho nhà thờ.

Có nhiều người cho rằng đi nhà thờ chẳng có ích lợi gì cả mà còn tốn kém, mất tiền, vì phải đóng góp hàng tuần cho nhà thờ, còn phải đóng góp cho giáo phận nữa. Chưa kể còn phải thực thi bác ái giúp cho những người cùng khổ khác khi họ gặp tai nạn, bịnh hoạn, tật nguyền hay giúp đỡ giáo hội bên quê nhà nữa. 

* Những niềm vui khi tin có Chúa.

Ba tìm thấy niềm vui, niềm an ủi ở trong Chúa. Khi gặp những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, biết sức mình yếu đuối không thể giải quyết được, ba đi nhà thờ để cầu nguyện với Chúa, để nói chuyện với Chúa, để than thở với Chúa. Cầu nguyện để có được ơn khôn ngoan, sáng suốt. Cầu nguyện cho những khó khăn sớm vượt qua. Cầu cho cá nhân, cầu cho gia đình và cầu cho đất nước. Nhờ đó, ba có niềm vui và bớt lo âu vì sống với tinh thần phó thác những khó khăn cho Thiên Chúa.

Khi tham gia vào Hội Thánh Chúa được thêm nhiều bạn bè, thân hữu nâng đỡ nhau, chia xẻ niềm vui cũng như nỗi buồn trong các hội đoàn như Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Ðình, Phong Trào Cursillo …

Con người thường có hai khuynh hướng: hướng thượng, muốn làm những điều lành, điều tốt giúp người, giúp đời hay tâm hồn mình dễ đi xuống, muốn hưởng thụ vui riêng cho cá nhân nhất là sau tuổi “ ngủ thập tri thiên mệnh ”.Tới tuổi gần đất xa trời những cám dỗ đánh bạc, uống rượu hay trai gái thường có thể tác động đến con người. Ðể chuẩn bị cho đời sống tâm linh, cho linh hồn trong đời sau vĩnh cữu cần làm những việc lành phúc đức, tạo công nghiệp bằng cách đóng góp sức lực, khả năng, trí tuệ cho tha nhân, cho xã hội. 

Nếu sống cho người khác thì mình sẽ tìm thấy bình an, hạnh phúc hơn, cuộc sống vui tươi và có ý nghĩa hơn..

+ Gặp khó khăn quá sức con người không giải quyết được thì làm sao?

Có điều gì quá khó khăn thì đi vào nhà thờ cầu nguyện với Chúa. Vì “ anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho ” ( Lc 11, 9) ( Mt 7, 7). Ai trong anh em là một người cha mà khi con xin cá, thì thay vì lấy cá lại lấy rắn mà cho nó? Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao? ( Lc 11, 11-13) ( Mt 7, 9-11). “ Ðâu có hai, ba người hợp lại nhân danh Ta thì có Ta ở giữa họ ” ( Mt 18,20)

+ Kính Chúa thì phải yêu người. Yêu người không quen biết, yêu tha nhân đồng loại, cao hơn một bậc nữa như lời Chúa dạy yêu kẻ thù.: “ Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” ( Mt 5, 44) (Lc 6, 27) và Thánh Phanxicô đã dạy trong “ Kinh hoà bình” : “ đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp …đem tin kính vào nơi nguy nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng, dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu; tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết; tìm yêu mến người hơn được người mến yêu; chính khi hiến thân là khi được nhận lảnh; chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân; chính khi thứ tha là được tha thứ ; chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.”

 Nếu sống như lời hướng dẫn trong  “ Kinh hoà bình ” thì làm gì không tìm thấy bình an, vui tươi, hạnh phúc.

+ Khi lo lắng quá, tối không ngủ được thì phải làm sao?

Ðọc kinh mỗi tối dễ ngủ hơn. Mỗi đêm ba thường đọc 50 kinh, 10 kinh đầu cầu nguyện cho linh hồn ông nội, mười kinh thứ hai cầu nguyện cho toàn thể gia đình bình an và biết yêu mến Thiên Chúa…..

