Truyền Thông Chứng Nhân Đức Kitô

 

Hãy trở nên

CHỨNG NHÂN ĐỨC KITÔ

Bằng lời nói (= chữ viết ) & việc làm ; Trong mọi lúc & mọi nơi

www.chungnhanduckito.net             chungnhanduckito@gmail.com

Bán Nguyệt San Điện Tử CNDK, Số 54, Chúa nhật 03.09.2006


Các số báo đã phát hành          MỤC LỤC

RAO GlẢNG TlN MỪNG LÀ BỔN PHẬN CAO QUÝ                                                    Vatican 2

VAI TRÒ CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊDITÔ XVI                                  Nhà văn Hương Vĩnh

“VÀNG ÁNH ĐIỆN CÂU ...”                                                                                             Lm. Vĩnh Sang, DCCT

“CHÚNG TÔI LÀ NHỮNG ÐẦY TỚ VÔ DỤNG                                           Trầm Tĩnh Nguyện

CON ÐƯỜNG NÀO TA ÐI                                                            Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP.

LÒNG TRUNG THÀNH                                                                             Lm. Vũ Xuân Hạnh

Can đảm lựa chọn                                                                  Lm. Giuse Ngô Văn Thích, OP.

BẢN CHẤT CỦA TỘI LÀ THÍCH PHÔ TRƯƠNG                        Phó tế: GB Nguyễn Văn Định

MẸ QUÊ                                                                                                                 Bùi Nghiệp

CANH TÂN TINH THẦN CẦU NGUYỆN                                                                     Tuỵ Hiền

Hy sinh là dấu chứng của tình yêu                                    + Cố HY. PX. Nguyễn Tăn Thuận

Tật đờn bà : NHỚ DÀI VÀ NÓI DAI,                                           Chuyện phiếm của Gã siêu


RAO GlẢNG TlN MỪNG LÀ BỔN PHẬN CAO QUÝ

 

Mọi tín hữu đều có bổn phận rất cao quý là hoạt động để mọi người trên khắp hoàn cầu nhận biết và đón nhận sức cứu độ của Chúa.

Để thực hiện việc tông đồ này, Chúa Thánh Thần, thánh hoá Dân Chúa qua thừa tác vụ và các bí tích, cũng ban cho các tín hữu những ơn đặc biệt (x. 1Cr 12,7), "phân chia cho mỗi người mỗi cách, tuỳ theo ý của Người (1 Cr 12,11) để "mỗi người theo ơn đã nhận mà giúp đỡ nhau" và chính họ trở nên "những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa (1 Pr 4,10) hầu xây dựng toàn thân trong đức áí (x. Ep 4, 16). Việc đón nhận những đoàn sủng này, dù là những đoàn sủng đơn giản nhất, làm cho mỗi tín hữu có quyền lợi và bổn phận sử dụng những ơn đó trong Gíao Hội cũng như giữa trần gian để mưu ích cho mọi người và xây dựng Giáo Hội trong tự do của Chúa Thánh Thần, Đấng "muôn thổi đâu thì thổi" (Ga 3, 8), đồng thời sử dụng trong sự hiệp thông với anh em trong Đức Ki-tô, nhất là với các vị mục tử của mình. Chính các ngài có nhiệm vụ xem xét về bản tính đích thực và việc sử dụng thích hợp những đoàn sủng đó, không phảỉ để dập tắt Thánh Thần, nhưng để thử nghiệm mọi việc và điều nào tốt thì giữ lấy (x. 1 Tx 5, 19-21)

(Trích Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân của Công Đồng Vatican 2, số 3)

VỀ MỤC LỤC
VAI TRÒ CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊDITÔ XVI

 

CÔNG ĐỒNG VATICAN II QUA BỐN THẬP NIÊN

Đức Giáo Hoàng Bênêditô XVI là người bị ảnh hường sâu đậm bởi những cuộc thảo luận tại Công Đồng Vatican II, giờ đây Ngài đang ở trong một vị thế điều hướng cách thức mà theo đó Giáo Hội thực thi những giáo huấn của mình.

Nhiều năm trước đây Ngài đã cảnh báo rằng Giáo Hội đã trải qua một “tiến trình thoái hóa” với danh nghĩa là “tinh thần Công Đồng”, nhất là Ngài phê phán những cải cách về phụng vụ mà Cộng Đồng đề xướng.

Tuy nhiên trong bài thuyết giảng đầu tiên với tư cách là giáo hoàng vào tháng tư năm 2005, Đức Thánh Cha Bênêditô XVI đã tuyên bố không chút nghi ngờ gì về Công Đồng Vatican II và việc am hiểu tường tận Phúc Âm sẽ là “kim chỉ nam” cho triều đại của Ngài.

Ngài nói: “Càng nhiều năm trôi qua, những tài liệu Công Đồng không mất thời gian tính bao giờ. Quả thật, những giáo huấn của Công Đồng đang chứng tỏ thích ứng một cách đặc biệt với tình cảnh mới của Giáo Hội và xã hội đương thời đang được toàn cầu hóa.”

Xét về nhiều phương diện, Đức Thánh Cha Bênêditô XVI biểu hiện hình ảnh trọn vẹn về kinh nghiệm Công Đồng Vatican II trong Giáo Hội, bởi vì:

-         Với tư cách cố vấn thần học cho Đức Hồng Y người Đức là Joseph Frings ở Cologne, Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI, lúc bấy giờ là linh mục, đã tham dự tất cả bốn khóa họp của Công Đồng từ 1962-1965 và đã hăng say theo sát công tác khởi đầu cũng như sự thăm dò dũng cảm đưa đến việc đổi mới.

-         Ngài bắt đầu tỏ lộ lo âu trong những khóa họp về sau là Công Đồng cho người ta cảm tưởng Giáo Hội sinh hoạt như một nghị trường và “đức tin có thể bị thay đổi”.

-         Sau khi Công Đồng kết thúc, Ngài cảnh cáo về việc chuyển hướng sai lầm trong việc thực thi và cuối cùng Ngài giúp hình thành một tạp chí thần học để cân bằng điều mà Ngài gọi là sự tiếp cận thần học của “hoạt động chính trị trong giới giáo sĩ”.

-         Trong tư cách là viên chức tối cao về tín lý trong gần 24 năm, Ngài đã hoạt động để kiềm chế những sự lạm dụng và minh định giáo huấn của Giáo Hội trong những lãnh vực bao gồm sự thí nghiệm thần học, những văn bản phụng vụ, sự học hỏi Thánh Kinh, vấn đề tông đồ giáo dân, vai trò của những hội đồng giám mục và cuộc đối thoại liên tôn cũng như đại kết.

Học giả người Hoa Kỳ là George Weigel cho biết trong tư cách là một chuyên viên thần học trẻ tuổi, linh mục Ratzinger hiểu rõ sự thật chủ yếu về Vatican II là “aggiornamento” tức sự “hiện đại hóa” Giáo Hội Công Giáo phải đặt căn bản trên sự “trở về nguồn”, một sự trở về với nguồn gốc của sự khôn ngoan Kitô giáo và sự Giáo Hội tự hiểu biết chính mình một cách sâu sắc hơn. Weigel phát biểu: “Ngài Ratzinger…hiểu rằng cả hai điều đó phải song hành: “cập nhật hóa mà không hiểu chính mình ‘một cách sâu sắc’ thì chỉ hướng Giáo Hội vào một tổ chức tự nguyện khác dành cho những việc từ thiện mà thôi.”

Weigel đã đề cập tới chủ đề về Đức Thánh Cha Bênêditô XVI và Công Đồng Vatican II trong một quyển sách mới nhất của ông là “Sự Chọn Lựa của Thiên Chúa: Đức Thánh Cha Bênêditô và tương lai Giáo Hội Công Giáo”, cho biết Đức tân Giáo Hoàng đã có một ảnh hưởng lớn lao trên việc thực thi Công Đồng dưới triều đại của Đức Thánh Cha Gioan Phao-lồ II.

Weigel nói: “Ngày nay, thử thách lớn nhất của Đức Thánh Cha Bênêditô XVI trong tư cách là ‘người thực thi’ Công Đồng Vatican II, sẽ thành công trong việc tìm kiếm được những vị giám mục thể hiện được tầm nhìn của Công Đồng đối với vai trò giám mục như là tông đồ.

