|
CÔNG ĐỒNG VATICAN
II QUA BỐN THẬP NIÊN
Đức Giáo Hoàng
Bênêditô XVI là người bị ảnh hường sâu đậm bởi những cuộc
thảo luận tại Công Đồng Vatican II, giờ đây Ngài đang ở trong một vị
thế điều hướng cách thức mà theo đó Giáo Hội thực thi những giáo
huấn của mình.
Nhiều năm trước
đây Ngài đã cảnh báo rằng Giáo Hội đã trải qua một “tiến trình
thoái hóa” với danh nghĩa là “tinh thần Công Đồng”, nhất là Ngài
phê phán những cải cách về phụng vụ mà Cộng Đồng đề xướng.
Tuy nhiên trong
bài thuyết giảng đầu tiên với tư cách là giáo hoàng vào tháng tư năm
2005, Đức Thánh Cha Bênêditô XVI đã tuyên bố không chút nghi ngờ gì
về Công Đồng Vatican II và việc am hiểu tường tận Phúc Âm sẽ
là “kim chỉ nam” cho triều đại của Ngài.
Ngài nói: “Càng
nhiều năm trôi qua, những tài liệu Công Đồng không mất thời gian
tính bao giờ. Quả thật, những giáo huấn của Công Đồng đang chứng tỏ
thích ứng một cách đặc biệt với tình cảnh mới của Giáo Hội và xã hội
đương thời đang được toàn cầu hóa.”
Xét về nhiều
phương diện, Đức Thánh Cha Bênêditô XVI biểu hiện hình ảnh trọn vẹn
về kinh nghiệm Công Đồng Vatican II trong Giáo Hội, bởi vì:
-
Với tư cách cố vấn thần học
cho Đức Hồng Y người Đức là Joseph Frings ở Cologne, Đức
Thánh Cha Bênêđitô XVI, lúc bấy giờ là linh mục, đã tham dự tất cả
bốn khóa họp của Công Đồng từ 1962-1965 và đã hăng say theo sát công
tác khởi đầu cũng như sự thăm dò dũng cảm đưa đến việc đổi mới.
-
Ngài bắt đầu tỏ lộ lo âu trong những
khóa họp về sau là Công Đồng cho người ta cảm tưởng Giáo Hội sinh
hoạt như một nghị trường và “đức tin có thể bị thay đổi”.
-
Sau khi Công Đồng kết thúc, Ngài cảnh
cáo về việc chuyển hướng sai lầm trong việc thực thi và cuối cùng
Ngài giúp hình thành một tạp chí thần học để cân bằng điều mà Ngài
gọi là sự tiếp cận thần học của “hoạt động chính trị trong giới
giáo sĩ”.
-
Trong tư cách là viên chức tối cao
về tín lý trong gần 24 năm, Ngài đã hoạt động để kiềm chế
những sự lạm dụng và minh định giáo huấn của Giáo Hội trong
những lãnh vực bao gồm sự thí nghiệm thần học, những văn bản phụng
vụ, sự học hỏi Thánh Kinh, vấn đề tông đồ giáo dân, vai trò của
những hội đồng giám mục và cuộc đối thoại liên tôn cũng như đại kết.
Học giả người
Hoa Kỳ là George Weigel cho biết trong tư cách là một
chuyên viên thần học trẻ tuổi, linh mục Ratzinger hiểu rõ sự thật
chủ yếu về Vatican II là “aggiornamento” tức sự “hiện đại
hóa” Giáo Hội Công Giáo phải đặt căn bản trên sự “trở về
nguồn”, một sự trở về với nguồn gốc của sự khôn ngoan Kitô giáo
và sự Giáo Hội tự hiểu biết chính mình một cách sâu sắc hơn. Weigel
phát biểu: “Ngài Ratzinger…hiểu rằng cả hai điều đó phải song hành:
“cập nhật hóa mà không hiểu chính mình ‘một cách sâu sắc’ thì
chỉ hướng Giáo Hội vào một tổ chức tự nguyện khác dành cho những
việc từ thiện mà thôi.”