Con nói rằng : “ Ông Cha chỉ không có vợ mà thôi, chứ có gì hơn người đâu, mà ( bổn đạo) khúm núm như vậy?”

Ba có thể nói như thế này: “ Linh Mục không có vợ đủ làm cho mọi người kính phục, quí mến rồi. Ai ai cũng có vợ, có gia đình. Mọi người dùng sức lực, khả năng của mình làm ra tiền để lo cho gia đình riêng, còn ông Cha hay là Linh Mục không có gia đình riêng, họ sống độc thân để làm việc Chúa, dùng tất cả thì giờ, khả năng để làm việc cho giáo hội, cho nhà thờ, cho bổn đạo và cho tha nhân. Ðìều đó không quí sao ? Dĩ nhiên tất cả ông Cha không phải đều tốt hết, đều hy sinh hết, nhưng đa số đều vì việc chung, vì bổn đạo, vì con em chúng ta, vì muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn mà làm việc, chứ đâu có phải vì gia đình riêng của ông Cha mà làm việc đâu? Nếu không có Linh Mục thì ai giảng lời Chúa, ai chia xẻ Phúc Âm, ai thường xuyên nhắc nhở về yêu thương cho mọi người học hỏi, thực hành. Kinh thánh  viết: “ Ðây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu  thương nhau như  Thầy đã  yêu thương anh em. (Ga 15,12) Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa vì Thiên Chúa là Tình yêu( 1Ga 4, 8)

Hàng trăm ngàn người Việt đã chịu tử đạo trong thời gian bị cấm đạo ở dưới triều đình vua Cảnh Thịnh, Minh Mạng, Thiệu trị,Tự Ðức. Tòa Thánh đã phong 117 vị Thánh Tử Ðạo. Họ đã chết vì đã tuyên xưng đức tin, đã nói lên niềm tin mãnh liệt của họ vào Thiên Chúa toàn năng, vào đời sau vinh hiển, hạnh phúc, họ mới dám hy sinh như thế. Hạt giống đức tin đã gieo vào lòng đất từ mấy trăm năm trước, ngày hôm nay nước Việt Nam mới có được 7, 8 triệu tín đồ Thiên Chúa Giáo.

Từ thế kỷ thứ 1 đến nay còn nhiều vị Thánh khác nữa không thể kể hết được. Họ là những người đã chịu đựng thử thách, đau khổ, nhiều khi phải hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ đức tin.

Tiêu biểu có thể kể đến vị Mục Tử quên thân mình cho tha nhân đó là vị sáng lập nhà bịnh phong Quy Hoà ở Quy Nhơn “ Vị đó là Cha Paul Maheu, một Linh Mục người Pháp đã từ giả quê hương thân yêu với cuộc sống tiện nghi, để chôn đời mình giữa một đám người xa lạ, mắc phải thứ bịnh khủng khiếp nhất trong loài người .(3)

Người thứ hai là Ðức Cha Jean Cassaigne sinh 30-01-1895 tại Pháp, ngày 06-04-1926 Ngài xung phong lên đường sang Ðông Dương truyền giáo và cuối năm 1955, lúc đó Ngài là Giám Mục, Ngài xin từ chức Giám Quản Tông Tòa giáo Phận Sài gòn để nghỉ hưu và tình nguyện về lại Di Linh để phục vụ làng phong cùi và chết ở đó với người cùi, năm Ngài 78 tuổi. (4)

Gần đây phải kể đến Mẹ Têrêsa thành Calcutta là vị Thánh đã hy sinh cả đời cho người nghèo khổ, bịnh tật bị bỏ rơi về vật chất và bị bỏ rơi về tinh thần.

+ Muốn con cháu trở nên người tốt hãy đến nhà thờ để được dạy dỗ nhắc nhở 10 điều răn, để biết kính sợ Thiên Chúa và biết yêu mến tha nhân, để xét mình sửa đổi những vi phạm lỗi lầm mỗi khi tham dự Thánh Lễ. Chúng nó sẽ quen sống cộng đoàn, dễ hòa đồng, biết hy sinh, có tình yêu thương bạn hữu và tha nhân khi lớn biết hy sinh, làm việc cho cộng đồng xã hội.