Alberto Melloni - một sử gia về Giáo Hội học người Ý – cho biết Đức Thánh Cha Bênêditô XVI đã mang lại chiều kích lớn lao về thần học cho Vatican II và Ngài vẫn là một “người con của Công Đồng” xét về nhiều phương diện, nhưng với việc Ngài được bầu làm giáo hoàng thì công cuộc thực thi Công Đồng Vatican II đối với Đức Thánh Cha Bênêditô XVI đã trở thành một vấn đề cai quản và không chỉ là một sự tranh luận có tính cách trí thức hay thần học.

Học giả Alberto Melloni viết: “Những gì Ngài đã nghĩ và làm tại Công Đồng thì rất quan trọng, nhưng điều đáng kể hơn nhiều ngày nay là điều Ngài sẽ làm trên cương vị Giáo Hoàng, nhất là trong những lãnh vực gay cấn như giám mục đoàn và vấn đề đại kết.”

Trong những  năm trước khi được bầu làm giáo hoàng, Đức Hồng Y Ratzinger đã bình luận về di sản của Vatican II khiến nhiều người chú ý rất nhiều, nhất là khi Ngài nói tới phụng vụ. Vào năm 1997, Ngài bày tỏ một cách quyết liệt theo đó việc Đức Thánh Cha Phao-lồ VI cải tổ phụng vụ đã làm “phương hại lớn lao” cho Giáo Hội. Theo Ngài, trong thực tế, không phải những thay đổi không cần thiết, xét về nhiều phương diện, “Sách Lễ Roma mới” là một sự cải tiến. Trong tầm nhìn của Ngài, vấn đề là phụng vụ cũ đã bị phá huỷ và Thánh Lễ mới được xây dựng trên những mảnh vụn của phụng vụ cũ.

Đức Hồng Y Ratzinger kêu gọi một “tiến trình phụng vụ mang lại sức sống cho di sản đích thực của Công Đồng Vatican II”. Năm 1999, Ngài cho ra đời một tác phẩm về chủ đế đó, khi Ngài cho rằng phụng vụ tân thời cần dành nhiều chỗ hơn cho sự thinh lặng, những động tác truyền thống của Kitô giáo, âm nhạc thích hợp và những yếu tố khác làm tăng trưởng thái độ cung kính.

Đức Hồng Y cũng đã làm dấy lên một cuộc tranh luận vào năm 1990 khi Ngài cho biết là đồng ý với những luận cứ thần học về vấn đề xoay bàn thờ về vị trí như trước Công Đồng Vatican II trong đó linh mục khi dâng Thánh Lễ thì xây lưng về phía cộng đoàn. Ngài cũng cho biết có lẽ quá trễ để đảo ngược những sự đổi thay đó mà không làm cho giáo dân trở nên bối rối hơn bao giờ hết và một sự trở về toàn diện đối với việc dâng Thánh lễ bằng La ngữ thì ngày nay không thể xảy ra được và có lẽ không phải là điều đáng mong ước.

Vì những lời phát biểu của Ngài trong quá khứ, nhiều tín hữu trông chờ Đức Thánh Cha Bênêditô sẽ có những thay đổi ngoạn mục trong nghi lễ giáo hoàng, như dẹp bỏ những yếu tố có tính cách đa văn hóa thường rất nổi bật dưới triều đại của Đức Thánh Cha Gioan Phao-lồ II. Cho đến bây giờ, điều đó đã không xảy ra. Vào những Ngày Giới Trẻ Thế Giới vừa qua ở Đức quốc chẳng hạn, Thánh Lễ giáo hoàng được sinh động bằng những hồi trống của người dân Phi châu, đàn xita và kèn của người Nam Mỹ. Trong buổi kinh chiều có cả những nghệ sĩ múa hát nữa.

Ngoài vấn đề phụng vụ, Đức Thánh Cha Bênêditô XVI luôn quan tâm đến ý nghĩa thần học và giáo hội học đằng sau phụng vụ. Vào năm 1962 khi Công Đồng bắt đầu thảo luận gay cấn về nguồn gốc mạc khải, vị linh mục trẻ tuổi Ratzinger đã trở thành một diễn viên cốt cán. Việc thào luận về mạc khải đặt ra vấn đề là làm sao Thánh Kinh Thánh Truyền liện hệ với nhau và cả hai đã liên hệ đến quyền tuyên huấn (magisterium) - quyền giáo huấn của Giáo Hội - như thế nào. Đó là một cuộc thào luận của các chuyên viên, nhưng đã có tác động lớn lao trên cách thế theo đó Giáo Hội tự hiểu biết chính mình.

Trong tầm nhìn của Cha Ratzinger lúc bấy giờ, có một chiều hướng nguy hiểm trong việc giải thích Thánh Kinh như là kho tàng trọn vẹn chứa đựng đức tin, một đường hướng trao ban một quyền bính lớn lao cho những nhà chú giải Thánh Kinh và quyền bính rất ít hay không có gì cả cho quyền tuyên huấn và cho truyền thống Giáo Hội. Ngài cho biết các nhà chú giải Thánh Kinh thường bất đồng ý kiến và điều đó làm cho đức tin bị tổn thương hơn đối với sự kiện những giả thuyết và những quan điểm luôn luôn thay đổi.

Trong khi Công Đồng thảo luận về vấn đề nầy, cha Ratzinger soạn thảo một bài thuyết trình dựa trên lịch sử để chứng tỏ, như Ngài đã viết sau nầy, là “mạc khải…thì rộng lớn hơn ngay cả đối với những lời ghi trong Thánh Kinh” và Giáo Hội cũng như Thánh Truyền, theo bản chất, cả hai đều bao gồm trong mạc khải.

Nhiều luận cứ nầy cuối cùng đã chiếm ưu thế tại Công Đồng. Về sau nầy Đức Thánh Cha Bênêditô XVI đã gọi Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải của Chúa là một trong những văn bản sáng giá của Công Đồng và là một văn bản mà Giáo Hội chưa am tường thấu đáo.

Theo một quan điểm tổng quát hơn, điều đã làm cho vị giáo hoàng sau nầy cảm thấy bất an nhiều nhất đối với hậu quả tai hại của Công Đồng là cảm tưởng cho rằng mọi việc trong Giáo Hội đều được đem ra duyệt xét lại hết và đường hướng chính trị của trần thế có thể trao lại cho Giáo Hội đề lấy quyết định. Ngài đã cảnh báo sự dấy lên của niềm phẫn uất chống lại khuynh hướng Roma và quan điểm về một thứ “giáo quyền của nhân dân” hay “Giáo Hội từ bên dưới” mà trong đó nhân dân xác quyết về định nghĩa “Giáo Hội”. Ngài cũng tỏ ra lo âu về sự tín nhiệm mới mà Công Đồng Vatican II đã truyền đạt nơi các thần học gia đã khiến cho họ cảm thấy mình không còn phụ thuộc các giám mục nữa.

Những sự quan tâm đó được phản ảnh trong nhiều văn kiện được phổ biến trong thời gian Đức Hồng Y Ratzinger đảm trách Thánh Bộ Tín Lý và Đức Tin. Đáng chú ý nhất là vào năm 1984 khi Thánh Bộ cảnh cáo việc sử dụng những khái niệm Mác-xít trong thần học giải phóng. Vào năm 1990 Thánh Bộ kêu gọi những thần học gia bất đồng ý kiến với những giáo huấn của Giáo Hội đừng sử dụng những phương tiện truyền thông để phổ biến quan điểm của mình hay làm áp lực để thay đổi. Và năm 1992 Thánh Bộ tuyên bố các thần học gia không được nhấn mạnh thái quá đến quyền tự trị của các giáo hội địa phương và thu hẹp sự hiệp thông các giáo sĩ vào thực tế có tính cách xã hội.

Vatican II đã mở cửa cho vấn đề đại kết và việc đối thoại liên tôn và Thánh Bộ Tín Lý của Đức Hồng Y Ratzinger đã đưa ra những tiêu chuẩn quan trọng cho cả hai lãnh vực. Vào năm 2000, Thánh Bộ Tín Lý đã ban hành tài liệu “Dominus Jesus” (Chúa Giêsu), nói về sự được cứu rỗi chỉ qua Chúa Giêsu mà thôi và một tài liệu thứ hai về các “Giáo Hội Anh Em”. Cả hai taì liệu đều bị chỉ trích bởi những thành viên tham gia công cuộc đối thoại của Giáo Hội.