Weigel đã đề cập
tới chủ đề về Đức Thánh Cha Bênêditô XVI và Công Đồng Vatican II
trong một quyển sách mới nhất của ông là “Sự Chọn Lựa của Thiên
Chúa: Đức Thánh Cha Bênêditô và tương lai Giáo Hội Công Giáo”,
cho biết Đức tân Giáo Hoàng đã có một ảnh hưởng lớn lao trên việc
thực thi Công Đồng dưới triều đại của Đức Thánh Cha Gioan Phao-lồ
II.
Weigel nói:
“Ngày nay, thử thách lớn nhất của Đức Thánh Cha Bênêditô XVI trong
tư cách là ‘người thực thi’ Công Đồng Vatican II, sẽ thành
công trong việc tìm kiếm được những vị giám mục thể hiện được tầm
nhìn của Công Đồng đối với vai trò giám mục như là tông đồ.”
Alberto
Melloni - một sử gia
về Giáo Hội học người Ý – cho biết Đức Thánh Cha Bênêditô XVI
đã mang lại chiều kích lớn lao về thần học cho Vatican II và Ngài
vẫn là một “người con của Công Đồng” xét về nhiều phương diện,
nhưng với việc Ngài được bầu làm giáo hoàng thì công cuộc thực thi
Công Đồng Vatican II đối với Đức Thánh Cha Bênêditô XVI đã trở thành
một vấn đề cai quản và không chỉ là một sự tranh luận có tính
cách trí thức hay thần học.
Học giả Alberto
Melloni viết: “Những gì Ngài đã nghĩ và làm tại Công Đồng thì rất
quan trọng, nhưng điều đáng kể hơn nhiều ngày nay là điều Ngài sẽ
làm trên cương vị Giáo Hoàng, nhất là trong những lãnh vực gay cấn
như giám mục đoàn và vấn đề đại kết.”
Trong những năm
trước khi được bầu làm giáo hoàng, Đức Hồng Y Ratzinger đã bình luận
về di sản của Vatican II khiến nhiều người chú ý rất nhiều, nhất là
khi Ngài nói tới phụng vụ. Vào năm 1997, Ngài bày tỏ một cách
quyết liệt theo đó việc Đức Thánh Cha Phao-lồ VI cải tổ phụng vụ đã
làm “phương hại lớn lao” cho Giáo Hội. Theo Ngài, trong thực
tế, không phải những thay đổi không cần thiết, xét về nhiều phương
diện, “Sách Lễ Roma mới” là một sự cải tiến. Trong tầm nhìn
của Ngài, vấn đề là phụng vụ cũ đã bị phá huỷ và Thánh Lễ mới
được xây dựng trên những mảnh vụn của phụng vụ cũ.
Đức Hồng Y
Ratzinger kêu gọi một “tiến trình phụng vụ mang lại sức sống cho
di sản đích thực của Công Đồng Vatican II”. Năm 1999, Ngài cho
ra đời một tác phẩm về chủ đế đó, khi Ngài cho rằng phụng vụ tân
thời cần dành nhiều chỗ hơn cho sự thinh lặng, những động
tác truyền thống của Kitô giáo, âm nhạc thích hợp và
những yếu tố khác làm tăng trưởng thái độ cung kính.
Đức Hồng Y cũng
đã làm dấy lên một cuộc tranh luận vào năm 1990 khi Ngài cho biết là
đồng ý với những luận cứ thần học về vấn đề xoay bàn thờ về vị
trí như trước Công Đồng Vatican II trong đó linh mục khi dâng
Thánh Lễ thì xây lưng về phía cộng đoàn. Ngài cũng cho biết có lẽ
quá trễ để đảo ngược những sự đổi thay đó mà không làm cho giáo dân
trở nên bối rối hơn bao giờ hết và một sự trở về toàn diện đối với
việc dâng Thánh lễ bằng La ngữ thì ngày nay không thể xảy ra
được và có lẽ không phải là điều đáng mong ước.