Nhà thờ là môi trường huấn luyện thành con người “trở nên trọn lành hay đi trên con đường trở nên Thánh.”

Ðạo Chúa là sự hoàn tất những điều Ðạo Khổng chưa nói.

Quí Lộ (Tử Lộ) học trò của Khổng Tử hỏi Ông về sự chết, tức muốn biết người ta chết rồi, có thành quỉ hay thần không, có linh hồn không, hay chết là hết, Ông đáp “ Sự sống còn chưa biết, sao biết được sự chết” ( Vị tri sinh, yên tri tử) (5)

Ðạo Chúa dạy rằng sau khi chết được hưởng phúc trường sinh ở Thiên Ðàng và sẽ được sống lại trong ngày sau hết, ngày phán xét cuối cùng nếu thực hành đủ bổn phận làm người theo quan niệm Khổng Tử, cộng thêm Ðức bác ái, yêu người và có niềm cậy trông vào Thiên Chúa toàn năng.

Ðạo Chúa đã bổ túc, trả lời những gì mà Ðạo Khổng không nói tới. Thánh Phaolô trong khi đang đi đường và đến gần thành Damas để bắt bớ các tông đồ và những người theo Chúa thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông. Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: “ Saulô! Saulô! tại sao ngươi bắt bớ ta? (CV 9 3,4). Ông đã được Chúa kêu gọi trở lại đạo và trở thành tông đồ nhiệt thành, hăng say của Chúa đã rao giảng: “ … Nếu Ðức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hảo huyền …cả những người đã an nghỉ trong Ðức Ki-tô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Ðức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người. Nhưng không phải thế ! Ðức Kitô đã trổi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai an giấc ngàn thu ” (1Cr 15 ,15-20)

Từ sự chống đối mãnh liệt của má con trong những năm đầu ba gia nhập vào Hội thánh, trở thành Kitô hữu, Thiên Chúa đã ban ơn đặc biệt cho gia đình mình:

* Thiên Chúa đã làm những điều kỳ diệu, “ vẽ đường thẳng bằng những nét cong ”(6) mà 3 giờ chiều ngày 23 tháng hai năm 2005, ba má đã ra nhà thờ Ngôi Lời Nhập Thể làm lễ hôn phối trước bàn thờ Chúa để tuyên xưng lại :” Những gì Thiên Chúa đã kết hợp loài người không được phân ly” do Ðức Ông Lê Xuân Thượng làm chủ lễ. 

* Gia đình mình rất được Thiên Chúa yêu thương, Ðức Mẹ gìn giữ làm ăn bình thường, nghề nghiệp vững chắc. Nhất là toàn thể gia đình được bình an.

Hai gia đình công giáo, hai con gái và rễ, hai cháu ngoại đã được rửa tội gia nhập Hội Thánh Chúa.

Ba đã suy nghĩ nhiều, đã chuẩn bị cho ngày chung cuộc của đời ba, cho nên ở chỗ làm việc cũng như ở trong nhà, ba có ghi câu như sau để luôn tự nhắc nhở mình: “ Nếu ngày mai tôi không còn nữa thì hôm nay tôi phải nghĩ gì, làm gì ? ”

Con cầu xin Chúa ban cho con ơn khôn ngoan để con biết phải suy nghĩ gì và làm gì cho đúng ý Thiên Chúa. 

Ðiều mong ước cuối cùng và duy nhất ba có ghi trong tờ di chúc, khi nào ba ra đi, trong nhà quàn cũng như trước mộ phần ghi là: “ Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời ”  (7). 