Khi tuyên bố Chúa Giêsu Kitô và Giáo Hội cần thiết cho sự cứu rỗi, “Dominus Jesus” đã làm cho một số độc giả có cảm tưởng như văn bản mang tính cách loại trừ, cho dù Vatican đã đoan quyết đó chỉ là một lối diễn tả của đức tin Công Giáo mà thôi. Văn kiện về các “Giáo Hội Anh Em” đã giải bày từ ngữ đó chỉ được sử dụng để diễn tả những giáo hội còn duy trì một giám mục đoàn và Bí Tích Thánh Thể có hiệu lực, như các Giáo Hội Chính Thống Giáo; điều đó bị chỉ trích kịch liệt bởi các nhà lãnh đạo Anh Giáo và Tin lành.

Cả hai văn kiện hoàn toàn dựa trên những giáo huấn của Công Đồng Vatican II để bênh đỡ những luận cứ liên hệ đến hai văn kiện đó. “Dominus Jesus” đã trích dẫn những văn bản Công Đồng hơn 50 lần, kể cả xác quyết về sự “trung gian duy nhất” của Chúa Kitô trong sự cứu rỗi. Khi công bố văn kiện, Đức Hồng Y Ratzinger cho biết ý kiến là Giáo Hội không bao giờ nhấn mạnh chân lý của sứ điệp mình “hoàn toàn khác biệt” với điều mà Vatican II đã xác định.

Trong quyển sách “Giáo Hội, Vấn Đề Đại Kết và Chính Trị” phát hành năm 1987, Đức Hồng Y Ratzinger trình bày rằng để hiểu rõ giáo huấn của Công Đồng về vấn đề đối thoại, người ta phải am tường “giáo huấn nòng cốt” về Giáo Hội như là một cộng đồng hiệp thông. Ngài thối thúc mọi người đọc kỹ hơn cách diễn đạt những văn bản của Vatican II để đối lại ý kiến của một nhóm người chỉ có thể “hội họp nhau, đọc Phúc Âm và nói: ‘Giờ đây chúng ta là Giáo Hội’”.

Ngài cũng tranh luận rằng Công Đồng đã triển khai “giám mục đoàn” như là một thực thể có tính cách thần học, nhưng điều đó đã bị ngộ nhận như một hình thức phân chia quyền bính. Đặc biệt, Ngài đặt thành vấn đề “quyền giáo huấn của các hội nghị giám mục” và vào năm 1985, Ngài tuyên bố là các hội nghị đó “không có căn bản thần học”. Năm 1998 một văn kiện giáo hoàng mà Đức Hồng Y đã giúp soạn thảo nhấn mạnh đến giới hạn quyền bính thuộc các hội nghị các giám mục và Ngài cho rằng những vấn nạn thuộc tín lý không bao giờ được quyết định bằng một cuộc đầu phiếu với đa số.

Sự đa dạng về những công tác mục vụ thuộc giáo dân trong Giáo Hội cũng được Đức Hồng Y Ratzinger xem xét cẩn thận. Bộ Tín Lý đã giúp điều hướng việc soạn thảo một văn kiện vào năm 1997. Văn kiện đó hoàn toàn dựa vào những văn bản của Vatican II đã ca ngợi sự dấn thân của giáo dân trong công việc của Giáo Hội nhưng cảnh cáo việc nhầm lẫn vai trò giáo dân với những thừa tác viên được tấn phong. Trong nhiều trường hợp, Đức Hồng Y Ratzinger đã nhấn mạnh là nhiệm vụ trước tiên của giáo dân được dự kiến bởi Vatican II là phúc âm hóa và thánh hóa thế giới.

Cả hằng trăm lần khi nói hay viết về Công Đồng Vatican II, Đức Thánh Cha Bênêditô luôn ủng hộ uy quyền của những giáo huấn Công Đồng nhưng Ngài cũng tuyên bố chính những giáo huấn đó đòi hỏi một sự học hỏi nghiên cứu thấu đáo, một cái nhìn thận trọng để phân biệt và trên tất cả là một sự hiểu biết thích đáng về Giáo Hội và sứ mệnh của Giáo Hội.

Một cách tổng quát, Đức Thánh Cha Bênêditô XVI đã nhìn Công Đồng qua sự kiện Giáo Hội ảnh hưởng thế gìới chứ không phải thế giới ảnh hưởng Giáo Hội.

Thị kiến đó được phản ảnh rõ rệt trong văn kiện của bộ Tín Lý vào năm 2003 về “người Công Giáo và chính trị”. Văn kiện cho biết những cử tri và những người làm luật phải để đức tin của mình soi chiếu những vấn đề liến quan đến chính trị. Văn bản chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Tân Tiến.

Ngoài những cải tổ trong nội bộ Giáo Hội do Vatican II, Đức Thánh Cha Bênêditô đã nhấn mạnh mục đích rộng lớn hơn của Công Đồng là mang đức tin ra khỏi phạm vi riêng tư và phục hồi đức tin như là một động lực đối với lịch sử.

Để hiểu rõ Vatican II một cách nghiêm chỉnh, Ngài nói người ta phải bắt đầu với câu đầu tiên của Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội: “Đức Kitô là ánh sáng muôn dân.” Ngài còn nói thêm là vấn đề ở chỗ Giáo Hội bắt đầu bằng cách nói về Đức Kitô chứ không phải về chính mình.

Theo hảng thông tấn Zenit, ngày 22-12-2005, tại Vatican City, Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI đã ngỏ ý cuộc khủng hoảng nổi lên trong Giáo Hội tiếp theo sau Công Đồng Vatican II không phài do các văn kiện Công Đồng, nhưng đúng hơn do sự giải thích các văn kiện đó.

Đức Thánh Cha đã phân tích cặn kẽ di sản trao lại do cuộc hội họp vào những năm 1962-1965 của các giám mục trên thế giới, khi Ngài gặp gỡ các cộng sự viên ngày hôm đó tại Giáo Triều Roma để bày tỏ những lời chúc mầng Giáng Sinh của Ngài.

Đức Thánh Cha đã lớn tiếng hỏi: “Điều gì tốt và điều gì khiếm khuyết hay bị hiểu lấm?” trong vấn đề thực thi những văn kiện Công Đồng.

Theo Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI, việc tiếp nhận những sứ điệp của Công Đồng xảy ra tùy theo hai cách giải thích “đối chọi nhau hay thảo luận với nhau.

Cách giải thích thứ nhất – đối chọi nhau – được Đức Thánh Cha gọi là “khoa chú giải không liên tục và gián đoạn giữa Giáo Hội tiền Công Đồng và hậu Công Đồng.”

Đức Thánh Cha cho biết, theo quan điểm đó, điều gì quan trọng đối với Công Đồng không phải là những văn bản mà là tinh thần đổi mới mang vào Giáo Hội. Theo Ngài nhận xét, quan điểm đó “thường thích sử dụng thị hiếu của giới truyền thông và cũng là một thành phần của nền thần học tân thời.”

Theo Đức Thánh Cha Bênêđitô, cách giải thích thứ hai – thảo luận với nhau – là “khoa chú giải về cải tiến” được đề nghị bởi các Đức Giáo Hoàng đã khai mạc và bế mạc Công Đồng – các Đức Thánh Cha Gioan XXIII và Phaolô VI – và đã mang lại những thành quả “một cách âm thầm nhưng trông thấy rõ rệt.”

Theo quan điểm đó, mục tiêu của Công Đồng và của bất cứ cải cách nào trong Giáo Hội là “truyền đạt giáo lý nguyên tuyền và toàn vẹn, không giảm bớt hay bóp méo”, ý thức rằng “bổn phận chúng ta không những phải lo bảo vệ kho tàng quý báu đó, như thể chúng ta quan tâm không những về thời xa xưa mà còn dấn thân bằng một ý muốn cương quyết và không sợ sệt cho công tác mà thời đại chúng ta đòi hỏi.”

Lặp lại lời Đức Thánh Cha Gioan XXIII, Ngài nói: “Một là kho tàng Đức Tin, tức những chân lý chứa đựng trong giáo lý đáng tôn kính của chúng ta và hai là cách thức những chân lý đó được diễn đạt, tuy nhiên vẫn bảo toàn cũng một ý nghĩa và sự sung mãn.”