Vì những lời
phát biểu của Ngài trong quá khứ, nhiều tín hữu trông chờ Đức Thánh
Cha Bênêditô sẽ có những thay đổi ngoạn mục trong nghi lễ giáo hoàng,
như dẹp bỏ những yếu tố có tính cách đa văn hóa thường rất
nổi bật dưới triều đại của Đức Thánh Cha Gioan Phao-lồ II. Cho đến
bây giờ, điều đó đã không xảy ra. Vào những Ngày Giới Trẻ Thế Giới
vừa qua ở Đức quốc chẳng hạn,
Thánh Lễ giáo hoàng được sinh động bằng những hồi trống của người
dân Phi châu, đàn xita và kèn của người Nam Mỹ. Trong buổi kinh
chiều có cả những nghệ sĩ múa hát nữa.
Ngoài vấn đề
phụng vụ, Đức Thánh Cha Bênêditô XVI luôn quan tâm đến ý nghĩa thần
học và giáo hội học đằng sau phụng vụ. Vào năm 1962 khi Công Đồng
bắt đầu thảo luận gay cấn về nguồn gốc mạc khải, vị linh mục
trẻ tuổi Ratzinger đã trở thành một diễn viên cốt cán. Việc thào
luận về mạc khải đặt ra vấn đề là làm sao Thánh Kinh vá
Thánh Truyền liện hệ với nhau và cả hai đã liên hệ đến quyền
tuyên huấn (magisterium) - quyền giáo huấn của Giáo Hội - như
thế nào. Đó là một cuộc thào luận của các chuyên viên, nhưng đã có
tác động lớn lao trên cách thế theo đó Giáo Hội tự hiểu biết chính
mình.
Trong tầm nhìn
của Cha Ratzinger lúc bấy giờ, có một chiều hướng nguy hiểm trong
việc giải thích Thánh Kinh như là kho tàng trọn vẹn chứa đựng đức
tin, một đường hướng trao ban một quyền bính lớn lao cho những nhà
chú giải Thánh Kinh và quyền bính rất ít hay không có gì cả
cho quyền tuyên huấn và cho truyền thống Giáo Hội. Ngài cho
biết các nhà chú giải Thánh Kinh thường bất đồng ý kiến và điều đó
làm cho đức tin bị tổn thương hơn đối với sự kiện những giả thuyết
và những quan điểm luôn luôn thay đổi.
Trong khi Công
Đồng thảo luận về vấn đề nầy, cha Ratzinger soạn thảo một bài thuyết
trình dựa trên lịch sử để chứng tỏ, như Ngài đã viết sau nầy, là “mạc
khải…thì rộng lớn hơn ngay cả đối với những lời ghi trong
Thánh Kinh” và Giáo Hội cũng như Thánh Truyền,
theo bản chất, cả hai đều bao gồm trong mạc khải.
Nhiều luận cứ
nầy cuối cùng đã chiếm ưu thế tại Công Đồng. Về sau nầy Đức Thánh
Cha Bênêditô XVI đã gọi Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải của Chúa
là một trong những văn bản sáng giá của Công Đồng và là một văn bản
mà Giáo Hội chưa am tường thấu đáo.
Theo một quan
điểm tổng quát hơn, điều đã làm cho vị giáo hoàng sau nầy cảm thấy
bất an nhiều nhất đối với hậu quả tai hại của Công Đồng là cảm tưởng
cho rằng mọi việc trong Giáo Hội đều được đem ra duyệt xét lại hết
và đường hướng chính trị của trần thế có thể trao lại cho Giáo Hội
đề lấy quyết định. Ngài đã cảnh báo sự dấy lên của niềm phẫn uất
chống lại khuynh hướng Roma và quan điểm về một thứ “giáo quyền
của nhân dân” hay “Giáo Hội từ bên dưới” mà trong đó nhân
dân xác quyết về định nghĩa “Giáo Hội”. Ngài cũng tỏ ra lo âu về sự
tín nhiệm mới mà Công Đồng Vatican II đã truyền đạt nơi các thần
học gia đã khiến cho họ cảm thấy mình không còn phụ thuộc các
giám mục nữa.