 Phùng văn Phụng

 ngày 15 tháng 8 năm 2006

(1)   Sách “ Những kinh nghiệm sống để lại” trang 129

(2)    Vì Tôma cứng lòng không tin phải sờ vào cạnh sườn Chúa khi Chúa sống lại mới tin, nên Chúa Giêsu mới bảo ông Tôma “ Vì con thấy Thầy con mới tin, Phúc cho những ai không thấy mà tin” ( Ga 20, 29)

(3)   Sách “ Những Người Lữ Hành Trên Ðường Hy Vọng ” của Ðúc Hồng Y Nguyễn văn Thuận, trang 274.

(4)   Báo Công Giáo và Dân Tộc số 1430 . “ Vị Giám Mục của người phong ”  tác giả Thông Xanh

(5)   Sách “  Khổng Tử ”của Nguyễn Hiến Lê, nhà xuất bản Văn Hóa, trang 219

(6)   Lời của Ðức Hồng Y Nguyễn văn Thuận

(7)   Trong “ Kinh Hoà Bình ” của Thánh Phanxicô

VỀ MỤC LỤC
BÍ QUYẾT GIỮ HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH LÀ GÌ?

 

Người ta kể một câu chuyện vui như sau: một cha giải tội, sau khi nghe hối nhân thú tội, ngài có vài lời an ủi rồ giao việc đền tội cho hối nhân: “Về nhà con hôn thánh giá hai lần”. Sau khi ra khỏi tòa giải tội, hối nhân về nhà. Bỗng dưng ông ôm chầm lấy vợ và trao cho vợ hai cái hôn thắm thiết. Bà vợ ngạc nhiên, thấy ông chồng có gì khan khác, mới hỏi lý do. Ông ôn tồn nói rõ nguyên nhân sự việc. Thật lạ lùng. Sau khi nghe chồng kể xong, lẽ ra bà vợ phải trách móc, đay nghiến ông chồng như thường khi, vì ông dám coi bà là “thánh giá”, là gánh nặng, thậm chí là của nợ của đời ông. Ngược lại, bà ôm lấy chồng và trao hai nụ hôn cháy bổng đáp trả, khiến ông chồng cũng ngạc nhiên nhiên không kém.

Câu chuyện tuy dí dỏm, nhưng nói lên phần nào tính chất và sự thật của những người “yêu nhau” khi phải sống chung với nhau lâu dài trong đời sống vợ chồng.

Ai mà không biết có những ông, những bà suốt ngày, suốt tháng, trọn năm, thậm chí… trọn đời cứ cằn nhằn, cẳn nhẳn, chê trách, kể cả chửi bới “người mình yêu” từ nhà vọng ra vườn, từ sân dội ngược vào nhà. “Thánh giá” này quá sức nặng, quá sức chịu đựng, làm cho nhiều người sống ngày nào là phải kéo lê đời mình ngày ấy. “Thánh giá” do “người yêu mình” tạo ra, làm cho cả hai (chứ không phải người “vác thánh giá” mà thôi) phải sống trong chán chường, đắng cay, chua chát. Gia đình do những người “yêu nhau” như thế quản lý, không còn là gia đình đúng nghĩa. Thay vì tổ ấm, gia đình trở thành nhà tù trói buộc, tra tấn nhau.

Thực ra, người gây đau khổ mới là người đau khổ trước nhất. Bởi chính họ nuôi dưỡng, cưu mang những tâm tình bất hòa, bất nhẫn. Không nuôi dưỡng lòng yêu thương, chỉ mang trong tâm mình suốt đời những điều đi ngược lòng yêu thương như thế, chính bản thân họ sẽ mất bình an, sẽ trở nên cay độc, trở nên cô đơn, thiếu mọi chiều kích thông cảm và đón nhận của mọi người… Họ tự gây ra cây thập giá nặng nề khôn tả cho chính cuộc đời của họ.