Đức Thánh Cha Bêneđitô XVI vạch rõ: theo cách thức đó, Công Đồng đã trình bày một “định nghĩa mới về tương quan giữa đức tin của Giáo Hội và một số yếu tố thiết yếu của tư duy hiện đại.” Ngài còn nhấn mạnh: “Giáo Hội, cả trước hay sau Công Đồng, là một Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, đang lữ hành qua thời gian.”

Ngài còn nói thêm: “Ngày nay chúng ta nhìn lại Công Đồng Vatican II với lòng biết ơn. Nếu chúng ta đọc và lãnh hội, nhờ được hướng dẫn bởi môt khoa chú giải thích hợp, điều đó có thể sẽ gia tăng tiềm lực lớn lao đối với sự đổi mới cần thiết trong Giáo Hội.”

(Phỏng theo John Thavis – Vatican City – CNS)

Hương Vĩnh

VỀ MỤC LỤC
“VÀNG ÁNH ĐIỆN CÂU ...” 

 

Quý độc giả Ephata và Chứng Nhân Đức Kitô thân mến,

Hôm qua, chúng tôi được nghe một chia sẻ về sự nghèo khó. Vị linh mục chia sẻ nói với chúng tôi về một câu chuyện ở nuớc ngoài mà ngài có dịp chứng kiến.

Chuyện xảy ra trong một cộng đoàn nữ tu quốc tế, một chị nữ tu người Brazin phê bình những người chị khác về cách thức sống với người nghèo của mình, chị cho rằng nếu không xuống đường đi biểu tình để đấu tranh cho người nghèo, cho nhân quyền, cho sự tự do,... thì chưa sống với người nghèo. Một hôm, chính người nữ tu phát biểu ý kiến trên đã nhảy nhổm lên và la hét ầm ĩ, chỉ vì một con chuột đã chạy ngang qua chỗ chị đang đứng, một chị khác đã phê bình rằng, chưa “sống chung được với chuột” thì chưa hẳn là đã sống với người nghèo !

Mấy ngày nay chúng tôi ngồi tâm sự với nhau về con đường nào mình đã được chọn lựa để sống, nhiều anh em đã trăn trở rất nhiều về sứ mạng và về ơn gọi, Nỗi bức xúc vì nhận ra mình được gọi để sống trong “dân”, giữa “dân”, làm “dân” để phục vụ “dân”, nhưng trong thực tế đã có quá nhiều lần mình không sống điều đó một cách triệt để. Đã sống ngoài “dân”, trên “dân”, làm quan để cai trị “dân”.

Đoạn Kinh Thánh: “Tôi không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô và là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá” ( 1 Cr 2,2 ),

Và câu: “ ...Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em.” ( 1 Ga 3, 16 )

Cả hai câu này đã “tra tấn” chúng tôi tơi bời mấy ngày nay.

Có một cha già, già lắm rồi vì cùng với cái già tuổi, ngài già vì cứ nghĩ chuyện ngày xưa của ... Chúa Giê-su, ngài ngồi bất động, mắt nhắm nghiền nghe chúng tôi nói mà suy nghĩ, bất ngờ ngài nói trong khoảng không với ánh mắt nhìn về chốn xa xăm. Chúa Giê-su ngày xưa ( lại chuyện ngày xưa ! ) làm linh mục đâu có ngoài “dân”, đâu có trên “dân”, nhưng Người làm “dân”, nên như “dân” mọi đàng chỉ trừ tội lỗi, Người phục vụ “dân” như một người tôi tớ. Thầy là Thầy và là Chúa, Thầy rửa chân cho anh em ( cha già rít lên: không có chữ “mà”, đừng nói “mà rửa chân cho anh em” ), rồi các thánh Tông Đồ cũng được sai đi làm một như vậy với Chúa Giê-su, đi mà không mang bao bị giầy dép, ... Nói rồi cha già lại nhắm nghiềm mắt lại để suy nghĩ.

Tôi vừa được đọc hồi ký của một cha già khác, ngài viết nhân dịp kỷ niệm 50 năm linh mục của ngài. Ngay đầu nhật ký, khi ngài hồi tưởng lại cách đây 50 năm về trước, hồi tưởng lại ngày ngài nhận lãnh thánh vụ.

“Trong quá khứ, các lễ phong chức linh mục được cử hành đơn giản hơn ngày nay, là một biến cố lớn trong Dòng cũng như trong Giáo Phận, nhưng khía cạnh thiêng liêng nổi bật. Trước ngày trọng đại ấy là những ngày cấm phòng nhặt. Các tiến chức không quan tâm đến khách mời, đến phẩm phục, tiệc tùng đưa rước... Các vị chỉ có một việc là cầu nguyện, là suy niệm trong thinh lặng và xa vời với mọi lễ lạt hào nhoáng bên ngoài. Tôi nhớ lúc chịu chức năm 1956, tôi không biết trước ai sẽ có mặt dự lễ, kể cả người trong gia đình. Ngay sau khi chịu chức, gặp gỡ thân thuộc gia đình với những phép lành đầu tiên với tất cả tấm lòng và hai bàn tay còn thơm dầu thánh. Thế rồi các tân linh mục được mừng trong bữa cơm trưa hôm ấy. Ngày hôm sau, thời chưa có lễ đồng tế, một anh em dâng lễ cho cộng đoàn, các người khác dâng lễ nơi bàn thờ nhỏ, sau đó cuộc sống mới tiếp tục như cũ.” ( Hồi ký ‘Niềm vui vĩ đại’ của linh mục R. Nguyễn Tự Do, CSsR. )

Ngay trên mảnh đất quê hương mình, người nghèo vẫn còn là một đại đa số, rời khỏi thị thành phố xá xa hoa thử xem, quá nhiều nơi vẫn còn ánh điện lập loè, quá nhiều nơi vẫn còn không có nước uống, quá nhiều nơi vẫn còn không đủ ăn, quá nhiều nơi vẫn còn không đủ mặc, ... nhà vẫn còn là nhà tranh, vách vẫn còn là vách đất.

Tôi đã một lần dừng chân nơi đất mũi, tận cùng của đất nước quê hương tôi, quá nhiều ngôi nhà trong một vùng mà tôi không thể gọi đó là nhà, từng em bé xanh sao vàng ỏng chẳng biết trường biết lớp là gì. Những địa chỉ đó trong ơn gọi Chúa dành cho ai ?

Tôi được biết một nhà dòng nọ nổi tiếng về việc thêu và may áo lễ, các loại áo được đặt may ở đây giá rất cao, có thể gấp 5 gấp 10 lần nơi khác, chẳng có cái nào giá dưới một triệu. Nhưng phải đặt trước cả mấy tháng mới nhận, vì quá nhiều người đặt may. Các lớp được truyền chức thi nhau đến đặt vì thương hiệu nổi tiếng, “hàng hiệu” mà ! Nhưng những nơi có địa chỉ là nghèo, họ không thể sống với cái áo lễ dăm ba triệu bạc cao sang !

Có một lần tôi nghe được câu chuyện của hai bạn linh mục trẻ, chuyện qua lại của những người bạn đồng lớp thân nhau: “anh dẹp cái kiểu của anh đi, người dân tộc không có cái kiểu mặc áo lễ đeo dây dân tộc mà chân mang đôi giày giá ngất ngưởng mấy trăm đô !”.

Hôm qua tôi nghe một câu chuyện đau lòng, nghe xong mắt thấy cay cay niềm đắng đót. Người ta chụp hình các tu sĩ của một dòng nọ, gởi sang Hoa Kỳ để xin ân nhân, một nhóm nhận làm ân nhân họp mặt, thế là một cuộc chọn lựa “con” của các “bà cố” diễn ra một cách náo nhiệt, vang lên những lời phê bình “ông này đẹp hơn”, “ông này có tướng hơn”, “thôi em nhận ông này”, “không ! Ông này em chọn rồi”, ... Cách đây mấy tháng, báo chí Việt Nam lên án mạnh mẽ về một vụ đăng hình các cô gái Việt Nam trên một quảng cáo lấy vợ Việt Nam ở  Sing. Lúc đó tôi cũng như mọi người Việt Nam thấy mình bị xúc phạm, nay nghe câu chuyện này, tôi cầu xin đó chỉ là  một chuyện do người ta tưởng tượng ra. Người kể vui vẻ nói với tôi “con cũng lựa được một ông” !