Những sự quan
tâm đó được phản ảnh trong nhiều văn kiện được phổ biến trong thời
gian Đức Hồng Y Ratzinger đảm trách Thánh Bộ Tín Lý và Đức Tin. Đáng
chú ý nhất là vào năm 1984 khi Thánh Bộ cảnh cáo việc sử dụng
những khái niệm Mác-xít trong thần học giải phóng. Vào
năm 1990 Thánh Bộ kêu gọi những thần học gia bất đồng ý kiến với
những giáo huấn của Giáo Hội đừng sử dụng những phương tiện truyền
thông để phổ biến quan điểm của mình hay làm áp lực để thay đổi. Và
năm 1992 Thánh Bộ tuyên bố các thần học gia không được nhấn mạnh
thái quá đến quyền tự trị của các giáo hội địa phương và thu
hẹp sự hiệp thông các giáo sĩ vào thực tế có tính cách xã hội.
Vatican II đã mở
cửa cho vấn đề đại kết và việc đối thoại liên tôn và
Thánh Bộ Tín Lý của Đức Hồng Y Ratzinger đã đưa ra những tiêu chuẩn
quan trọng cho cả hai lãnh vực. Vào năm 2000, Thánh Bộ Tín Lý đã ban
hành tài liệu “Dominus Jesus” (Chúa Giêsu),
nói về sự được cứu rỗi chỉ qua Chúa Giêsu mà thôi và một tài liệu
thứ hai về các “Giáo Hội Anh Em”. Cả hai taì liệu đều
bị chỉ trích bởi những thành viên tham gia công cuộc đối thoại của
Giáo Hội.
Khi tuyên bố
Chúa Giêsu Kitô và Giáo Hội cần thiết cho sự cứu rỗi, “Dominus
Jesus” đã làm cho một số độc giả có cảm tưởng như văn bản
mang tính cách loại trừ, cho dù Vatican đã đoan quyết đó chỉ là một
lối diễn tả của đức tin Công Giáo mà thôi. Văn kiện về các “Giáo
Hội Anh Em” đã giải bày từ ngữ đó chỉ được sử dụng để diễn
tả những giáo hội còn duy trì một giám mục đoàn và Bí Tích Thánh
Thể có hiệu lực, như các Giáo Hội Chính Thống Giáo; điều đó bị
chỉ trích kịch liệt bởi các nhà lãnh đạo Anh Giáo và Tin lành.
Cả hai văn kiện
hoàn toàn dựa trên những giáo huấn của Công Đồng Vatican II để bênh
đỡ những luận cứ liên hệ đến hai văn kiện đó. “Dominus Jesus”
đã trích dẫn những văn bản Công Đồng hơn 50 lần, kể cả xác quyết về
sự “trung gian duy nhất” của Chúa Kitô trong sự cứu rỗi. Khi
công bố văn kiện, Đức Hồng Y Ratzinger cho biết ý kiến là Giáo Hội
không bao giờ nhấn mạnh chân lý của sứ điệp mình “hoàn toàn khác
biệt” với điều mà Vatican II đã xác định.
Trong quyển sách
“Giáo Hội, Vấn Đề Đại Kết và Chính Trị” phát hành năm
1987, Đức Hồng Y Ratzinger trình bày rằng để hiểu rõ giáo huấn của
Công Đồng về vấn đề đối thoại, người ta phải am tường “giáo huấn
nòng cốt” về Giáo Hội như là một cộng đồng hiệp thông. Ngài
thối thúc mọi người đọc kỹ hơn cách diễn đạt những văn bản của
Vatican II để đối lại ý kiến của một nhóm người chỉ có thể “hội họp
nhau, đọc Phúc Âm và nói: ‘Giờ đây chúng ta là Giáo Hội’”.