Từ chỗ sống bất khoan dung, không thể khoan hòa với người xung quanh, kể cả người ruột thịt là con cái, là chồng, là vợ của mình, họ gieo rắc sự ô nhiễm của không biết bao nhiêu đau khổ, tang tóc, mất mát trên chính người thân, gia đình của họ. Thế là mỗi thành viên trong cái gia đình đó, lẽ ra phải rất đằm thắm, rất an bình, lại cứ phải chung vai với nhau, vác thập giá mỗi ngày một nặng thêm. Rồi tương quan cá nhân với cá nhân trong cái cộng đồng được gọi là “cộng đồng tình yêu” ấy, càng lầm lỳ, càng sống riêng tư, càng cô đơn, càng khó có thể chia sẻ niềm vui hay gánh nặng cho nhau. Người này trở thành nhà tù của người kia, sống với nhau bằng mặt nhưng không bằng lòng. Thậm chí có nói với nhau, thì cũng là nói những lời nặng nề, ai oán. Một nhà tù vĩ đại khủng khiếp vô hình chụp xuống đầu của mỗi thành viên trong gia đình, biến gia đình từ một cộng đồng tình yêu trở thành cộng đồng thù hận. Trong trường hợp này, thập giá không biến thành thánh giá, không giải thoát con người, không mang lại niềm vui vì nhận ra mình được cứu độ, mà thập giá do người ta chất lên vai nhau, trở thành một sự đe dọa và giết chết nhau, đóng đinh nhau.

Biết đau khổ là như thế. Nhưng sao người ta vẫn cứ tìm cách gây đau khổ mà không lật ngược lại, không biến đổi chính mình, để gây nên lòng tin tưởng cho nhau, làm cho tổ ấm thật sự là tổ ấm, gia đình đúng nghĩa là gia đình, cộng đồng tình yêu không mất ý nghĩa của yêu thương triều mến.

Hãy vui lên, hãy cười lên. Thay vì nhăn mặt, cau có, cất lên lời độc địa, hãy tỏ lộ hân hoan, hãy kể một câu chuyện cười, hãy nói một lời nào đó nhẹ nhàng, hãy khen người đối diện một tiếng khen thật lòng, hãy tìm một điểm tốt nơi người đối diện mà chiêm ngắm, mà học đòi…

Cuộc đời, tự bản thân đã phải chuốc lấy nhiều khốn khổ, u buồn, thì xin đừng tiếp tục chất thập giá lên vai nhau nữa. Hãy rộng lượng mà đón nhận nhau, hãy cất bớt thập giá cho nhau. Kinh nghiệm cho thấy, khi ta làm giảm sức nặng của thập giá trên vai người khác, cũng là lúc ta trút bớt gánh nặng nơi đôi vai của mình. Cố gắng thực tập và làm như thế, tất cả sẽ biến đổi ngay. Màu sậm, bóng đen đang bao trùn trên gia đình, sẽ tức khắc thành trong sáng tươi vui.

Làm linh mục, tôi được nhiều anh chị em tin tưởng trao đổi, xin sự cố vấn cho những khúc mắc riêng tư của họ, cho tôi đôi lần có kinh nghiệm rằng, bất cứ ai có thể bước ra được, có thể vượt lên trên thảm trạng của gia đình như thế, niềm vui của họ, của gia đình họ như tăng lên gấp bội lần. Từng cá nhân trong gia đình ấy yêu cuộc sống hơn, yêu người thân của mình, muốn sống hơn, hy vọng hơn và tin tưởng nhau hơn. Đó là một phép lạ trọng đại. Phép lạ của mái ấm gia đình, sẽ tạo thêm một khoảng trời lung linh sáng ngời tình yêu. Từ đó giúp họ có một khoảng đời ngụp lặn trong yêu thương, trong tinh thần đạo đức và công phúc.

Một bí quyết giúp gia đình gìn giữ hạnh phúc, không phải là kỹ thuật sống trên đời, hay đọc thật nhiều sách dạy làm người, cho bằng đời sống CẦU NGUYỆN VÀ CẢM TẠ THIÊN CHÚA.