Đi tìm chân dung mình trong thế giới hôm nay, có lẽ chỉ có ánh điện vàng vọt của những ngõ hẻm lầy lội mới soi rõ được chân dung mình mà thôi. Đừng mong đèn sáng mà mình được soi tỏ.

Lm. VĨNH SANG, Chúa Nhật 27.8.2006

VỀ MỤC LỤC
“CHÚNG TÔI LÀ NHỮNG ÐẦY TỚ VÔ DỤNG,

 

CHÚNG TÔI ÐÃ CHỈ LÀM VIỆC BỔN PHẬN ÐẤY THÔI” (Lc 17,10b)

Ơn gọi làm người, và hơn nữa, làm người Kitô hữu, làm môn đệ của Chúa Giêsu đồng thời làm phát sinh những bổn phận liên hệ với ơn gọi ấy. Ðó là một điều rất công bằng giữa địa vị và bổn phận : địa vị càng quan trọng thì bổn phận càng lớn lao. Ấy thế mà nhiều lúc tôi đã quên đi cái lẽ công bằng đó để nghĩ rắng tôi đã làm cho Chúa nhiều điều mà tôi không bị đòi hỏi phải làm: tôi nghĩ rắng tôi đã ‘gia ân’ cho Chúa và Chúa đang ‘mang ơn’ tôi, Chúa phải đối xử với tôi một cách đặc biệt hơn những người khác vì tôi là ‘ân nhân cho chương trình cứu độ của Thiên Chúa’ !

“Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng...”. Ðây là một cú ‘sửa lưng’ rất đích đáng để giúp tôi xét lại thái độ vênh vang tự đắc của mình : dù tôi có lên đông xuống đoài, dù tôi có bạt đồi lấp bể, dù tôi có xông xáo làm trăm công nghìn việc để đóng góp vào sứ mạng chung của Hội Thánh là đem Tin Mừng cứu độ đến cho mọi người, thì thái độ đúng đắn mà tôi phải có là cúi đầu trước nhan Thiên Chúa và thưa với Ngài : “Con là đứa đầy tớ vô dụng... “. Quả thế, những công việc tông đồ trực tiếp hay gián tiếp mà tôi đã, đang hoặc sẽ làm chính là những bổn phận mà Thiên Chúa gợi ý cho tôi chứ không phải là những phát kiến tự nguyện của riêng tôi : tôi không thể nào ‘qua mặt’ được Thánh Thần của Thiên Chúa ! Tôi không phải là người ‘sáng tạo’ ra công cuộc tông đồ của tôi mà thực sự tôi chỉ là người tiếp nối sự nghiệp của Chúa Kitô. Nếu tôi tự phong cho mình vai trò chủ đạo trong đời sống tông đồ của mình thì tôi đã ‘vượt mặt’ Chúa Kitô rồi đó !

Trầm Tĩnh Nguyện

VỀ MỤC LỤC
CON ÐƯỜNG NÀO TA ÐI

Phúc Âm Nhật Ký Ngày 27.08.2006

Ga 6:54a.60-69 

Sau mấy chục năm, chúng tôi gặp lại nhau.  Tay bắt mặt mừng.  Những chuyện cũ kể mãi không hết.  Suốt đêm nhà cửa sáng trưng.  Câu truyện càng ngày càng rôm rả.  Chúng tôi điểm lại từng khuôn mặt thuở thiếu thời, thuở còn sống trong tiểu chủng viện.  Cả lớp tới bảy chục người, chỉ còn lại năm người.  Ai còn ai mất ?!

Ngày xưa, trong sa mạc, dân Do thái cũng đứng trước những thách đố khủng khiếp.[1]  Trên bước đường theo Ðức Kitô, các môn đệ cũng đã trải qua những giây phút chọn lựa rất quyết liệt.[2]  Những người đã bỏ đi không phải không có lý do.  Lập luận rất vững chắc và hợp lý.   Chưa bao giờ họ thấy Lời Chúa “chướng” như thế !  Kết quả là những tiếng “xầm xì” nổi lên.  Một số “không chấp nhận” Lời Chúa.  Cuối cùng, họ đã dứt khoát “bỏ đi.”[3]  Chỉ còn lại “một mình Ðức Giêsu”[4] và mấy môn đệ mà thôi.  Một cuộc lựa chọn lớn lao đã xảy ra.  Ðời là một chuỗi những lựa chọn.  Ðịnh mệnh bắt đầu và thành hình từ những lựa chọn đó.

Nhưng lựa chọn theo Chúa Giêsu không giống với những lựa chọn bình thường. Ðó là cả một huyền nhiệm.  Huyền nhiệm như chính thánh ý Thiên Chúa và tự do con người.  Nếu chỉ tin vào giác quan, con người không thể nắm bắt được ân sủng huyền nhiệm của Chúa Cha.[5]  Hơn nữa, lý trí cũng không thể khám phá chiều sâu của Lời Chúa, vì “Lời Thày nói với anh em là thần khí và là sự sống.”[6]  Bởi thế, chúng ta rất thông cảm với những người rút lui vì không tin nổi  những lời chướng tai từ miệng Chúa nữa.  Không chướng làm sao được ?  Có ai thấy cảnh “ăn thịt và uống máu”[7] người bao giờ ?  Chỉ nghe thôi cũng đã thấy khiếp rồi !  Họ phải lìa bỏ Thày để khỏi chứng kiến một cảnh  man rợ !   Hành động đó chứng tỏ họ có một lối sống văn minh, tiến bộ và nhân đạo.

Nhưng thực ra, đầu óc họ đặc sệt “xác thịt” không thể hiểu nổi những thực tại thần linh.  “Bởi xác thịt sinh ra,”[8] họ không thể hiểu những Lời Chúa.  Bởi thế, họ phải chọn theo cái nhìn trần tục và phải lìa bỏ Thày.   Dĩ nhiên !   Chỉ những ai “bởi Thần Khí sinh ra,”[9] mới có thể hiểu nổi “những lời đem lại sự sống đời đời”[10] của Chúa mà thôi.  Hai thế giới hoàn toàn khác biệt.  Nhưng muốn sống, phải lựa chọn theo Thần Khí.[11]

Tiêu chuẩn phán đoán đã thay đổi.  Không thể đứng ở thế giới vật chất để đánh giá những thực tại về Thiên Chúa.  Cũng không thể lấy tiêu chuẩn thực nghiệm để nhìn toàn bộ cuộc sống.  Chiều kích siêu nhiên không đo bằng những tiêu chuẩn tự nhiên.  Con người không thể lựa chọn đúng, nếu quên đi chiều kích siêu nhiên trong cuộc sống. Vì lựa chọn đúng phải dẫn con người tới cứu cánh cuộc đời.  Nếu lựa chọn đó có tính cách quyết định cho số mệnh cuộc đời, con người càng cần phải đắn đo nhiều mặt. 

Quyết định theo Chúa Kitô quan hệ tới sự sống vĩnh hằng.  Sự sống vĩnh hằng lại được định đoạt ngay trong cuộc đời đầy giới hạn.  Tuy thế, nhờ ân sủng từ Chúa Cha, con người có thể làm một quyết định có giá trị dài lâu đó.  Nói khác, họ đã được Thần Khí thúc đẩy từ bên trong để có thế nhìn thấy bản chất “thần khí” của Lời Chúa.  Vì chỉ có Lời Chúa mới là sự sống và đưa con người tới sự sống vĩnh hằng mà thôi.[12]  Bởi thế, nếu  lựa chọn cách khác, con người sẽ lìa xa cõi sống.