Ngài cũng tranh
luận rằng Công Đồng đã triển khai “giám mục đoàn” như
là một thực thể có tính cách thần học, nhưng điều đó đã bị ngộ nhận
như một hình thức phân chia quyền bính. Đặc biệt, Ngài đặt thành vấn
đề “quyền giáo huấn của các hội nghị giám mục” và vào năm
1985, Ngài tuyên bố là các hội nghị đó “không có căn bản thần học”.
Năm 1998 một văn kiện giáo hoàng mà Đức Hồng Y đã giúp soạn thảo
nhấn mạnh đến giới hạn quyền bính thuộc các hội nghị các giám mục và
Ngài cho rằng những vấn nạn thuộc tín lý không bao giờ được quyết
định bằng một cuộc đầu phiếu với đa số.
Sự đa dạng về
những công tác mục vụ thuộc giáo dân trong Giáo Hội
cũng được Đức Hồng Y Ratzinger xem xét cẩn thận. Bộ Tín Lý đã giúp
điều hướng việc soạn thảo một văn kiện vào năm 1997. Văn kiện đó
hoàn toàn dựa vào những văn bản của Vatican II đã ca ngợi sự dấn
thân của giáo dân trong công việc của Giáo Hội nhưng cảnh cáo
việc nhầm lẫn vai trò giáo dân với những thừa tác viên được tấn
phong. Trong nhiều trường hợp, Đức Hồng Y Ratzinger đã nhấn mạnh
là nhiệm vụ trước tiên của giáo dân được dự kiến bởi Vatican II là
phúc âm hóa và thánh hóa thế giới.
Cả hằng trăm lần
khi nói hay viết về Công Đồng Vatican II, Đức Thánh Cha Bênêditô
luôn ủng hộ uy quyền của những giáo huấn Công Đồng
nhưng Ngài cũng tuyên bố chính những giáo huấn đó đòi hỏi một sự học
hỏi nghiên cứu thấu đáo, một cái nhìn thận trọng để phân biệt và
trên tất cả là một sự hiểu biết thích đáng về Giáo Hội và sứ mệnh
của Giáo Hội.
Một cách tổng
quát, Đức Thánh Cha Bênêditô XVI đã nhìn Công Đồng qua sự kiện
Giáo Hội ảnh hưởng thế gìới chứ không phải thế giới ảnh hưởng
Giáo Hội.
Thị kiến đó được
phản ảnh rõ rệt trong văn kiện của bộ Tín Lý vào năm 2003 về “người
Công Giáo và chính trị”. Văn kiện cho biết những cử tri và
những người làm luật phải để đức tin của mình soi chiếu những vấn đề
liến quan đến chính trị. Văn bản chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi
Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Tân Tiến.
Ngoài những cải
tổ trong nội bộ Giáo Hội do Vatican II, Đức Thánh Cha Bênêditô đã
nhấn mạnh mục đích rộng lớn hơn của Công Đồng là mang đức tin ra
khỏi phạm vi riêng tư và phục hồi đức tin như là một động lực
đối với lịch sử.
Để hiểu rõ
Vatican II một cách nghiêm chỉnh, Ngài nói người ta phải bắt đầu với
câu đầu tiên của Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội:
“Đức Kitô là ánh sáng muôn dân.” Ngài còn nói thêm là vấn đề
ở chỗ Giáo Hội bắt đầu bằng cách nói về Đức Kitô chứ không phải về
chính mình.