Tiểu sử của thánh Chantalice, người Ý, để lại cho tất cả chúng ta bài học quý giá của tâm tình cầu nguyện cảm tạ: Luôn luôn, đi đâu, với ai, thánh nhân đều luôn miệng thốt lên những từ ngữ rất quen thuộc: “tán tạ”, “ngợi khen” dành cho Thiên Chúa. Mải miết như vậy, nên khi thấy thánh nhân xuất hiện bất cứ nơi đâu, người ta đều gọi thánh nhân là “ông tán tạ”.

Bắt chước thánh Chantalice, chúng ta cũng hãy mặc lấy tâm tình cầu nguyện cảm tạ Thiên Chúa. Nhờ luôn hướng về Chúa, chúng ta sẽ yêu nhau hơn. Những người thân của nhau trong một gia đình, nếu luôn biết hướng về nhau, cầu nguyện cho nhau, luôn chúc tụng, tạ ơn Chúa, họ sẽ là những người đong đầy hạnh phúc, đong đầy lòng yêu mến trong tâm hồn mình. Nếu lòng đầy tràn tình yêu, niềm hạnh phúc, làm sao họ có thể oán giận, mắn nhiết, hay gieo đau khổ cho nhau được. Chỉ có những người luôn đong đầy sự thù nghịch, mới gieo sự thù nghịch, còn người đong đầy tình yêu, hạnh phúc sẽ chỉ có thể trao tặng tình yêu, hạnh phúc mà thôi. Bởi thế, cầu nguyện và luôn mặc lấy tâm tình tạ ơn Thiên Chúa, chính là bí quyết tối thượng gìn giữ hạnh phúc gia đình. Hạnh phúc này sẽ không bao giờ có thể có ai cướp mất được.

Đừng ngần ngại gì, nhưng hãy cứ để cho mỗi thành viên trong gia đình trở thành “ông tán tạ”. Có “ông tán tạ” ở với mình, gia đình là một tổ ấm chất chứa tình yêu triều mến và sẽ tăng lên, tăng lên sự triều mến ấy. Chắc chắn, từng thành viên trong gia đình sẽ trưởng thành trong tình yêu vượt bậc ấy.

Lm. VŨ XUÂN HẠNH


VỀ MỤC LỤC
Mùa khai trường

 

Năm học mới đang bắt đầu tùy từng vùng miền, và còn tùy mỗi quốc gia đất nước qui định.

Ở miền trung tây nước Ðức, mùa nghỉ hè sớm từ 26.06.2006, nên năm học mới cũng bắt đầu sớm, từ ngày 09.08.2006.  

Với nhiều bạn trẻ năm học mới mở ra nhiều thách đố đòi hỏi mới. Lên lớp cao hơn, phải cố gắng nhiều hơn.

Với nhiều bạn trẻ vừa rời khuôn viên nhà trẻ, khung cảnh trường học, thầy cô, bạn bè đều mới và xa lạ. Họ bắt đầu bước vào khung cảnh thế giới khác: thế giới bút mực sách vở học hành!

Dù là học sinh cũ hay mới, tất cả mọi người đều bước vào ngưỡng cửa đòi hỏi cố gắng vươn lên. Có cố gắng vươn lên mới đạt được thành công. 

Cha mẹ thầy cô thường dùng nhiều hình ảnh làm ví dụ, khuyến khích thúc đẩy tinh thần con em học trò mình vươn lên học hành. Ðây là điều tốt cùng cần thiết cho học trò.

Hình ảnh quen thuộc cùng gắn liền với đời sống làm ví dụ thiết thực cho bạn trẻ trong tương quan với học hành là muối.

Muối mang đến hương vị mặn, nhưng rất cần thiết cho việc nấu nướng. Muối làm tan chảy nước đá đông lạnh. Một học sinh bạn trẻ có tâm hồn vui tươi, khác gì bạn đó là chất muối trong lớp học làm tan sự lạnh lùng xa cách giữa bạn bè cùng lớp, cùng trang lứa với nhau, và giữa học trò với thầy cô giáo. Chất „muối tâm hồn vui tươi „ giúp không khí sống chung học hành thêm phấn khởi hào hứng.