Nhìn các môn đệ bỏ Thày ra đi, chúng ta thấy cả diễn trình phức tạp.  Trước hết, họ nhận định theo giác quan và tin tưởng tuyệt đối vào khả năng phán đoán của lý trí.  Thế nên, mới nghe Chúa Giêsu nói về Thịt và Máu Người, họ đã thấy chướng tai gai mắt.  Họ không thể nào chấp nhận được, dù họ đã coi trọng Thày như một vị ngôn sứ đầy quyền năng trong lời nói cũng như hành động .  Sau đó, họ “xầm xì” để tạo một dư luận chuẩn bị cho việc ra đi.  Họ kéo bè kéo cánh để tìm hậu thuẫn và gây chia rẽ cộng đoàn.  Sự bất tín lan rộng và lên tới tột điểm ở hành động phản bội, đó là “kẻ sẽ nộp Người.”[13]  Nhóm Mười Hai chưa bao giờ bị giao động dữ dội như thế.  Nếu mọi người đều chao đảo và nghiêng theo dư luận đó, chắc chắn cộng đoàn Chúa đã sụp đổ và tan rã từ lâu.

Rõ ràng ngay từ khởi đầu Giáo hội, “Thịt và Máu” Chúa đã trở thành một vấn đề có tính cách quyết định cho sự sống còn của cộng đoàn Dân Chúa.  Giữa bao cám dỗ hôm nay, nhiều người cũng đang bị lạc hướng.  Quá nhiều phán quyết dựa trên những tiêu chuẩn trần tục, vô thần, vật chất đang khuynh đảo cuộc sống xã hội và Giáo hội.  Biết theo ai bây giờ ?  Liệu Lời Chúa còn là một tiêu chuẩn tối cao soi sáng cho chúng ta lựa chọn và quyết định mọi vấn đề hay không ?  Phong trào tục hóa đang lôi cuốn mãnh liệt giới trẻ và xã hội.  Càng ngày người ta càng khó tin tưởng và nhìn thấy Thiên Chúa trong thế giới.  Nhân loại đang tự xây dựng thế giới và hoàn toàn tự quyết.  Thiên Chúa không còn xuất hiện trực tiếp trong mọi vấn đề nữa.[14]  Nói khác, thế giới quá đầy đủ kiến thức và của cải, nên không cần đến Thiên Chúa.

Tuy thế, dưới con mắt đức tin, Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI vẫn thấy tận nơi sâu thẳm của lòng người, nhất là giới trẻ, một cuộc tìm kiếm cái gì đó lớn lao hơn.  Nói khác, một hiện tượng tôn giáo đang tái xuất hiện.[15]  Chắc chắn hiện tượng tôn giáo này sẽ mở ra những chiều kích tâm linh và siêu nhiên lớn lao.  Nhờ đó con người sẽ có cái nhìn sâu xa và bao quát hơn.  Thần Khí đang hoạt động để hướng dẫn con người.  Thế giới sẽ được cải thiện và tốt đẹp hơn.  Tương lai sẽ tươi sáng hơn, vì “Con Người sẽ lên nơi đã ở trước kia,”[16] nơi Người đã từng sống vô cùng hạnh phúc với Chúa Cha và Chúa Thánh Linh.  Người lên trước để mở ra một tương lai huy hoàng cho tất cả những ai đặt tin tưởng tuyệt đối nơi Người.

Ngày nay, vẫn còn nhiều người khẳng khái tuyên xưng đức tin như Phêrô.  Ðức tin này cắm sâu vào tận cung lòng Chúa Cha, chứ không dựa trên sự hợp lý của lý trí hay giác quan.  Thần Khí đã biến đổi họ hoàn toàn.  Họ đã lột xác.  Từ nay sự sống đích thực chỉ còn là Thánh Thể và Thần Khí.  Sự sống này nở rộ thành một cộng đoàn, đó là Giáo Hội.  Nhờ Lời Chúa, “Kitô giáo là một lựa chọn tích cực”[17] giữa một thế giới đầy dẫy những điều tiêu cực và băng hoại hôm nay.

Lạy Chúa, xin ban Thần Khí để con có thể đón nhận Lời Chúa là thần khí và sự sống của con.  Amen.

dzuize@gmail.com

[1] x. Gs 24:1-2a.15-17.18b.   [2] x. Ga 6:66-67.   [3] x. Ga 6:60-67.  [4] Mt 17:8; Mc 9:2.

[5] x. Ga 6:64-66.  [6] Ga 6:63.  [7] Ga 6:54a.  [8] Ga 6:6.  [9] Ga 6:6.  [10] Ga 6:68.

[11] Ga 6:63.  [12] x. Ga 6:63.68.  [13]Ga 6:64. 

[14] ÐGH Benedicto XVI : Interview with German Television, 13.08.2006.    

[15] ibid.  [16] Ga 6:62.

[17] ÐGH Bênêđictô XVI :  Interview with German Television, CWNews.com, 14.08.2006

 
VỀ MỤC LỤC
LÒNG TRUNG THÀNH

 

Chắc bạn vẫn thường xuyên nghe người này hứa dỏm, người kia hứa cuội. Hoặc chính bản thân nhều khi cũng tỏ ra bực mình vì ai đó không giữ đúng lời hứa. Từ những chuyện nhỏ nhất, tầm thường nhất của cuộc sống đến những vấn đề quan trọng nhất, người ta đều có thể thất trung, bất tín.

Ví dụ: Ai cũng biết, hôn nhân là mối giây ràng buộc chặt, nhưng người ta vẫn phản bội nhau. Một hợp đồng kinh tế vừa mới ký xong, có thể vì lợi lộc riêng tư, người ta vẫn phản bội hợp đồng đó. Một hiệp ước hòa bình giữa hai đảng phái đã được ký kết để đừng chém giết nhau nữa, thì cũng không ai dám tin chắc rằng, hai đảng phái đó hoàn toàn tuân theo hiệp ước, dù nó là hiệp ước quốc tế đi nữa…

Loài người phản bội nhau, bất trung với nhau dường như ngàng càng dễ dàng, không cần đếm xỉa gì đến hậu quả của nó, chẳng cần một chút lương tâm. Vậy là chiến tranh nổ ra, chém giết vẫn còn, những cái chết oan uổng vẫn không ngừng tiếp diễn từng ngày. Nhìn vào thực tế của đời sống như thế, nhiều lúc ta như chán nản, mệt mỏi, không còn muốn tin đời, tin người gì nữa…

Đối với nhau đã vậy, đối với Thiên Chúa, con người cũng phản bội, cũng bất trung không kém. Từ thuở bình minh của nhân loại, thế giới theo Thánh Kinh diễn tả, chỉ có hai người thôi: Ađam, Eva. Tưởng chừng cả hai sẽ an phận trong hạnh phúc tuyệt đối Chúa đã an bài, nhưng không, lòng tham, sự kiêu ngạo đã làm ông bà không chấp nhận hạnh phúc đó mà lại muốn bằng Thiên Chúa. Để bằng Thiên Chúa, chỉ còn cách không vâng lời, chống lại Thiên Chúa, bất trung với Người. Vì tội chống lại Thiên Chúa một cách tày trời, đã gây ra hậu quả không thể lường hết được: cả loài người cùng bị vạ lây trong tội của nguyên tổ.

Bất trung của Ađam và Eva là mở đầu cho vô vàn những bất trung mà loài người phản bội Thiên Chúa. Chẳng hạn, thời gian dài dân Chúa phải lang thang trong sa mạc là một bằng chứng. Bốn mươi năm trường, nếm đủ mùi vị của khổ đau: nào là đói, rét, khát, rắn độc cắn…, đã làm cho dân của Chúa mất kiên nhẫn, nhiều lần lên tiếng trách móc ông Môi sen và ông Aaron đã vậy, họ còn oán trách nặng lời đối với Thiên Chúa của họ. Họ nghi ngờ lòng thương xót của Chúa: không biết Chúa có thương mình không, hay Thiên Chúa đem họ ra khỏi Aicập để vùi dập họ, để sát hại họ giữa hoang địa hãi hùng?

Lòng dân nổi loạn đến mức, có lần ông Môisen thất vọng cùng cực, than thở với Chúa: “Sao Ngài lại làm khổ tôi tớ Ngài? Tại sao con không đẹp lòng Ngài, khiến Ngài đặt gánh nặng tất cả dân này lên vai con? Có phải con đã cưu mang dân này đâu, có phải con sinh ra nó đâu?… Một mình con không thể gánh cả dân này được nữa, vì nó nặng quá sức con. Nếu Ngài xử với con như vậy, thì thà giết con đi còn hơn…” (Ds 11, 12 tt).