Theo hảng thông
tấn Zenit, ngày 22-12-2005, tại Vatican City, Đức Thánh Cha Bênêđitô
XVI đã ngỏ ý cuộc khủng hoảng nổi lên trong Giáo Hội tiếp theo sau
Công Đồng Vatican II không phài do các văn kiện Công Đồng, nhưng
đúng hơn do sự giải thích các văn kiện đó.
Đức Thánh Cha đã
phân tích cặn kẽ di sản trao lại do cuộc hội họp vào những năm
1962-1965 của các giám mục trên thế giới, khi Ngài gặp gỡ các cộng
sự viên ngày hôm đó tại Giáo Triều Roma để bày tỏ những lời chúc
mầng Giáng Sinh của Ngài.
Đức Thánh Cha đã
lớn tiếng hỏi: “Điều gì tốt và điều gì khiếm khuyết hay bị hiểu lấm?”
trong vấn đề thực thi những văn kiện Công Đồng.
Theo Đức Thánh
Cha Bênêđitô XVI, việc tiếp nhận những sứ điệp của
Công Đồng xảy ra tùy theo hai cách giải thích “đối chọi nhau hay
thảo luận với nhau.”
Cách giải thích
thứ nhất – đối chọi nhau – được Đức Thánh Cha gọi là “khoa
chú giải không liên tục và gián đoạn giữa Giáo Hội tiền Công
Đồng và hậu Công Đồng.”
Đức Thánh Cha
cho biết, theo quan điểm đó, điều gì quan trọng đối với Công Đồng
không phải là những văn bản mà là tinh thần đổi mới mang vào Giáo
Hội. Theo Ngài nhận xét, quan điểm đó “thường thích sử dụng thị
hiếu của giới truyền thông và cũng là một thành phần của nền thần
học tân thời.”
Theo Đức Thánh
Cha Bênêđitô, cách giải thích thứ hai – thảo luận với
nhau – là “khoa chú giải về cải tiến” được đề nghị
bởi các Đức Giáo Hoàng đã khai mạc và bế mạc Công Đồng – các Đức
Thánh Cha Gioan XXIII và Phaolô VI – và đã mang lại những thành
quả “một cách âm thầm nhưng trông thấy rõ rệt.”
Theo quan điểm
đó, mục tiêu của Công Đồng và của bất cứ cải cách nào trong Giáo Hội
là “truyền đạt giáo lý nguyên tuyền và toàn vẹn, không
giảm bớt hay bóp méo”, ý thức rằng “bổn phận chúng ta không những
phải lo bảo vệ kho tàng quý báu đó, như thể chúng ta quan tâm
không những về thời xa xưa mà còn dấn thân bằng một ý muốn
cương quyết và không sợ sệt cho công tác mà thời đại chúng ta đòi
hỏi.”
Lặp lại lời Đức
Thánh Cha Gioan XXIII, Ngài nói: “Một là kho tàng Đức Tin,
tức những chân lý chứa đựng trong giáo lý đáng tôn kính của chúng ta
và hai là cách thức những chân lý đó được diễn đạt, tuy nhiên
vẫn bảo toàn cũng một ý nghĩa và sự sung mãn.”
Đức Thánh Cha
Bêneđitô XVI vạch rõ: theo cách thức đó, Công Đồng đã trình bày một
“định nghĩa mới về tương quan giữa đức tin của
Giáo Hội và một số yếu tố thiết yếu của tư duy hiện đại.”
Ngài còn nhấn mạnh: “Giáo Hội, cả trước hay sau Công Đồng, là
một Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền,
đang lữ hành qua thời gian.”
Ngài còn nói
thêm: “Ngày nay chúng ta nhìn lại Công Đồng Vatican II với lòng
biết ơn. Nếu chúng ta đọc và lãnh hội, nhờ được hướng dẫn bởi
môt khoa chú giải thích hợp, điều đó có thể sẽ gia tăng tiềm
lực lớn lao đối với sự đổi mới cần thiết trong Giáo Hội.”
(Phỏng theo John Thavis – Vatican City – CNS)
Hương Vĩnh
|