Muối bảo vệ cho đồ ăn trong bếp khỏi bị hôi. Trong học hành tính làm biếng nằm sẵn trong con người. Nếu không có muối tra vào, nó sẽ thành ươn thối, không thành gì được. Những lời thúc đẩy, vâng, cả ngăn đe phạt nặng lời của thầy cô ở trường học là chất muối giúp thân xác cùng tinh thần học sinh bạn trẻ không ra hư hỏng. Trái lại giúp bảo vệ họ khỏi dốt nát. Bạn trẻ học sinh cũng cần phải có những ý nghĩ lời nói tốt đẹp tích cực trong việc học hành. Những điều tốt đẹp tích cực đó khác gì như chất muối giúp tinh thần thân xác họ được tươi mát!   

Muối có đặc tính nâng đỡ nữa.Ở vùng Biển Chết, nơi có 23% muối mặn trong nước, người xuống dìm mình trong đó, không bị chìm. Nước có chất muối mặn làm nổi người lên. Nước biển có chất muối mặn, nên nước biển có khả năng tẩy trừ cho vệ sinh sạch sẽ. Hằng ngày học bài, làm bài tập chăm chỉ hoàn tất, tựa như chất muối, nâng đỡ chính mình hôm nay và tương lai ngày mai nữa. Bài học nhỏ đơn giản ngày hôm nay nâng đỡ cho bài học khó hơn và lớn lao ngày mai.

Muối là chất cần thiết để giữ cho sự sống nơi thân thể được quân bình. Nếu lượng muối trong máu bị thiếu, thân thể con người sẽ bị nhiễu loạn. Việc học hành là việc của tinh thần tâm trí cũng cần phải có lượng muối cần thiết. Ðó là chất muối lòng can đảm để vượt qua mọi thử thách trong việc học hành. Lòng can đảm giúp giữ được thăng bằng, nhất là trong những lúc gặp khó khăn vì bài học khó. Và từ đấy sẽ không buông xuôi bỏ dở học hành.

Muối cần trong nhà bếp cho việc ăn uống. Muối cũng cần cho đời sống tinh thần, cho học hành hôm nay cùng ngày mai.

Và Chúa Giêsu cũng dùng hình ảnh này như lời khuyên nhủ: „ Các con là muối muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi. „ (Mt 5,13)

Lm. Nguyễn ngọc Long

VỀ MỤC LỤC
Ðường đời sống 

Lời thầm

Ðường đời sống 

- Khi sinh ta vào đời, Thượng Ðế đã trồng trong mỗi người một hạt giống hoa thơm ngát. Bổn phận của mỗi người chúng ta là hãy làm cho hạt giống đó trổ bông. Gía trị con người ở chỗ đã cộng tác với Thượng Ðế, để làm trổ sinh hạt giống đó.

- Ðể làm đẹp cuộc đời mỗi người hãy tự sống theo lý tưởng: „ Tôi không phải là sen, cũng chẳng mong là bùn, nhưng luôn mơ ước đem sen trồng trong bùn.“

- Nếu lòng bạn là cây đàn thì đừng sợ đời mình vô nghĩa. nếu lòng bạn là dòng nhạc, thì đừng sợ đời mình buồn tênh.

- Chí khí người thanh niên yêu chữ „ dù“ và ghét những chữ „ nhưng“.

- Nhiều khi chán nản với bổn phận hằng ngày của lý tưởng. Ðộc điệu lãng nhách. Hãy nhìn anh công nhân làm việc dây chuyền trong các hãng xưởng. Ngày nào cũng vậy, có khi kéo dài mấy chục năm, vẫn cứ chỉ một cử điệu. hãy nhìn bà lau chùi trong các nhà thương. Ngày nào cũng bằng ấy công việc, ngày nào cũng bằng ấy căn phòng. Tại sao họ làm được? Vì họ có lương! Chán nản với bổn phận tinh thần, vì không nhìn thấy „ lương“ sẽ được trả vào đời sau.

- Một dòng đời không gian lao thử thách cũng buồn thiu như một dòng sông không cá lội.