Trong sa mạc, lòng dân quyên mất tình yêu của Chúa, vì thế đã không biết ơn Thiên Chúa của mình, ngược lại nhiều lần đi từ thái độ bất trung đến đối nghịch Thiên Chúa.

Hôm nay bài đọc một là một phần của câu chuyện dài về sự bất trung của dân và lòng thương xót của Thiên Chúa. Sau những năm tháng lang thang rày đây mai đó trong sa mạc, bây giờ sắp định cư trong đất hứa, hạnh phúc chỉ còn là một bước nhảy về phía trước. Trong hoàn cảnh này, dân Chúa phải xác định lại lập trường của mình: Họ có muốn trung thành theo Chúa, thờ phượng Chúa nữa hay không? Dẫu hôm nay, họ dỏng dạc tuyên bố sự chọn lựa của mình: “Không đời nào chúng tôi bỏ Đức Chúa mà đi thờ những thần khác”, và dù cho lý do buộc họ phải xác định lại đức tin của mình là bởi đã quá nhiều lần họ bất trung với Chúa, thì không phải vì thế, mà từ nay về sau họ không còn bất trung. Lời quyết tâm trung thành hứa trước nhan Chúa vẫn còn đó, nhưng lòng dân thì hay thay đổi.

Suốt dọc dài của lịch sử, sự phản bội ngấm ngầm hay ra mặt đã làm cho dân của Chúa nhiều lần bước ra khỏi tình yêu của Người, sống cách xa Thiên Chúa. Chính vì sự bất trung liên tục mà dân Chúa đã bao lần phải chuốc lấy cơn phẫn nộ của Người. Nhưng nổi bậc lên trên tất cả, lớn hơn cả những lần phẫn nộ, lớn hơn cả sự phản bội của dân vẫn là tình yêu khoang dung, và tha thứ  mà Thiên Chúa dành cho họ.

Đọc Thánh Kinh ta có cảm tưởng như  Thánh Kinh hình thành bởi một công thức gồm ba động từ: phản bội – nổi giận – tha thứ.  Dân không ngừng phản bội, nhiều lần Thiên Chúa nổi giận, sau đó lại xót thương và tha thứ. Suốt chiều dài của lịch sử mà Thánh Kinh diễn tả cứ lặp đi lặp lại y như thế.

Đó là bài đọc I trích sách Giosuê. Trong bài Tin Mừng, một lần nữa, ta lại thấy lời khẳng định về lòng trung thành một cách dứt khoát của thánh Phêrô: “Lạy Thầy, chúng con  sẽ đi  theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng: Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa”.

Dù khẳng khái là thế, nhưng không phải mọi lúc Phêrô đều cứng rắn và hết lòng trung thành. Vì khi Thầy Giêsu của mình lâm nguy trong cuộc tử nạn, có lẽ chính là lúc Thầy cần Phêrô nhất: cần một sự đồng cảm, cần một sự chia sẻ nào đó, cần lắm một thái độ, ít nữa là một ánh mắt tin tưởng để Thầy bớt cô đơn trên mỗi bước đường thập giá…

Chính những giờ phút quan trọng và cần thiết ấy, Phêrô lại quên mất lời tuyên xưng đức tin “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa” mới vừa thốt lên, tính đến nay chưa được bao lâu. Vì một chút sợ hãi và yếu lòng, Phêrô đã chối Thầy, không phải một lần, mà là ba lần, không phải trong ba năm, nhưng chỉ cách nhau có hai canh gà!

Ôn lại những gì dân Chúa đã sống ngày xưa, và nhìn lại lời tuyên xưng cũng như lỗi lầm của thánh Phêrô nhân dịp Hội Thánh mời gọi ta suy niệm các bài Kinh Thánh nói về lòng trung thành trong ngày Chúa nhật XXI, bạn và tôi, một lần nữa, hãy thâm tín một cách chắc chắn rằng, Chúa vẫn yêu chúng ta, yêu từng người một.

Dẫu ta có lỗi lầm bao nhiêu, có bất trung cách mấy, Chúa vẫn một lòng khoang dung tha thứ.

Chúa đã chấp nhận nguyên tổ ngay cả khi nguyên tổ chống đối Chúa.

Người cũng không vì lỗi lầm của dân riêng mà khước từ tình yêu đối với họ.

Cũng không phải vì Phêrô yếu đuối mà Chúa tước quyền làm tông đồ trưởng, hơn nữa, làm giáo hoàng tiên khởi của Hội Thánh.

Hôm nay, bạn và tôi vẫn có quyền hy vọng. Chúa vẫn thế, vẫn mãi mãi là Thiên Chúa của lòng trung thành, của tình yêu và tha thứ.

Điều còn lại là chính chúng ta. Chỉ sợ ta ngã lòng trông cậy.  Chỉ sợ ta thiếu lòng chung thủy. Chỉ sợ ta không còn hy vọng nữa. Chỉ sợ cuộc đời nhào nặn, hoặc lo toan cho cuộc sống hiện tại quá nhiều, làm lòng ta thiếu khôn ngoan, thiếu nghị lực để chọn Chúa mà thôi.

Lúc đó, ta trở thành kẻ bất hạnh, vì đã tự đẩy mình tránh xa Thiên Chúa.

Ta bất trung với Chúa nhiều lần, đó là sự thật.

Nhưng còn một sự thật khác lớn hơn nhiều: Tình yêu của Chúa lớn hơn mọi tội lỗi của ta.

Bởi thế, biết mình yếu đuối, lỗi lầm bao nhiêu, ta càng vững tin vào Chúa bấy nhiêu. Nếu lỡ có lần nào vấp ngã, ta nhanh chóng đứng lên và chạy về phía Chúa.

Bí tích giải tội là cách tốt nhất để ta lấy lại bình an, lấy lại lòng trung thành cùng Chúa mà chính mình đã đánh mất.

L.m VŨ XUÂN HẠNH

VỀ MỤC LỤC

Can đảm lựa chọn

 

Gs 24:1-2a.15-17.18b  -   Ep 5:21-32  -   Ga 6:54a.60-69

Sống là lựa chọn. Vâng, cuộc sống con người gồm toàn những lựa chọn. Ai cũng phải lựa chọn. Bé có lựa chọn bé. Lớn có lựa chọn lớn.

Là người, chúng ta phải lựa chọn. Em bé lựa chọn những món quà đồ chơi. Sinh viên lựa chọn những ngành học. Người đi ăn lựa chọn những món hợp khẩu vị ... Các cô, các bà đi shopping lựa chọn quần áo, son phấn, vòng vàng hạt xoàn ... Người ta lựa chọn sống thế nào để trở thành người tốt cho xã hội.

Là người công giáo, chúng ta càng phải lựa chọn hơn nữa. Chúng ta phải lựa chọn giữa Thiên Chúa và các thần khác như thần tình - tiền - tài - danh vọng. Chúng ta phải lựa chọn giữa cuộc sống thiên đàng vĩnh cửu và cuộc sống thế tục tạm thời. Chúng ta phải lựa chọn giữa cách sống hy sinh đạo đức và cách sống ích kỷ hèn kém. Chúng ta phải chọn lựa giữa Lời Chúa và lời thế gian.

Chắc chắn, sự lựa chọn sẽ không dễ dàng tý nào?

Chúng ta có dám khẳng định như  Ông Giôsuê “về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa"?  Chúng ta có dám hăng hái quyết tâm như dân Do Thái "Trong bất cứ hoàn cảnh nào, khổ đau, nguy hiểm, khó khăn, vất vả, chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Đức Chúa, để thờ phượng các thần khác! Vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, đã chết trên thập giá để cứu thoát chúng tôi khỏi nô lệ tội lỗi và đưa chúng tôi về nhà cha trên trời. Đức Chúa đã làm cho chúng tôi những điều kỳ diệu. Chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa, vì Người là Thiên Chúa của chúng tôi."

Chúng ta có dám chân thành sống trọn vẹn ơn gọi của mình. Chúng ta có dám can đảm thực hiện lời hứa “giữ lòng chung thủy với vợ, với chồng khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi ốm đau cũng như lúc mạnh khoẻ, để yêu thương và tôn trọng vợ tôi, chồng tôi suốt đời tôi”, như chính Đức Ki-tô đã yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh không?

Chúng ta có dám liều lĩnh, mạnh dạn như Phêrô tuyên xưng đức tin vào Chúa “bỏ thày con biết theo ai” để rồi đổi mới cách suy tư và lối sống của chúng ta: không còn sống cho xác thịt, không còn sống cho vật chất, không còn sống cho tình - tiền - tài - danh lợi ...

Chúng ta có dám đón rước Mình Máu Thánh Chúa để được sống đời đời. Chúng ta có dám chấp nhận sống những nghịch lý "lời này chướng tai quá, ai mà nghe nổi" để có thể trở nên môn đệ của Chúa, mặc dù biết rằng đời mình sẽ phải trả giá rất đắt.

Lạy Chúa, xin cho chúng con Bánh hằng sống để chúng con được nuôi dưỡng và có nghị lực giúp chúng con lựa chọn chỉ thờ phượng một mình Chúa mà thôi, vì bỏ Chúa, chúng con biết theo ai.

Lm. Giuse Ngô Văn Thích, OP.

VỀ MỤC LỤC
BẢN CHẤT CỦA TỘI LÀ THÍCH PHÔ TRƯƠNG

 

Một ngày kia, vua nước Anh cải trang vào nhà dân nọ. Lúc trò chuyện, ông thấy trên đầu tủ có quyển Kinh Thánh cũ bám bụi, liền hỏi: Ông có đọc Kinh Thánh không? Gia chủ trả lời: “Tôi đọc mãi mà không chán, ngày nào cũng đọc, tôi yêu Lời Chúa lắm.”

Một lúc nhân khi gia chủ bước ra có việc, vua đặt vào quyển Kinh Thánh ấy 10 tờ giấy 10 bảng Anh, rổi gấp sách lại để vào chỗ cũ. Nhiều ngày sau vua trở lại, vẫn cải trang, vua hỏi gia chủ: Ông có đọc Kinh Thánh không? Như lần trước, gia chủ trả lời mạnh dạn: “Ồ có chứ! Ngày nào không đọc, làm sao tôi sống được!”

   “Thế ông tìm được gì trong đó?”

   “Ồ nào Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ, bốn Phúc âm..v..v…

   “Thế ông còn tìm thấy gì nữa?”

   “Dĩ nhiên là nhiều sự dạy dỗ của Chúa, các thư thánh Phaolô…”

   “Vậy ông có tìm được vàng trong đó không?”

   “Thì Lời Chúa là châu ngọc, là vàng ròng rồi còn gì nữa!”

   “Ông có tìm được tiền trong đó không?

   “Ồ ! Không ! Nhưng làm gì có tiền?”

 Vua bước xuống, mở quyển Kinh Thánh ra và lấy ra những đồng bảng Anh trước sự ngỡ ngàng  và mắc cở của gia chủ.

 * Một Phút Suy Tư: Bản chất của con người tội lỗi là thích phô trương bề ngoài thánh thiện gỉa tạo. Đó là một trong những sự lừa dối ngọt ngào nhất của ma quỷ. Mục tiêu của chúng là nhắm vào những người có chút đạo hạnh, các nhà lãnh đạo tôn giáo và những Tín hữu ngoan đạo. Nó làm cho tôi lừa dối mọi người, lừa dối Thiên Chúa và lừa dối cả chính mình.  Hãy nhìn thẳng vào tâm can tôi để thấy mình xấu xa cỡ nào, đừng tạo nên một bề ngoài đẹp đẽ giả tạo, mà hãy sống chân thật với Chúa và với tha nhân.

Lời Chúa dạy: “Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các ngưởi rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện trộm cắp và vô độ.”  (Mt 23, 25)

Phó tế: GB Nguyễn Văn Định

VỀ MỤC LỤC

MẸ QUÊ.

 

Thôi là hết,

Mẹ đã chết.

Hiu hắt dòng sông,

Tan tác cánh đồng.

Trăm năm phù thế, thương thương thân cò lận đận.

Một cõi trần ai, héo uá xác vạc long đong.

 

Khi xưa:

Chào nhân loại, trang nữ nhi nước Việt,

Nhập giống nòi, dòng lịch sử Lạc Hồng.

Câu huấn tử chi sơ, thấm nhuần từ thai dưỡng!

Chữ giáo nhi trứng nước, nhân thức tại cung lòng.

Bà rủ rỉ, cũng nằm lòng câu tứ đức,

Ông ngâm nga, nên răm rắp chữ tam tòng.

Không chữ nghĩa mà thông ca vè kim cổ,

Chẳng lớp trường lại thạo kinh hạt ngoài trong.

Thập phân lẩm nhẩm: đo- đong- cân- lạng.

Bấm đốt ngón tay: xu- cắc- hào- đồng.

Chẳng gấm- vóc- nhiễu- điều tô dáng vẻ,

Chỉ vôi- trầu- cau- vỏ thắm khuôn dung.

 

Mười sáu tuổi, xuất giá vu quy về tổ nội.

Đẫy một năm, tòng phu thai nghén trẻ đầu lòng.

Ru ru – rín rín!

Bế bế - bồng bồng!

Tay đưa võng, à ơi bống ngủ!

Chân đạp xa, quay nhịp đánh vòng.

Đồng sâu đồng cạn, mạ gánh lon ton, đầu khăn mỏ qụa,

Chái bếp hiên nhà, ù  ì  xay thóc, cánh áo nâu sồng.

Sáng bèo trưa cám, rổ sảo khoai, quần xăn móng lợn!

Tối giã trưa xay, nia mẹt gạo, đáy thắt lưng ong.

Thúng mủng chợ phiên, đồng quà tấm bánh.

Kẽo cà quang gánh, be rượu chiều chồng.

Nhịn miếng giữa làng, tiếc chi tiệc tùng đình xã,

Cam sàng xó bếp, chiu chắt miếng ngọt tộc dòng.

Lăn lội quản chi mưa nắng.

Tảo tần nào ngại gió đông,

 

Sinh con:

Cưu mang chín tháng, kiêng khem kham khổ.

Bú mớm ba năm, mạch sữa cạn dòng

Nào những lúc: trái gió trở trời, cơn đau cơn ốm.

Nọ những khi: thay mưa đổi nắng, trúng nước trúng phong.

Ôm con đỏ, lòng đau xát muối.

Ẳm trẻ thơ, dạ rối bòng bong.

Trán hấp nóng, hào bạc trứng gà đánh cảm.

Lưng sẩy rôm, hương nhu bồ kết lau cùng.

Ngăn lỉnh kỉnh: Áo bạc- thần sa- linh đan- chánh khí,

Chái um tùm: Mền trầu- rau má- kinh giới- xương xông.

Tiệm thuốc bắc, thang đồng ấu: sinh - cam -thục – táo.

Hiệu lang tàu, chứng tiểu nhi: hoàn - tán - cao – đơn.

Ngày tất tả, dầm mưa giãi nắng.

Đêm mắt chong, ấp lạnh quạt nồng.

 

Ngờ đâu:

Cơ trời vận nước.

Lửa dậy gió bùng.

Ai khơi chinh chiến, chia hai miền Nam Bắc?

Ai mở phân tranh, cắt nửa ngã non sông?

Thương thay con đỏ, lìa xa quê cha đất tổ.

Thảm thiết dân đen, bái biệt  mồ mả tộc dòng.

Hai bàn tay trắng.

Một cuộc cờ không.

Vai quang gánh, cha dắt anh ly hương  ly tán.

Nách xách mang, mẹ dìu chị bỏ xứ bỏ đồng.

Cơn bĩ cực, đong đầy cam khổ.

Hồi thái lai, vơi bớt nguồn cơn.

Lại lập nghiệp, phát hoang- đào ao- đắp thổ.

Lại khởi công, cha cày- mẹ cấy- vun trồng.

Vách đất mỏng, đã ngăn ngừa khi chướng khí.

Mái rạ thưa, cũng che chở lúc oi nồng.

 

Đến ngày:

Con khôn lớn, thân phổng phao chân nhảy.

Mẹ già nua, mắt mờ đục lưng cong

Ghi giỗ chạp, giấy rách giữ lề, mâm cơm thịnh soạn,

Nhớ tết tư, đất lề quê thói, thịt lợn bánh chưng.

Con nhảy múa tung tăng cùng xóm ngõ.

Mẹ nhìn vui khấp khởi với làng thôn.

Con đi học, nhập trường chân khép nép.